Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 12 Tháng Mười Một, 2019, 10:01:53 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975)  (Đọc 103801 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #120 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:16:44 AM »

3 tháng đầu năm 1966, có 125 cuộc đấu tranh của công nhân trực tiếp đòi tăng lương, nhưng phong trào đấu tranh của công nhân lại đang hướng mạnh vào đối tượng chủ yếu là Mĩ. Tháng 4 năm 1966, giữa cao trào đấu tranh chính trị một trăm ngày, công nhân xây dựng cảng mới cho Mĩ bãi công chống chính sách kì thị chủng tộc và thái độ đối xử tàn tệ của người Mĩ đối với người Việt Nam. Cuộc đấu tranh của công nhân xây dựng cảng kéo theo cuộc tổng bãi công của toàn thể 5.000 công nhân người Việt ở hãng thầu xây dựng RMK, BRJ ở Sài Gòn, bao gồm thợ máy, thợ mộc, thợ đúc, thợ nguội, lái xe, rải rác khắp các cơ sỡ của hãng này.

Các cuộc hội thảo tập trung tại Tổng liên đoàn lao động đã trở thành cuộc phát động từ của công nhân. Hội thảo ở đây (ngày 10 tháng 4) bắt đầu từ nội dung những khó khăn đời sống công nhân đến những đau khổ của người Việt Nam… Cuối cùng mọi người kết luận gốc gác mọi việc chính là do sự có mặt của quân đội Mĩ, muốn thoát khỏi tình trạng này chỉ có cách quân Mĩ cút đi, Mĩ chấm dứt chiến tranh. Công an, mật vụ, cảnh sát chìm nổi ngồi đấy, tùy viên lao công đại sứ quán Mĩ (thực chất là CIA) và cả một số người cầm đầu trong Tổng liên đoàn lao động có mặt đã gây cản trở, nhưng quần chúng bất chấp, phát biểu hăng hái. Các cuộc hộ thảo đúc kết thành 23 khẩu hiệu chống Mĩ, đòi hòa bình, dân chủ, dân sinh.

Từ sau ngày 1 tháng 5 (đến cuối năm 1966), các cuộc đấu tranh của công nhân dưới hình thức hội thảo đưa yêu sách, đến cuộc bãi công của công nhân các xí nghiệp, nghiệp đoàn khuân vác, dệt, xăng dầu, nhà máy xay… ủng hộ cuộc đấu tranh của Hãng dệt Nam Hòa, đòi thả những đại biểu công nhân Nam Hòa bị ngụy bắt giữ, diễn ra suốt tháng 5. Cuộc đấu tranh của công nhân các hãng thầu RMK - BKJ trở nên rộng lớn, 15.000 công nhân xây dựng trên 10 công trường thuộc hãng từ Tân Sơn Nhất, Biên Hòa đến Cam Ranh, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Chu Lai, bắt đầu từ cuộc bãi công ngày 21 tháng 6 của 700 công nhân xây dựng sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, sân bay Biên Hòa. Cuộc đấu tranh này được công nhân hãng dầu Caltex ủng hộ và được 1000 công nhân người Phi Líp Pin, người Nam Triều Tiên hưởng ứng. Nội dung là đòi tăng lương, chống sa thải, chống kì thị chủng tộc. Cuộc đấu tranh làm tê liệt hàng chục công trường xây dựng công trình quân sự thuộc loại ưu tiên nhất của Mĩ(1).

Cuộc bãi công gây trở ngại lớn đến kế hoạch quân sự và hậu cần của Mĩ, có nguy cơ lan rộng. Đại sứ Mĩ Cabot Lodge(2) và Westmoreland buộc phải đề nghị chủ thầu RMK - BRJ giải quyết các yêu sách của công nhân.

Do thất bại về quân sự và nhiều biến động chính trị, cuộc phản công mùa khô thứ nhất của Mĩ buộc phải chấm dứt trước thời gian quy định của kế hoạch là tháng 6 năm 1966. Trận Bàu Sắn Tây Ninh ngày 17 tháng 5 năm 1966 (gây thương vong lớn 1 chiến đoàn của sư đoàn bộ binh 1 Mĩ) được đánh dấu là trận kết liễu cuộc phản công lần thứ 1 của Mĩ trên chiến trường Đông Nam Bộ.

Ngày 5 tháng 5 năm 1966 đại sứ Mĩ Cabot Lodge bay về Washingon để trình tổng thống Mĩ Johnson báo cáo về cuộc phản công mà sau này tài liệu mật Lầu Năm Góc gọi là ban báo cáo 7 số “0”:

- 1: “0” hao tổn được Việt cộng

- 2: “0” tiêu hao đơn vị chính quy lớn nào của Việt cộng

- 3: “0” ngăn được du kích phát triển

- 4: “0” ổn định được địa phương

- 5: “0” giành được chủ động

- 6: “0” ngăn được đà suy sụp của quân đội Sài Gòn

- 7: “0” tăng cường và bổ sung kịp lực lượng của Mĩ.

Sau đó Cabot Lodge còn bổ sung vào báo cáo của mình: “78% đất đai còn trong tay Việt cộng. Trên 30 phần trăm quân chính quy Nam Việt Nam không tuân lệnh Sài Gòn. Bộ máy chiến tranh kinh khủng của Mĩ ở Sài Gòn gần như co rúm lại nếu không có một sự gia tăng quân số đáng kể nữa!”.

Sau phản công mùa khô thứ nhất thất bại, ý chí xâm lược của Mĩ nao núng, mâu thuẫn nội bộ thêm gay gắt. Bố trí chiến lược của địch trên chiến trường bắt đầu bị đảo lộn. Tuy nhiên, Tổng thống Mĩ vẫn ngoan cố đáp ứng yêu cầu tăng quân Mĩ vào miền Nam, tăng chi phí tới mức cao nhất cho chiến tranh ở Việt Nam.

Trong chuyến về Washington từ ngày 30 tháng 4 đến ngày 17 tháng 5 năm 1966, đại sứ Mĩ Cabot Lodge đã nhận chỉ thị mới là cố gắng giằng co với đối phương trong mùa mưa, giữ nguyên hiện trạng mùa khô năm 1965-1966, không để tình hình tồi tệ hơn, ổn định tình hình chính trị nội bộ chính quyền Sài Gòn, xúc tiến mạnh mẽ bình định gom dân để đánh bại đối phương trong mùa khô 1966-1967 và 1967-1968 hoặc ít nhất cũng cải thiện được tình hình.


(1) Một đường băng mới cho máy bay phản lực và máy bay vận tải hạng nặng dài 3.045 mét ở sân bay Tân Sơn Nhất và Biên Hòa. - Một sở thí nghiệm phim ảnh trinh sát. - Một trung tâm tình báo và một trung tâm hành quân chiến thuật ở Tân Sơn Nhất. - Một công trình khai thác trên đường Sài Gòn - Biên Hòa. - Một kho lớn của RMK - BRJ (kho Island). Một tòa nhà mới cho Sứ quán Mĩ. - Một bệnh viện dã chiến Mĩ. - Bến số 1 cảng mới Sài Gòn, nơi lục quân Mĩ đóng Bộ chỉ huy hậu cần. - Một cơ sở chính của RMK - BRJ.
(2) Từ tháng 7 năm 1965 đến năm 1967, Lodge trở lại Sài Gòn làm đại sứ thay Taylor
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #121 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:18:23 AM »

Trước tình thế Mĩ tiếp tục leo thang chiến tranh trên cả hai miền, ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quân và dân cả nước: “Chiến tranh có thể kéo dài năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp, có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Trên chiến trường, sau chiến thắng mùa khô thứ nhất, quân dân miền Đông Nam Bộ ráo riết chuẩn bị nhiệm vụ kế tiếp với một khí thế mới trên thế trận mới. Ta đã đạt những thắng lợi quan trọng, nhưng trước âm mưu lớn, toàn diện của địch, ta chưa chuyển kịp tình hình cả về nhận thức và biện pháp, lấn xây dựng lực lượng. Đấu tranh chính trị vẫn chưa theo kịp đà thắng lợi về quân sự. Đấu tranh chống bình định chưa được sát hợp với thủ đoạn mới của địch.

Trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, ta đã vừa đánh bại một bước âm mưu của Mĩ định biến Củ Chi thành vành đai trắng, vừa thiết lập được một vành đai du kích rộng lớn, giữ vững vùng giải phóng, sau mùa mưa tiếp tục duy trì áp lực quân sự phía Bắc Sài Gòn và ngay cả trong vùng địch chiếm đóng.

Ở Sài Gòn, tiểu đoàn 8 pháo binh quân khu phối hợp lực lượng biệt động và bộ đội địa phương Bình Tân, thực hiện một trận đánh xuất sắc: đêm 12 tháng 6 năm 1966 pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất 400 trái đạn, nhận xét của một nhà báo Mĩ: rơi “chính xác như để vào từng chiếc máy bay”. Ta phá hủy và phá hỏng 67 máy bay các loại. Đứng trước hiện trường thảm hại, tướng Mĩ Taylor ngậm ngùi than thở: “Đây là trận đánh tệ hại nhất cho quân ta!”

Tiếp đến, đêm 17 tháng 8 năm 1966, đúng một tháng sau ngày Bác Hồ kêu gọi quyết tâm thắng Mĩ, pháo binh Sài Gòn - Gia Định pháo kích căn cứ hậu cần Mĩ ở khu vực ngã tư Bảy Hiền, phá hủy và hỏng gần 100 xe quân sự, giết chết và làm bị thương nhiều nhân viên kĩ thuật Mĩ, Tân Tây Lan và ngụy Sài Gòn(1).

Trên vành đai diệt Mĩ Đồng Dù, đêm 26 tháng 6 năm 1966 lúc 18 giờ 30 phút, đúng lúc trong căn cứ Đồng Dù quân Mĩ đang tập trung chuẩn bị ăn tối và vui chơi, tiểu đoàn 8 thực hiện trận pháo kích. Tiếp đó, lúc 5 giờ 15 phút sáng ngày 27 tháng 6 năm 1966, đúng lúc quân Mĩ vừa thức dậy và rời khỏi công sự, một trận pháo kích thứ hai lại bồi xuống căn cứ. Hai trận đã diệt và làm bị thương nhiều tên Mĩ, hủy 20 xe quân sự, 50 nhà dù và hàng chục nhà kho.

Đêm 23 tháng 7 năm 1966, tiểu đoàn Quyết Thắng tập kích gây thiệt hại nặng một đại đội bảo an ngụy ở Suối Cụt, rồi lui về đóng ở Sa Nhỏ, phía Tây Bắc cách thị trấn Củ Chi 16 km.10 gờ trưa ngày hôm sau 24 tháng 7 năm 1966, 12 trực thăng chở một đại đội Mĩ đổ chụp xuống; theo phương án đã chuẩn bị, tiểu đoàn xuất kích tiêu diệt đại đội này khi vừa chạm đất. Một bầy trực thăng nữa đổ tiếp hai đại đội xuống Cỏ Ống, gần Sa Nhỏ để ứng cứu. Trực thăng vũ trang Mĩ lồng lộn phóng rốc két, vãi đạn 12,7 li dọn bãi. Các chiến sĩ Quyết Thắng không bỏ lỡ cơ hội, nhanh chóng vận động tiếp cận, bám và tấn công lực lượng Mĩ đang đổ xuống. Một bộ phận Mĩ bị tiêu diệt, 5 máy bay bị bắn rơi. Số còn lại phải chạy về Trung Hòa, không kịp thu dọn xác đồng bọn. Trận này thể hiện rõ chiến thuật “nắm thắt lưng Mĩ mà đánh”, một lối đánh mà tiểu đoàn còn xây dựng lâu dài. Lần đầu tiên trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định, tại trận địa Sa Nhỏ - Cỏ Ống, quân Mĩ đã bỏ lại xác đồng bọn.

Tháng 6 năm 1966, theo ý định của Quân ủy Trung ương và quyết định của Bộ chỉ huy Miền (tháng 4 năm 1966), ở phía Đông Nam Sài Gòn, một tổ chức quân sự mới của ta ra đời: Đặc khu Rừng Sác, sông Lòng Tàu (chảy qua Rừng Sác) càng hiện rõ là yết hầu của cái dạ dày của chiến tranh xâm lược Mĩ đang leo thang. Westmoreland thừa nhận: Trong chưa đầy hai năm (từ năm 1965), Hoa Kì đã xây dựng một hệ thống hậu cần hiện đại tại một nước kém phát triển, có khả năng chi viện cho trên một triệu rưỡi quân thuộc các nước khác nhau, đồng thời cung cấp những khối lượng hàng lớn tiếp tế cho dân chúng địa phương. Trong hệ thống hậu cần đó, phải kể trước hết là các cảng ở Sài Gòn và các kho ở phía Đông Nam Sài Gòn.

Năm 1966, cảng Sài Gòn được nâng khối lượng hoạt động lên rất lớn. Có thể tồn trữ 486.000 tấn/3 tháng. Quân cảng kéo dài 2km, với 11 cầu tàu. Trên các đoạn sông Lòng Tàu, Nhà Bè còn có những quân cảng lẻ ở Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ, Rạch Dừa… gắn liền với những kho tàng chiến tranh lớn nhất là: Long Bình, Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ… Tổng khối lượng chiếm 60% dự trữ hàng chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam. Riêng kho xăng Nhà Bè có tổng khối lượng các bể xăng dầu là 63.000 mét khối.

Từ mùa mưa năm 1966, theo báo cáo của các chiến sĩ trinh sát, hằng ngày có đến 30 tàu vận tải 6 tấn đến 13 ngàn tấn ra vào sông Lòng Tàu.

Không đợi đến ngày quân viễn chinh Mĩ vào chiến trường, kẻ thù mới chú ý “dọn bãi” Rừng Sác” để giữ an toàn cho “sân sau” của “thủ đô”. Từ năm 1962, một tổ chức quân sự của chúng được thành lập gọi là “Biệt khu Rừng Sác”. Năm 1963, Bộ Tổng Tham mưu Sài Gòn lại nâng biệt khu Rừng Sác thành Đặc khu Rừng Sác, với ý nghĩa Đặc khu Rừng Sác là yết hầu của thủ đô Sài Gòn. Nếu Việt cộng chủ động và khống chế được thủy lộ quốc tế Lòng Tàu của Đặc khu Rừng Sác, đương nhiên tiềm lực chiến đấu của Việt Nam Cộng hòa trên ba bình diện quân sự, chính trị, kinh tế sẽ suy sụp và chịu ảnh hưởng trầm trọng bởi huyết lộ này(2).


(1) Báo cáo lúc đó: 167 tên bị thương và chết.
(2) Đặc khu Rừng Sác của địch trực thuộc vùng 3, về mặt lãnh thổ, trực thuộc chỉ huy của BTL Hải quân về mặt tác chiến. Đây là lời huấn thị của đô đốc, tư lệnh hải quân ngụy cho thuộc cấp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #122 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2012, 07:20:15 AM »

Về phía ta, Rừng Sác cũng là một căn cứ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Năm 1963, nơi đây đã hình thành một trạm tiếp nhận hàng quân sự từ miền Bắc vào (vòng xuống Bến Tre rồi rở lên) và từ năm 1964 đã có phân đội đánh tàu của Bộ Tham mưu Miền, cắm chốt ở đây (trước chiến dịch Bình Giã), tiếp đó có đội công binh thủy từ miền Bắc vào hợp nhất lấy danh là đoàn 125, rồi đoàn 5001 (Nguyễn Khắc Bảo, Đoàn trưởng, Tư Hải, Chính trị viên). Tháng 1 năm 1966, đoàn 125 phát triển lấy mật danh mới là đoàn 43 (Nguyễn Văn Mây là Đoàn trưởng). Ngày 17 tháng 3 năm 1966, bằng súng ĐKZ, đoàn 43 đánh cháy một tàu chở dầu trọng tải 8.000 tấn trên sông Lòng Tàu.

Trước năm 1968, Đặc khu Rừng Sác của ta là tổ chức quân sự cấp trung đoàn trực thuộc Bộ tham mưu Miền, lực lượng bao gồm chủ lực của Đặc khu, các lực lượng chiến tranh nhân dân tại chỗ, hệ thống dân chính đảng 10 xã ở Rừng Sác(1). Nhiệm vụ của Đặc khu là: “tập trung “chặn cổ” sông Lòng Tàu, đồng thời đánh các quân cảng, kho tàng, góp phần đánh vào “thủ đô” địch, phát triển chiến tranh nhân dân tại chỗ, giữ căn cứ, bàn đạp, đảm bảo hành lang vận chuyển. Chỉ huy trưởng kiêm chính ủy đầu tiên của Đặc khu là Lương Văn Nho tức Hai Nhã.

Sau khi hình thành, Đặc khu Rừng Sác chú trọng ngay việc xây dựng thực lực toàn diện. Chỉ sau một thời gian đã có lực lượng tập trung địa phương (ngoài lực lượng Đặc khu), mỗi xã đều có một tiểu đội du kích.

Mở màn đợt cao điểm đầu tiên của Đặc khu (từ ngay 1 đến ngày 15 tháng 7 năm 1966), ngày 2 tháng 7 năm 1966, đội hai bắn cháy một tàu dầu 10.000 tấn, bắn bị thương hai tàu tuần tiễu trên vàm sông Giàn Xây và sông Lôi Giang.

Qua đợt này, ta diệt được một bộ phận sinh lực địch, nhưng điều quan trọng là rút được kinh nghiệm đánh tàu địch trên sông, đồng thời hiểu rõ hơn về khả năng, quy luật hoạt động của địch.

Ngày 20 tháng 7 năm 1966, hai tiểu đoàn của lữ đoàn 199 Mĩ mở cuộc phản kích ở Rừng Sác. Tại khu vực Đồng Chùa, Rạch Lá, 60 chiến sĩ đội 4 bẻ gãy nhiều đợt xung phong quyết liệt của địch. Ta hi sinh, bị thương một số đồng chí, nhưng giữ vững trận địa, diệt và làm bị thương 135 tên Mĩ.

Tháng 8 năm 1966, Đặc khu Rừng Sác lần đầu sử dụng thủy lôi sừng chạm do Liên Xô chế tạo. Hai trái thủy lôi hiện đại nhưng không có đủ phương tiện kèm theo để ra trận được; chiến sĩ Rừng Sác phải khắc phục những khó khăn tưởng chừng không vượt nổi, trong đó có sáng kiến “cần cẩu đước” (của Ban tham mưu trận đánh), để đưa hai trái thủy lôi xuống những chiếc ghe chài, mỗi trái nặng 1075 kilô để ghếch). 8 giờ sáng ngày 23 tháng 8 năm 1966, tại khúc quanh ngã ba Vàm Cống, chiếc tàu vận tải quân sự 10.000 tấn của Mĩ mang tên Balton Rouger Victory chạm thủy lôi chìm tại chỗ. Chiếc tàu này rời cảng San Franciscô ngày 8 tháng 8 năm 1966, trên tàu có 45 thủy thủ, 100 thiết giáp M.113, 3 máy bay phản lực, một khối lượng lương thực đủ phục vụ cho sư đoàn 4 Mĩ trong một mùa khô. Đây là chiếc tàu quân sự lớn nhất từ trước đến nay của quân xâm lược bị đánh chìm trên đoạn sông Lòng Tàu. Địch phản kích dữ dội một tuần. Mười ngày sau trên ngã ba sông Lôi Giang, ĐKZ 75 của Đặc khu lại bắn cháy chiếc tàu dầu 8.000 tấn. Qua trận đánh tàu Balton Rouger Victory, Đặc khu được tặng thưởng huân chương quân công hạng ba(2).

Tướng Westmoreland phái ngay một tiểu đoàn Mĩ xuống Rừng Sác để “đập tan thế cầm cự của Việt Cộng” cùng với một kế hoạch “mưa dầm chất độc” 15 ngày xuống Rừng Sác. Bộ tư lệnh Hoa Kì cũng quyết định lấy Rừng Sác làm thí điểm và sau đó làm trọng điểm trong chương trình khống chế mặt nước mang tên Game Warden. Cuộc chiến đấu ở Rừng Sác ngày càng quyết liệt.

Năm 1966, một tổn thất cũng là bài học xương máu còn ghi lại trong lịch sử Rừng Sác; trên một trận địa Cù Lao không tên bên sông Lôi Giang, pháo ta hạ một tàu giặc, nhưng sau tiếng nổ, đoàn trực thăng võ trang đến vây chặt Cù Lao suốt một giờ liền. Tiếp đó là một cuộc đổ bộ từ sau lưng đánh tới, đại đội ta coi như bị hất ra phía bờ sông. Anh em chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, trên 30 chiến sĩ hi sinh.

Lịch sử Đặc khu cũng ghi lại bài học ở Thiềng Liềng, xã Thanh An. Địch phát hiện ý định ta phục kích đánh tàu tại đây, chúng ra tay trước. Đơn vị hành quân vừa chặn chân vị trí tập kết, chưa kịp moi hầm, quân Mĩ đã ì xèo trên mặt sông, trên trời. 13 tàu LCM, 40 lượt máy bay HU1B Mĩ bao vây, đổ chụp. Ở thế cù lao cô lập ta đã mất một đại đội bộ binh (về mặt biên chế), một trung đội pháo, gần nửa tiểu đội trinh sát. Địch khênh xuống tàu chiến chiến lợi phẩm trong đó có 4 ĐKZ, 2 cối 82.

Nếu nói địa đạo Củ chi là “căn cứ chìm” thì Rừng Sác là “căn cứ nổi”. Trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt của một chiến khu trên mặt nước, lại ở vị trí “sân sau” quân thù, để đảm bảo sự tồn tại và tiến công được, lực lượng Đặc khu Rừng Sác phải xây dựng theo hướng đặc công hóa toàn bộ về thành công và hoạt động. Do đó, từ một tổ chức quân sự toàn diện (phụ trách cả quân dân chính đảng địa phương), Đặc khu đi vào chuyên môn hóa (đặc công nước, đặc công bộ, pháo đặc công…) và trở thành một trung đoàn đặc công gọi là “đoàn 10 Rừng Sác”, thực hiện những nhiệm vụ quân sự. Sự tồn tại của một lực lượng quân sự “xuất quỷ nhập thần” ở một chiến khu trên mặt nước đã buộc Westmoreland phải thừa nhận: những người lính Mĩ ở đây gặp phải “một cuộc chiến đấu kì lạ trong một cuộc chiến tranh kì lạ (trong “Tường trình người lính”).


(1) Lực lượng vũ trang tập trung ban đầu của dặc khu gồm 4 đội chiến đấu, hai đội vận chuyển và ba cơ quan đoàn bộ. Địa bàn trách nhiệm 10 xã chia làm hai khu: Khu phía Đông sông Lòng Tàu gọi là Khu A, khu phía Tây sông Lòng Tàu gọi là Khu B.
(2) Trận đánh tàu Baolton Rouger Victory gây cho địch bất ngờ và choáng váng. Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn ra chỉ thị khẩn cấp về việc điều tra, nghiên cứu tổ chức và lực lượng Cộng sản ở Rừng Sác. Tường trình của Bộ tư lệnh hải quân ngụy gửi lên Bộ Tổng tham mưu ghi nhận: “… Cộng sản đã nâng Rừng Sác lên hàng quân khu, ngang hàng với các quân khu khác tại miền Nam (1 quân khu Cộng sản ở miền Nam bao gồm từ 2 đến 5 tỉnh). Trong khi đó Quân khu Rừng Sác chỉ vẻn vẹn 2 quận Quảng Xuyên, Cần Giờ và một phần đất nằm trong vùng liền ranh với Rừng Sác - Nhơn Trạch…”. Điều này giải thích ho sư huy động tối đa lực lượng quân sự cần thiết của địch để tiến công Rừng Sác.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #123 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 06:55:19 AM »

Trên đất liền, các lực lượng võ trang đang đánh những cuộc hành quân chuẩn bị phản công chiến lược mùa khô thứ hai của Mĩ. Ngày 30 tháng 10 năm 1966, trên đất Củ Chi, tiểu đoàn Quyết Thắng phối hợp với bộ đội Miền chặn đánh một tiểu đoàn Mĩ và hai đại đội ngụy hành quân càn quét, diệt 75 Mĩ, 5 ngụy, phá hủy hai xe bọc thép M113.

Tháng 11 năm 1966, quân Mĩ lại mở cuộc càn phối hợp với ngụy vào vùng Nhị Bình, Bình Mĩ. Tiểu đoàn 2 Gò Vấp - Hóc Môn phối hợp với du kích tại chỗ đánh gẫy cuộc càn, bắn rơi 19 máy bay lên thẳng, loại khỏi vòng chiến hàng trăm tên Mĩ ngụy.

Chuẩn bị vào cuộc phản công mùa khô lần thứ hai, 3 đơn vị mới của Mĩ tiếp tục vào chiến trường miền Đông.

Nếu trong đợt phản công lần một, địch đánh đồng thời trên hai hướng chủ yếu là Đông Nam Bộ và Khu 5 với chiến lược “tìm diệt”, hi vọng giành thắng lợi lớn thì trong phản công lần thứ hai, địch tập trung đánh trên một hướng chủ yếu là Đông Nam Bộ với chiến lược “hai gọng kềm” tìm diệt và bình định, nhưng yêu cầu đề ra chỉ là để “cải thiện tình hình” mong tìm một lối thoát cho cuộc chiến tranh. Ý định cụ thể của chúng là: gọng kềm thứ nhất (tìm diệt) tập trung cố gắng trên một hướng Đông Nam Bộ, đánh vào ba nhóm căn cứ ở các tỉnh Tây Ninh - Bình Dương Hậu Nghĩa và Phước Tuy, trọng điểm là Chiến khu Dương Minh Châu, vùng phụ cận Bắc - Tây Bắc Sài Gòn, kết hợp gọng kềm thứ hai (bình định) triển khai mạnh mẽ công tác bình định trên các tỉnh “ưu tiên quốc gia”, mở rộng vành đai an ninh xung quanh Sài Gòn(1).

Tuy hạ thấp mục tiêu, nhưng địch còn tin ở sức mạnh quân đông, vũ khí nhiều. Địch sử dụng 40% quân Mĩ trên toàn miền Nam, kết hợp một trung đoàn Úc và 4 sư đoàn ngụy (kể cả sư đoàn dù thiếu) thành khối chủ lực chung 7 sư đoàn, 5 lữ trên chiến trường miền Đông. Lần này quân Mĩ, chư hầu có giành một phần lực lượng cho “gọng kềm” bình định.

Sau đại hội động viên và rút kinh nghiệm đánh Mĩ được mở rộng trên đất Củ Chi, quân khu Sài Gòn - Gia Định vào mùa khô quyết chiến mới 1966-1967. Tháng 10 năm 1966, hội nghị du kích chiến tranh toàn miền Nam lần thứ ba công nhận Củ Chi là một trong ba lá cờ đầu phong trào chiến tranh du kích.

Sau cuộc hành quân thăm dò, nghi binh “dọn bãi”, ngày 3 tháng 11 năm 1966 địch mở màn cuộc phản công chiến lược lần hai với cuộc hành quân Attelboro (nếu tính cả giai đoạn thăm dò thì từ ngày 14 tháng 9 đến ngày 20 tháng 11 năm 1966) 30.000 quân Mĩ ngụy đánh vào chiến khu Dương Minh Châu.

Đồng thời với cuộc hành quân Attelboro, địch chủ trương tổ chức lễ “Quốc khánh” đệ nghị cộng hòa ngày 1 tháng 11 năm 1966, tại Sài Gòn thật rầm rộ có diễu binh lớn, nhằm phô trương sức mạnh “đồng minh”.

Chớp lấy thời cơ này, ta quyết định thực hiện một trận đánh phủ đầu bắn pháo ĐKZ 75 thẳng vào lễ trường. Đã nhiều lần bị đòn bất ngờ ngay tại sào huyệt nên lần này địch hết sức cảnh giác, công việc bảo đảm an toàn cho buổi lễ chuẩn bị trước cả tháng(2).

Các bộ phận được giao nhiệm vụ lần này gồm có một khẩu đội ĐKZ 75 của tiểu đoàn 6 Bình Tân được điều động xuống Nhà Bè do Trần Minh Tâm chỉ huy, một khẩu đội ĐKZ của đoàn 8 Sài Gòn - Gia Định và một khẩu đội ĐKZ của đặc công Rừng Sác do Nguyễn Văn Tùng phụ trách. Hai Nga chỉ huy khẩu đội, được điều động xuống Thủ Đức, đồng chí Dương Long (Trần Văn Cảm) cánh trưởng cánh 4 đích thân quyết định phần tử bắn. Chỉ huy trận địa là đồng chí Hai Hòa, trợ lí pháo cánh 4 Thủ Đức. Khẩu đội 8 sau 1 tháng hành quân đến địa điểm quy định, có 5 chiến sĩ hi sinh, mất sức chiến đấu. Ngày 31 tháng 10 năm 1966, địch lại càn thủy bộ ở Nhà Bè, đánh bom trúng nơi tập kết của khẩu đội ĐKZ tiểu đoàn 6 Bình Tân, 2 pháo thủ và 6 chiến sĩ bộ binh hi sinh. Cùng ngày ở Rạch Bàng - Long Phước, Thủ Đức, địch vào cách khẩu đội đặc công Rừng Sác chỉ 100m. Tuy nhiên mọi việc vẫn không lộ. Đêm 31 tháng 10, các khẩu đội vào trận địa. Trận địa Thủ Đức đặt cách rạch Bạt Vạt ấp Đông Phú, xã An Phú cách mục tiêu 5375m. Trận địa Nhà Bè đặt tại ấp Chánh Bình, xã Chánh Hưng, cách mục tiêu 6745m. Ngoài ra còn hai khẩu cối 68 dự bị của biệt động đặt trong nội thành đặt tại khúc quanh rạch gầm Trương Minh Giảng do Bá Phong và chị Ba Lài phụ trách. Ngoài ra còn các trận địa mìn gây tiếng nổ thu hút địch.

Lễ trường nhà thờ Đức Bà hôm ấy không vắng một tên đầu sỏ nào từ Cabot Lodge, Westmoreland đến Thiệu, Kì, Hương, “quý quan khách” đại sứ “đồng minh”… Theo chương trình, sau diễn văn của “Chủ tịch ủy ban hành pháp Trung ương” Nguyễn Cao Kì, sẽ diễn ra cuộc diễu binh “lớn chưa từng thấy” gồm hàng ngàn quân đồng minh cùng các tiểu đoàn quân chủng Việt Nam Cộng hòa, các đoàn cơ giới tối tân và cuộc phi diễn của “thần sấm”, “con ma”, “phượng hoàng”… cuối cùng là đội ngũ cán bộ bình định, những người nhái, đoàn nữ binh, và đội quân chó berger. Qua đài bán dẫn, đồng thời khu vực mục tiêu xác định được bằng mắt nhờ nóc chuông nhà thờ Đức Bà, các pháo thủ theo dõi chặt chẽ thời cơ nổ súng.


(1) Tinh thần kế hoạch A8142 tháng 11 năm 1966 của địch, Hồ sơ 16/DT kho lưu trữ Phân viện lịch sử quân sự.
(2) Từ ngày 18 tháng 10 năm 1966, trung tá giám đốc Cảnh sát đô thành Sài Gòn Nguyễn Văn Luận đã ra yết thị; “thưởng 10 ngàn đồng cho nhân viên nào bắt hay giết được một tên Việt cộng có vũ trang để bảo vệ cho ngày quốc khánh 1 tháng 11” còn “đồng bào tự tay hạ sát hoặc bắt Việt cộng sẽ được tặng thưởng từ 50.000 đồng. Những cuộc càn quét, oanh tạc vùng ven diễn ra suốt một tuần lễ trước ngày 1 tháng 11, nguyên là ngày 1 tháng 11 năm 1965 ta tổ chức đánh, nhưng không thành.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #124 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 06:56:28 AM »

Đúng vào lúc Nguyễn Cao Kì vừa lên tiếng, pháo trận địa Nhà Bè lập tức nổ súng. 12 trái đạn liên tục lao vút vào mục tiêu. Lễ trường náo động. Mọi việc ngừng đi hồi lâu. Pháo địch phản kích dồn dập, 15 phút sau, 4 máy bay lên thẳng vũ trang đã lồng lộn, tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến xuất kích phía Nhà Bè. Phản ứng của địch lan về phía Thủ Đức. 5 máy bay lên thẳng dọn bãi đổ 40 lính Mi xuống Gò Đất sau lưng trận địa Rạch Bà Vạt chỉ vài trăm mét. Chiến sĩ ta níu chặt cành cây bình bát, tàu dừa nước, chống chọi sức gió trực thăng đang có khả năng làm lộ trận địa. 8 giờ 25 phút, đài phát thanh ngụy lại lên tướng. Tướng Nguyễn Vĩnh Lộc điều khiển cuộc diễu binh vừa bắt đầu, lập tức khẩu đội Rừng Sác (Thủ Đức) lên tiếng với 12 phát liên tục, phát cuối cùng vừa nổ, đất dưới chân pháo đã sụp lở. Sáu trận địa mìn nghi binh của du kích đều cùng nổ để thu hút địch. Các khẩu đội nhanh chóng tháo pháo ém, cải trang, bắt đầu cuộc rút lui dài ngày, ác liệt, được địa phương và nhân dân hỗ trợ.

Lễ trường địch hai lần hỗn loạn. Đợt một từ đầu sỏ “chính phủ” đến quý “quan khách” chen lấn, đạp nhau chạy. Trên hàng quân danh dự của quân lực Hoa Kì, đại tá Hải quân Mĩ Richard vạt vã trên vũng máu. Đợt hai, cuộc diễu binh tan vỡ. Giám đốc sở cảnh sát quốc gia Nguyễn Ngọc Loan mặc bộ đồ cảnh sát dã chiến đứng ra dẹp loạn ở đường Thống Nhất. Một xe M113 lao vào cứu đại sứ Cabot Lodge. Có một trái rơi cách lễ đài có 4 mét, nhưng tiếc rằng nó không nổ.

Chỉ 24 phát đạn, nhưng tác động tâm lí của nó không lường được.

Hãng AFP nhận xét: “Cuộc pháo kích đã gây ra những cảnh hoảng sợ khủng khiếp và chứng tỏ Việt cộng đã có thể mang vũ khí nặng vào thủ đô Nam Việt Nam”. Một hãng thông tấn phương Tây trong bài “Ngày quốc khánh đẫm máu và nước mắt” cho biết: “Từ lúc xảy ra trận pháo kích cho đến mấy ngày sau đó, những người cầm đầu chính phủ Việt Nam Cộng hào và ngài đại sứ Hoa Kì Cabot Lodge, ngài đại tướng Westmoreland không dám gặp nhau. Họ muốn tránh mặt nhau và tránh mặt tất cả, hình như cả hai bên đều xấu hổ, ngượng ngùng bởi những biện pháp an ninh mà họ nói rằng sẽ đặc biệt hữu hiệu, đã trở thành vô hiệu…”.

Westmoreland thừa nhận trong “Hồi kí tường trình người lính”: “Ngày 1 tháng 11 năm 1966 Việt cộng đã bắn 14 loạt đạn súng không giật trong buổi lễ diễu binh, đủ để nhắc nhở mọi người là còn phải tiếp tục chiến tranh”. “Mọi người” ở đây không ai khác mà chính là Nhà trắng, Lầu Năm góc!...

Địch tiếp tục tăng cường bố phòng Sài Gòn sau trận đòn đau “quốc khánh” nhưng không ngăn chặn nổi hoạt động của các lực lượng vũ trang thành phố diễn ra ngay sau đó(1).

Cuộc hành quân Attelboro của Mĩ bị tổn hao sinh lực và phương tiện chiến tranh nhưng khoàn toàn không đạt mục tiêu “tiêu diệt sư đoàn 9 và 1 trung đoàn của Bắc Việt tại căn cứ Dương Minh Châu” như Westmoreland đã thông báo trước. Tướng De Chanshures bị cách chức, lữ đoàn 196 Mĩ bị đánh quỵ. Ngay khi Attelboro chưa kết thúc, bộ tư lệnh dã chiến 2 Mĩ thành lập ngày 15 tháng 3 năm 1966 để chỉ huy lực lượng chiến đấu Mĩ ở vùng 3 chiến thuật, đã chuẩn bị cuộc hành quân mới lớn nhất ở miền Đông từ trước tới nay nhằm vào phía Bắc Tây Bắc Sài Gòn mang tên Cédar Falls, còn gọi là “hành quân tam giác sắt”.

Trong lúc địch chuẩn bị, bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn - Gia Định đã xây dựng phương án tấn công một mục tiêu chiến lược hàng đầu ở phía Nam sân bay Tân Sơn Nhất, thực hiện ý định tạo quả đấm quan trọng phía sau cuộc phản công chiến lược mới của địch.

Sân bay Tân Sơn Nhất đã được Mĩ hiện đại hóa về mặt hàng không và quân sự. Sân bay rộng 1290 ha, qua nhiều trận pháo kích, đã được tăng cường hàng trăm hầm chìm, ụ nổi, chứa được từ 400 đến 500 máy bay các loại, có hàng chục kho bom đạn, nhiên liệu. Ở khu phía Nam sân bay có các cơ quan chỉ huy! Bộ chỉ huy tập đoàn không quân số 7, Bộ tư lệnh quân viễn chinh Mĩ, Bộ tư lệnh không quân ngụy… do bị đánh nhiều lần nên cấu trúc phòng thủ sân bay rất mạnh.

Đơn vị chủ công thực hiện trận này là đội 2 đặc công biệt động quân khu, lực lượng phối hợp là tiểu đoàn 6 Bình Tân. Bộ phận đánh bên trong và cửa mở gồm 3 mũi của đội hai (mỗi mũi 12 chiến đấu viên) và một mũi của trung đội thuộc đại đội 1 tiểu đoàn 6 Bình Tân. Chỉ huy trưởng là Nguyễn Văn Kiệp (Đồng Đen), chính trị viên Bành Văn Trân (Năm Vững), phó chỉ huy Năm Quang và Tư Nành. Bộ phận đánh vòng ngoài là tiểu đoàn 6 Bình Tân tăng cường 6 xã thủ B.40 của đội 2 và du kích Tân Sơn Nhì. Ngoài ra còn 1 hệ thống cơ sở phục vụ trong dân. Ý định chiến thuật là phối hợp giữa các hình thức tập kích xung lực, tập kích hỏa lực, tập kích bằng mìn nổ hẹn giờ.

Chiều ngày N-1, quân Mĩ đột xuất đổ 5.000 quân trong, ngoài sân bay để chuẩn bị hành quân Cédar Falls. Mặc dù vậy toàn bộ chiến sĩ hạ quyết tâm không thay đổi phương án, ngày giờ.

Đêm ngày 3 rạng ngày 4 tháng 12 năm 1966, với kĩ thuật ngụy trang, tiền nhập và dùi sâu điêu luyện, các mũi của các đồng chí Đồng Đen, Năm Vững đã lọt được vào sân bay. Nhưng khi đến đường băng số 2 thì mũi Đồng Đen bị địch phát hiện, buộc phải nổi súng trước hẹn. Tình huống rở nên phức tạp và ác liệt. Các chiến sĩ xuất kích vật lộn với Mĩ và chó Berger. Một tổ 3 người bị chó cắn chết 2 người, còn lại 1 người bị thương, mình đẫm máu vẫn tiếp tục chiến đấu. Một tốp lao vào khu kho bom, đặt ba khối thuốc nổ có gắn kíp hẹn giờ. Số đông lao vào khu để máy bay, dùng pháo tay đánh hết chiếc này sang chiếc khác. Các chiến sĩ hỏa lực đặt cối 60 ngay trên đường băng, bắn vào đài chỉ huy và khu nhà ngủ của giặc lái. Quân Mĩ xông tới, pháo thủ Dũng hết đạn và lựu đạn, tháo đế cối ra đập đầu một tên Mĩ đang vật lộn với chiến sĩ Vĩ. Chiến sĩ biệt động với lựu đạn, pháo tay, B40 tung hoành trên đường băng, đánh đến sào huyệt Nguyễn Cao Kì, tên này lẩn trốn xuống hầm ngầm.


(1) Một số trận có tiếng vang: tháng 12 năm 1966 lực lượng vũ trang quận 7 tập kích một trung đội cảnh sát ngụy ở phường Bến Đá, bắt sống hai tiểu đội đưa về căn cứ. Kỉ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đêm 20 tháng 1 năm 1966, du kích phường Rạch Ông, phường Cây Súng cắt đứt toàn bộ dây điện trên đường Âu Dương Lân, căng khẩu hiệu, rải truyền đơn, ném lựu đạn trừng trị địch ở nhiều nơi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #125 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 06:58:25 AM »

1 giờ 40 phút (sáng ngày 4 tháng 12) các mũi bên trong hoàn thành nhiệm vụ, nhưng bộ binh, xe tăng địch đã bịt kín cửa mở. Lực lượng Tư Nành tại cửa mở chiến đấu quyết liệt, nhưng địch quá đông, vòng vây mỗi lúc càng khép chạt. Lực lượng của ta bị thương vong cao, buộc phải mở đường máu tháo vây sau khi đánh bật hàng chục đợt xung phong của địch, hạ 5 xe bọc thép, 1 xe Jeep. Lúc 4 giờ 30 phút sáng, lực lượng bên trong của ta vẫn chưa ra được, buộc phải luồn trở lại sân bay. Điểm lại quân số, vũ khí, ta hạ quyết tâm cải trang, chiến đấu trở về căn cứ. Đội trưởng Đồng Đen khoác áo sĩ quan địch với một khẩu Colt dẫn đầu. Hầu hết lực lượng của ta ra được. Đội nữ du kích Tân Sơn Nhì làm nhiệm vụ đưa đón. Trên đường lui, nhiều đồng chí tạm ém trong nhà dân ban ngày. Các mẹ, các chị và đồng bào cơ sở tận tình chăm sóc chiến sĩ ta rồi tìm cách đưa ra căn cứ.

Đội 2 biệt động Đồng Đen, cùng lực lượng D6 Bình Tân ở khu vực cửa mở đã loại nhiều tên giặc trong sân bay, trong đó có giặc lái và nhân viên kĩ thuật, đánh hư hại 150 máy bay, hủy một kho bom 200 tấn, bắn cháy 13 xe cơ giới. Ta hi sinh 31 đồng chí, bị thương 36, mất tích 6 (gồm cả biệt động và bộ binh).

Tiểu đoàn 6 Bình Tân chặn viên ở cầu Tham Lương phía Bắc cách sân bay 3 km và ở cầu Sa, phía Tây cách sân ay 3km, loại khỏi vòng chiến 11 đại đội thủy quân lục chiến ngụy, phá hủy và phá hỏng 14 xe tăng, xe bọc thép. Ta hi sinh 10, bị thương 18.

Sáng ngày 6 tháng 12 năm 1966, địch phát hiện một chiến sĩ Mao, trung đội phó trinh sát của tiểu đoàn 6 Bình Tân, chiến đấu trong mũi đánh kho bom và khu vực để máy bay, bị thương nặng, không rút ra được. Mao đã nằm lại trong ụ chứa máy bay hai ngày đêm. Địch gọi hàng, anh dõng dạc trả lời: “Quân giải phóng chúng tao không biết hàng”. Địch bắn anh tại chỗ.

Trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất được tặng huân chương Quân công hạng nhất.

Phối hợp trận đánh sân bay, ngay sáng sớm hôm đó, bốn chiến sĩ biệt động 68 (từ đội 67 tác ra) thực hiện cuộc tiến công cư xá cố vấn chiến tranh tâm lí USOM ở đường Lê Văn Duyệt (cạnh rạp chiếu bóng Kinh Đô), diệt 30 tên, thu nhiều tài liệu quan trọng.

Sau trận Tân Sơn Nhất hơn 3 tuần, nổ ra cuộc đấu tranh có tiếng vang lớn: cuộc đình công của hơn 5.000 công nhân cảng Sài Gòn ngày 26 tháng 12 năm 1966, phản đối việc ban giám đốc cảng vô cớ sa thải công nhân. Địch đưa 4 tiểu đoàn vận tải Mĩ đến thay thế để bốc dỡ hàng, nhưng công nhân cảng chống trả quyết liệt, kiên quyết không để Mĩ vào thay vị trí của mình. Cảng Sài Gòn bị tê liệt, hàng chục tàu quân sự không bốc dỡ được hàng nằm lì tại bến. Để ủng hộ cuộc đình công của công nhân Cảng, ngày 30 tháng 12 năm 1966, Liên hiệp nghiệp đoàn đô thành Sài Gòn chỉ thị cho các nghiệp đoàn trực thuộc tổng đình công. Hàng loạt nhà máy, xí nghiệp trong thành phố nhất loạt đình công 12 tiếng đồng hồ ngay trong ngày. Mĩ ngụy buộc phải thu nhận lại số công nhân bị sa thải.

Vùng “Tam giác sắt”, mục tiêu của cuộc hành quân Cédar Falls, trên bản đồ là một hình tam giác và các đỉnh là Bến Súc (thuộc xã Thanh Tuyền - Bến Cát), thị trấn Bến Cát và ngã ba sông Thị Tính gặp sông Sài Gòn. Ban đầu chỉ rộng chừng 50km2, cách Sài Gòn 20-30 dặm về hướng Tây Bắc(1). Về sau, “Tam giác sắt” được hiểu là vùng đất bao gồm cả Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cá (gồm Dầu Tiếng). Chính kẻ thù đặt tên “Tam giác sắt” và cọi là “mũi tên đáng sợ chĩa thẳng vào Sài Gòn”(2). Đây là căn cứ địa mà quân khu Sài Gòn - Gia Định thường đặt cơ quan chỉ huy, các lực lượng võ trang giải phóng gồm cả chủ lực Miền làm bàn đạp tấn công và uy hiếp Sài Gòn. Một người Mĩ thú nhận: “Vị trí này mạnh ở chỗ trên mặt đất thì hầu như không thể xâm nhập được, ở dưới mặt đất thì có một hệ thống hầm hào vô cùng phức tạp”.

Với ý định triệt hạ “Tam giác sắt”, tiêu diệt đầu não quân khu Sài Gòn - Gia Định, “bới tung địa đạo Củ Chi”, xóa Bến Súc trên bản đồ, triệt hạ một vùng du kích chiến tranh mạnh, nhưng thấy trước là không dễ dàng, nên trong cuộc hành quân Cédar Falls, địch huy động trên 30.000 quân gồm hai sư đoàn Mĩ thiếu (sư BB25, sư BB1), 3 chiến đoàn ngụy (tổng cộng 23 tiểu đoàn, trong đó có 15 tiểu đoàn Mĩ), tăng cường trung đoàn 11 kị binh thiết giáp Mĩ, 8 tiểu đoàn pháo 105 li, 2 tiểu đoàn pháo 155 li, chi viện không quân chiến thuật, B.52 phục vụ chiến thuật, giang thuyền, công binh, hóa học, chó berger… Với mục tiêu “bới tung địa đạo Củ Chi”, “giải quyết được địa đạo thì giải quyết được chiến tranh du kích ở đây”, trong cuộc hành quân này, Mĩ rất coi trọng vai trò của công binh. Trung tá Siermer xác định: “Cédar Falls là cuộc hành quân có ý nghĩa nhất về mặt tác chiến công binh trong chiến tranh hiện đại kể từ trước tới giờ”.

Điều đó giải thích tại sao trong cuộc hành quân này, Mĩ huy động một lực lượng đặc nhiệm công binh và hóa học lên đến 600 tên, cộng thêm 300 quân cụm công binh 79.

Nguyên từ sau cuộc hành quân Crimp, địch đã kết luận “hệ thống đường hầm Củ Chi là một trở ngại kinh khủng và nguy hiểm”. Thoạt đầu, chúng nghĩ đường hầm rất đơn giản, tưởng có thể bơm nước diệt được. Nhưng từ Hố Bò, Phú Mĩ Hưng… sau những đợt bơm nước bằng xitec, chúng mới phát hiện ra là không hiệu quả: du kích đã bịt kín cửa, nước bị chặn lại. Từ đó xác định “một thái độ nghiêm túc hơn về sự phân tích tỉ mỉ và có nghề nghiệp…”(1), đối với vấn đề địa đạo, địch tổ chức nghiên cứu, viết tài liệu huấn luyện, tổ chức những đội phá đường hầm, gọi là những đội “chuột cống” (tunnel rat) gồm 8 - 10 đội viên được tuyển chọn trong những binh sĩ tình nguyện dũng cảm nhất được trang bị mặt nạ phòng độc, đèn pin, địa bàn, súng ngắn, lưới lê, gậy, dụng cụ đào hầm, máy thổi, lựu đạn M72, thuốc độc C81, lựu đạn khói màu, thuốc chống sâu bọ…

Ngoài nhiệm vụ “bóc vỏ mặt đất” với 200 xe ủi và những đội “chuột cống”, công binh đã ghép được cầu phao cho xe tăng M48 qua sông Thị Tính, xây dựng bè nổi làm hỏa điểm di động trên sông… Bộ binh, xe tăng, máy bay lên thẳng chụp ảnh, tàu thuyền đổ bộ… nhằm vào các khu vực Long Nguyên, Bến Súc, Bàu Bàng, Củ Chi (Hố Bò)…, thực hiện “bốn mặt bao vây, trên bịt kín”. Hàng trăm xe tăng dàn hàng ngang tiến qua các làng mạc, căn cứ và rừng cao su.


(1) Như vậy cạnh Tây Nam của “Tam giác sắt” là một đoạn sông Sài Gòn và tỉnh lộ 147, cạnh Đông là một đoạn sông Thị Tính và quốc lộ 13, cạnh Bắc là đoạn đường nối Bến Súc thị trấn Bến Cát.
(2) Trích trong Tiếng kèn gọi quân của Dave Richard Pulmer từng tham gia chiến tranh Việt Nam với cương vị đại tá chỉ huy sư đoàn thiết giáp số 2 của lục quân Mĩ.
(3) Phạm Cường viết theo tài liệu địch, đăng trong cuốn “Củ Chi anh hùng”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #126 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 07:01:06 AM »

Quả thật, so với các cuộc hành quân trước đây, cuộc hành quân Cédar Falls là một trận càn ác liệt, nguy hiểm. Ngoài 200 xe ủi thực hiện “bới tung địa đạo Củ Chi”, địch dùng cả súng phun lửa, bom napan để đốt cháy dưỡng khí trong địa đạo, lại tiếp tục bơm nước, đánh thuốc nổ, bom hơi độc. Theo sau là “đội quân” chó sục sạo miệng hầm, các đội “chuột cống” luồn lách rất tích cực.

Ở ấp An Hòa xã Trung An, quân Mĩ xả hơi độc giết chết một lúc 60 người dân trong một nhánh hầm.

Địch đã thực hiện được một ý định về mặt tàn phá: san bằng 11km2 rừng, triệt hạ hầu hết làng mạc mà trung tâm là Bến Súc, đốt, san ủi 6000 nhà, cướp 5700 tấn lúa, làm chết và bị thương gần 1000 người, gom được 15.000 dân Bến Súc, Củ Chi (phần nhiều đưa về trại tập trung Phú Cường, Thủ Dầu Một). Điều kiện sinh sống của nhân dân bị hủy diệt, nhiều cơ quan địa phương bị bật khỏi căn cứ trước bầy xe tăng vây ráp…

Tuy nhiên, ngoài “thành tích” tàn phá, gom dân thì cuộc hành quân Cédar Falls không đạt được mục tiêu chính yếu nào.

Về việc “bới tung địa đạo Củ Chi”, địch khoe là đã phá hủy được 6 hệ thống hầm ngầm khác nhau, tổng cộng 9445m chiều dài. Dù như vậy, vẫn là quá nhỏ so với con số 2000km địa đạo và 500km chiến hào, giao thông đã được xây dựng từ mấy mươi năm. Du kích bôi xà phòng Mĩ vào miệng hầm ngầm đánh lạc hướng chó berger, bịt từng cửa chặn hầm… và thực hiện địa đạo chiến, một đại đội trưởng Mĩ thừa nhận: “Chúng tôi đốt phá nhà cửa, nhưng chẳng làm gì được với các công sự, chỉ vì công sự được đào quá sâu” - Tướng Mĩ S.I.A Marshall thú nhận trên báo War’s Journal tribune số ra ngày 26 tháng 2 năm 1967: “… sự việc diễn biến hoàn toàn không giống như người ta dự tính. Rất ít quân địch bị bật ra ngoài hoặc bị giết. Hệ thống hầm ngầm không bị triệt phá mà chỉ hư hại…”(1)

Nhân dân Củ Chi, Bến Cát, Hóc Môn, Gò Vấp đứng trước một thử thách lớn hơn mùa khô trước nhiều, nhưng với kinh nghiệm đã có từ những trận đầu đánh Mĩ, họ giữ vững quyết tâm và chủ động đánh Mĩ.

Trên vùng đất xã Thanh An, trung đoàn 2, sư đoàn 9 chủ lực cùng lực lượng quân khu Sài Gòn - Gia Định phối hợp bày thế trận, đánh thiệt hại 2 tiểu đoàn Mĩ. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích chiến đấu trên mặt đất phối hợp chiến hào, công sự và địa đạo, hàng rào. Có nhiều bộ phận bị bao vây, bộ đội tập trung phân tán nhỏ, đánh du kích. Những bộ phận “tróc quân sự” lại tìm cách trở lại, ém từng tổ mấy tuần dưới hầm, ăn rau sống, ăn củ, đêm bò ra lấy nước sông, nước vũng hoặc uống nước tiểu…

Sự ngoan cường của du kích làm những người Mĩ ngạc nhiên. J.P. Harrison nêu trong cuốn “Cuộc chiến đấu triền miên” (xuất bản năm 1982) một hình ảnh trong cuộc hành quân Cédar Falls: “Có một số vùng bị bắn phá phá bình quân 27 trái bom trên 1m2. Thế là tại một làng (An Phú) nằm trong mục tiêu đó, một toán gồm 6 chiến sĩ kháng cự trong 8 ngày chống lại 8000 quân Mĩ trong khoảng đất rộng 1km2 nhờ một hệ thống địa đạo và hầm hố chằng chịt…”.

Sau 18 ngày đêm từ ngày 8 đến ngày 26 tháng 1 năm 1967, bộ đội địa phương và các lực lượng chiến tranh nhân dân Củ Chi, Bến Cát, Gò Môn đã loại khỏi vòng chiến đấu 2500 tên Mĩ, 200 tên ngụy, bắn rơi và bắn bị thương 13 máy bay, phá hủy và phá hỏng 30 xe tăng, xe bọc thép. Trên toàn “tam giác sắt” địch đã bị loại 3.350 tên, hầu hết là Mĩ(2). Nói về mục tiêu cuối cùng là loại Việt cộng ra khỏi vùng, tướng Mĩ S.L.A Marshell thừa nhận: “Cuộc điều tra cho biết: ngay khi quân của chúng ta chưa rút hết khỏi vùng “Tam giác sắt” thì Việt cộng đã đọt nhập vào từ trước rồi”(3).

Sau cuộc hành quân Cédar Falls, lực lượng Mĩ khoảng 3 đại đội và 22 xe tăng cụm dã chiến có hàng rào ụ xe tăng chìm ở Cây Trắc xã Phú Hòa Đông để hỗ trợ cho quân ngụy bình định. Bọn tâm lí chiến đang ầm ĩ: “Cédar Falls đã diệt tiểu đoàn Quyết Thắng” thì tiểu đoàn này phối hợp với tiểu đoàn 7 bộ đội địa phương Củ Chi thực hiện trận tập kích vào cụm Cây Trắc, loại 350 tên Mĩ, hủy 18 xe tăng, thu 70 súng.

Trận này đánh gãy kế hoạch bình định khu vực, đánh thắng chiến thuật xe tăng chìm của Mĩ.

Cuộc hành quân Cédar Falls thất bại, nhưng Mĩ vẫn tuyên bố “Đã tiêu diệt đại bản doanh cộng sản dưới hầm ngầm Củ Chi”.

Báo chí Sài Gòn không ngớt dưa tin “chiến thắng” của “quân đồng minh” ở tam giác sắt. Không ít bà con ở Sài Gòn bị chiến tranh tâm lí của địch tác động, nhất là các gia đình có người đi kháng chiến. Có nhiều người khóc. Đón Tết Đinh Mùi có nhiều bàn thờ cúng vái cho anh em ở chiến khu.

Để kịp thời cảnh báo luận điệu tâm lí chiến của địch, đúng mùng 5 Tết (ngày 13 tháng 2 năm 1967 dương lịch), hòa trong tiếng pháo của đồng bào đốt để mở cửa tiệm, một đơn vị biệt động thành do đồng chí Tám Bền chỉ huy, Trương Văn Lượng (Tám Cứ) phó chỉ huy, đặt một khẩu cối 82 li tại số nhà 8/4, đường Vườn Chuối (Quận Ba), bắn vào sở chỉ huy tướng Westmoreland nằm ở góc đường Phan Thanh Giản - Pasteur nay là góc đường Điện Biên Phủ và Pasteur). Năm trái đạn lọt qua một lỗ hổng trên nóc nhà (nguyên là chỗ lắp kính nhựa cho sáng nhà, đã được dỡ ra) rơi xuống khu vực mục tiêu. Có một trái rơi trúng một chiếc xe chở lính dù đang chạy trên đường Pasteur. Báo chí Sài Gòn đưa tin: tổng hành dinh tướng Westmoreland bị súng cối Việt cộng bắn, đạn rơi trúng đoàn xe nhảy dù đi qua, làm chết 13, bị thương 16 lính Mĩ.

Nhân dân Sài Gòn phấn khởi kéo nhau đi coi chỗ Mĩ chết, bị thương, mặc dù địch đã làm hàng rào chắn. Trong quán, ngoài chợ xôn xáo bàn tán về sự tài tình của quân Giải phóng(4).


(1) Tiếp bài viết trên: Cảnh tượng mặt đất bị đảo tung hết, không những chỉ có hố bom loang lổ, mà hàng mảng đất bị cày xới lên bằng máy xúc. Song không có quả bom nào, không có máy xúc nào khỏe đủ sâu để phá hoại hầm ngầm ấy, nếu như người ta tin những công binh thăm dò nói thật. Họ nói chắc chắn rằng “Không phá hủy được, nếu có thể làm được bằng cách cho nổ mìn phá từng quãng hoặc bơm thật nhiều hơi độc vào thì tốt hơn. Cái khó không phải vì hệ thống hầm ngầm đào sâu quá, mà chính vì nó cứ chạy ngoắt ngoéo, không có một chỗ nào thẳng cả. Những cửa mạch và lỗ thông hơi thì nhiều vô kể, điều đó càng hạn chế khả năng bị phá hủy”.
(2) Riêng số Mĩ chết, Palmer thừa nhận trong Tiếng kèn gọi quân: 72 tên.
(3) Đăng trên báo War’s Journal Tribune ngày 26 tháng 2 năm 1967.
(4) Có được một trận đánh như vậy, từ một năm trước, anh em biệt động đã mua căn nhà số 8/4 với giá nửa triệu đồng tiền Sài Gòn. Đồng chí Tám Cứ đã khéo léo đào một cái hầm ở một gian phòng trung trong, bên trên kê giường ngủ. Sau đó giao lại cho chị Lâm Thị Ân, một cán bộ của tỉnh Tây Ninh được điều về Biệt động thành. Một người mẹ ngoài 30 tuổi, đã có 2 con nhỏ với đầy đủ giấy tờ hơp pháp, chốt giữ và tiếp nhận vũ khí trong suốt nhiều tháng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #127 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 07:05:10 AM »

*
*   *

Sau cuộc hành quân Cédar Falls, trên đất miền Đông, địch tập trung chuẩn bị vào cuộc hành quân của mùa phản công chiến lược thứ hai, một cuộc hành quân lớn nhất của Mĩ trong chiến tranh Việt Nam mang tên Junction City. Westmoreland dám chắc thắng thông báo trước sẽ “bắt sống những nhà lãnh đạo Việt cộng, bắt đài phát thanh giải phóng câm mồm, xé nát sư đoàn 9…”.

Nhưng rồi suốt hơn 50 ngày đêm (từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 15 tháng 4 năm 1907), 45 ngàn quân “đồng minh” với sự chi viện máy bay, xe tăng, hỏa lực tối đa đã dồn lên một vùng 400km2 rừng biên giới, bị loại mất một phần tư mà “không thấy một nhà lãnh đạo Việt cộng nào. Đài phát thanh Giải phóng vẫn nói và nói đúng giờ”(1), sư đoàn 9 và các lực lượng chiến tranh nhân dân tại chỗ vẫn bám quân Mĩ mà đánh đến giờ phút chót.

Thất bại của một cuộc hành quân lớn nhất với những tham vọng lớn nhất đã báo trước sự phá sản của chiến lược chiến tranh cục bộ.

Tháng 5 năm 1967, Trung ương Cục mở hội nghị lần thứ 5 xác định nhiệm vụ sắp tới:đẩy mạnh chủ động tấn công và phản công liên tục, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, tiếp tục đánh bại chiến lược “hai gọng kìm”, tiếp tục đẩy địch vào thế bị động phòng ngự, xây dựng 3 thứ quân của ta vững mạnh, tạo điều kiện giành thắng lợi ngày càng lớn, tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa.

Trong khi chiến trường thắng lớn, thì ở nội thành Sài Gòn, lực lượng và hoạt động vũ trang các quận, ban ngành đang đà tăng nhưng mới chỉ hạn chế ở mức nhỏ lẻ, chưa tương xứng với yêu cầu của tình hình. Lực lượng các quận đã tấn công và các bót cảnh sát như Ngô Quyền, Thị Nghè, Quận 3, Bà Chiểu, Tôn Thất Thuyết… Các trạm kiểm soát Cầu Bồng, Cầu Kiệu, Cầu Phan Thanh Giản… cũng bị ta tấn công.

Các đơn vị vũ trang Hoa vận tăng gấp đôi nhịp độ hoạt động (năm 1966: 10 trận, năm 1967: 21 trận). Lần lượt nhiều tên phản động lợi hại người Hoa, người Việt đã bị trừng trị: cảnh sát ác ôn Phạm Định ở quận 5, đặc vụ Trương Kính Siêu (trưởng phòng tổ chức hãng dệt Vimytex), 2 tên chiêu hồi Lí Xuân Phúc và Đặng Vũ Hoạt, Diệp Cánh Sanh (Hiệu trưởng phản động trường Đồng Khánh), Trương Trung Cát (tổng biên tập nhật báo chống cộng Liên hiệp Á châu vạn quốc), cảnh sát ác ôn quận 6 La Kế Đường, các tên phản động Trần Ngọc An (ở đường Hậu Giang), Nguyễn Hoàn Cầu (ở đường Huỳnh Mẫn Đạt). Nhiều tên phản động quan trọng bị trừng trị ngày 18 tháng 9 năm 1967 là Phương Hành (chủ nhiệm huấn dục trường trung học Tri Dung, Chung Đen (đặc vụ Đài Loan), Trần Cửu Tuân (Phó giám đốc hãng dệt Vimytex). Cũng trong ngày 18 tháng 9 năm 1967, Sứ quán Đài Loan bị đánh sập chỗ làm việc, chết và bị thương 20 nhân viên. Ngày 18 tháng 2 năm 1967, vào lúc tối, tên đặc vụ Lâm Truyền bị bắn chết trên đường Lục Tỉnh (quận 6) thì đến 12 giờ khuya, tên ác ôn Trần Xướng Vinh cũng bị bắn chết ngay trên đường ấy, liền tối hôm sau, tên cảnh sát ác ôn Văn Toàn bị bắn chết trên đường Minh Phụng (quận 6).

Nhiều trận đánh diệt Mĩ của lực lượng vũ trang Hoa vận dạt hiệu suất khá như trận đánh mìn định hướng vào sân tập bắn Bình Trị Đông (quận 7 cũ, nay là quận 8) loại 7 Mĩ, trận đánh chất nổ ở chung cư sĩ quan Mĩ ở đường Gia Phú (quận 6) loại hàng chục tên, trận đánh mìn định hướng vào đám quân cảnh Mĩ ở đường Đồng Khánh diệt 7 tên Mĩ.

Các đội biệt động của khu Sài Gòn - Gia Định đánh hàng chục trận, tập trung vào các mục tiêu doanh trại, cư xá Mĩ, “đồng minh” ở các đường Võ Di Nguy, Trương Minh Giảng, Sư Vạn Hạnh, Nguyễn Văn Thoại, Yên Đổ, cư xá Lam Sơn, kho hậu cần tại cầu chữ Y. Các lực lượng này thực hiện nhiều trận đánh lẻ vào các xe quân sự Mĩ (ở trước sân bay Tân Sơn Nhất), trên các đường Nguyễn Văn Thoại, Tháp Mười, dốc cầu Kiệu…), trừng trị cảnh sát (ở sân banh Cộng Hòa, ở các bót Bà Hòa, Hàng Keo, Ngô Quyền, Nguyễn Văn Tập, Trần Quang Khải…). Kỉ niệm 7 năm thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (ngày 20 tháng 12 năm 1960 - 20 tháng 12 năm 1967) lực lượng vũ trang thành đoàn Sài Gòn - Gia Định(2) phát động đợt hoạt động vũ trang và đã thực hiện dồn dập các trận đánh địch trong thành phố: diệt ác ôn ở các đường Minh Phụng, Lê Văn Duyệt, hương lộ 13, tập kích các bót cảnh sát trên các đường Nguyễn Đình Cường, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Văn Tập, các trụ sở địch ở các đường Lê Văn Duyệt, Nguyễn Cảnh Chân, Trần Hoàng Quân, trại chiêu hồi Huỳnh Mẫn Đạt, đánh xe quân sự Mĩ ở các đường Trương Minh Giảng, Bàn Cờ, Hòa Hưng…

Trong lúc các hoạt động võ trang trong địa bàn thành phố đang đà tăng, tháng 5 năm 1967, Sài Gòn lần nữa nổi lên việc đấu tranh của Phật giáo gây xôn xao dư luận. Ngày 16 tháng 5 năm 1967, ngày Phật đản thứ 2511, nữ sinh viên phật tử Nhất Chi Mai(3) tự châm lửa đốt cháy thân mình tại chùa Từ Nghiêm để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam. Những vần thơ chỉ để lại đã làm xúc động quần chúng:

            Xim đem thân làm đuốc
            Xin rọi sáng U Minh
            Xin tình người thức tỉnh
            Xin Việt Nam hòa bình


Trong không khí khủng bố đang bao trùm Sài Gòn, ngọn lửa Nhất Chi Mai làm bùng lên ngọn lửa căm thù và bó đuốc hòa bình, tự do, độc lập của nhân dân thành phố.

Từ đây, hằng năm cứ đến ngày Phật đản, sinh viên Sài Gòn lại phát động “chiến dịch Nhất Chi Mai”, gồm các hình thức biểu tình, mít tinh, hội thảo, gởi tâm thư cho đồng bào vạch trần tội ác Mĩ ngụy, tổ chức những “đêm đốt lửa căm thù”, “đêm không ngủ”, “đêm tủi nhục”, “nung nấu chí hờn căm”, “tìm về dân tộc”.


(1) Francois Can (Đài phát thanh Paris).
(2) Cuối năm 1967 Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định đổi thành Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định.
(3) Nhất Chi Mai quê gốc Hà Tĩnh, sinh ở Tây Ninh, lớn lên theo gia đình ở Sài Gòn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #128 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 07:08:25 AM »

Trước sự tấn công của lối sống Mĩ, các phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc, bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của phụ nữ, bảo vệ tinh thần thanh thiếu niên, tập hợp được đông đảo quần chúng tham gia.

Nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, một số viên chức cao cấp tham gia “lực lượng quốc gia tiến bộ”. Phong trào này chĩa mũi nhọn vào sự xâm lược của đế quốc Mĩ, tay sai Thiệu - Kì, đòi hòa bình, đòi quyền dân tộc tự quyết, lên án chiến tranh.

Lo sợ trước nhịp độ hoạt động võ trang nội thành có chiều tăng và đấu tranh chính trị có quy mô, Mĩ - Thiệu ra lệnh “khẩn cấp chống biểu tình, mít tinh”, dựng thêm hàng rào dây thép gai, rải thêm quân đội và cảnh sát trên đường phố, dựng cả “pháp trường cát” ngay trước chợ Bến Thành để đe dọa mọi hành động chống đối.

Nhưng phong trào Phật giáo và đấu tranh chính trị lại bộc phát tại Sài Gòn giữa mùa thu năm 1967.

Từ ngày 9 đến ngày 21 tháng 9, hàng ngàn sinh viên các trường đại học: Văn, Y, Dược, Khoa học, Sư phạm… bỏ thi, xuống đường biểu tình mít tinh, hội thảo tố cáo các cuộc bầu cử tổng thống Sài Gòn ngày 3 tháng 9 năm 1967 là trò hề do Mĩ sắt đặt, đòi Mĩ không được can thiệp vào miền Nam Việt Nam.

Ngày 28 tháng 9 năm 1967, hơn 3.000 nhà sư từ chùa Ấn Quang kéo đến Dinh tổng thống ngụy, đòi Thiệu - Kì hủy bỏ “hiến chương Phật giáo mới” do Thích Tâm Châu đề ra nhằm chia rẽ Phật giáo, chống lại số đông Phật giáo yêu nước. Họ ngồi lại chỗ đấu tranh, đông đảo nhân dân Sài Gòn ủng hộ, tiếp tế, hai ngày sau, thêm 1000 nhà sư và đông đảo sinh viên, Phật tử kéo đến để tăng cường lực lượng đấu tranh.

Liền đó, trong 2 ngày 29 tháng 9 và ngày 30 tháng 9 năm 1967, sinh viên Liên viện đại học Sài Gòn - Vạn Hạnh - Cần Thơ - Đà Lạt liên tiếp tổ chức 2 đại hội sinh viên xác định lập trường đòi rút hết quân đội nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, đòi hòa bình, chấm dứt ném bom miền Bắc, xác định Mĩ là nguồn gốc mọi tai họa cho nhân dân Việt Nam. Đại hội dự thảo thư gởi đến Tổng thống Mĩ Johnson, Tổng thư kí Liên hiệp quốc Uthant với những nội dung trên. Sau các đại hội này là các cuộc xuống đường tuần hành đến trụ sở Quốc hội ngụy đưa kháng thư, đốt thùng phiếu tượng trưng, đập phá bảng công bố kết quả bầu cử tổng thống.

Thiệu hoảng hốt ra lệnh giới nghiêm toàn thành phố và xua quân đàn áp. Trong tháng 10 năm 1967, chúng bắt trên 20 sinh viên và cán bộ lãnh đạo của ta, trong đó có đồng chí Hồ Hảo Hớn (Hai Nghị), Bí thư Khu đoàn Sài Gòn - Gia Định. Chúng đưa anh về bót Bà Hòa ở quận 6, tra tấn hết sức dã man bằng mọi hình thức hòng truy tìm tổ chức, cơ sở cách mạng. Hồ Hảo Hớn giữ vững khí tiết người Đảng viên cộng sản, anh đã anh dũng hi sinh để giữ bí mật cho Đảng, bảo vệ an toàn tổ chức và cơ sở cách mạng.

Ngày 20 tháng 11 năm 1967, tại các trường đại học Y, Dược, Khoa học, Nông Lâm Súc… và các trường trung học Đức Trí, Bồ Đề, Cao Thắng, Phan Sào Nam, Petrus Kí, Gia Long, Lê Văn Duyệt… các cơ sở đoàn đã treo cờ, viết khẩu hiệu, rải truyền đơn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định kêu gọi đồng bào vùng lên lật đổ Thiệu - Kì, đuổi Mĩ xâm lược. Đội vũ trang tuyên truyền Thành đoàn đột nhập vào Trường đại học Văn khoa trong đêm biểu diễn văn nghệ, kêu gọi thanh niên, học sinh, sinh viên gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng và trừng trị Ngô Văn Toại, một tên phản động đội lốt sinh viên ngay trên sân khấu.

Trong tất cả các tổ chức công khai mà Khu đoàn chỉ đạo, ngày càng nổi lên thế đứng vững chắc và vai trò chi phối sâu rộng trong Tổng hội sinh viên Sài Gòn, vốn trước kia còn bị phản động và các phe phái khác chi phối. Bằng những chỉ đạo và tổ chức hình thức đấu tranh phong phú, các đồng chí lãnh đạo đảng đoàn của Tổng hội như Dương Văn Đầy, Lê Công Giàu, Huỳnh Tấn Mầm… cùng với những nòng cốt của phong trào và lực lượng quần chúng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giành được vị trí công khai này. Để trực tiếp lãnh đạo phong trào, Khu ủy tín nhiệm giao cho các đồng chí phụ trách Khu đoàn kiêm nhiệm luôn công tác Đảng và chỉ định Ban thường vụ khu đoàn đảng ủy Thanh vận và Ban thường vụ các đoàn ủy (đồng thời cũng là đảng ủy cơ sở trực tiếp xây dựng chỉ đạo các chi bộ thuộc phạm vi phụ trách). Các lực lượng vũ trang do Khu đoàn trực tiếp phụ trách cũng hình thành đảng ủy và chi bộ lãnh đạo toàn diện công tác quân sự và an ninh. Nhờ có hình thức tổ chức thích hợp này, Đoàn phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo trong hoạt động cách mạng ở vùng địch tạm chiếm, qua đó Đoàn có những điều kiện thuận lợi để chuẩn bị đón thời cơ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #129 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2012, 07:08:54 AM »

* * *

Trên chiến trường ven đô mùa mưa năm 1967, các lực lượng chiến tranh nhân dân giữ vững thế chủ động đánh địch. Trong 3 tháng 7, 8, 9 năm 1967, tiểu đoàn Quyết Thắng phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương Củ Chi liên tiếp đánh nhiều trận, đặc biệt tập trung đánh cơ giới địch: đánh địch ủi phá rừng Làng, rừng Lộc Thuận, rừng Sến, Ba Sòng… phá hủy, phá hỏng 52 xe tăng và 25 xe ủi; tập kích các cụm cơ giới Mĩ ở Bầu Tròn, diệt 25 xe, Mội Nước Nhì (diệt 21 xe), bàu Kính (diệt 18 xe), bàu Mây (diệt 23 xe), bàu Lách (diệt 17 xe).

Tiểu đoàn biệt động quân “Cọp đen” - đơn vị hạng ác ôn nhất của quân ngụy, hai lần nếm đòn của tiểu đoàn Quyết Thắng: lần thứ nhất (tháng 5 năm 1967) bị loại 150 tên, lần thứ hai (ngày 23 tháng 6 năm 1967) bị loại 200 tên.

Thi đua với tiểu đoàn Quyết Thắng, tiểu đoàn 2 Gò Vấp - Hóc Môn lập công xuất sắc ở Trung An. Ngày 8 tháng 5 năm 1967 lữ đoàn 199 Mĩ dùng trực thăng đổ quân xuống Trung An và tàu xuồng càn quét vùng Nhị Bình phía Nam sông Rạch Tra, có pháo binh và không quân yểm trợ.

Tiểu đoàn 2 vốn thông thạo tác chiến trên địa hình đồng nước, tổ chức vận động qua đầm lầy dưới bom đạn, đánh thiệt hại một mũi tiến công của địch, bắn rơi 23 máy bay lên thẳng trong đó có chiếc trực thăng chỉ huy của lữ trưởng, bắn chìm 2 tàu xuồng chiến đấu. Báo Tin Sáng ở Sài Gòn số ra ngày 9 tháng 8 năm 1967 đưa tin viên thiếu tướng chỉ huy cuộc càn bị thương. Sau lần này, mỗi lần cơ động trên sông, giặc Mĩ bắt một số ông già, bà già, phụ nữ và trẻ em đi dưới tàu để làm lá chắn cho chúng. Cũng từ trận này, địch gọi tiểu đoàn 2 Gò Vấp - Hóc Môn là “tiểu đoàn rái nước”.

Tháng 10 năm 1967, tiểu đoàn Quyết Thắng đánh địch ở sở Mây Rắc, phá hủy, phá hỏng 16 xe tăng và một trận địa pháo; tiểu đoàn 8 pháo binh pháo kích Trung Hòa, phá hỏng 3 pháo 105 li và 1 máy bay lên thẳng.

Ở Bình Quới, tiểu đoàn 4 Thủ Đức tấn công diệt 1 đại đội cảnh sát dã chiến và 2 đội bình định.

Trên chiến trường Rừng Sác, tháng 6 năm 1967 địch càn quét vào các khu vực Lò Rèn, Sông Giữa rồi chuyển sang sông Tiền, Lí Nhơn. Đồng chí Cao Thanh Tao chỉ huy trưởng khu B (Tây sông Lòng Tàu) chỉ đạo đại đội 2 pháo binh, tổ chức chặn đánh địch. Với 1 quả ĐH 10 nặng 10kg còn lại duy nhất trong tay, đại đội đã kết hợp với khẩu ĐKZ 75 bố trí thành một cái “bẫy chụp” trên sông Tương và một trận địa phục kích bí mật trên sông Bình Đà. Trái ĐH10 chụp đúng chiếc tàu Võ Đắc chở đầy địch, tàu cháy. Cùng lúc, khẩu ĐKZ 75 bắn hỏng nặng 1 tàu chiến trên sông Bình Đà. Cuộc càn của địch bị bẻ gãy.

Tháng 11 năm 1967, trên sông Lôi Giang ta lại hạ 1 tàu LCM, loại khỏi vòng chiến nhiều tên Mĩ.

Trong khi làm nhiệm vụ chặn cổ sông Lòng Tàu, đặc công Rừng Sác tổ chức xâm nhập đất liền, luồn sâu, bám vào các kho tàng, quân cảng, căn cứ địch. Kho xăng Nhà Bè đã nhiều lần bị pháo kích. Riêng trận ngày 3 tháng 7 năm 1967 (lúc 1 giờ sáng) đã thiêu hủy khoảng 1 triệu lít xăng dầu của hãng Shell và loại 27 tên Mĩ trong căn cứ hải quân. Địch lùng sục dữ dội, nhưng chỉ 2 hôm sau kho xăng Nhà Bè lại bị pháo kích.

Đêm 7 tháng 2 năm 1967 được sự giúp đỡ của đồng bào và du kích địa phương, Đội 4 do đồng chí Võ Nguyên Diệp chỉ huy, tập kích tiêu diệt đồn bảo an của chi khu Quảng Xuyên thu 24 súng và 3 xuồng đạn. Đây là trận công đồn thắng lợi đầu tiên của bộ đội Rừng Sác. Với kinh nghiệm bước đầu về đánh đồn vừa thu được, bộ đội Rừng Sác kết hợp với các lực lượng tại chỗ tập kích các đồn bót ở Đồng Hòa, Long Thạnh, An Thới Đông, Lí Nhơn… nâng thế chiến tranh nhân dân ở Rừng Sác.

Đội 5 đặc công Rừng Sác là đơn vị đặc công nước được huấn luyện từ miền Bắc, có mặt ở Rừng Sác từ tháng 6 năm 1967. Về chiến trường, sốt rét Trường Sơn chưa dứt, anh em đã tình nguyện ra trận, với một quyết tâm đã thành bài hát:

“Lương khô, cơm nắm, gạo rang lên đường

Lòng căm thù giặc sâu sắc, quyết nhận chìm tàu vạn tấn trên đường sông A”


Trước mắt, mục tiêu số 1 của đội 5 là quân cảng Nhà Bè. Trong khi 6 cảng quân sự ở Sông Sài Gòn - Nhà Bè đã thay thế cảng Sài Gòn về mặt tiếp nhận hàng quân sự, thì quân cảng và kho dầu Nhà Bè trở thành nơi tiếp nhận và tàng trữ xăng dầu lớn nhất ở miền Nam. Cảng có thể cùng một lúc tiếp nhận từ 6 đến 8 tàu trên dưới 10.000 tấn cập bến. Toàn bộ căn cứ địch đang ở trong tình trang sẵn sàng chiến đấu rất cao sau một số trận đánh không thành trước kia và ở những trận pháo kích mới nhất của ta. Bên cạnh hải quân ngụy, ở đây vừa được tăng cường hải quân Mĩ.

Đêm ngày 25 tháng 12 năm 1967, sau 3 ngày đêm vật lộn với sông nước, len qua hàng chục chốt địch và nhiều chướng ngại, tổ đặc công đội 3 do Trịnh Xuân Bảng chỉ huy lọt được vào quân cảng, áp khối thuốc nổ 100kg vào mạn 1 tàu dầu 10 ngàn tấn. Sau khi 3 chiến sĩ đã về điểm hẹn, mìn nổ, chiếc tàu 10 ngàn tấn bốc cháy.

Tiếng nổ giữa một căn cứ mà địch thường khoe là bất khả xâm phạm đã làm cho chúng hoang mang, dư luận xôn xao. Báo chí Sài Gòn đưa tin, bình luận về “người nhái Việt cộng xuất quỷ nhập thần”.

Đội 5 trở thành đơn vị đột phá quân cảng của đoàn 10. Trận đánh báo trước sự xuất hiện một đơn vị đặc công anh hùng ở Rừng Sác, đồng thời cũng làm xuất hiện chiến sĩ “người nhái” bản lĩnh, táo bạo, mưu trí, đã bắt đầu quá trình trở thành anh hùng: Trịnh Xuân Bảng.

Trước mùa khô 1967-1967, các vùng du kích và lõm chính trị đã được mở rộng liên hoàn, áp sát đô thị. Ở phía Tây, một xã điển hình như Vĩnh Lộc (Bình Chánh), mất 2 năm 1966-1967, chiến tranh nhân dân địa phương phát triển mạnh, bộ máy kềm kẹp của địch dù được Mĩ hỗ trợ cũng chỉ còn là hình thức. Bắt đầu từ khoảng 2 giờ chiều đến hết đêm, hầu như không một tên lính nào dám bén mảng đến cái áp chiến lược vùng bưng này. Tiểu đoàn 6 Bình Tân đã từng lúc đi vào hoạt động được ở An Lạc, Phú Định, Cầu Tre, ở ngoại ô thành phố. Tại đây, bộ máy kềm kẹp của địch tại hạ tầng cơ sở tan rã hoặc mất hiệu lực. Cán bộ của ta có thể ra vào, đi lại giữa ba ngày.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM