Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:42:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điểm tin quân sự tổng hợp  (Đọc 324583 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #60 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 10:14:12 am »

Lockheed Martin “vận động hành lang” cho F-35 tại Hàn Quốc

Quyết định cắt giảm số lượng đặt mua chiến đấu cơ thế hệ 5 F-35 Lightning II (sản phẩm của hãng Lockheed Martin) của Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ không ảnh hưởng tới thời hạn bàn giao dòng máy bay này cho không quân Hàn Quốc tại gói thầu F-X3. Thông tin nói trên đã được tuần báo Aviation Week đăng tải.

Theo đó, quy mô sản xuất chiến đấu cơ F-35 của Lockheed Martin sẽ đạt khoảng 48 máy bay/năm. Trong năm 2013, Mỹ dự kiến sẽ mua khoảng 29 máy bay thế hệ 5 này. Aviation Week trích lời giám đốc phụ trách khách hàng nước ngoài của chương trình F-35, David Scott, cho biết, Lockheed Martin sẽ không chỉ đảm bảo thời gian chuyển giao F-35 cho Hàn Quốc, mà là cả Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Na Uy và nhiều quốc gia khác.


Ảnh minh họa/ Internet

Theo khuôn khổ gói thầu F-X3, tới năm 2016, không quân Hàn Quốc sẽ chi ra 7,9 tỉ USD để mua 60 chiến đấu cơ mới. Tham gia gói thầu này, ngoài F-35, còn có các dòng chiến đấu cơ F-15SE Silent Eagle của hãng Boeing và Eurofighter Typhoon. Giới truyền thông vừa hé lộ thông tin về khả năng tham gia gói thầu này của hãng Saab (Thụy Điển) với sản phẩm JAS-39 Gripen. Dòng chiến đấu cơ thế hệ 5 của Nga là PAK FA lúc đầu cũng dự kiến tham gia thầu, nhưng sau đó đã tự rút lui.

Hãng tin Anh Reuters đăng tải, Nhật Bản mới đây tuyên bố sẽ rút khỏi thỏa thuận mua chiến đấu cơ F-35, nếu giá thành dòng chiến đấu cơ này tiếp tục tăng. Hiện tại, Nhật Bản đang có kế hoạch mua 46 máy bay thế hệ 5 này với giá 112 triệu USD/máy bay. 4 chiếc F-35 đầu tiên sẽ phải tới quốc gia mặt trời mọc trong tháng 4 tới.

Căn cứ vào các thông tin mới được công bố, giá thành của chiến đấu cơ F-35A bán cho không quân Mỹ là 187,6 triệu USD/ máy bay, còn F-35C là 258,3 triệu USD/máy bay. Tuy nhiên, ông D. Scott khẳng định, giá thành của F-35 sẽ giảm nhiều khi có thêm các đơn hàng quốc tế mới.

Nguồn http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/115/115/115/177208/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #61 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 10:21:12 am »

BAE trúng thầu cung cấp thiết bị chi viện điện tử mới cho máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2

Mạng tin tức khoa học kỹ thuật quốc phòng Trung Quốc cho biết, công ty hệ thống BAE vừa dành được hợp đồng cung cấp thiết bị tác chiến và chi viện điện tử (ESM), sẽ được lắp đặt cho 20 máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 (Spirit) của không quân Mỹ. Thiết bị ESM này sẽ thay thế cho hệ thống AN/APR-50 đã lạc hậu.


Máy bay ném bom chiến lược tàng hình B-2 (Spirit).

Với hợp đồng này, BAE đang tràn trề hy vọng sẽ trở thành nhà cung cấp chính hệ thống thiết bị ESM cho một số loại máy bay chiến đấu chủ lực của không quân Mỹ như F-22, F35. BAE sẽ cung cấp trực tiếp thiết bị cho tập đoàn nổi tiếng Northrop Grumman.
Trợ lý Giám đốc điều hành hệ thống sản xuất thiết bị tấn công tầm xa, thuộc chi nhánh của công ty Northrop Grumman, ông Dave Mazur cho biết, cuộc cạnh tranh để cung cấp hệ thống ESM hiện đại cho máy bay B-2 là rất khốc liệt. Northrop Grumman vui mừng vì cuối cùng đã lựa chọn được đối tác BAE.
Ông Dave Mazur cho biết, việc tiến hành hiện đại hóa hệ thống phòng ngự cho máy bay B-2 là điều tối quan trọng trong việc duy trì vị trí “ông Hoàng tấn công tầm xa” của dòng máy bay này.
Hệ thống ESM của công ty hệ thống BAE trên máy bay B-2 có tác dụng nhận dạng sóng bức xạ điện từ trong quá trình bay thông qua bộ phận thu của radar cảnh báo và cung cấp thông tin nhanh nhất về tình hình "chiến sự" cho phi công. Trợ lý giám đốc điều hành của BAE, kiêm Tổng giám đốc dự án giải quyết các vấn đề chi viện điện tử, ông Brian Waltes nhấn mạnh, BAE là công ty phù hợp với việc đảm nhiệm hiện đại hóa khả năng tác chiến và chi viện điện tử cho máy bay B-2, bởi vì công ty này đã từng cung cấp một số thiết bị tương tự cho máy bay chiến đấu hệ thứ 5 của Mỹ.
Sau khi lắp đặt ESM của BAE, máy bay B-2 sẽ tăng khả năng tàng hình, phân biệt rõ hơn các trạng thái khác nhau của đối phương để đột phá hệ thống phòng không tầm cao ngày càng tiên tiến của đối phương. Với khả năng vượt trội, hệ thống ESM của công ty BAE còn có khả năng thăm dò trận địa phòng không của đối phương, cảnh báo uy hiếp từ “kẻ thù” trực tiếp và gián tiếp, từ đó thông báo cho các thành viên của trong đội máy bay B-2, hạn chế tối đa thiệt hại trước đối phương.

Nguồn http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/115/115/115/177202/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #62 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 10:57:37 am »

Nga đánh giá thị trường phòng không Đông Nam Á

Những năm gần đây, Nga đang nỗ lực xâm nhập và bám rễ thị trường phòng không khu vực Đông Nam Á - khu vực 'khát' tổ hợp tên lửa phòng không hiện đại. Trong tháng 12/2011, tại đảo Langkawi ở Malaysia đã diễn ra triển lãm quốc tế truyền thống về kỹ thuật hàng không và hải quân LIMA 2011.

Đại diện cho các nhà cung cấp tới từ Nga lần đó là Tập đoàn Almaz - Antey. Tập đoàn này đã mang đến một gian trưng bày lớn của các xí nghiệp thành viên giới thiệu một lượng lớn các hệ thống phòng không do Nga sản xuất.

Tham gia đoàn của Tập đoàn Almaz - Antey có đại diện của 6 xí nghiệp sản xuất vũ khí và trang bị kỹ thuật cho các đơn vị phòng không của Nga: Phòng thiết kế hệ thống mang tên Viện sĩ Raspletin, Nhà máy cơ khí Ulyanov, Nhà máy cơ điện Izhevsk Kupol, Xí nghiệp nghiên cứu khoa học - sản xuất Dolgopruden, Phòng thiết kế thử nghiệm Novator và Công ty OAO RATEP.

Tại LIMA-2011 tập đoàn  đã giới thiệu thông tin về các hệ thống tên lửa S-400 Triumf, S-300PMU2, S-300VM, Buk-M2E, Tor-M2E, Tor-M1, tổ hợp pháo/tên lửa phòng không Tunguska M1, nhiều loại đài radar và các hệ thống chỉ huy phòng không  tự động hoá.

Vectơ chính trị có sự điều chỉnh về lợi ích kinh tế

Sự quan tâm của tập đoàn sản xuất các hệ thống phòng không  hàng đầu của Nga đến thị trường Đông Nam Á không phải là ngẫu nhiên. Hiện nay tình hình ở đây rất thuận lợi để giới thiệu các hệ thống tên lửa phòng không hiện đại cho các nước trong khu vực.

Một mặt, nền kinh tế và các lực lượng vũ trang của các nước Đông Nam Á đang phát triển rất nhanh, và khu vực này trở thành một trong những khách hàng mua sắm vũ khí hiện đại  lớn nhất, có những khoản tài chính lớn cho việc này.

Mặt khác, các lực lượng phòng không của đa số các nước Đông Nam Á hãy còn thô sơ nghèo nàn, thậm chí còn chưa có. Phần lớn các nước Đông Nam Á chỉ có  một số lượng nhỏ các hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp và bán kính nhỏ hoặc các tổ hợp tên lửa phòng không cơ động mang vác, chúng chỉ cho phép tổ chức phòng  không mục tiêu hoặc đơn vị hạn chế. Như vậy, thấy rõ là có một khoảng trống rất lớn trên thị trường.

Các yếu tố chính trị cũng hỗ trợ cho việc giới thiệu các hệ thống phòng không Nga cho các nước Đông Nam Á. Nhiều nước trong khu vực rõ ràng cảm thấy bất an, thậm chí có nỗi lo sợ ngầm do Trung Quốc đang mạnh lên và dễ trở thành cường quốc bất trị.

Điều đó buộc các quốc gia nằm trong “tầm tay với” của Bắc Kinh phải gia tăng khả năng quốc phòng của mình hướng về tương lai, đặc biệt tập trung vào các phương tiện đấu tranh vũ trang phòng không và hải quân.


Thị trường Đông Nam Á đang là "mỏ vàng" của Almaz-Antey.

Ngoài ra, sự gia tăng tính độc lập tự chủ của nhiều nước Đông Nam Á thúc đẩy họ xa dần định hướng chỉ dựa vào Mỹ và phương Tây và đưa họ tới nỗ lực đa dạng hoá tối đa việc mua sắm vũ khí, trong đó có các nhà cung cấp “không phải phương Tây”, kể cả Nga. Có thể thấy rất rõ điều này ở Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines và nó tạo nên việc gia tăng sự quan tâm đối với các chào hàng của Nga trên thị trường vũ khí khu vực.

Trong giai đoạn hậu Xô Viết, Nga đã có thể bắt đầu xuất khẩu vũ khí cho hàng loạt nước Đông Nam Á trước đây định hướng vào phương Tây và đã giành được thành quả lớn hơn cả ở Malaysia (bán được các máy bay tiêm kích MiG-29N và Su-30MKM), đã đưa được vũ khí của mình vào Singapore (các tổ hợp tên lửa vác vai) và Thái Lan (máy bay lên thẳng) và trở lại thị trường Indonesia một cách ngoạn mục.

Nga cũng chiếm được vị trí vững chắc trong số các nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Bangladesh và Myanmar. Đồng thời hợp tác kỹ thuật quân sự được tiếp tục và mở rộng thêm với khách hàng truyền thống và quan trọng là Việt Nam, giữ được quan hệ với Lào và Campuchia.

Ngoài “sự không chính trị hoá” mà Nga nhấn mạnh trong việc bán vũ khí, yếu tố khác giúp Nga cạnh tranh tại khu vực gồm: Giá thành thấp tương đối, điều rất có ý nghĩa với những nước không giàu có; Thái độ sẵn sàng ciung cấp các hệ thống vũ khí hiện đại nhất; Điều kiện mua bán mềm dẻo (cho vay tín dụng, hàng đổi hàng).  Do đó, các hệ thống phòng không  của Nga được chú ý hơn cả ở khu vực này, dù về tổng thể, các đối tác mới của Nga trong khu vực Đông Nam Á vẫn giữ thái độ thận trọng và thực dụng.  Tuy nhiên,  sự “lu mờ dần” của định hướng chính trị cứng rắn của các quốc gia châu Á và sự hấp dẫn của việc đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại trong khu vực nói chung đang mở ra cho các tổ hợp phòng không  của Nga con đường tiếp tục tiếp cận thành công vào thị trường các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, trong tương lai, xác suất xâm nhập vào thị trường Brunei, Thái Lan và Philippines của vũ khí Nga vẫn thấp. Lào cũng là khách hàng mua tổ hợp tên lửa phòng không vác vai Igla. Các nước còn lại hoàn toàn có thể được coi là những khách hàng mua các hệ thống phòng không  đa dạng do Nga sản xuất. Với cách xem xét như vậy, có thể thực hiện một tổng quan ngắn về tình hình và triển vọng đưa các hệ thống tên lửa phòng không  của Nga vào các quốc gia triển vọng hơn cả ở khu vực.

Việt Nam

Trong hai thập niên, Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải sẵn sàng đối phó với nguy cơ từ bên ngoài, buộc nước này phải duy trì một lực lượng vũ trang tương đối, dù những năm gần đây đã giảm đi hai lần.

Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam rất chú trọng mua sắm theo khả năng vũ khí hiện đại theo khả năng, chủ yếu vẫn từ Nga. Trong đó, chú trọng đổi mới trang bị cho phòng không - không quân - hải quân.

Trong lĩnh vực các hệ thống phòng không  thì bước đi quan trọng hơn cả là việc mua ở Nga năm 2005 hai tiểu đoàn tên lửa phòng không S-300PMU1, cũng như hợp đồng hiện đại hoá tên lửa phòng không S-125M thành cấu hình Pechora-2TM.


S-125-2TM bắn nghiệm thu tại trường bắn TB1.

Ở lĩnh vực radar, bên cạnh việc duy trì cải tiến radar cảnh giới P-35, Việt Nam đã mua đài radar và hệ thống chỉ huy tự động hoá hiện đại của Nga và Belarus.

Cho đến nay, Việt Nam vẫn duy trì hệ thống phòng không  được hình thành trên cơ sở viện trợ của Liên Xô (cũ), tuy có phần lạc hậu song vẫn giữ được khả năng sẵn sàng chiến đấu.

Các đơn vị bộ đội tên lửa phòng không gồm một số đơn vị hỗn hợp được trang bị các hệ thống phòng không S-75M và S-125M, các trung đoàn tên lửa  2K12 (SA-6) và đã có đơn vị được trang bị hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 hiện đại.

Ngoài ra, một phần các hệ thống S-125M đã được hiện đại hoá thành thành cấu hình Pechora-2TM. Tuy nhiên, Việt Nam không đủ sức trong tương lai gần thay thế toàn bộ số tên lửa phòng không cấu hình cũ của mình, nên nhu cầu về các tổ hợp hiện đại sẽ còn trong thời gian dài.

Trong trang bị của Lục quân và Hải quân Việt Nam có các tổ hợp tên lửa phòng không vác vai  (Strela 2, Strela 3, Igla), một số tổ hợp tên lửa phòng không tầm thấp tự hành (9K31 Strela 1 và 9K35 Strela 10).

Năm 2011, Việt Nam đã nhận hai tàu hộ vệ tên lửa Gepard 3.9, những tàu chiến này lần đầu tiên được trang bị tổ hợp pháo/tên lửa phòng không Palma (lắp pháo 30mm và tên lửa Sosna-R). Cuối năm 2011, Việt Nam quyết định đóng thêm 2 tàu Gepard, cơ bản vẫn giữ cấu hình cũ nhưng có bổ sung vũ khí chống ngầm.

Về mặt lý thuyết, dự báo trong 10 năm tới Việt Nam có thể tiếp tục mua một số tổ hợp tên lửa phòng không S-300PMU2  hoặc S-400. Có thể trong tương lai Việt Nam sẽ tiến hành các bước nhằm mua sắm các tổ hợp Buk-M2E hoặc Tor-M2E, cũng như các tổ hợp tên lửa phòng không cơ động Pantsir-S1.


Tương lai không xa, có thể Việt Nam sẽ trang bị hệ thống S-400 Triumf.

Do hạn chế về tài chính của Việt Nam không loại trừ là sẽ có triển vọng việc đề nghị nước này nâng cấp các tổ hợp tên lửa phòng không  2K12 (SA-6) bằng cách trang bị cho chúng các tên lửa phòng không có điều khiển 9M317E (>> chi tiết) giống như tập đoàn Almaz– Antey đã thực hiện ở Ai Cập và Iran.

Việt Nam sẽ vẫn giữ vị thế của mình là khách hàng ổn định đối với các tổ hợp tên lửa phòng không  cơ động hiện đại của Nga. Hạm đội hải quân Việt Nam trong tương lai có thể sẽ sẽ có nhu cầu đóng những tàu chiến lớn hơn được trang bị vũ khí do Nga sản xuất, bao gồm các tổ hợp tên lửa phòng không lắp cho tàu tầm thấp hoặc thậm chí tầm trung bình.

Indonesia

Bất chấp tăng trưởng về kinh tế, Indonesia phải đối mặt với sự thiếu hụt kinh phí để mua sắm vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự, cho nên về tổng thể vẫn là một thị trường ít tiềm năng.

Nói chung các lực lượng vũ trang Indonesia vẫn chưa phát triển về mặt kỹ thuật. Trước đây, các nước cung cấp vũ khí chủ yếu cho Indonesia từng là Mỹ, Anh và Hà Lan ("mẫu quốc" thời thực dân), nhưng từ năm 1999 đến 2006 Indonesia bị Mỹ và các nước phương Tây trừng phạt do các sự kiện ở Đông Timor.

Việc này đã thúc đẩy nhiều việc định hướng lại chính sách mua sắm của Indonesia sang phía Nga, các nước Đông Âu, cũng như Trung Quốc và Hàn Quốc.

Hợp tác kỹ thuật– quân sự của Indonesia với Liên xô bắt đầu từ cuối những năm 1950, trong giai đoạn Tổng thống Sukarno cầm quyền. Khi đó, Indonesia đã nhận được một khối lượng lớn trang bị kỹ thuật quân sự Xô Viết, trước hết là cho Không quân và Hải quân. Trong số các hệ thống tên lửa phòng không  Xô Viết, đến năm 1965 Indonesia đã kịp tiếp nhận một tiểu đoàn tên lửa S-75MK.

Sau đảo chính năm 1965, Suharto lên cầm quyền, hợp tác kỹ thuật quân sự với Moscow nhanh chóng trở về con số không và việc khôi phục lại nó với Nga chỉ xảy ra vào những năm 1990.

Tuy nhiên, do những vấn đề kinh tế kinh niên, quá trình này diễn ra với những lần ngưng trệ liên tục. Trong thập niên gần đây, Indonesia đã nhận được các máy bay Su-27SK và Su-30MK2, trực thăng, xe bọc thép, vũ khí bộ binh và những thứ khác.


Hệ thống phòng không tầm ngắn Rapier hiện đóng vai trò chủ lực trong lực lượng phòng không Indonesia, Malaysia.

Indonesia không có một hệ thống phòng không  đáng kể nào, mà chỉ có một lượng không lớn các hệ thống tên lửa phòng không tầm thấp như: Rapier (Anh), Grom (Ba Lan), TD-2000B (Trung Quốc), RBS-70 (Thuỵ Điển), Mistral (Pháp), và QW-1/3 (Trung Quốc).

Các lực lượng vũ trang Indonesia những năm gần đây đã nhiều lần tuyên bố kế hoạch mua sắm các tổ hợp tên lửa phòng không  tầm thấp và tầm trung. Tuy nhiên hạn chế về kinh phí của đất nước cho đến nay, thực chất, đã khiến những kế hoạch này dậm chân tại chỗ, buộc Indonesia dừng lại ở việc mua các hệ thống rẻ tiền “hạn chế” trên cơ sở sử dụng các tổ hợp tên lửa phòng không vác vai.

Dự báo là tình hình này sẽ còn tiếp tục trong những năm tới. Trong khi đó,  có những khả năng nhất định giới thiệu cho Indonesia những đơn hàng không lớn các hệ thống của Nga như Buk, Tor hoặc Pantsir-S1, đặc biệt nếu kèm theo những điều kiện tài chính ưu đãi cho phía Indonesia (ví dụ, cho vay tín dụng).

Đặc biệt, việc giới thiệu cho Indonesia các hệ thống tên lửa phòng không cơ động hiện đại của Nga xem ra có thể sẽ rất có triển vọng, cho dù ở đây thấy rõ có sự cạnh tranh đáng kể với các “sản phẩm nhái” của Ba Lan và Trung Quốc.

Năm 2003, Rosoboronexport đã bán cho Indonesia một lô hàng không lớn tên lửa Igla trang bị cho trực thăng vũ trang Mi-35P (theo một số nguồn tin chỉ vỏn vẹn 16 quả).

Về nguyên tắc, Nga có khả năng giới thiệu các tổ hợp phòng không tầm thấp để hiện đại hoá các tàu chiến của Hải quân Indonesia hoặc cho các tàu chiến có triển vọng sẽ được đóng mới.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Nga-danh-gia-thi-truong-phong-khong-Dong-Nam-A/20122/192998.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #63 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 10:58:30 am »

Nga đánh giá thị trường phòng không Đông Nam Á
Tiếp theo và hết

Malaysia

Đặc điểm của  chính sách mua sắm của Malaysia, nỗ lực đa dạng hoá tối đa nguồn cung cấp vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự, do đó dẫn đến việc mua các hệ thống có xuất sứ hết sức đa dạng và khiến lực lượng vũ trang Malaysia là một trong những quân đội "sặc sỡ" nhất thế giới về phương diện trang bị kỹ thuật.

Kể từ những năm 1990, Nga đã trở thành một trong những nhà cung cấp vũ khí chủ yếu cho Malaysia sau khi đã thành công trong việc trở thành nhà cung cấp máy bay chiến đấu chủ yếu do bán được 18 máy bay tiêm kích MiG-29 và 18 máy bay Su-30MKM.

Các thương vụ này đã trở thành bước đột phá chủ yếu của tổ hợp công nghiệp quốc phòng trên thị trường Đông Nam Á. Trong cả hai trường hợp các hợp đồng đều kèm theo những cam kết trách nhiệm rộng rãi và một phần là "hàng đổi hàng".

Ngoài ra, Malaysia đã mua máy bay lên thẳng, các phương tiện chống tăng và tổ hợp tên lửa vác vai Igla. Trong khi đó, kỳ vọng của phía Nga về tiếp tục mở rộng hợp tác, có cả bán những hệ thống phòng không có giá trị hơn hiện chưa thực hiện được. Dù sao Malaysia vẫn có triển vọng là một trong những khách hàng quý giá hơn cả của Nga về hợp tác kỹ thuật quân sự.


Malaysia và Indonesia có thể khách hàng tiềm năng của Buk-M1-2 để thay thế hoặc bổ sung lưới phòng không.

Malaysia có hệ thống phòng không khá hạn chế trên mặt đất, chủ yếu gồm một lượng không lớn các tổ hợp tên lửa phòng không tầm thấp Jernas, Rapier và Starburst (Anh), Igla (Nga), Anza Mk II (Pakistan) và FN– 6 (Trung Quốc).

Kế hoạch được công bố năm 2004 mua một số khá lớn các tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung được đánh giá là chương trình triển vọng duy nhất của Malaysia trong lĩnh vực phát triển phòng không. Chủ yếu do những quan niệm chính trị mà các nhà cung cấp chính được xem xét là tổ hợp tên lửa phòng không  Buk-M1-2 của Nga và rất lạ là... KS-1A (HQ-12) của Trung Quốc.

Do những khó khăn về kinh tế mà việc mua các hệ thống tên lửa phòng không thường xuyên bị dừng lại, nhưng theo đánh giá, Nga vẫn giữ được triển vọng khá lớn giới thiệu cho Malaysia các cấu hình Buk-M2E. Malaysia vẫn quan tâm đến việc mua các lô tổ hợp tên lửa phòng không  vác vai mới.

Myanmar

Trong nhiều thập kỷ Trung Quốc là nhà cung cấp vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự cho nước Myanmar bị cô lập. Myanmar chỉ thi thoàng có hợp tác với Liên Xô trong lĩnh vực này.

Cuối những năm 1990, Myanmar quay lại hợp tác với Nga với tư cách nhà cung cấp duy nhất có thể bán trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại trong bối cảnh bị phương Tây bao vây cấm vận.

Myanmar đã nhận được một lượng lớn vũ khí trang bị, có cả máy bay tiêm kích MiG-29, 2 đài radar 1L117 và các tổ hợp tên lửa phòng không Igla. Những năm gần đây hợp đồng bán cho Myanmar các hệ thống tên lửa phòng không đã được nâng cấp Pechora-2M và Buk-M1-2 đã được ký kết. Myanmar là một trong những khách hàng lớn tiềm năng của tổ hợp công nghiệp quốc phòng Nga. Có tin nước này đang xem xét việc mua các tổ hợp tên lửa phòng không Tor-M1 và Buk-M2E.

Singapore

Những năm gần đây, Singapore trở thành nước nhập khẩu nhiều các tổ hợp tên lửa phòng không  vác vai của Nga. Năm 1998, Nga đã bán cho nước này 30 tổ hợp tên lửa phòng không vác vai Igla.

Tới năm 2004, Singapore là một trong những nước đầu tiên đặt mua tổ hợp Igla-S của Nga. Các tên lửa này được trang bị cho các tổ hợp tự hành xe tự hành do tập đoàn Singapore Technology Kinetic nghiên cứu chế tạo trên cơ sở sử dụng khung gầm xe xích bọc thép М113А2 để trang bị cho Không quân nước này.

Theo các  nguồn tin công khai, Lục quân Singapore tỏ ra quan tâm đến việc mua thêm các tổ hợp tên lửa phòng không mang vác thuận tiện mới.

Bangladesh

Trong giai đoạn 2002-2005, nước này đã mua ở Nga 8 máy bay tiêm kích MiG-29 và 2 đài radar 1L117. Giá vũ khí được bán rẻ đã có vai trò chính trong các thương vụ này.

Bangladesh không có hệ thống phòng không  hiện đại, còn phòng không đơn vị của quân đội Bangladesh chỉ có các tổ hợp tên lửa vác vai do Trung Quốc sản xuất và một tiểu đoàn tên lửa phòng không tầm gần HQ-7 mua năm 2011.

Phía Nga cho rằng, Bangladesh có thể quan tâm đến các tổ hợp Buk, Tor và Pantsir-S1, cũng như các tổ hợp tên lửa phòng không vác vai hiện đại của Nga.

Vì yếu tố giá cả sẽ là quyết định trong mọi hợp đồng mua của Bangladesh, có lẽ nên đưa sang thị trường này các hệ thống tên lửa phòng không  “đã qua sử dụng” (ví dụ Buk hay Pechora-2).

Dẫu sao, do những đặc thù của định hướng chính trị nên Bangladesh xem ra có lẽ sẽ có sự lựa chọn có lợi cho các hệ thống phòng không  của Trung Quốc.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Nga-danh-gia-thi-truong-phong-khong-Dong-Nam-A/20122/192998.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #64 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 11:11:27 am »

Hệ thống chống bắn tỉa mới của Nga

Nga vừa trưng bày và giới thiệu một trong các thiết bị "chống bắn tỉa" mới, được cho là đã cứu sống ông Hugo Chavez, Tổng thống Venezuela. Tại hội trợ thương mại 2012, được khai mạc ở Moscow, Nga đã trình làng thiết bị chống bắn tỉa Anti-Sniper có khả năng phát hiện và tiêu diệt các tay súng bắn tỉa ở cự li tới 2,5 km, bất kể ngày đêm.

Theo RIA Novosti, các điệp viên tình báo hải ngoại cũng như các cơ quan tình báo trong nước của Nga đang tích cực mua các thiết bị quang học để hoàn thiện hệ thống này. Giám đốc kinh doanh của công ty Specialized Tactical Systems, ông Nicholas Slipchenko cho rằng, đây là một sản phẩm an ninh công nghệ cao.

"Hơn 15 đơn vị an ninh bảo vệ lãnh đạo cấp cao của các quốc gia khác nhau trên thế giới đang sử dụng công nghệ này. Các lực lượng đặc biệt Nga cũng đang sử dụng hệ thống này", ông Slipchenko nói. Theo ông Slipchenko, Anti-Sniper có thể bảo vệ người lính từ các mối đe dọa tiềm năng từ các vụ tấn công ở khoảng cách xa. "Thiết bị này sẽ giúp ích rất nhiều cho việc bảo vệ sự sống của một vị lãnh đạo cấp cao nào đó, bảo vệ máy bay chiến đấu ở sân bay", Giám đốc của Specialized Tactical System nói.

Theo nguồn tin, thiết bị mới không chỉ phát hiện lính bắn tỉa mà còn có thể làm mù đối phương bằng một chùm ánh sáng đặc biệt. Tại buổi giới thiệu, ông Slipchenko còn khoe hệ thống Anti-sniper đã cứu mạng của Tổng thống Venezuela Hogo Chavez. "Chúng tôi đã cung cấp thiết bị này cho các vệ sỹ bảo vệ Tổng thống Chavez khi ông có một chuyến thăm tới một khu vực gần biên giới Colombia. Ở khoảng cách 800 m, thiết bị của chúng tôi đã phát hiện ra các tay súng bắn tỉa. Ngay lập tức, Tổng thống Chavez được các nhân viên an ninh đưa ra xa khỏi khu vực nguy hiểm", ông Slipchenko kể lại.

Ông Slipchenko cũng lưu ý rằng, thiết bị này có thể tích hợp vào hệ thống hỗ trợ cho người lính tương lai thế kỷ 21, một bộ phận nhỏ của người lính tương lai như Felin. Cũng theo nguồn tin, Anti-sniper có thể dễ dàng nhận biết một tổ hợp quang học được gắn vào thiết bị tác chiến ở khoảng cách 2,5 km. "Tức là chúng tôi nhận ra hệ thống của họ trên các kênh của họ, ở khoảng cách này người lính chưa thể thực hiện được hoạt động và ý đồ của mình", ông Slipchenko nói.

Theo nhà sản xuất, thiết bị chống bắn tỉa này đã được sản xuất với số lượng tới con số là hơn 1.000. "Chúng tôi đang cố gắng để Anti-sniper có thể thích nghi với các nhiệm vụ chuyên môn, và có tính đến những chi tiết cụ thể, cho các đơn vị đặc biệt".

Thiết bị phát hiện quang học và giám sát trong mọi điều kiện ngày đêm Anti-sniper có khả năng phát hiện các phương tiện thông tin quang và quang điện tử lên đến 2,5 km, ở trong 3 dải quang phổ.  Khi đã phát hiện ra một mục tiêu, hệ thống sẽ phát ra một chùm tia quang học để làm gián đoạn sự quan sát của xạ thủ đối phương. Ngoài ra thiết bị còn có thêm khả năng chiếu sáng mục tiêu để tấn công súng bắn tỉa. Anti-sniper được trang bị thêm một thiết bị để ghi lại video và hình ảnh về mục tiêu.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/He-thong-chong-ban-tia-da-cuu-TT-Hugo-Chavez/20122/192924.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #65 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 11:15:13 am »

Indonesia sẽ đóng 44 tàu tàng hình cao tốc

Hải quân Indonesia vừa tổ chức lễ hạ thủy chính thức tàu tên lửa tàng hình nội địa thứ 2 mang tên KRI Kuijang-642. Tham gia buổi lễ tại cảng Batu Ampar, ở Batam có Bộ trưởng Quốc phòng Purnomo Yusgiantoro, Tư lệnh Quân đội Đô đốc Agus Suhartono và Tham mưu trưởng Hải quân, Đô đốc Soeparno.

Tàu cao tốc tên lửa thuộc dự án KRI-40 được nhà máy công nghiệp đóng tàu Hải quân PT Palindo Marine (PMI) tự thiết kế và đóng mới, trong đó sử dụng nhiều công nghệ đóng tàu của nước ngoài như Hà Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc…

Chuẩn Đô đốc Hải quân Indonesia TNI Sumartono tuyên bố, tới năm 2014, Hải quân Indonesia sẽ đóng tới 14 tàu tên lửa tàng hình cao tốc KRI-40 để triển khai đến khu vực biển Tây Indonesia và biển Bắc Sulawesi. Trong khi đó, kế hoạch tham vọng hơn cũng được thông qua để đóng tới 44 tàu tên lửa cao tốc loại này đến năm 2024.


Chiến hạm tên lửa cao tốc KRI Kuijang-642 của Hải quân Indonesia.

Phát biểu sau lễ hạ thủy tàu KRI Kuijang-642, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Yusgiantoro cho biết: "Tàu tấn công tên lửa tốc độ cao thuộc dự án KRI-40 không thể thiếu đối với các vùng lãnh hải và vùng hải đảo của nước này". Hải quân Indonesia đã đưa vào vận hành tàu tên lửa tốc độ cao (KCR) KRI-641 từ tháng 9/2011. Tính tới thời điểm hiện tại, Indonesia đã có 2 tàu tên lửa tàng hình nội địa và tàu KRI-40 thứ ba cũng đang được nhanh chóng hoàn thiện.

Tàu tên lửa cao tốc tàng hình KRI-40 được ứng dụng các công nghệ hiện đại và có thể tàng hình trước radar của đối phương. Tàu có tải trọng khoảng 250 tấn, chiều dài thân tàu 44 m, rộng 7,4 m và mướn nước 1,54 m. Tàu tên lửa  tên lửa dự án KRI-40 sử dụng 3 động cơ diesel MAN V12 công suất 1.800 mã lực, sử dụng 3 chân vịt 5 cánh và có tốc độ lên tới 30 hải lý/giờ (48 km/h). Thủy thủ đoàn 35 người và có một cabin nghỉ ngơi cho 13 thủy thủ. Vũ khí của tàu dự án KRI-40 bao gồm 4 ống phóng tên lửa chống hạm C-705 do Trung Quốc sản xuất, 2 súng máy phòng không 12,7 mm bố trí ở phía đuôi tàu. Ở phía mũi tàu có một bệ pháo 20 mm điều khiển thủ công để bắn máy bay và tấn công tàu mặt nước.

Với việc chế tạo thành công tàu tên lửa cao tốc Cluirt–641 và tàu Kujang-642, Indonesia đánh dấu bước nhảy vọt trong công nghệ chế tạo tàu chiến hiện đại trong khu vực Đông Nam Á.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Indonesia-se-dong-44-tau-tang-hinh-cao-toc/20122/193026.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #66 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2012, 11:35:31 am »

Cột thiêng nơi địa đầu Tổ quốc (kỳ 2)
Sức mạnh của lý lẽ

Những người lính hiên ngang giẫm lên đám mìn đã được đối phương châm ngòi... Đấu tranh bảo vệ chủ quyền cần mềm dẻo nhưng phải rất cương quyết và có quan điểm, lập trường rõ ràng. Lực lượng ta ít hơn, mỏng hơn nhưng khi ta có sức mạnh lý lẽ và thái độ quyết tâm thì họ cũng không thể lấn át. Đây là những kinh nghiệm mà Đồn Săm Pun đã rút ra trong cuộc đấu tranh trường kỳ với những thủ đoạn xâm lấn của phía bên kia.

Trung tá Vịnh vẫn nhớ như in chuyện chiến sĩ La Văn Tuệ của Đồn Săm Pun bị đối phương bí mật bắt cóc hồi năm 1994. Ngay sau khi phát giác vụ việc, Đồn Săm Pun cử đoàn trực tiếp sang thẳng trạm biên phòng của họ để đấu tranh, phản đối. Trạm trưởng của phía đối diện không ra mặt mà đưa một tiểu đội lính cầm súng, dàn hàng ngang trước của đồn chặn không cho đoàn của ta vào. “Ngay lúc đó tôi hô anh em xếp hàng đẩy đổ hàng rào người này và tràn vào, xông thẳng vào phòng trạm trưởng của họ quyết liệt yêu cầu thả người. Thấy ta làm căng quá, họ đành phải xuống nước, thả đồng chí Tuệ ra”, trung tá Vịnh kể lại.

Có những thời điểm, người lính áo xanh sẵn sàng chấp nhận hy sinh. Năm 1997, lợi dụng việc làm đường phục vụ cho phân giới cắm mốc (PGCM), lực lượng vũ trang phía bên kia thường xuyên cố tình cài hàng trăm quả mìn ống (Loại mìn dùng để kích nổ, khoét sâu xuống đất, phá hủy các bãi mìn cũ còn sót lại từ thời kỳ chiến tranh ở dọc đường biên.) lấn sâu vào đất của ta. Mỗi ống mìn dài 70 cm, nặng 3,6 kg, khi nổ có thể tạo thành những rãnh hào sâu tới 50 cm, kéo dài hàng mét. Mục tiêu của họ là sau đó sẽ làm đường lấn vào những khu vực này. Trong sự kiện diễn ra ngày 6/5/1997, cán bộ, chiến sĩ Đồn Săm Pun đã tràn xuống đấu tranh, ngăn chặn và tịch thu toàn bộ số mìn có khối lượng lên tới gần một tấn này.

Trong một lần đấu tranh chống hoạt động này, Trung đội trưởng Trần Mạnh Quân (Đồn Săm Pun) thậm chí đã phải nhảy lên đứng trên đống mìn mà lúc đó đối phương đã châm ngòi. “Nếu phía đối phương không chịu xuống nước thì không chỉ anh Quân mà nhiều cán bộ, chiến sĩ của ta đứng quanh đó cũng có thể bị mìn thổi tung”, trung tá Vịnh nhớ lại. Choáng váng trước tinh thần sẵn sàng hy sinh của bộ đội Việt Nam, phía bên kia đã buộc phải dập tắt ngòi nổ, tạm ngừng hoạt động xâm lấn. Đã gần 15 năm kể từ ngày ấy, Trung đội trưởng Trần Mạnh Quân giờ cũng là cán bộ công tác tại Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh nhưng câu chuyện về anh vẫn được nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hà Giang nhắc đến.


Tọa đàm giữa Đồn biên phòng Phó Bảng và lực lượng biên giới của Trung Quốc. Ảnh: đồn biên phòng phó bảng cung cấp

Những ngày gian khó

Cứng rắn, cương quyết trong những cuộc đấu tranh chống lấn chiếm chưa đủ, ta cũng phải rất mềm mỏng, sắc bén trong sử dụng các phương thức đấu tranh khác. Tại Xín Cái, đoàn cán bộ biên phòng cùng cán bộ xã, các già làng đã liên tục và kiên trì đến thực địa giải thích và vận động từng người dân Trung Quốc tôn trọng tình hữu nghị, tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Có trường hợp khu vực nằm sâu trong đất ta nhưng phía bên kia lại khẳng định đó là đất của họ và đưa dân ra nhận “ngày xưa nhà tôi ở chỗ này, chỗ kia”. Ngay lập tức phía Việt Nam mời những người già có uy tín ra. Các cụ chỉ thẳng vào mặt những kẻ nhận xằng đó và nói rằng tôi ở đây từ lúc anh còn chưa đẻ, bố mẹ anh là ai, nhà anh ở đâu tôi còn biết... “Các cụ kể vanh vách lai lịch từng nhà, từng người... Lúc đó họ mới cứng họng”, trung tá Vịnh kể lại.

Thực tế cho thấy, trước khi bắt đầu bước vào quá trình PGCM, Trung Quốc vẫn liên tục tìm cách tạo lợi thế bằng mọi cách. Từ 1996-2000, phía Trung Quốc tiến hành nhiều hoạt động xâm phạm chủ quyền sang đất ta. Đã xảy ra hàng trăm vụ xâm nhập vũ trang, xâm canh lấn đất, vượt biên khai thác lâm thổ sản, di chuyển cột mốc, mồ mả, chôn bia đá sâu vào lãnh thổ Việt Nam, gây cho ta nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới...

Tư liệu của Bộ đội biên phòng Hà Giang còn ghi lại vụ ngày 9/1/1996, phía Trung Quốc tự ý di chuyển mốc 6 lần thứ hai sâu vào lãnh thổ Việt Nam tới 500 m. Việc làm này đã vi phạm trắng trợn chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, vi phạm Hiệp định tạm thời mà Chính phủ hai nước đã ký kết năm 1991. Năm 1999, tại Sảng Mai Sao (xã Xín Cái), dưới sự hậu thuẫn của lực lượng vũ trang, phía Trung Quốc thường xuyên đưa hàng trăm dân sang xây, xếp tường đá lấn sâu vào đất ta hàng trăm mét. Theo lời kể của trung tá Vịnh, có lần chỉ trong khoảng 3 tiếng buổi trưa khi lực lượng ta về nghỉ, họ đã cấp tập huy động khoảng 500-600 người dùng xi măng mác cao trộn sẵn tràn sang xây xếp một bức tường đá dài gần nửa cây số, cao gần một mét. Bức tường đá này lấn sâu khoảng 300 m vào đất Việt Nam so với Hiệp định tạm thời mà hai bên ký ngày 7/11/1991. Sau đó, ta phải huy động hơn 100 cán bộ, chiến sĩ và người dân ra phá mất hơn 6 tiếng mới hạ được bức tường lấn chiếm. Thậm chí, tới tháng 7/2000 còn xảy ra vụ 300 dân Trung Quốc dưới sự hỗ trợ của 45 lính mang theo súng tiểu liên, trung liên, lựu đạn ngang nhiên xâm nhập theo ba hướng phá hoại ba khu vực canh tác của dân ta ở khu vực xã Bản Máy với diện tích lên đến gần 3.000 m2, đánh đuổi bộ đội và nhân dân ta làm 8 người bị thương.

“Những chuyện như vậy kể ra có rất nhiều nhưng những ngày gian khó ấy cũng đã lùi dần vào quá khứ...”, đại tá Nguyễn Xuân Bốn, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng Hà Giang, nói. Theo đại tá Bốn, mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng kể từ sau khi hoàn thành PGCM (12/2008), công việc bảo vệ đường biên, mốc giới của Bộ đội biên phòng Hà Giang đã thuận lợi hơn rất nhiều. Những căng thẳng xưa giờ đã dần lắng xuống. Từ vài năm trở lại đây, ở các xã, huyện biên giới, mỗi dịp Quốc khánh Việt Nam (2/9) và Trung Quốc (1/10) hai bên đều cử đoàn sang giao lưu, chúc mừng nhau. Lực lượng vũ trang hai phía cũng thường xuyên có những hoạt động trao đổi nghiệp vụ, hội đàm, phối hợp xử lý các vấn đề xảy ra trên đường biên. Một đường dây nóng giữa các lực lượng bảo vệ biên giới của hai bên cũng đang chuẩn bị được thiết lập sau nhiều lần phía bên kia trì hoãn. Theo đại tá Nguyễn Xuân Bốn, những điều đó thể hiện “một niềm tin đang được nâng lên dần dần”.

Săm Pun anh hùng

Với bề dày thành tích 45 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và đặc biệt là thành tích trong kiên cường đấu tranh chống lấn chiếm biên giới, ngày 3/8/1995 Đồn biên phòng Săm Pun vinh dự được Nhà nước trao tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ đổi mới.

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Suc-manh-cua-ly-le/20122/192995.datviet
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #67 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 08:52:11 am »

Hoạt động của Đoàn đại biểu cấp cao QĐND Việt Nam tại Thái Lan
Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa quân đội hai nước

    * Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan tiếp đoàn

Trưa 23-2, Đoàn đại biểu cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Vương quốc Thái Lan, theo lời mời của Ngài Đại tướng Thạ-nạ-sặc Pạ-tị-ma-pra-còn (Tanasak Patimapragorn), Tư lệnh các lực lượng quốc phòng Quân đội Hoàng gia Thái Lan, đến Thủ đô Băng Cốc. Đại tướng Sa-kon Sa-gia-nit, Phó tư lệnh các lực lượng quốc phòng Quân đội Hoàng gia Thái Lan ra sân bay đón đoàn.

Chiều cùng ngày, tại Tổng hành dinh Quân đội Hoàng gia Thái Lan đã diễn ra lễ đón trọng thể Đoàn đại biểu cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam. Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đã duyệt đội danh dự Quân đội Hoàng gia Thái Lan. Ngay sau Lễ đón, Đoàn đại biểu cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam, do Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ dẫn đầu và Đoàn đại biểu Quân đội Hoàng gia Thái Lan do Ngài Đại tướng Thạ-nạ-sặc Pạ-tị-ma-pra-còn dẫn đầu đã tiến hành hội đàm.

Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ cảm ơn sự đón tiếp trọng thị và hữu nghị mà Ngài Tư lệnh dành cho đoàn; chia sẻ những thiệt hại do trận lụt gây ra cho Thái Lan cuối năm 2011, đánh giá cao sự đóng góp của Quân đội Hoàng gia Thái Lan trong hoạt động cứu trợ, khắc phục hậu quả. Nhân dịp này, thay mặt đoàn, Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Bá Tỵ trao tặng món quà nhỏ của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần khắc phục hậu quả thiên tai.


Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ duyệt đội danh dự Quân đội Hoàng gia Thái Lan tại Lễ đón.

Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Bá Tỵ thông báo với Ngài Tổng tư lệnh một số nét về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là việc tổ chức thành công Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, bầu cử Quốc hội khóa XIII... Thượng tướng điểm lại quan hệ hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng giữa hai nước, đề xuất một số nội dung, nhằm tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa quân đội hai nước, bao gồm tăng cường trao đổi đoàn các cấp, trao đổi về đào tạo, duy trì tuần tra chung giữa lực lượng hải quân hai nước; trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực tìm kiếm, cứu nạn, giữa các cơ quan nghiên cứu và hợp tác chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương…

Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Bá Tỵ tin tưởng rằng, việc thúc đẩy các nội dung hợp tác trên sẽ góp phần làm cho quan hệ quốc phòng giữa hai nước, hai quân đội có bước phát triển mới, phù hợp với lợi ích của hai nước, góp phần tích cực vào hòa bình, ổn định trong khu vực.

Đại tướng Thạ-nạ-sặc Pạ-tị-ma-pra-còn đánh giá cao những thành tựu mà nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam đạt được thời gian qua, cảm ơn sự chia sẻ của Quân đội nhân dân Việt Nam với những thiệt hại do trận lụt năm 2011 tại Thái Lan, nhất trí cao với những nội dung hợp tác thời gian tới và nhấn mạnh việc tăng cường trao đổi về đào tạo là một trong các hình thức hiệu quả tăng cường sự tin cậy, hiểu biết lẫn nhau. Đại tướng cảm ơn, vui vẻ nhận lời mời thăm chính thức Việt Nam.

Chiều cùng ngày, tại trụ sở Bộ Quốc phòng Thái Lan, Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan Su-cum-pon Chu-la-long-khon (Sukumpol Chulalongkhon) đã thân mật tiếp Đoàn đại biểu cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngài Bộ trưởng đánh giá cao chuyến thăm của đoàn, hài lòng với những nội dung trao đổi giữa Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Tư lệnh các lực lượng quốc phòng Quân đội Hoàng gia Thái Lan, đồng thời sẽ tạo điều kiện để mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa quân đội hai nước ngày càng phát triển.

Ngài Bộ trưởng hài lòng với những kết quả mà hai đoàn đã trao đổi, cảm ơn lời mời sang thămViệt Nam của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh và mong rằng mối quan hệ, hợp tác giữa quân đội hai nước sẽ tiếp tục phát triển trên nhiều lĩnh vực.

Tổng Tham mưu trưởng Đỗ Bá Tỵ cảm ơn Ngài Đại tướng đã dành thời gian tiếp đoàn, chia sẻ những thiệt hại do trận lụt năm 2011 gây ra và mong rằng các nội dung hợp tác về quốc phòng giữa hai nước thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả trong thời gian tới, nhất là tăng cường trao đổi các đoàn thăm lẫn nhau ở các cấp, góp phần tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau.

Tối cùng ngày, Đại tướng, Tư lệnh các lực lượng quốc phòng Quân đội Hoàng gia Thái Lan đã tổ chức chiêu đãi Đoàn đại biểu cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam.

Nguồn http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/10/50/50/177438/Default.aspx
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #68 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 09:16:39 am »

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc dừng xâm phạm chủ quyền

Việt Nam phản đối các hoạt động xâm phạm chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi nhiều quan chức Trung Quốc đến hoặc công bố các dự án đối với hai quần đảo. Báo chí Trung Quốc gần đây đăng tải nhiều thông tin về một số hoạt động của các cơ quan Trung Quốc ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bộ trưởng Giao thông Trung Quốc ra quần đảo Hoàng Sa để thị sát tàu Hải Tuần. Cục trưởng Cục thể thao Trung Quốc ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa để khảo sát tình hình triển khai hoạt động thể dục thể thao.

Viện nghiên cứu Môi trường và Khảo sát công trình hải dương "Nam Hải" đã thực hiện dự án đo đạc, giám sát, phân tích và đánh giá sự thay đổi của một số đảo điển hình ở quần đảo Hoàng Sa. Cục trưởng Cục ngư chính khu "Nam Hải" của Trung Quốc thì cho biết Trung Quốc có kế hoạch về việc xây dựng căn cứ nghề cá ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, cũng như xây dựng cầu tàu và căn cứ dịch vụ nghề cá ở Trường Sa.

"Những hoạt động như vậy trái với thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, cũng như không phù hợp với Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) và các cam kết duy trì hòa bình ổn định trên biển", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị tuyên bố trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay.

Theo ông Nghị, Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế, mọi hoạt động thuộc khu vực của hai quần đảo này mà không có sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đồng thời làm phức tạp và căng thẳng thêm tình hình tại Biển Đông.

"Việt Nam yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động này và hủy bỏ các dự án xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, cùng các bên liên quan hợp tác giữ gìn hòa bình ổn định ở Biển Đông, thực hiện nghiêm túc DOC", ông Nghị nhấn mạnh.

Giữa năm ngoái, vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nóng lên với các vụ tàu Trung Quốc cắt cáp của tàu khảo sát địa chấn Việt Nam hay tàu Trung Quốc va chạm với các tàu của Philippines. Tình hình dần lắng dịu, đặc biệt sau các hội nghị giữa ASEAN và Trung Quốc hồi tháng 7/2011 tại Bali, Indonesia.

Tháng 10/2011, nhân chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam và Trung Quốc đã đã ký thỏa thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển gồm 6 điểm, trong đó có việc thiết lập đường dây nóng cấp chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thông tin. Trong chuyến thăm chính thức mới đây của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tới Trung Quốc, Việt Nam và Trung Quốc cùng khẳng định mọi bất đồng trên biển sẽ được hai bên giải quyết bằng biện pháp hòa bình.

Nguồn http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2012/02/viet-nam-yeu-cau-trung-quoc-dung-xam-pham-chu-quyen/

« Sửa lần cuối: 24 Tháng Hai, 2012, 09:52:03 am gửi bởi daibangden » Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
nguyenhoangcema
Thành viên
*
Bài viết: 2087


AK 47


« Trả lời #69 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2012, 10:04:01 am »

Cột thiêng nơi địa đầu Tổ quốc (kỳ 3)
Áp lực trên vai người cắm mốc

Giữ được đất đai trước nạn lấn chiếm đã khó, bảo vệ được chủ quyền trong suốt quá trình phân giới cắm mốc (PGCM) cũng gian nan không kém. Ngày 30/12/1999 tại Hà Nội, thay mặt hai nhà nước, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Đường Gia Triền đã ký Hiệp ước về biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc (TQ). Hiệp ước này được coi là nền tảng cho việc xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định lâu dài giữa hai quốc gia.

Tuy nhiên, Hiệp ước 1999 mới chỉ xác định đường biên giới bằng lời văn và trên bản đồ. Để thực thi chủ quyền quốc gia, tiến hành bảo vệ và quản lý lãnh thổ trên thực địa, hai bên cần tiến hành PGCM, chuyển đường biên giới từ lời văn trong hiệp ước và bản đồ ra thực địa. Ngày 26/7/2002, mốc đôi mang số hiệu 261 đã được cắm tại cửa khẩu Thanh Thủy (Hà Giang) và Thiên Bảo (Vân Nam, TQ). Đây là cột mốc phân định biên giới đầu tiên được cắm trên tuyến biên giới kéo dài hơn 277 km giữa Hà Giang và các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (TQ).  Lúc ấy có lẽ không ai nghĩ rằng phải mất thêm tới hơn 6 năm nữa cột mốc cuối cùng giữa Hà Giang và Vân Nam/Quảng Tây mới được hoàn thành.


Thượng tá Triệu Quyết Long tại cột mốc biên giới. Ảnh: tư liệu

Đường biên giữa Hà Giang và Vân Nam, Quảng Tây chỉ chiếm chưa đến 20% trong tổng chiều dài 1.449,566 km đường biên giới Việt Nam - TQ, nhưng lại thuộc một trong những địa bàn khó khăn nhất. Đoạn biên giới thuộc Hà Giang có tới 32 khu vực C ( Là các khu vực có tranh chấp, hoặc nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới. Trên toàn tuyến biên giới phía Bắc có 164 khu vực C và các cuộc đàm phán trước khi hai nước ký kết Hiệp ước về biên giới đất liền VN-TQ tháng 12/1999 chủ yếu tập trung vào việc xử lý 164 khu vực C này.), địa hình núi đá hiểm trở, chia cắt, lượng bom mìn, vật nổ còn sót lại từ thời kỳ chiến tranh khá lớn. Khí hậu khắc nghiệt, giao thông, đi lại vô cùng gian khổ. Các khu vực cắm mốc phần lớn có cơ sở hạ tầng yếu kém. Nhiều nơi không có đường giao thông, xa khu dân cư. Có những nơi nhóm PGCM phải đi bộ 3-4 ngày mới vào được khu vực đóng trại để thực hiện công tác song phương.  

Các loại vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị cùng mốc (trong đó mốc đại 950 kg, mốc trung 500 kg, mốc tiểu 300 kg) phần lớn đều phải vận chuyển bằng sức người đến vị trí mốc giới. Vào mùa mưa các trận lũ ống, lũ quét thường xuyên đe dọa an toàn của các đội công tác. Mùa khô lại thường có sương mù dày đặc, lâu tan, làm hạn chế việc quan sát, định hướng đi của đường biên..  Đó là còn chưa kể đến các lực lượng quân sự mà phía bên kia vẫn duy trì ở các điểm cao mà họ chốt giữ từ năm 1979 thường xuyên có hành động ngăn cản lực lượng rà phá vật cản phục vụ PGCM của ta...

“Ban chỉ đạo của Chính phủ về PGCM biên giới trên đất liền Việt Nam - TQ lúc đó đã xác định Hà Giang hoàn thành công tác PGCM cũng có nghĩa là toàn tuyến hoàn thành”, thượng tá Triệu Quyết Long, nguyên nhóm trưởng nhóm PGCM số 6 nói.

Thâm niên gắn bó với PGCM ở Hà Giang, có lẽ ít ai vượt qua được thượng tá Triệu Quyết Long. Gần 30 năm phục vụ trong quân ngũ thì non nửa quãng thời gian đó ông được biệt phái phục vụ cho công tác đặc biệt này. Lần đầu là giai đoạn khảo sát nắm tư liệu kéo 6 năm (1993-1998) phục vụ cho đàm phán Hiệp ước biên giới trên đất liền. Trong giai đoạn triển khai cắm mốc trên thực địa (2000-2008) ông lại tiếp tục được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ làm nhóm trưởng của một trong ba nhóm công tác PGCM của Hà Giang.

“Một trong những thách thức lớn nhất cho các nhóm PGCM thời điểm đó là làm thế nào để có thể chuyển cột mốc đường biên đã được xác lập trên bản đồ ra thực địa một cách chính xác nhất”, thượng tá Long nhớ lại. Trong Hiệp ước biên giới trên đất liền ký năm 1999, đường biên giới mới chỉ được mô tả bằng lời văn và được vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000. Trên bản đồ chỉ là một chấm kim nhưng khi chuyển ra thực địa có thể sai lệch hàng chục, thậm chí hàng trăm mét.

Trùng trùng áp lực

Trong quá trình đối chiếu bản đồ với thực địa chỉ cần sai lệch với nhau vài chục centimet trên thực địa là các nhóm công tác của Việt Nam và TQ đã phải bàn cãi quyết liệt. Có trường hợp như mốc 499 tại xóm Mỏ Phàng (xã Thượng Phùng, huyện Mèo Vạc), các đội công tác của hai bên phải mất 53 ngày tác nghiệp ngoài thực địa để xác định, trong đó có tới 14 lần hai bên cùng ra hiện trường tranh cãi kịch liệt mới định vị được vị trí mốc. Theo thượng tá Long, do cả ta và phía TQ đều tận dụng tối đa các sai số cho phép nên đấu tranh trên thực địa cực kỳ cam go. “Sai số chỉ có giới hạn cho phép, nếu để xảy ra ngoài sai số đó, chúng tôi chắc chắn bị kỷ luật nặng... ”, thượng tá Long nói.

Thực tế cho thấy việc giám sát công tác PGCM đã được thực hiện cực kỳ gắt gao. Trên toàn tuyến có 6 tỉnh (gồm 12 nhóm PGCM) phía VN đã phải thay thế tới 5 nhóm trưởng trong quá trình công tác. Thậm chí có nhóm phải thay đến người thứ bảy. “Khi làm, nếu như có sai số lớn quá mức cho phép sẽ có quyết định thay ngay. Vì nếu sợ làm tiếp sẽ có nhiều bất lợi. Nói chung những thành viên của các nhóm công tác thời kỳ đều chịu những áp lực cực kỳ lớn từ nhiều phía”, thượng tá Long kể lại.

Thời gian đầu việc PGCM trên toàn tuyến biên giới diễn ra vô cùng chậm chạp và căng thẳng. Nhiều điểm mốc không giải quyết nổi vì quan điểm hai bên khác nhau quá xa. Từ năm 2002-2003, Hà Giang chỉ xác định được 18 mốc chính và 18 mốc phụ, trong đó cắm hoàn chỉnh 14 mốc chính. Tổng quãng đường biên chung được xác định trong 2 năm ròng rã ấy chỉ dài vỏn vẹn 6,837 km. Nếu theo tiến độ này, để hoàn thành PGCM, riêng Hà Giang có thể mất ngót nghét 90 năm! Và có thể còn lâu hơn nữa...

Nguồn http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/hoso/Ap-luc-tren-vai-nguoi-cam-moc/20122/193409.datviet

Đọc loạt bài này mới thấy được 1 phần nhỏ những gian khổ của các chiến sĩ biên phòng  Cry Cry Cry.  Xin phép được ngả mũ trước các "Anh hùng thầm lặng" của Tổ Quốc.
Logged

Việt Nam long live
(Sống ở trên đời chả sợ, thì sợ gì chết. Chết đã không sợ thì... ngoài vợ ra còn sợ cái gì nữa.)
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM