Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:30:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Căn cứ quân sự Cam Ranh phần 2  (Đọc 206181 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #130 vào lúc: 13 Tháng Ba, 2013, 11:11:08 pm »

(tiếp)



Chuẩn đô đốc Deviataikin Viktor Vasilevitch, tham mưu trưởng đầu tiên binh đoàn 17 (1983–1985).

Sinh ngày 25.03.1945 tại tỉnh Gorky.
1963–1968 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze.
1968–1969 — trưởng nhóm ngành tác chiến 2 tàu tuần tra đề án 61 lữ đoàn tàu chống ngầm 173-phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương.
1969–1971 — trưởng ngành tác chiến 2 tàu tuần tra đề án 61 lữ đoàn tàu chống ngầm 173-phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương.
1971–1972 — trợ lý thuyền trưởng SKR «Lunh» lữ đoàn tàu chống ngầm 173 phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương.
1972–1973 — thuyền trưởng SKR «Lunh» lữ đoàn tàu chống ngầm 173 phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương.
1973–1976 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko, thành phố Leningrad.
1976–1978 — tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu chống ngầm 117-lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 114-Hạm đội Thái Bình Dương.
1978–1980 — tham mưu trưởng — lữ đoàn phó lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 137-phân hạm Kamchatka Hạm đội Thái Bình Dương.
8.02.1980 lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải 137 chuyển thuộc phân hạm hỗn hợp Sakhalin.
1980–1983 — lữ đoàn trưởng lữ đoàn tàu chống ngầm 202-phân hạm hỗn hợp Sakhalin.
1983–1985 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương.
Năm 1985 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc».
1985–1987 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh và ủy viên Hội đồng Quân sự phân hạm hỗn hợp Primorie Hạm đội Thái Bình Dương.
1987–1989 — cố vấn cho Tư lệnh Hải quân CHXHCN Việt Nam — trưởng nhóm cố vấn và chuyên gia cho Hải quân CHXHCN Việt Nam.
Hy sinh trong tai nạn máy bay 8.07.1989 khi hạ cánh tại sân bay Cam Ranh trong điều kiện khí tượng phức tạp.
V.V.Deviataikin được an táng tại làng Тhái Bình Dương huyện Skotovsk khu Primorie.
Chuẩn đô đốc V.V.Deviataikin — một trong những người đầu tiên xây dựng bộ tham mưu binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương. Là người trẻ nhất về tuổi đời trong ban lãnh đạo binh đoàn 17 (được bổ nhiệm cương vị tham mưu trưởng binh đoàn cơ động khi mang quân hàm «trung tá hải quân» ở tuổi 38), biết cách trong thời hạn ngắn nhất tạo dựng và gắn kết bộ tham mưu binh đoàn.




Chuẩn đô đốc Krasnikov Aleksei Grigorievitch, tham mưu trưởng thứ 2 binh đoàn 17 (1985–1988)

Sinh ngày 2.01.1945 tại thành phố Nevel tỉnh Pskov. Dân tộc Nga.
1962–1968 — học viên trường hải quân М.V.Frunze.
1968–1969 — trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương;
1969–1970 — trợ lý thuyền trưởng tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương;
1970–1971 — học viên VSOK VMF.
1971–1972 — trợ lý thuyền trưởng tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương;
1972–1976 — thuyền trưởng tàu tuần tra; Hạm đội Thái Bình Dương;
1976–1978 — học viên Học viện Hải quân, thành phố Leningrad.
1978–1980 — tham mưu trưởng lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải. Hạm đội Thái Bình Dương, thành phố Petropavlovsk-Каmchatka;
1980–1982 — cố vấn binh đoàn tàu chiến Hải quân CHXHCN Việt Nam.
1982–1985 — lữ đoàn trưởng lữ đoàn tàu bảo vệ lãnh hải. Hạm đội Thái Bình Dương, thành phố Petropavlovsk-Каmchatka.
1985–1988 — tham mưu trưởng binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương; Cam Ranh, CHXHCN Việt Nam.
1988–1990 — học viên Học viện BTTM các LLVT Liên Xô
1990–1994 — tham mưu trưởng phân hạm hỗn hợp Primorie Hạm đội Thái Bình Dương.
Năm 1993 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc».
1994–1999 — cố vấn tư lệnh Hải quân CH Arab Syri;
Từ tháng 11 năm 1999 chuyển ngạch dự bị.
Trong thời gian phục vụ quân đội đã ghé thăm chính thức và làm việc với các tàu của Hải quân CHXHCN Việt Nam (đảo Phú Quốc, thị xã Đồ Sơn, cảng Cam Ranh), CH Arab Syri, Ấn Độ (cảng Bombay), Yemen (cảng Aden), đảo Socotra, CH Маldive (cảng Mali), Somali (Моgadisho, Hargais).
Được tặng thưởng các huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III và II, «Chiến công», các huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga, CH Arab Syri.




Chuẩn đô đốc Pivak Anatoly Ignatievitch, chủ nhiệm thứ 2 ngành cơ điện-hàng hải binh đoàn 17 (1986–1989).

Sinh ngày 20.12.1943 tại thành phố Yagodinsk tỉnh Kiev. Người Ucraina.
1961–1962 — học viên dự bị trường kỹ thuật Hải quân Leningrad (ВВМИУ), thợ máy tàu tuần tra Hạm đội Baltic.
1962–1967 — học viên chính thức trường kỹ thuật Hải quân Leningrad. Tốt nghiệp chuyên ngành «thiết bị năng lượng chạy bằng hơi nước» với quân hàm «trung úy-kỹ sư» và được bổ nhiệm thuộc quyền đều động của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương.
1967 — trưởng nhóm máy tàu-nồi hơi ngành tác chiến 5 tàu-bia SL-77 lữ đoàn tàu chống ngầm 193-căn cứ Hải quân Sovietsk-Gavansk Hạm đội Thái Bình Dương.
1968–1969 — trưởng ngành cơ điện-hàng hải tàu-bia SL-77 lữ đoàn tàu dự bị số 82-căn cứ Hải quân Strelok.
1969–1974 — trưởng ngành tác chiến 5 khu trục hạm «Vkradtchivyi» lữ đoàn tàu dự bị số 82-căn cứ Hải quân Strelok.
1974–1975 — học viên VSOK VMF — lớp kỹ sư-cơ khí trưởng ngành các đơn vị tàu mặt nước.
1975–1979 — trưởng ngành tác chiến 5 BPK «Vikhrevoi» lữ đoàn tàu mặt nước bảo vệ lãnh hải 45-căn cứ Hải quân Strelok.
1979–1982 — lữ đoàn phó ngành cơ điện hàng hải lữ đoàn tàu dự bị số 82-căn cứ Hải quân Strelok.
1982–1984 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko.
1984–1986 — tư lệnh phó phụ trách ngành cơ điện-hàng hải binh đoàn cơ động số 10-Hạm đội Thái Bình Dương;
1986–1989 — tư lệnh phó phụ trách cơ điện-hàng hải — chủ nhiệm ngành cơ điện-hàng hải binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương.
1889–1993 — viện trưởng viện nghiên cứu khoa học số 40, về công tác cứu hộ-cứu nạn và lặn sâu Bộ Quốc phòng.
Năm 1991 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc».
Từ 1993 chuyển ngạch dự bị.


Thiếu tướng quân pháp Nizovtsev Valery Ivanovitch. Luật sư công huân LB Nga. Thời kỳ từ 1989 đến 1991 giữ cương vị Chánh án Tòa án Quân sự căn cứ đồn trú Cam Ranh.






Chuẩn đô đốc Spirin Yuri Fedorovitch, tư lệnh đầu tiên sư đoàn tàu ngầm 38-binh đoàn 17-(1982–1989).

Sinh ngày 4.05.1940 tại thành phố Vologda tỉnh Gorky.
1957–1962 — học viên khoa tên lửa trường tàu ngầm Hải quân mang tên Đoàn TNCS Lenin.
1962–1963 — kỹ sư nhóm lắp ráp đơn vị quân sự Tổng cục 12-Bộ Quốc phòng Liên Xô.
1963–1966 — nhóm trưởng ngành vũ khí tên lửa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình đề án 675 К-189 sư đoàn tàu ngầm 26-Hạm đội Thái Bình Dương.
1966–1968 — ngành trưởng ngành vũ khí tên lửa tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-189 sư đoàn tàu ngầm số 10-Hạm đội Thái Bình Dương.
1968–1969 — ngành trưởng ngành pháo hạm tàu căn cứ nổi «Đoàn viên TNCS Каmchatka» phân hạm quân sự Kamchatka.
Tháng 7 — 12 năm 1969 — trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-34 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10.
1969–1970 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thủy thủ số 2 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình К-175 đề án 675 sư đoàn tàu ngầm số 10.
1970–1971 — học viên VSOK VMF.
1971–1974 — trợ lý chính kíp trưởng kíp thủy thủ số 2 tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo К-252 đề án 667 sư đoàn tàu ngầm số 8-phân hạm tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương.
1974–1979 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa đạn đạo К-258 đề án 667АU sư đoàn tàu ngầm số 25-phân hạm đội tàu ngầm nguyên tử số 2-Hạm đội Thái Bình Dương.
1979–1981 — tham mưu trưởng lữ đoàn xây dựng và sửa chữa tàu ngầm độc lập số 72-Hạm đội Thái Bình Dương.
1981–1983 — phó sư đoàn trưởng sư đoàn 8-phân hạm đội tàu ngầm số 2-Hạm đội Thái Bình Dương.
Năm 1983 tốt nghiệp Học viện Hải quân mang tên А.А.Gretchko (hàm thụ từ xa).
1983–1989 — sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm 38-binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương trú đóng tại cảng Cam Ranh; СHXHCN Việt Nam.
Tháng 11 năm 1985 được phong quân hàm «chuẩn đô đố».
1989–1992 — trưởng phòng huấn luyện tàu ngầm Tổng cục HLCĐ Hải quân Liên Xô.
1992–1994 — tham mưu phó BTTM Hải quân.
Được tặng thưởng huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, các huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga và СHXHCN Việt Nam.
Từ tháng 9 năm 1994 chuyển ngạch dự bị.
1995–2005 — phó trưởng ban an ninh khách sạn "Меtropol", thành phố Моskva.




Đô đốc Sysuev Yuri Nikolaevitch, tư lệnh thứ 2 sư đoàn tàu ngầm số 38-binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương (1989–1991).

Sinh ngày 6.02.1949 tại làng Vozdvizhenka huyện Mikhailov khu Primorie.
1966–1971 — học viên trường Hải quân mang tên S.М.Кirov.
1971–1975 — ngành trưởng ngành hoa tiêu quân sự, trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm đề án 613 lữ đoàn tàu ngầm 171‑Hạm đội TBD.
1975–1976 — học viên VSOK VMF.
1976–1977 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-365 đề án 613 phân hạm đội Кamchatka.
1977–1980 — thuyền trưởng tàu ngầm hạng trung S-224 đề án 613.
1980–1982 — học viên Học viện Hải quân mang tên А.А.Gretchko.
1982–1985 — kíp trưởng kíp thủy thủ số 305-tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình đề án 670 sư đoàn tàu ngầm số 10-Hạm đội Thái Bình Dương.
1985–1989 — sư đoàn phó sư đoàn tàu ngầm 28-Hạm đội Thái Bình Dương.
1989–1991 — sư đoàn trưởng sư đoàn tàu ngầm 38-binh đoàn 17-Hạm đội Thái Bình Dương (cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam).
1991–1993 — sư đoàn phó, từ 1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 5-Hạm đội Biển Đen.
Từ 1992 chuẩn đô đốc.
1993–1999 — tư lệnh căn cứ Hải quân Kerch-Feodosi — chỉ huy trưởng Trung tâm thử nghiệm khoa học số 31-Hải quân Nga.
1995–1996 — học viên khóa cao cấp Học viện (ВАК-VAK) ВTTM các LLVT LB Nga.
Từ 1996 — phó đô đốc.
1999–2003 — chủ nhiệm hệ VSOK VMF — học viện đào tạo bổ sung chuyên ngành.
2003–2009 — hiệu trưởng Học viện Hải quân mang tên N.G.Кuznetsov.
12.06.2004 được phong quân hàm «đô đốc».
Chủ tịch hội đồng chuyên gia — cơ quan tư vấn tập thể trực thuộc Tổng tư lệnh Hải quân Nga.
Phó tiến sỹ khoa học quân sự. Phó giáo sư.
Từ 2009 chuyển ngạch dự bị.
Được tặng thưởng các huân chương Sao Đỏ, «Chiến Công», huân chương Đại công tước phong Thánh Dmitri Donskoi, nhiều huy chương.
Thành viên hội đồng Liên hiệp Quốc tế các tổ chức xã hội cựu chiến binh hạm đội tàu ngầm và thủy thủ-tàu ngầm.




Phó đô đốc Sergheev Valery Nikolaevitch, tư lệnh đầu tiên lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1983–1985).

Sinh ngày 17.08.1938 tại thành phố Ruzhino khu Primorie.
1955–1959 — học viên khoa pháo binh trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Мakarov.
Tháng 9 — 12 năm 1959 — trưởng nhóm điều khiển ngành tác chiến 2 khu trục hạm đề án 30bis «Velitchavyi» lữ đoàn tàu khu trục số 52-sư đoàn tàu chiến số 15-Hạm đội TBD.
Tháng 12.1959 — tháng 2.1961 — trưởng nhóm điều khiển ngành tác chiến 2 khu trục hạm đề án 30bis «Vspyltchivyi» lữ đoàn tàu chiến số 174-Hạm đội TBD.
Tháng 2.1961 — tháng 8.1961 — trợ lý chỉ huy đại đội pháo vạn năng tuần dương hạm «Đô đốc Lazharev».
Tháng 8.1961 — tháng 9.1964 — chỉ huy tháp pháo chính, trưởng nhóm điều khiển tiểu đoàn pháo vạn năng tuần dương hạm «Đô đốc Lazharev».
Tháng 9.1964 — tháng 11.1968 — trưởng ngành tác chiến 2 khu trục hạm đề án 56 «Vesky» lữ đoàn tàu tên lửa 175.
Tháng 11.1968 — tháng 7.1969 — học viên VSOK VMF, thành phố Leningrad.
Tháng 9.1969 — tháng 10.1971 — trưởng ngành pháo hạm, chủ nhiệm PK lữ đoàn tàu chống ngầm 202-Hạm đội TBD.
Tháng 10.1971 — tháng 10.1973 — trợ lý chính thuyền trưởng tuần dương hạm «Dmitry Pozharsky».
Tháng 10.1973 — tháng 10.1975 — thuyền trưởng BPK «Vladivostok».
Tháng 10.1975 — tháng 3.1979 — thuyền trưởng tuần dương hạm «Dmitry Pozharsky».
Tháng 3.1979 — tháng 10.1981 — thuyền trưởng tuần dương hạm «Aleksandr Suvorov».
Tháng 10.1981 — tháng 7.1982 — học viên khóa Học viện cho sỹ quan thuộc Học viện Hải quân A.A.Gretchko.
Tháng 7.1982 — tháng 1.1983 — lữ đoàn trưởng lữ đoàn tàu dự bị số 82.
Tháng 1.1983 — tháng 7.1986 — học viên Học viện Hải quân A.A.Gretchko (tốt nghiệp xuất sắc khoa hàm thụ từ xa).
Tháng 1.1983 — tháng 3.1985 — tư lệnh lữ đoàn tàu mặt nước 119-binh đoàn 17.
Tháng 3.1985 — tháng 4.1987 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô.
Tháng 4.1987 — tháng 10.1991 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 8-Hải quân Liên Xô.
Năm 1990 được phong quân hàm «phó đô đốc».
Tháng 10.1991 — tháng 12.1993 — tư lệnh căn cứ Hải quân Kerch-Feodosi — chỉ huy trưởng trung tâm thử nghiệm khoa học số 31-Hải quân Liên Xô.
Từ tháng 12.1993 chuyển ngạch dự bị.
........
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Ba, 2013, 12:43:08 am gửi bởi qtdc » Logged
lantuyet
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #131 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2013, 01:11:28 pm »

Bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory được báo Tiền phong đưa lên http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616807/Giai-mat-cuoc-doi-dau-tau-ngam-o-Bien-Dong-ky-I-tpol.html
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #132 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2013, 08:12:18 pm »

Bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory được báo Tiền phong đưa lên http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616807/Giai-mat-cuoc-doi-dau-tau-ngam-o-Bien-Dong-ky-I-tpol.html
Ồ, cám ơn bác lantuyet thông tin. Các bạn Tienphong mắc mấy lỗi:
- Tàu ngầm Mỹ Guardfish không phải là tàu ngầm chiến lược. Nó là tàu ngầm chiến thuật thôi, hay gọi là tàu ngầm nguyên tử tấn công nhanh lớp Thresher (the Thresher class was a class of nuclear-powered fast attack submarines) hay Permit-class cũng vậy. Ký hiệu tắt phân loại của nó là SSN, tàu Guardfish có ký hiệu SSN-612.
- Tình hình tương tự như vậy với Echo-II (đề án 675).
- Ảnh chân dung chuẩn đô đốc Berzin (thuyền trưởng K-184 năm 1972, đối đầu cùng David Milton thuyền trưởng Guardfish) thực ra là ảnh phó đô đốc A.V.Konev (năm 1972 là thượng úy hải quân, hoa tiêu trên K-184 trong cuộc đối đầu tháng 5 năm đó tại Biển Đông giữa tàu ngầm Mỹ với các tàu ngầm Xô Viết của sư đoàn tàu ngầm số 26  Hạm đội Thái Bình Dương).
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Ba, 2013, 03:15:33 am gửi bởi daibangden » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #133 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2013, 09:19:56 pm »

(tiếp)



Phó đô đốc Ustimenko Yuri Gavrilovitch, tham mưu trưởng thứ nhất lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1982–1985), tư lệnh thứ 2 của lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1985–1987).

Sinh ngày 19.05.1946 tại cảng Vladimir khu Primorie trong gia đình quân nhân. Dân tộc Ucraina.
1960–1961 — công nhân chế tạo công cụ tại nhà máy đồng hồ Petrodvorets.
1961 — tốt nghiệp trường đào tạo công nhân thanh niên tại Petrodvorets.
1961–1962 — học viên dự bị trường thông tin VTD Hải quân mang tên A.S.Popov, hiệu thính viên, thông tín viên trên tàu quét mìn Hạm đội Bantic.
1962–1967 — học viên chính thức trường thông tin VTD Hải quân mang tên A.S.Popov. Tốt nghiệp trường chuyên nghiệp Hải quân với chuyên ngành «kỹ sư thông tin vô tuyến quân sự».
1967–1969 — trưởng ngành thông tin liên lạc quân sự và quan trắc khu trục hạm «Nhesokrushimyi» Hạm đội Biển Bắc.
1970–1972 — trợ lý chính thuyền trưởng khu trục hạm «Soznatelnyi» Hạm đội Biển Đen.
1972–1973 — học viên VSOK VMF.
1973–1974 — thuyền trưởng tàu tên lửa cỡ lớn «Prozorlivyi» Hạm đội Biển Đen.
1974–1976 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu chống ngầm cỡ lớn «Оtchakov» Hạm đội Biển Đen.
1976–1978 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko.
1978–1983 — thuyền trưởng tàu chống ngầm cỡ lớn «Tallin» Hạm đội TBD.
1983–1987 — tham mưu trưởng, tư lệnh lữ đoàn tàu mặt nước 119-binh đoàn 17-Hạm đội TBD. Trong thành phần lữ đoàn có 14 tàu các loại khác nhau — từ tàu cao tốc tên lửa đến tuần dương hạm. Trên cơ sở lữ đoàn tàu mặt nước 119 đã thành lập một nhóm lực lượng chống ngầm và tấn công đa binh chủng. Trong số các nhiệm vụ mà lữ đoàn phải giải quyết, có nhiệm vụ trinh sát, phòng thủ căn cứ Cam Ranh, tổ chức hiệp đồng tác chiến với Hải quân Việt Nam, tiến hành tập trận chung.
1987–1991 — tham mưu trưởng binh đoàn cơ động số 8 (Ấn Độ Dương) Hải quân Liên Xô. Binh đoàn đã thực hiện nhiệm vụ đấu tranh với cướp biển, đảm bảo an toàn giao thông hàng hải cho tàu bè qua lại và biểu dương màu cờ quốc gia trong các khu vực vịnh Aden và biển Ả-rập. Tham gia các cuộc giao tranh cục bộ và xung đột vũ trang tại Haiti, Аngola, Somali, Yemen, CH đảo quốc Xây-sen, Việt Nam, tại Biển Đỏ, vịnh Ba Tư. Tham gia hoạt động tác chiến quét mìn tại vịnh Ba Tư.
1991–1992 — tư lệnh binh đoàn cơ động số 7-(Đại Tây Dương) Hạm đội Biển Bắc.
1992 — học viên khóa cao cấp cho sỹ quan Học viện BTTM.
Năm 1992 được phong quân hàm «phó đô đốc».
1992–1995 — phó tư lệnh thứ nhất Hạm đội Biển Bắc.
1995–1999 — chủ nhiệm hệ đào tạo VSOK VMF. Tên tuổi ông gắn liền với các thành tựu lớn trong phát triển khoa học tại VSOK VMF: khôi phục hệ dự bị, mở hội đồng đề tài luận án tại các lớp đào tạo, hình thành các khuynh hướng khoa học mới trong quá trình đào tạo và giáo dục quân sự, tổ chức huấn luyện chiến đấu, sư phạm quân sự và tâm lý quân sự trong hoạt động của các thuyền trưởng, chỉ huy hoạt động hàng ngày của các lực lượng hạm đội, đặt cơ sở máy tính hóa quá trình đào tạo. Trong thời gian lãnh đạo VSOK VMF ông đã chuẩn bị và bảo vệ thành công luận án phó tiến sỹ và tiến sỹ. Được phong danh hiệu khoa học «giáo sư» bộ môn chiến thuật lực lượng Hải quân Liên Xô.
Được tặng thưởng các huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, huy hiệu «Chiến đấu quét mìn», vũ khí khắc tên, nhiều huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga và các quốc gia khác.
Hiệu thính viên công huân LBCHXHCN Xô Viết, thành viên danh dự Hạm đội Hàng hải LBCHXHCN Xô Viết.




Polyakov Yuri Melentievitch, tư lệnh thứ 3 lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1987–1990).
1971–1976 — học viên trường Hải quân Hạm đội TBD mang tên S.О.Мakarov.
1976–1978 — trưởng nhóm đạo hàng điện tử ngành hoa tiêu quân sự tuần dương hạm  «Мurmansk», Hạm đội Biển Bắc.
1978–1979 — trưởng ngành tác chiến 1 tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay «Мinsk».
1979–1980 — học viên VSOK VMF.
1980–1982 — trợ lý chính thuyền trưởng tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay «Мinsk».


Tàu sân bay "Minsk" tại bờ biển nam Việt Nam, tháng 10-11 năm 1980.

1982–1984 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko.
1984–1987 — thuyền trưởng tuần dương hạm hạng nặng chở máy bay (ТАVKR) «Мinsk». Phát triển và đề xuất thiết lập cho ТАVKR «Мinsk» tư thế neo đuôi tàu vào các phao neo (бочки), cho phép con tàu có thể đứng yên một cách an toàn khi gió lên đến tốc độ 21 m/giây. Trước khi có điều đó ТАVKR phải tháo phao neo khi tốc độ gió lên đến 14 m/giây.
1987–1990 — tư lệnh lữ đoàn tàu chiến mặt nước 119.
1990–1992 — học viên Học viện Quân sự BTTM các LLVT Liên Xô.
1992–1994 — giảng viên Học viện Quân sự BTTM.
1994 — chết vì tai nạn giao thông.


Cam Ranh năm 1981. Yak-38 trên tàu sân bay "Minsk" bị tai nạn gần Côn Đảo đã được kíp thủy thủ tàu quét mìn đại dương MT-Zapal phát hiện, được tàu cần cẩu Kilektor-23 trục vớt lên MT-Zapal đưa về căn cứ Cam Ranh.

Chuẩn đô đốc Floriak Vasily Ivanovitch, tư lệnh thứ 4 lữ đoàn tàu mặt nước 119 (1990–1991).

Sinh ngày 10.04.1950 tại làng Fagadeu huyện Falesht nước CHXHCNXV Моldavi. Dân tộc Ucraina.
1967–1972 — học viên chính thức trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên P.S.Nakhimov, thành phố Sevastopol.
1972–1974 — đội trưởng chống ngầm BPK, Hạm đội Biển Bắc.
1974–1976 — ngành trưởng ngành tác chiến 3 BPK Hạm đội TBD.
1976–1977 — học viên VSOK VMF, thành phố Leningrad.
1977–1978 — trợ lý thuyền trưởng BPK, Hạm đội TBD.
1978–1979 — trợ lý chính thuyền trưởng BPK, Hạm đội TBD.
1979–1985 — thuyền trưởng BPK Hạm đội Тhái Bình Dương.
1985–1987 — học viên Học viện Hải quân mang tên A.A.Gretсhko, Leningrad..
1987–1989 — phó tư lệnh lữ đoàn tàu tên lửa, Hạm đội TBD.
1989–1990 — phó tư lệnh lữ đoàn tàu chống ngầm, Hạm đội TBD.
1990–1991 — tư lệnh lữ đoàn 119-binh đoàn 17 Hạm đội TBD, cảng Cam Ranh.
1991–1993 — tư lệnh lữ đoàn tàu thuyền hỗn hợp độc lập 119-Hạm đội TBD tại cảng Cam Ranh.
1993–2002 — tư lệnh sư đoàn tàu huấn luyện hải quân số 4-căn cứ Hải quân Lenin, thành phố Kronshtadt.
Được phong quân hàm «chuẩn đô đốc» ngày 23.12.1994.
Tháng 10 năm 2002 chuyển ngạch dự bị.
....
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Ba, 2013, 11:45:40 pm gửi bởi qtdc » Logged
lantuyet
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #134 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2013, 09:38:45 pm »

Thêm bài viết của bác qtdc trên vnmilitaryhistory cũng được báo Tiền phong đưa lên http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616789/Tiet-lo-vu-tau-ngam-Lien-Xo-dam-chim-tau-ngam-Trung-Quoc-ky-1-tpol.html
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #135 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2013, 01:55:23 am »

(tiếp)



Chuẩn đô đốc Eryomin Yuri Prokopievitch, tư lệnh cuối cùng căn cứ đảm bảo hậu cần-kỹ thuật 922 (1999–2002).

Sinh ngày 28.09.1956 tại cảng Leonidovo huyện Poronaisk tỉnh Sakhalin. Dân tộc Nga.
1974–1979 — học viên trường Hải quân М.V.Frunze, thành phố Leningrad.
1979–1981 — kỹ sư nhóm đạo hàng điện tử ngành hoa tiêu quân sự thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử, Hạm đội Thái Bình Dương.
1981–1982 — trưởng nhóm đạo hàng điện tử ngành hoa tiêu quân sự thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử. Trong thành phần một kíp thủy thủ tàu ngầm nguyên tử (K-305 đề án 671RTM) đã ghé cảng Cam Ranh năm 1982 để bổ sung dự trữ vật chất và cho các quân nhân nghỉ ngơi ngắn hạn.



1982–1985 — trưởng ngành hoa tiêu quân sự thủy thủ đoàn tàu ngầm nguyên tử.
1986–1987 — học viên VSOK VMF.
1987–1991 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương.
1991–1993 — thuyền trưởng tàu ngầm tuần dương.
1993–1996 — học viên Học viện Hải quân, thành phố Saint-Petersbourg.
1996–1999 — chỉ huy phó đơn vị quân đội 72175, thành phố Norinsk tỉnh Moskva.
1999– 2002 — tư lệnh căn cứ 922 PМТО, cảng Cam Ranh, СHXHCN Việt Nam.
2002–2006 — chủ nhiệm hậu cần — phó tư lệnh hậu cần các lực lượng trên hướng Đông-Bắc.
Năm 2003 tốt nghiệp khóa Học viện của Học viện Hậu cần và Vận tải quân sự.
Ngày 12.12.2003 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc».
Từ tháng 3 năm 2006 — trưởng chi nhánh trung tâm khoa học-đào tạo Hải quân "Viện hàn lâm Hải quân", thành phố Saint-Petersbourg.
2010 — giám đốc tòa nhà Bộ Hải quân của Piotr Đại Đế — Viện Hải quân Saint-Petersbourg. Phó tiến sỹ khoa học quân sự, phó giáo sư.
Được tặng thưởng: huân chương Sao Đỏ, huân huy chương «Có công với Nước» hạng II, huy chương Hồ Chí Minh «Phục vụ Hải quân xuất sắc» của СHXHCN Việt Nam, huy chương «Hoạt động hàng hải xuất sắc» (theo quyết định của hội đồng Hàng hải), 18 huy chương khác.




Đại tá hải quân Khorkov Vladimir Arkadievitch, tham mưu trưởng thứ 2 lữ đoàn tàu chiến mặt nước 119 (1985–1989).

Sinh ngày 1.07.1950 tại làng Altynai tỉnh Sverdlov trong gia đình thủy thủ quân sự.
1967–1972 — học viên khoa vũ khí tên lửa trường tàu ngầm Hải quân mang tên Người Đoàn viên TNCS.
Năm 1968 khi thực tập tại tiểu đoàn tàu cao tốc quét mìn Hạm đội Baltic đã thay thế thuyền trưởng tàu cao tốc quét mìn, tham gia quét mìn có kiểm soát mà ngư dân phát hiện tại vịnh cảng lớn Kronshtad.
Năm 1969 trong giai đoạn thực tập trên tàu ngầm К-110 đề án 629 (vịnh Оlenhia) đã phải ở trong khoang máy diesel nước ngập đến trần khoang do đóng không kín miệng xả khí khi tàu ngầm lặn trong chế độ RDP.
1972–1974 — trưởng ngành pháo hạm tàu tuần tra SKR-11 đề án 159 phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD.
1974 — trợ lý thuyền trưởng tàu cao tốc tên lửa cỡ lớn đề án 205 R-122 phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD.
1974–1979 — thuyền trưởng tàu cao tốc tên lửa cỡ lớn đề án 205 R-107 phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD.
Khi thực hành tập bắn tên lửa tên lửa P-15 đã rơi thẳng xuống boong làm chìm chiếc tàu cao tốc-bia tập bắn duy nhất КtS-62 tại phân hạm quân sự Kamchatka Hạm đội TBD.
1979–1980 — trợ lý chính thuyền trưởng tàu tuần tra đề án 1135M "Gordelivyi" Hạm đội TBD. Thành lập kíp thủy thủ, trải qua tất cả các giai đoạn đóng mới ở nhà máy  «Yantar» cùng với việc chuyển công tác từ Hạm đội Baltic sang Hạm đội TBD và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu.
Tham gia thử nghiệm tổ hợp phòng không «ОSА-МА».
Được phong quân hàm «thiếu tá hải quân» trước thời hạn.


USS Grayback 574 sau khi chuyển đổi thành tàu tác chiến thủy bộ (LPSS-574) năm 1968 đã tham gia vào Chiến tranh Việt Nam, làm nhiệm vụ vận chuyển biệt kích hải quân Mỹ, tìm cứu phi công Mỹ. Tháng 4-tháng 6 năm 1972, tàu chở biệt kích hải quân Mỹ (U.S. Navy SEAL Team One và Underwater Demolition Team 11 (UDT-11)) từ căn cứ Subic vào vịnh Bắc Bộ thực hiện chiến dịch Thunderhead cứu phi công Mỹ từ Hanoi Hilton nhưng thất bại, đó là nỗ lực cuối cùng giải cứu tù binh phi công Mỹ bằng vũ lực trong Chiến tranh Việt Nam. Trong ảnh: tàu đang ở trong một phi vụ ngoài bờ biển Việt Nam năm 1970.

1980–1983 — thuyền trưởng tàu tuần tra đề án 1135 «Letutchi» binh đoàn cơ động số 10-Hạm đội TBD. Đã liên tiếp thực hiện nhiệm vụ của tàu là trực tiếp theo dõi các nhóm АUG và АМG Hải quân Mỹ dẫn đầu là các tàu sân bay: «D.Eisenhower», «Enterprise» «Ch.Nimitz», «Кarl Vilson», «Ranger», «Кitty Hawk», «Мidway», cũng như các nhóm tác chiến thủy bộ «Тarava» và «Ivojima». Trong thời kỳ ấy ông đã cùng tàu ở trên biển 2 năm rưỡi. Đã hoàn thành các nhiệm vụ mà tư lệnh Hạm đội TBD giao phó, trong thời gian diễn ra tất cả các cuộc tập trận thời ấy của Hải quân NATO «Тeam Spirit» và «Asveks». Tại cuộc tập trận «Аsvek-82» ông đã phát hiện và buộc tàu ngầm đổ bộ của Hải quân Mỹ «Grayback» phải nổi lên mặt nước. Trong tình trạng đạo hàng khó khăn ông đã phát hiện nhóm tác chiến thủy bộ, đang đi theo đội hình vòng tròn tới nơi thả quân đổ bộ.


USS Grayback SSG-574 năm 1982.

Để phát hiện thành phần tàu đối phương chính xác theo danh định tàu "Letutchi" đã tiến gần tới trung tâm đội hình chặt chẽ của họ mà không xâm phạm luật hàng hải quốc tế và quy định cảnh báo tai nạn do va chạm trên biển.
Tàu tiến cùng với mục tiêu chính là tàu tham mưu-chỉ huy «Blue Ridge» của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ mang kỳ hạm của tư lệnh hạm đội. Theo đường liên lạc sóng cực ngắn ông đã đề nghị người Mỹ cho phép tiến cùng đội hình và nhờ đó nhận được đề xuất hãy chiếm lĩnh vị trí thuận lợi để quan sát vị trí, đường di chuyển, thời hạn, các mục tiêu và các nhiệm vụ được thực hiện.


Tháng 9 năm 1958, SSG-574 Grayback phóng thử thành công tên lửa hành trình Regulus-II.

Trong khóa học sau đó về luật hàng hải quốc tế tại Học viện Hải quân ông đã tốt nghiệp với điểm «xuất sắc».
Cùng với BPK «Тallin» ông đã hỗ trợ chính quyền CH Đảo quốc Seychell dẹp tan một âm mưu đảo chính.
Trên đường chuyển sang khu vực hoạt động của binh đoàn cơ động số 8 từ Vladivostok và trở về, ông đã chỉ huy một biên đội tàu chiến gồm: kỳ hạm — SKR «Letutchi», SKR đề án 50, tàu quét mìn biển «Т.Uiantsev», tàu chở dầu «Irkut», «Izhora», «Petchenga», «Аlatyr». Số lượng các lần tiếp dầu và nước bằng phương pháp song song đạt tới 36–38 lần một năm.
SКR «Letuchi» thường trong một năm thời kỳ đó phải trải qua hành trình 30–40 ngàn dặm trên biển.
Tháng 5 năm 1983 do bội chi các năm (năm vừa qua) lượng nhiên liệu và tài nguyên mà Tư lệnh Hạm đội TBD đã khấu trừ, sau đó rа mệnh lệnh (khi họp phân tích tình hình) khiển trách vì vượt định mức kinh tế về nhiên liệu và tài nguyên.
Đã ghé thăm xã giao và ghé thăm làm việc nhiều lần các cảng: Jibuti, Аden, Pоrt-Louis, quần đảo Seychell, Мaputo, Dakhlak, Cam Ranh.


SKR "Letutchi" đề án 1135 (1977-2005).

1983–1985 — học viên khoa chỉ huy Học viện Hải quân mang tên А.А.Gretchko, thành phố Leningrad.
1985–1989 — tham mưu trưởng — phó tư lệnh thứ nhất lữ đoàn tàu mặt nước thuộc binh đoàn 17-Hạm đội TBD. Chỉ huy hầu hết các chiến dịch cứu trợ cứu nạn các quân nhân và các tàu của Vùng 4 Hải quân CHXHCN Việt Nam gặp tai nạn tại các đảo và các bãi đá san hô ngầm ở quần đảo Trường Sa và Biển Đông.
Ba lần được ban lãnh đạo Việt Nam khen thưởng.
1989–2000 — Trưởng ban thanh tra an toàn hàng hải 85-Hải quân Xô Viết và Nga; trưởng phòng giám sát kiểm tra an toàn hàng hải, công tác lặn khí tài nhẹ và lặn sâu quân chủng Hải quân. Biên soạn và áp dụng vào quân chủng Hải quân hệ thống giám sát kiểm tra an toàn hàng hải hoạt động hiệu quả.
Trong thời gian phục vụ được tặng thưởng các huân chương «Phục vụ Tổ quốc trong LLVT Liên Xô» hạng III, «Chiến Công», các huy chương của LBCHXHCN Xô Viết, LB Nga và CHXHCN Việt Nam. Được tặng danh hiệu «Chuyên gia quân sự công huân».
Trong thời gian phục vụ quân đội ông thường xuyên quan tâm đến các vấn đề duy trì khả năng SSCĐ cao của các tàu và các đơn vị hợp thành, hoàn thiện hệ thống giáo dục quân sự, tăng cường kỷ luật quân sự, nâng cao uy tín của nghề binh.
Sau khi thôi phục vụ quân đội ông làm việc trong các tổ chức thương mại lớn với cương vị phó tổng giám đốc rồi tổng giám đốc, phó chủ tịch phụ trách tiếp thị và bán hàng.
.........
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Ba, 2013, 02:22:11 am gửi bởi qtdc » Logged
lantuyet
Thành viên
*
Bài viết: 27


« Trả lời #136 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2013, 08:42:18 pm »

Thêm bài viết về căn cứ Cam Ranh tại vnmilitaryhistory được đưa trên Tiền Phong Online: http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616330/Cam-Ranh-huyen-thoai-mot-quan-cang-tpov.html
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #137 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2013, 09:59:39 pm »

Thêm bài viết về căn cứ Cam Ranh tại vnmilitaryhistory được đưa trên Tiền Phong Online: http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/616330/Cam-Ranh-huyen-thoai-mot-quan-cang-tpov.html

Đây một "bí mật" được giải mật nữa nằm ở chú thích, hi hi:  Grin


Tàu vận tải đổ bộ cỡ lớn lớp Ropucha Project 775 tại quân cảng Cam Ranh.
Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #138 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2013, 12:04:08 pm »

(tiếp)



Chuẩn đô đốc Baranov Andrey Nikolaevitch; khi phục vụ trong biên chế binh đoàn 17 từ tháng 7 năm 1986 — tháng 8 năm 1987, ông là thuyền trưởng МPK-155.

Sinh ngày 4.04.1959 tại làng Lvov tỉnh Moskva.
Tham gia Hải quân Xô Viết từ tháng 8 năm 1976.
1976–1981 - học viên trường Hải quân mang tên М.V.Frunze. Tốt nghiệp chuyên ngành «Vũ khí tàu mặt nước».
Tháng 8 năm 1981 — tháng 7 năm 1982 — ngành trưởng ngành thủy lôi-ngư lôi tàu chống ngầm cỡ nhỏ МPК-155 lữ đoàn tàu cao tốc số 33-phân hạm hỗn hợp Sakhalin.
Tháng 7 năm 1982— tháng 8 năm 1984 — trợ lý thuyền trưởng МPК-37 lữ đoàn tàu cảnh vệ lãnh hải số 33.
1984–1985 — học viên VSOK VMF.
Tháng 9 năm 1985— tháng 8 năm 1988 — thuyền trưởng tàu chống ngầm cỡ nhỏ МPК-155 lữ đoàn 33-phân hạm hỗn hợp Sakhalin.
1988–1991 — học viên Học viện Hải quân mang tên N.G.Кuznetsov.
Tháng 8 năm 1991 — tháng 12 năm 1994 — tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tàu chống ngầm cỡ nhỏ 146-lữ đoàn tàu cao tốc bảo vệ lãnh hải số 33-phân hạm hỗn hợp Sakhalin.
Tháng 1 năm 1995 — tháng 8 năm 1998 — sỹ quan cao cấp-điều phối viên phòng 6 Tổng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu các LLVT LB Nga.
Tháng 1 năm 1998— tháng 8 năm 2000 — nhóm trưởng thuộc phòng 4 Tổng cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu các LLVT LB Nga.
2000–2002 — học viên Học viện BTTM các LLVT LB Nga.
Tháng 12 năm 2002— tháng 3 năm 2009 — trưởng phòng tác chiến Bộ tham mưu — phó tham mưu trưởng Hạm đội Biển Đen.
23.02.2004 được phong quân hàm «chuẩn đô đốc».
Tháng 3 năm 2009— tháng 4 năm 2010 — cục trưởng tác chiến Bộ TTM Hải quân — Tham mưu phó Bộ TTM Hải quân LB Nga.
Khi còn là thuyền trưởng, trong lúc thi hành nhiệm vụ trực chiến và thực hiện nhiệm vụ quân sự đã nhiều lần ghé vào các cảng nước ngoài. Ở trong biên chế binh đoàn 17 những năm 1986–1987.
Từ tháng 5 năm 2010 chuyển ngạch dự bị.




Anh hùng Liên bang Nga đại tá hải quân Astapov Aleksandr Sergheevitch, trợ lý thuyền trưởng các tàu ngầm đề án 675МК, 675 К-48, К-108 phục vụ chiến đấu trong thành phần binh đoàn 17.

Sinh ngày 6.06.1953 tại thành phố Kiev, Ucraina. Dân tộc Nga.
1971–1976 — học viên trường Hải quân Hạm đội Biển Đen mang tên N.S.Nakhimov.
1976–1980 — kỹ sư ngành tác chiến 2 tàu ngầm nguyên tử đề án 675 К-48.
1980–1983 — trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử đề án 675МК К-108.
Trợ lý chính thuyền trưởng các tàu ngầm К-48 (1983–1986) và К-108 (1987–1990).
Trong biên chế các kíp thủy thủ tàu ngầm đã nhiều lần tham gia các chuyến hành quân dài ngày thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu và ghé vào quân cảng Cam Ranh (1980, 1982).


Đại úy hải quân A.S.Astapov (áo trắng) trên mặt boong K-108 tại Cam Ranh năm 1982.

1986–1987 — học viên VSOK VMF.
1990–1993 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử tuần dương mang tên lửa hành trình đề án 949А К-266 «Оriol».




K-266 "Oriol" (sư đoàn tàu ngầm số 11 Hạm đội Biển Bắc, căn cứ Zapadnaya Litsa), phía sau là một khu trục chống ngầm cỡ lớn đề án 1155 (BPK đề án 1155).

1993–1996 — thuyền trưởng tàu ngầm nguyên tử tuần dương đề án 949А К-186 «Оmsk», do PО «Liên hiệp xí nghiệp Sеvmash» tại thành phố Severodvinsk chế tạo.
Tháng 8 — tháng 9 năm 1994 PLARK «Оmsk» dưới sự chỉ huy của А.S.Аstapov đã thực hiện chuyến hành quân di chuyển sang Hạm đội TBD dưới băng Bắc Cực. Chỉ huy cao cấp trên tàu — tư lệnh sư đoàn 10 chuẩn đô đốc I.N.Коzlov. Tàu ngầm ra khỏi vịnh Zapadnaya Litsa, đi vòng quanh mũi cực bắc của Novaya Zemlya, đi dưới băng và theo đường khe nhỏ Sviataia Anna mà tiến vào vùng vĩ độ cao của Bắc Băng Dương. Trong 15 ngày đêm tàu ngầm đã bơi ngầm dưới biển băng được gần 4000 dặm, trong đó có 500 dặm nằm ở các khu vực nguy hiểm về mặt đạo hàng trong điều kiện vùng nước hiếm của biển Tchukotka.



Với sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga ngày 23 tháng 7 năm 1996, vì sự dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng, thể hiện khi thi hành nhiệm vụ đặc biệt trong các điều kiện nguy hiểm tới sinh mạng, đại tá hải quân Аleksandr Sergheevitch Аstapov được phong danh hiệu Anh hùng Liên bang Nga và được trao tặng ngôi «Sao Vàng».


Hai tàu ngầm đề án 949A sư đoàn tàu ngầm số 10 Hạm đội TBD tại cầu cảng căn cứ Viliutchinsk trong vịnh Krashennikov, thuộc thành phố Viliutchinsk, khu Kamchatka, Liên bang Nga. Bên trái K-150 "Tomsk", bên phải K-186 "Omsk". Trong những năm Chiến tranh Lạnh, do số lượng tàu ngầm đóng quân trong căn cứ cũng như số tàu ngầm xuất phát từ bến cảng này đến bờ biển Hoa Kỳ là rất lớn, người Mỹ đã đặt cho Viliutchinsk biệt danh "hang hùm" («осиное гнездо»).

1996–2002 — nhóm trưởng thuộc ban huấn luyện tàu ngầm Cục HLCĐ Hải quân Liên bang Nga.
Từ tháng 3 năm 2002 chuyển ngạch dự bị.
Hiện nay — phó chủ tịch thứ nhất Quỹ xã hội liên vùng ủng hộ các Anh hùng Liên bang Xô Viết và Liên bang Nga.
Được tặng thưởng huân chương Dũng Cảm (2001), nhiều huy chương.
.........
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Ba, 2013, 07:53:18 pm gửi bởi qtdc » Logged
qtdc
Thượng tá
*
Bài viết: 3299


« Trả lời #139 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2013, 12:40:25 am »

(tiếp theo post 388 phần 1)

Ba lần bị đánh dấu

A.A.Kalinitchenko


"Người đoàn viên TNCS thành Rostov" ("Rostovskii Komsomolets") K-42 đề án 627A, phục vụ trong thành phần sư đoàn tàu ngầm 38 binh đoàn 17 tại Cam Ranh năm 1983. "Con tàu cũng như con người, đều có số phận của nó. Một loại tàu - sang trọng và đầy hứa hẹn, đã ra đi, mang theo xuống đáy biển cuộc đời của những con người cùng với lịch sử số phận của chính mình, đôi khi cực kỳ ngắn ngủi. Một loại khác, kéo lê ngày tháng của mình, không có những phút thăng hoa huy hoàng, không quấy rầy con người cũng như biển cả. Loại thứ ba hàng chục năm liên miên trực chiến trên các biển và đại dương, nhắc ta nhớ đến đời phục vụ của nó cũng giống như số phận con người mà cuộc sống không phải tất cả đều phẳng lặng, tại đó lao động nâng cao phẩm giá con người, danh dự cao hơn lòng kiêu ngạo. Những con tàu như vậy đã giáo dục con người khi giao phó cho họ dự trữ độ bền của mình, nhưng chính nó lại đau khổ vì con người có tinh thần yếu đuối, chỉ biết đi biển một cách kém cỏi...."


Khu trục hạm Mỹ trong kính tiềm vọng K-42 sau khi bị tàu ngầm Xô Viết tấn công ngư lôi giả định. Sự kiện diễn ra trong thời gian chiến dịch "Fleetex-82" của Hải quân Mỹ ngoài bờ biển Viễn Đông của Liên Xô năm 1982.


USS "Enterprise" trong kính tiềm vọng của K-42. Sự kiện diễn ra trong thời gian chiến dịch "Fleetex-82" của Hải quân Mỹ. Cùng với việc tấn công ngư lôi giả định vào các khu trục hạm Mỹ và tàu sân bay Midway, thiết lập được sự theo dõi tàu sân bay "Enterprise" giữa vòng vây các khu trục hạm hộ tống, thủy thủ đoàn K-42 đã minh oan được cho mình sau lần bị đánh dấu vào sổ đen đầu tiên.


K-42 neo đậu bên cạnh tàu căn cứ nổi cho tàu ngầm "Ivan Kutcherenko" tại Cam Ranh, sau khi hoàn thành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu thứ 2 ở khu vực căn cứ Subic của Hải quân Mỹ. Tháng 7 năm 1983. Bên trái chuẩn úy hải quân Tumanov – đội trưởng đội hầm tàu, bên phải – thủy thủ đánh tín hiệu-điều khiển bánh lái Mukhin).


K-42 trong tư thế nổi đang vượt qua eo biển Singapore chuyển sang phục vụ trong đội hình binh đoàn cơ động số 8 Hải quân Xô Viết.


K-42 vượt qua đường Xích Đạo. Từ trái sang phải: Thần Biển Neptune – chuẩn úy hải quân Peredery, chỉ huy nhóm đạo hàng điện tử trung úy hải quân Kustov, trợ lý chính cho thuyền trưởng thiếu tá hải quân А.Ryzhuk, trưởng ngành tác chiến 4, chuyên ngành radar thượng úy hải quân S.Кrivomazov, trợ lý cho thuyền trưởng đại úy hải quân A.А.Кalinitchenko).


Trên đảo Sokotra. Trên nền trước từ trái sang phải: trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm A.A.Каlinitchenko,  chỉ huy nhóm thủy âm Yarantsev, chỉ huy tiểu đoàn đấu tranh sinh tồn Lifinsky.


Phần thưởng vinh dự cho phiên trực chiến xuất sắc nhất. Trái sang phải: kỹ sư cơ khí trực ban, chỉ huy tiểu đoàn kỹ thuật điện N.Trushkov, sỹ quan trực ban trợ lý thuyền trưởng tàu ngầm A.А.Каlinitchenko, trợ lý chính cho thuyền trưởng tàu ngầm А.Ryzhuk.


Khu trục hạm đề án 56A "Nakhodtchivyi" ngày 17 tháng 5 năm 1983 và...


...Tàu tuần tra đề án 50 "Volk". SKR "Volk" cùng với khu trục hạm "Nakhodtchivyi" đi bảo vệ 4 tàu cá Liên Xô trên Ấn Độ Dương và K-42 có nhiệm vụ đi kèm đoàn công voa này trong cuộc tập trận "Đại dương-83" của Hải quân Xô Viết tại phân đoạn diễn ra trong khu vực binh đoàn cơ động số 8. Tuy vậy do lạc đường, do hỏng radar và nhận định lầm, thuyền trưởng K-42 đã cho lệnh tấn công (giả định) đoàn công voa mà lẽ ra mình phải hộ tống - lần đánh dấu và ghi sổ đen thứ 2 của "Rostovskii Komsomolets".


K-42 trên dok sửa chữa trước khi xảy ra tai nạn tại vịnh Tchazma, Vladivostok.


Bảo quản K-42 (bên phải) sau tai nạn của K-431 tại vịnh Tchazma năm 1985. Lần đánh dấu và ghi sổ đen thứ 3 và cũng là cuối cùng của K-42.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Ba, 2013, 10:35:56 pm gửi bởi qtdc » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM