Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:42:54 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đất nước  (Đọc 87730 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #110 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 04:05:23 pm »

Phần 8

Mặt trời đã sắp khuất sau rặng núi phía tây. Rừng núi thêm trập trùng vì sự xuất hiện của những vực thẳm bóng tối. Trời vẫn còn sáng. Tuy nhiên, vào mùa đông ở miền núi, đêm tối thường ập đến rất nhanh.
Nhã và Hội vừa đi vừa nhìn quanh. Đã tới lúc họ phải tìm một nơi tạm trú qua đêm. Từ ngày nổ súng đến giờ, những anh bộ đội đã quen coi đâu cũng là nhà của mình. Họ không ngại phiền phức mà lại còn cảm thấy tự hào với việc đi xin ngủ nhờ. Ai cũng biết họ đã bỏ lại những ngôi nhà, có thể là khá đẹp đẽ, và cả cuộc sống tiện nghi ở thành phố. Họ đã bỏ tất cả lại, ra đi vì tiếng gọi của kháng chiến, của Tổ quốc...

Thường thường họ được đón tiếp niềm nở. Và chỉ sau một đêm ngủ nhờ, có khi đã thành chỗ thân quen.
Con đường nhỏ đánh bậc, dẫn lên một đỉnh đồi, có ngôi nhà gạch xinh xắn nằm giữa một vườn cam, quả đỏ ối, thu hút cặp mắt của họ. Bóng một người con gái mặc chiếc áo len tím thấp thoáng trong vườn cây. Không ai bảo ai, cả hai người đều dừng lại. Sao lại có quang cảnh này giữa một vùng tưởng như hoang vu? Người ta nghĩ đến một trang trại của một gia đình giàu có, thích cuộc sống ẩn dật. Một cái gì của thời xưa còn sót lại, nó trở thành xa lạ giữa lúc chiến tranh.

Cô gái đã biến đi, nhưng màu tím vẫn còn lại trong tâm trí họ. Màu tím của đóa hoa mua, buổi trưa hè, trên một trái đồi cháy bỏng.

Nhã và Hội nhìn nhau. Mắt Nhã tròn lên và miệng anh nhoẻn một nụ cười. Hội nheo một mắt hất cằm như muốn hỏi: "Thế nào?".

- Hạ trại chăng? - Nhã nói.

Hội liếc nhìn ngôi nhà, rồi đáp:

- Cũng phải xem ý cô chủ thế nào đã.

Bỗng nhiên, họ nhìn áo quần của nhau. Hai bộ quần áo nâu cùng phủ bụi đường. Những chiếc ba lô Mỹ, còn giữ được từ ngày ở Hà Nội ra, vẫn chưa đến nỗi nào. Nhưng đôi dép cao su trắng thì quá xoàng, đôi nào cũng mòn vẹt và đứt quai, phải khâu bằng chỉ dù. Những bộ âu phục bằng len đem từ Hà Nội đi, tỏ ra không thích hợp với kháng chiến, để trong ba lô chỉ làm nặng thêm hành trang chiến đấu, đã được dùng để giải quyết những nhu cầu thiết yếu trong mùa hè vừa qua. Họ đang nghĩ, vào một ngôi nhà như thế này, phải ngồi trên lưng một con ngựa hồng hoặc có chú liên lạc cầm khẩu các bin đi theo sau...
Hội cười đẩy hai quả lựu đạn chày giắt ở thắt lưng ra phía sau, bảo Nhã:

- Thôi, ông nới cái xanh tuya Mỹ cho khẩu côn thòi ra một tí. Còn tôi đóng vai chiến sĩ đi bảo vệ.

- Lên đi, sắp tối rồi. Nếu bị đuổi thì còn đi tìm chỗ khác...

Hai người bắt đầu leo lên đồi. Không biết có phải những trận gió mùa đông hanh khô đã quét đi hết bụi bậm hay con đường vẫn được chăm sóc cẩn thận, nên rất sạch sẽ, khiến cho người ta cảm thấy phải tôn trọng chủ nhân của nó. Đã lâu, họ mới có sự dè dặt này khi đến gần một ngôi nhà. Cái cổng gỗ để ngỏ. Họ bước qua, đi giữa một rừng cam, quả trĩu trịt. Họ chờ tiếng chó sủa và một con béc-giê xuất hiện. Không khí vắng lặng của ngôi nhà khiến nó càng thêm phần uy nghiêm. Cái bóng áo tím ban nãy đâu rồi...? Hay cô ta đã thoáng nhìn thấy hai anh bộ đội áo quần nhếch nhác nên lánh mặt...

Họ đã đến sân trước. Ngôi nhà không nhỏ lắm. Nhà xây theo kiểu châu âu, có sân thượng và một hành lang bao quanh. Cửa ra vào, cửa sổ đều lắp kính màu, và có những hoa văn bằng sắt. Những chậu cảnh men sứ đặt rải rác trên tường hoa bao quanh sân.

Nhã định lên tiếng thì nghe một giọng lanh lảnh:

- Ai thế kia?

Một em gái mặc chiếc áo bông hoa, từ sau bể nước đi ra, giương cặp mắt tròn hóm hỉnh, nhìn họ.

- Có ai ở nhà không em?

- Có. Đây... - Em bé vừa đáp vừa chỉ vào ngực mình.

Nhã mỉm cười:

- Biết em có nhà rồi! Các anh muốn hỏi người lớn.

- Có người lớn... Nhưng các anh bộ đội hỏi gì kia?

- Các anh xin ngủ nhờ, mai các anh đi sớm.

- Không được đâu... Nhà có con gái lớn, ba mẹ không cho bộ đội ngủ nhờ. Vào xóm mà nhờ.

Nhã đứng im, ngạc nhiên trước câu trả lời của cô bé. Hội nắm lấy tay anh, vừa kéo đi vừa làm giọng dỗi:

- Không cho bộ đội nhờ thì thôi, đi nơi khác... Thế mà đòi là thiếu nhi của Bác Hồ!

Em bé vội kêu lên:

- Nói đùa đấy! Có thế mà dỗi!... Vào nhà đi, vào mà ăn cam chị Vân mới ngắt.

Hai người đều phì cười.

Giữa lúc đó, có tiếng đàn ông ở trong nhà nói vọng ra:

- Có khách sao con không mời vào nhà, con nói cái gì đấy?

Cô bé xịu mặt:

- Lại bị mắng! Ba gọi đấy! Các anh vào đi.

Nhã mỉm cười, xoa đầu cô bé rồi cùng Hội bước lên thềm. Cũng lúc đó, cánh cửa mở ra. Một người đàn ông tóc đã hoa râm, nhưng thân hình cao lớn, lực lưỡng khoác một chiếc va rơi dạ, xuất hiện.

- Chào các anh. - ông ta chủ động lên tiếng trước.

- Chào bác ạ. - Hai người cùng đáp.

Chủ nhà lại chủ động chìa tay bắt tay họ.

Nhã đứng dừng trước cửa, nói:

- Chúng tôi đi công tác qua đây, trời sắp tối, muốn đề nghị với bác, nếu nhà có chỗ thì cho nghỉ lại một đêm.

- Mời các anh vào nhà đã.

Chủ nhân nói một câu lơ lửng. ông không thực vồn vã nhưng cũng không tỏ vẻ khó chịu.

Đúng là một gia đình khá giả ở nông thôn. Sát tường bên trong, kê một chiếc tủ chè. Trước tủ là một bộ sập gụ lớn nhẵn bóng, đang mùa đông chắc không có người nằm, nên vẫn để trần. Ngoài cùng là bộ xa lông tiếp khách, chân quỳ, trải nệm thêu. ánh mặt trời buổi chiều xuyên qua cửa kính màu xanh làm cho căn phòng trở nên mờ ảo.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #111 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 04:09:31 pm »

Họ chú ý đến một cái tủ sách hình đa giác, bằng gỗ chạm, có những ô kính, kê ở óc nhà, bên trong là những cuốn truyện được dựng khá ngay ngắn. Tủ sách rất phù hợp với ông chủ. ông không có vẻ là một phú hào ở nông thôn. Chắc ông cũng không phải là người quanh năm sinh sống ở đây.
Hội tháo chiếc dàn trên vai, đặt cẩn thận vào góc tường.

Chủ nhân chăm chú nhìn chiếc đàn, rồi đăm đăm nhìn Nhã. Mắt ông bỗng sáng lên. ông nói:

- Nếu tôi không lầm thì tôi đang được tiếp những chiến sĩ của trung đoàn Thủ đô?

Hội nhanh nhảu:

- Thưa bác, bác không lầm. Xin gới thiệu với bác đây là nhạc sĩ Trương Quang Nhã của trung đoàn chúng tôi.

Như vậy là không còn phải bận tâm về những bộ quần áo và trang bị xuềnh xoàng của họ.

- Tôi biết cả hai anh. - Chủ nhân lại nói - Tôi đã được xem hai anh biểu diễn ở thị xã Phú Thọ. Riêng anh Nhã, tôi còn có chuyện phải hỏi thêm.

Từ giờ phút đó, thái độ của chủ nhân thay đổi hẳn.

Sau khi họ rửa mặt mũi chân tay ở cái bể nước mưa trong vắt đi vào, đã thấy một đĩa cam lớn bày giữa bàn, hai chiếc ba lô được đặt ngay ngắn ở một đầu sập, riêng cây đàn đã tìm được một vị trí trang trọng trên nóc tủ sách.

Một cô gái từ phòng bên đi ra. Đó là cô gái áo tím. Người cô khỏe mạnh và cân đối như một vận động viên bơi lội. Có lẽ cô đã tiếp thu được khí huyết của người cha. Cô chào họ bằng một nụ cười. Hàm răng trắng khỏe và đều tăm tắp. Cô không có vẻ gì là người ở nông thôn.

Cô gái nói:

- Ba em mời hai anh ăn cam cho đỡ khát nước.

Hội vào cuộc ngay:

- Ban nãy em bé đã bảo chúng tôi: "Vào nhà mà ăn cam!".

Cô gái lại nhỏen miệng cười:

- Em nó bé, nhà chiều, nó hay nói hỗn, các anh tha lỗi.

Chắc là cô đã nghe cuộc trao đổi giữa hai người với em bé.

Hội không chịu lui:

- Em còn bảo chúng tôi: "Nhà này không chứa bộ đội!".

- Ba em ngại tiếp người lạ trong nhà... Nhưng các anh... là người quen.

Cô gái ngồi xuống ghế cùng với họ rất tự nhiên!

- Ba em xuống bếp rồi. Có khách qúy là cụ phải tự mình vào bếp. em làm cơm khách, cụ không vừa lòng.

Mời các anh ăn cam đi.

Nhã dò hỏi:

- Gia đình ta ở đây lâu chưa? Chúng tôi trông cô không có vẻ gì là người địa phương.

Từ đôi mắt cô gái ánh lên những tia nghịch ngợm:

- Em là người Phú Thọ. Các anh ở Hà Nội mới lên chưa biết đó thôi. Người ta đã có câu ca:

Sông Thao nước đục người đen
Ai lên Vũ ẻn thì quên đường về...

- Chúng tôi quên đường về rồi. - Hội nói.

Cô gái im lặng, đưa mắt nhìn vào nhà trong.

- Tôi tin cô không phải là người Phú Thọ. - Nhã muốn làm cho cô gái quên đi câu nói suồng sã của bạn.

- Cũng như các anh không phải là lính phải không?

- Chúng tôi thì đúng là lính.

- Lính cậu, lính nhạc sĩ...

- Cũng vẫn là lính.

Cô gái không cãi nữa, cầm cam lên bóc vỏ, tước cẩn thận những cái xơ, rồi đưa cho từng người.

Cô thủng thẳng nói:

- Nhạc sĩ Phan Du, anh Mai Long, chị Bạch Yến cũng có lần qua đây.

- Bạch Yến... kìa, Nhã... - Hội lại dại dột xen vào.

Cô gái chăm chú nhìn Nhã.

Một lần nữa, Nhã phải sửa chữa sự thiếu tế nhị của bạn:

- Chắc các anh, chị ấy có quen biết với bác trai?

- Cũng như các anh thôi, đi ngang, thấy vườn cam đẹp thì rẽ vào.

- Bác là người thích âm nhạc?

- Ba em thích nhiều thứ...

Mắt cô lại ánh lên những tia nghịch ngợm, khiến nụ cười của cô với cái sống mũi chun lại, dễ thương hơn nhiều.

- Chắc là gia đình được nghe bài "Bên cầu biên giới"?

- Được nghe thêm một lần nữa.

- Bác có thích bài đó không?

- Ba em thích... ông cụ ngày xưa có lúc hút cả thuốc phiện...

Hội vỗ đù, nói:

- Nhận xét rất hay! Chắc cô biết âm nhạc?

- Em "mù" nhạc.

- Cô có thể nói cô thích bản nhạc hay bài hát nào không?

Cô gái hơi ngập ngừng rồi nói:

-Bài "Mơ đời chiến sĩ" của anh Nhã cũng là một bài em thích... Nhưng anh Nhã đừng vì vậy mà tự kiêu, vì em đã nói là em "mù" nhạc.

Hội cười to, nhưng không phải là anh không cảm thấy ghen tỵ. Mặt Nhã hơi đỏ lên. Anh đã quen với sự được tán thưởng. Nhưng lời khen của cô gái có cái lối nói chuyện khá đặc biệt với những câu đối đáp ngắn, chủ động, rất tự nhiên, lúc này làm anh cảm động...

Họ không ngờ là mình đã kiếm được một chỗ trú chân tuyệt vời.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #112 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 04:15:16 pm »

Bữa cơm khá ngon nhưng mỗi người, chủ cũng như khách, chỉ dùng một chén rượu khai vị nhỏ. Chủ không để khách say vì muốn có nhiều thời gian chuyện trò với họ.

Qua câu chuyện, họ biết ông Hai Lâm có hai vợ. Bà vợ cả hơn ông bốn, năm tuổi, hiếm hoi, lại ốm đau luôn từ trước tới giờ vẫn ở Phú Thọ với mấy đồi chè và vườn cam. ông Hai Lâm sống với người vợ hai ở Hà Nội. Bà này làm nghề buôn chuyến từ Sài gòn ra Hà Nội. Bà sinh được ba người con, một trai, hai gái. Những dịp nghỉ hè, ba anh em thường kéo về Phú Thọ để thăm bà mẹ già. Bà quý mấy anh em như con đẻ. Người con trai của ông Hai Lâm đã tham gia Việt Minh từ những ngày bóng tối. Vân trước đây được bố mẹ cho học trường đầm. Sau Cách mạng tháng Tám, Vân bỏ học, chuyển sang giúp mẹ buôn bán. Trước ngày kháng chiến, cả gia đình ông Hai về tập trung ở Phú Thọ. Mùa hè năm nay, bà vợ hai tiếc của, bàn với chồng cho mình quay về thành một thời gian. Bà nói sẽ thu xếp công nợ, bán ngôi nhà xong, lại quay ra. Đã năm tháng nay, vẫn chưa có tin tức gì. Có thể vì quân địch mở cuộc tiến công lên Việt Bắc nên đường đi gặp trở ngại. Hôm đội tuyên truyền của trung đoàn biểu diễn ở thị xã Phú Thọ, cả ông Hai và Vân đều có mặt. Hai bố con đã không nhận được ngay ra Nhã và Hội vì họ thay đổi nhiều.

ông Hai Lâm nói:

- Tôi rất quý các anh, vì tôi rất quý cháu. Không phải gặp bất cứ anh bộ đội nào, tôi cũng nhớ đến cháu, mà phải gặp những người như các anh... Anh lính nông dân thời buổi nào cũng vẫn là anh lính nông dân. Có vấn đề giai cấp chứ! Trông thấy các anh vất vả, tôi rất thương con, ngày xưa các anh và cháu đâu có bao giờ phải mặc những bộ quần áo như thế này, đi những đôi dép này...? Còn những người ăn, người làm của gia đình chúng mình,bây giờ cũng vào bộ đội, họ mặc những bộ quần áo này, thì đúng là bộ quần áo của họ, họ có khổ đâu, việc gì mà mình phải thương...! Phải nói là cháu nó rất ngoan. Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Nó phải là đàn bà, mà cháu Vân phải là đàn ông mới đúng. Nó lành hiền, nhưng sâu sắc. Khi nó tham gia Việt Minh, thì nói trắng ra là tham gia cộng sản, gia đình tuyệt đối không một ai biết. Chỉ đến lúc hiến binh Nhật kéo vào nhà, bắt nó thì cả gia đình mới ngã ngửa ra... Tôi biết là cháu không bằng lòng tôi nhiều điểm... Tôi... có hơi débauche ù. Tôi công nhận mình là con người của xã hội cũ. Nhưng tôi không hề cản trở cháu. Có người Việt Nam nào lại không muốn đất nước được độc lập, dân tộc được sung sướng? Tôi có thể hy sinh tất cả, kể cả các con tôi, để giành độc lập. Khi nào các anh có con, đã chăm lo cho nó những lúc yếu đau, đã nhìn thấy  đôi mắt nó sáng lên khi cha nó đi xa trở về, đã có những kỷ niệm vui, buồn với nó, các anh mới hiểu thế nào là sự hy sinh đó! Tôi có sự tự hào của một người cha dám hy sinh. Nhưng cháu nó thấy thế vẫn chưa đủ. Nó không nói ra. Nhưng tôi biết nó không hài lòng vì tôi. Vừa rồi, nó nhờ một người đưa thư về phản đối cái việc tôi để mẹ cháu trở về thành. Nó bảo nó và cháu Vân sẽ không bao giờ cần đến những thứ của cải đó của gia đình... Nó bảo nên cắt tất cả những thứ đó đi như cắt khúc ruột thừa đã bị mưng mủ. Nó đâu có biết rằng, dù nó đã thoát ly, cũng sẽ có lúc nó cần đến gia đình, nó cần đến những ngày nghỉ ngơi, khi ốm đau nó có thể về đây để bố mẹ săn sóc, khỏe mạnh rồi nó lại đi... Và ít ra thì bố mẹ nó cũng phải làm cách nào để sống chứ?... Đấy là nó còn chưa biết, ngay bộ đội Khu Mười này cũng nhờ bà ấy khi ra đem theo ra một số thuốc men... Tôi muốn là, khi gặp nó, chắc chắn các anh sẽ gặp, các anh sẽ nói với nó chuyện đó. Cháu là Xuân Sơn, ở tiểu đoàn 2 ai cũg biết cháu... Này, Nhã, mình muốn hỏi: "toa" bao nhiêu tuổi?

- Thưa bác, hai mươi tuổi chẵn nếu tính theo dương lịch.

- Kém thằng Xuân Sơn nhà mình hai tuổi...

Rồi ông Hai lẩm bẩm một câu tiếng Pháp: "Thì ra mình lầm!".

- Chắc bác trông tôi già hơn nhiều?

- Không hẳn như vậy, nhưng mình đoán "tọa" phải hơn tuổi đó.

- Hay là bác đã gặp tôi ở đâu trước đây?

ông Hai buông vội bát đũa xuống bàn, nói như reo:

- Đúng như vậy. Mình đã nhìn thấy "toa" ở bar Takara... Có đúng không?

- Bác nhớ không lầm. Bác còn có thể nhìn thấy tôi ở một số nơi khác, bar Monico,  quán trà Thiên hương, quán trà Nghệ sĩ ở Bờ Hồ...

- Vậy đúng là "toa"? "Toa" chỉ mới hai mươi tuổi?

- Vâng, tôi không được gia đình nuông chiều. Tôi sớm đi làm nghề để kiếm sống.

- Một sự biến đổi kỳ lạ... Thằng con trai duy nhất của tôi, không bằng lòng bố nó vì mọi người chung quanh đều biến đổi mà bố nó thì không biến đổi bao nhiêu... Nó cũng phải thấy bố mình già rồi...

Tối hôm đó, ông Hai Lâm kéo thêm mấy người bạn, cũng là người Hà Nội tản cư lên, đến nhà. Họ yêu cầu Nhã và Hội hát cho nghe một số bài hát mới. Khi đã hết những bài hát mới, Nhã và Hội hát những bài hát theo yêu cầu của người nghe. Cuộc ca nhạckéo dài đến khuya. Nhã và Hội hát rất say sưa, không phải chỉ vì ông Hai và những người bạn đã tỏ ra đặc biệt quý trọng họ, mà còn vì cô con gái lớn của ông Hai ham thích âm nhạc, có những cử chỉ tự nhiên và tính tình rất hóm hỉnh. Gần nửa đêm, những người bạn của ông Hai Lâm vui vẻ đốt đuốc ra về trong sương mù và gió mùa đông buốt giá.

Sáng hôm sau, khi Hội đã ra ngoài rửa mặt, đánh răng xong quay vào, vẫn thấy Nhã nằm li bì trong tấm chăn bông dày của nhà chủ cho mượn. Hội lại vỗ mạnh vào đống chăn:

- Muộn rồi! Nhã! Dậy đi, để lên đường.

Nhã ú ớ hồi lâu, rồi nói anh không thể cất mình lên được.

Hội mở chăn ra, thấy mặt Nhã đỏ nhừ, đầu nóng như lả. Anh vội ra báo cho ông Hai Lâm đang tập thể dục buổi sáng ngoàn sân.

ông Hai quay vào, lấy nhiệt kế đến cặp sốt cho Nhã. ở nhà, ông vẫn quen săn sóc bà vợ già yếu đau. Nhã sốt trên ba mươi chín độ. Mạch chạy rất nhanh. Lát sau, anh kêu rét. Vân ôm thêm từ buồng mình sang một chiếc chăn bông hoa dày, đắp cho anh. Nhưng hai hàm răng của Nhã vẫn đánh vào nhau cầm cập.

ông Hai hỏi Hội:

- Ở nhà cậu ấy đã sốt rét bao giờ chưa?

- Cậu ấy rất khỏe, đây là lần đầu sốt như thế này. Hơn một tháng qua, bọn tôi ngủ rừng nhiều.

-Tất nhiên phải dẫn đến sốt rét. Không lo. Tiêm một mũi Quinine Shangai, uống thêm một liều ký ninh vàng là sẽ khỏi. Chỉ hai hôm, các anh có thể lên đường nếu các anh vội đi.

Nhưng sau hai ngày, bệnh tình Nhã không giảm. Sang ngày thứ ba, anh bắt đầu mê.

Cả gia đình ông Hai tập trung bên giường Nhã. Bà vợ yếu đau của ông cũng từ gian buồng ở đầu nhà sang. Sau khi cặp sốt và bắt mạch cho Nhã, ông Hai bảo Hội và cô con gái lớn qua buồng khách trao đổi.

Nét mặt ông Hai trở nên nghiêm trọng. Những nếp nhăn lo lắng phút chốt hiện trên bộ mặt lúc nào cũng tự tin và đầy chủ động của ông. ông nói:

- Gay lắm! Triệu chứng này không phải sốt rét bình thường. Anh Nhã bị accès perriueux . Chung quanh đây không có ai là bác sĩ.Quân y viện của Khu Mười, từ ngày địch lên đến giờ, không biết họ chuyển đi đâu. Bệnh viện của huyện thì xa.Tôi đã biết rõ ở đó thuốc men không có gì, còn thua xa ở nhà này. Khiêng anh ấy đi dọc đường, có thể nguy vì cơn bệnh kịch phát.

Bộ mặt Vân khi đỏ, khi tái. Những nét tinh nghịch đã biến đi trong đôi mắt của cô đang tối sầm lại vì lo âu.
Hội bàn.

- Nếu không đưa đi bệnh viện được thì nhờ bác tiêm cho cậu ấy một liều cao xem sao! Chả lẽ bó tay để cậu ấy chờ chết!

Vân bỗng nấc lên. Cô vội bưng lấy mặt. Câu nói của Hội đã gợi ra cho cô một hình ảnh quá ghê gớm.

Ông Hai đứng lên, thọc hai tayvào áo va rơi, môi mím chặt, đi đi lại lại trong phòng. ông đang phải cân nhắc một quyết định nào đó. Những bước chân của ông mỗi lúc một nhanh. ông bỗng dừng lại, nhìn hai người.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #113 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 07:57:07 pm »

- Cách cứu chữa vẫn còn. Nhưng rất nguy hiểm. Có thể tiêm cho anh ấy hai ống Quinoforme La croix  vào thẳng tĩnh mạch, anh ấy sẽ tỉnh. Nhưng cũng có thể bị choáng. tôi không phải là bác sĩ, chỉ học mò cái nghề này để chữa cho người nhà khi chưa có điều kiện đưa tới bệnh viện. Lỡ xảy ra chuyện gì...! Nhưng cứ để như thế này thì đến chiều hay đêm nay, anh ấy sẽ nguy... Nếu anh ấy là con tôi, tôi sẽ quyết định. Nhưng anh ấy lại là một cán bộ quân đội...! Phải nói thật với anh Hội là cái thế chính trị của tôi chẳng vững vàng gì. Lỡ một cái, ngồi tù là cái chắc.

Hội nói:

- Nếu anh ấy là con bác, vào trường hợp này, bác sẽ làm như thế, thì tôi xin thay mặt đơn vị, đề nghị với bác giúp cho. Tôi xin làm giấy ngay để bác yên tâm.

- Chỉ cần anh có ý kiến như vậy. Không cần anh phải làm giấy ma. Người chịu trách nhiệm vẫn là tôi, vì anh biết gì đâu về chuyện thuốc men.

Ông bỗng quay về phía Vân:

- Ý kiến con thế nào?

Vân nói với giọng dứt khoát:

- Gia đình mình phải cứu chữa cho anh ấy. Không thể để anh ấy nằm chờ chết trong nhà mình...!

Vân chạy đi đun nước.

ông Hai Lâm cầm trong tay hai ống thuốc vừa nhìn nó lại nhìn Nhã. Cuộc sống của người trẻ tuổi nằm kia đang gắn liền với cuộc đời ông bằng hai ống thuốc nho nhỏ này. Nếu anh ta sống, ông sẽ sống. nếu anh ta làm sao... sau khi vừa dứt mũi tiêm, thì cuộc đời yên tĩnh của ông và của gia đình cũng chấm dứt... ông đã đi đến quyết định vì ông tin chắc rằng, nếu không có hai ống thuốc này, anh ta chắc chắn sẽ chết, và con gái của ông đã đồng tình cho ông làm việc đó. Trong cuộc đời, chưa bao giờ ông có một quyết định quan trọng như vậy.

Vân mang ống tiêm đã được luộc kỹ lên đưa cho cha. Cô cảm thấy mình đang tiếp tay cho cha làm một việc nguy hiểm mà chỉ mình ông lãnh lấy trách nhiệm.

Vân kéo cánh tay gầy guộc của Nhã ra khỏi chăn, vén ống áo nâu rộng thùng thình lên, và giữ tay anh cho cha tiêm. Cô tự hỏi: không biết mình đang cùng cha mình kéo người thanh niên này ra khỏi móng vuốt của tử thần hay đang dắt anh đến trao cho nó...?

ông Hai đặt mũi tiêm vào tĩnh mạch của người bệnh, tay không run. Nhưng khi thứ nước trăng trắng bắt đầu được đưa dần vào mạch máu, con đường dẫn về tim của người bệnh, thì ông thấy chính tim mình đang thắt lại và có lúc như ngừng đập. Nếu bây giờ có một biến đổi bất bình thường, theo chiều hướng xấu, trên bộ mặt mê man của người bệnh thì ông sẽ ngất xỉu.

Nhưng công việc vẫn trôi chảy. ông Hai rút mũi kim ra. Mặc dù trời lạnh, trán ông lấm tấm mồ hôi. Người bệnh thở điều hòa. Và bỗng như có một phép lạ, Nhã từ từ mở mắt.

Đầu tiên, Nhã nhìn thấy cặp mắt của một người con gái. Cặp mắt đó như cả một khung trời sâu thăm thẳm trước mặt anh, đang bao bọc lấy anh trong sự thương cảm và lo âu. Rồi anh nhận ra đó chính là Vân, đôi môi cô gái đang mấp máy. Bàn tay anh đang nằm trong bàn tay mát rượi của cô. Anh đưa mắt nhìn tiếp chung quanh và nhận ra ông Hai Lâm, Hội, và một bà có tuổi. Nhã chợt hiểu. Anh mấp máy môi và lạ lùng khi nghe thấy tiếng mình vang lên một cách rành rọt trong căn phòng:

- Tôi làm phiền gia đình quá!

Chiếc ống tiêm từ trong tay ông Hai Lâm rơi xuống sàn đá hoa, vỡ thành nhiều mảnh. ông Hai Lâm không nhìn nó, reo lên:

- Sống rồi! Sống rồi1

Bấy giờ ông mới đưa ống tay áo va rơi lên trán quệt mồ hôi.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #114 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 08:04:07 pm »

Hạ tuần tháng Chạp, những toán quân Pháp cuối cùng từ Việt Bắc rút chạy đã về tới cầu sông Đuống gần Hà Nội.

Nhã và Hội quay về Thái Nguyên. Lầnnày, họ vượt sông Lô ở bến Phan Lương. Họ muốn biết thêm một đoạn đường mà một bộ phận của binh đoàn Com-muy-nan đã từ châu Tự Do, Tuyên Quang, Tháo chạy về xuôi.

Con đường đất đỏ, có những quãng cỏ mọc phủ lan gần kín, nằm giữa núi rừng hoang vắng, như phảng phất mùi tanh tưởi của bọn tàn quân viễn chinh. Vỏ đồ hộp sơn màu cứt ngựa, những giấy gói thuốc lá, giấy gói bánh, kẹo nằm rải rác trên dọc đường, ở giữa cả những đám lau lách. Những ngôi nhà nhỏ, những hàng quán thưa thớt hai bên đường không bị đốt phá. Không hiểu quân địch vì vội vã hay vì muốn giữ bí mật con đường rút chạy đã không ném những mồi lửa vào những vật bằng nứa lá rất dễ bốc cháy này. Những cánh cửa liếp, kẹp lá gồi, vẫn còn đóng kín. Đồng bào sơ tán vào rừng chưa trở về. Có lẽ nhiều người chưa tin quân địch đã hoàn toàn rút chạy.

Nhã đã bình phục sau trận ốm. Đất trời, rừng núi hiện ra trước mắt anh, với một màu sắc mởime. Trời lạnh và không có nắng. Không khí tươi mát. Mùa đông sắp hết mà rừng núi vẫn xanh rờn.

Cuộc kháng chiến này thật lạ lùng. Phút chốc, nó xóa đi mọi ranh giới, mọi sự xa cách. Những con người không kể giàu, nghèo, lứa tuổi, dân tộc, đẳng cấp cùng đứng bên nhau trong một chiến tuyến. Kẻ thù đã kết họ lại thành đội ngũ. Tình cảm của mọi người vượt ra khỏi ngôi nhà nhỏ bé của mình. Bản thân mỗi ngôi nhà cũng mở rộng cửa đón người tự bốn phương. Mình mất đi một ngôi nhà bé nhỏ nhưng lại có thêm hàng vạn ngôi nhà. Những ngày qua đối với anh, có thể còn hơn thế. Một người cha đã sẵn sàng đem sinh mệnh, cuộc sống yên vui của gia đình mình để giành lại cuộc sống cho anh. Một cô gái đã săn sóc anh như săn sóc một người anh. Lần đầu trong cuộc đời anh, có một người con gái đã nhỏ nước mắt vì anh. Nếu không có kháng chiến, làm sao anh biết được ngôi nhà xinh xinh trên trái đồi với những con người như thế? Và nếu không có trận ốm vừa qua, làm sao anh hiểu được họ. Anh sẽ chỉ là một khách qua đường đến ngủ nhờ, nhiều lắm những kỷ niệm còn lại chỉ là một đêm vui, như nhiều đêm vui anh đã trải qua.Trước khi anh ra đi, mối quan hệ của anh với gia đình này đã đổi khác. Trái tim anh lại mở ra một khoang mới để chứa đựng những tình cảm ngọt ngào. Những tình cảm đó là thứ thuốc bồi bổ tâm hồn con người, làm cho họ thêm tin cậy, yêu thương, khát khao cuộc sống.

Đến gần châu Tự do, họ rẽ sang đèo Kháng Nhật để đi tắt về Văn Lãng không phải qua Đèo Khế. Con đường của những chiến sĩ Cứu quốc quân trong thời kỳ đánh Nhật, tưởng đã đi vào dĩ vãng, lại tiếp tục vai trò của nó trong cuộc kháng chiến mới. Lác đác mấy ngôi nhà sàn, một vài quả núi, cây cối đã bị đốn trụi và đốt rẫy để tra lúa nương. Nhưng dấu hiệu của con người ở đây, không làm cho rừng núi bớt hoang vu.

Phố Văn Lang chỉ còn là những nền nhà bị lửa nung đỏ, với những cột kèo đã cháy thành than.
Hai người rẽ vào một bản gần đường tìm chỗ nghỉ. Bản rất vắng, không thấy bóng trâu, bò, lợn gà. Một vài ngôi nhà thấp thoáng bóng người, có lẽ là những người sơ tán trong rừng rẽ về thăm nhà. Nhã và Hội đang đi ngơ ngác trong bản, chưa biết rẽ vào đâu, thì có tiếng gọi:

- Đồng chí Nhã!

Họ quay lại nhìn thấy Thúy Hường đang đứng ở đầu hồi một ngôi nhà sàn, sửa lại chiếc máng dẫn nước từ khe suối về.

Thúy Hường trước đây là cấp chỉ huy của Nhã, khi Nhã còn là một chiến sĩ trinh sát thì chị đã ở cấp tiểu đoàn. Sau ngày trung đoàn rút khỏi Hà Nội, chị chuyển sang công tác ở Hội Liên hiệp phụ nữ trung ương.

- Đi tìm ai thế này? - Chị hỏi tiếp, giọng nói của người đã trở về với công tác đoàn thể.

- Báo cáo: Không tìm ai cả, đi xin chỗ ngủ nhờ. Chị có cưu mang được anh em chúng tôi không?

- Lên đây.

Trong ngôi nhà sàn, chỉ có hai ông bà già người Cao Lan. Thúy hường đi vào, nói:

- Cơ quan còn ở trong lán, mới có mình về. Khối chỗ nghỉ, các cậu thích chỗ nào thì ném ba lô xuống đấy. Gạo thì có thể nuôi các cậu vài ngày, nhưng phải ăn với muối trắng.

- Có gạo là tốt rồi! Chúng tôi sẽ xoay thức ăn. - Hội vừa nói vừa vỗ vào trái lựu đạn đeo bên sườn.

Trong lúc Thúy Hường thổi cơm, Nhã và Hội ra suối kiếm cá. Họ mang theo mộ cây nứa và sợi dây dù.
Hai người đi dọc bờ suối, tìm được một chỗ nước tương đối sâu, bờ suối có thành hơi cao.Theo kế hoạch Hội đã bàn, cần đánh ăn chắc, Nhã cột chặt quả lựu đạn vào đầu cây sào nứa, rồi mở nắp lựu đạn, kéo sợi dây cước ra, buộc nối với sợi dây dù anh đem theo.

Nhã nói:

- Xong rồi!

Hội bắt đầu cởi quần áo. Da anh lập tức tím tái và nổi gai lên vì gió lạnh.

Nhã ngồi trên bờ, thò quả lựu đạn ra giữa suối, giật dây, rồi ấn đầu cây sào xuống dòng nước. Tiếng nổ khá to, âm vang trong khe núi. Một cột nước dựng lên. Nước bắn tung tóe lên hai bên bờ.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #115 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 08:11:08 pm »

Hội vội lao mình xuống suối để bắt cá. Anh không cho Nhã làm công việc này vì Nhã mới ốm dậy. Mấy con cá mình trắng xanh nổi bềnh lên và bị cuốn theo dòng nước xiết. Hội vơ vội từng con, quẳng lên bờ. Những con cá nhỏ trơn nhẫy, tuột khỏi tay anh. Anh không tiếc lắm, mắt vẫn đả đi đảo lại liên tục, hy vọng sẽ còn vài con cá to cuối cùng mới nổi lên. Nhưng rồi những con cá nhỏ đã trôi hết. Dòng nước đục lầm vì tiếng nổ trong dần. Bấy giờ anh mới tiếc là mình đã không nhanh chóng vơ thêm một ít những con cá nhỏ.
Họ ra về với ba con cá ranh. Tuy vậy, cũng vui vẻ vì đủ cho mỗi người một con.

Không có mỡ màng gì. Nhã kẹp cá vào một thanh tre, rồi cời than bếp ra nướng.

Cá suối dường như không có mỡ. Chỉ thấy mình cá vàng dần. Tuy vậy, cũng đã có mùi thơm bốc lên. Mùi thơm kích thích khứu giác, khiến cho bụng họ đói cồn cào. Nhã gỡ ba con cá, đặt vào một cái đĩa để cạnh bếp. Anh rủ Hội ra máng rửa tay nhanh để vào ăn cơm, kẻo nguội thức ăn.

Khi Nhã quay vào thấy Hội đang hét ầm. Anh thoáng nhìn thấy một con mèo xám, to như một con cáo, từ bếp chạy vút ra cửa. Họ cùng lao đầu đuổi theo con vật, hy vọng nó bỏ lại những miếng mồi. Nhưng nó đã biến vào chuồng trâu của một căn nhà khác, và không để rớt lại một vật gì trên đường chạy trốn.

Bữa cơm vẫn chỉ có muối ớt.

Thúy Hường ăn rất vui vẻ. Chị nói:

- Nếu mèo không ăn hộ, tôi cũng xin chịu. Cá suối tanh ngòm, lại không có mắm muối gì, nuốt trôi làm sao được!

Hình như chị muốn làm cho họ đỡ tiếc mất bữa ăn ngon.

Sau bữa ăn, nhân lúc Hội đi ra ngoài, Thúy hường nói nhỏ với Nhã:

- Hôm nọ mình gặp anh Lý, trưởng ban chính trị trung đoàn...

Chị ngừng lại với vẻ nghiêm trang. Nhã giương mắt nhìn chị, không hiểu vì sao chị lại phải nói với mình bằng giọng nói và vẻ mặt như vậy.

Thúy Hường nói tiếp:

- Anh Lý nói lần này Nhã về, trung đoàn ủy sẽ xét việc kết nạp Nhã vào Hội. Anh ấy hỏi ý kiến mình. Mình nói, mình không hiểu Nhã bằng anh Chương nhưng mình tán thành...

Sau khi trung đoàn di chuyển lên Thái Nguyên, trưởng ban chính trị Lý đã nói chuyện nhiều lần với Nhã về Đảng. Anh hỏi Nhã hiểu về Đảng như thế nào. Nhã trả lời bố mình đã có chân trong hội ái hữu thợ thuyền, anh đã nhìn thấy những cuộc họp có treo ảnh Lê-nin, ngay ở gia đình mình. Ngày tham gia hoạt động Việt Minh, người tuyên truyền anh đã nói rõ: Việt Minh là một tổ chức chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Chính vì sự cảm phục đối với Đảng, nên anh đã kiên quyết đi theo Việt Minh. Sự công kích của bọn Quốc dân đảng đối với Mặt trận Việt Minh trong năm đầu cách mạng, đã không làm anh hiểu lầm Việt Minh, mà trái lại, nó củng cố niềm tin của anh đối với Đảng. Anh rất khâm phục Đảng và những người đảng viên cộng sản, nhưng anh chưa hề nghĩ đến chuyện mình có thể trở thành đảng viên. Lý đưa cho Nhã một cuốn điều lệ Đảng nhỏ xíu, khuyên anh nên đọc thật kỹ để hiểu về tôn chỉ, mục đích của Đảng, và nhiệm vụ của đảng viên. Một tuần sau, Nhã đem trả cuốn điều lệ, và nhận xét: "Mục đích, tôn chỉ của Đảng rất cao cả". Lý nói: "Trung đoàn ủy giao cho mình nhiệm vụ giúp đỡ cậu, để trong một thời gian nữa cậu có thể trở thành đảng viên". Nhã đáp ngay: "Tôi rất cảm động và xin cảm ơn Đảng đã chú ý đến tôi, nhưng sau khi được đọc điều lệ Đảng, tôi đã có ý nghĩ là mình không bao giờ có thể trở thành đảng viên, vì Đảng đòi hỏi ở người đảng viên những phẩm chất mà tôi biết mình không thể đạt được"... Đó là những gì đã diễn ra trước khi Nhã đi công tác đợt này...

Nhã kể lại tất cả cho chị Thúy Hường nghe. Chị nói:

- Mình đã biết những điều cậu vừa kể. Nhưng chính vì thái độ đó của cậu mà trung đoàn ủy đánh giá tốt về cậu. Có thể nói, trong thời gian qua, cậu là người đầu tiên trong trung đoàn trả lời như vậy khi biết Đảng có ý định kết nạp mình. Tôi không tin tất cả những người muốn vào Đảng đều có một động cơ đứng đắn. Trong số họ, có những kẻ cơ hội. Qua thái độ của Nhã, Đảng lại càng muốn giúp đỡ Nhã trở thành đảng viên, vì Đảng cần những người thành thực... Cậu có chỗ hiểu lầm về những người đảng viên... Đảng viên phải đâu là thần thánh cả!...

Nhã ngập ngừng rồi nói:

- Tôi chỉ là một người yêu nước, có nhất thiết phải trở thành đảng viên không?

- Theo mình, những người yêu nước phải trở thành đảng viên. Muốn hoàn toàn giải phóng đất nước không thể không đi theo Đảng...

Hôm sau, trước khi hai người lên đường, chị Thúy Hường hỏi Nhã:

- Gần đây, Nhã có gặp anh Chương không? Nghe nói anh Chương ở phía Bắc Cạn?

- Chúng tôi đã ở với anh Chương nửa tháng trên đó trước khi chuyển sang mặt trận sông Lô.- Anh Chương có khỏe không?

- Không thể nói khỏe, mà phải nói rất khỏe... Chị có điều gì cần nhắn anh Chương không?

- Không... Nếu gặp anh Chương cho mình gửi lời hỏi thăm...
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #116 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 09:19:39 pm »

Nhã vẫn suy nghĩ về cái điều chị Thúy Hường nói tối hôm qua: "những người yêu nước phải trở thành đảng viên"... Những người cộng sản Việt Nam, chính là kẻ tử thù của bọn cướp nước, cả Pháp lẫn Nhật. Đã có bao nhiêu người yêu nước Việt Nam đầu rơi máu chảy, bị xiềng xích tù đầy, hầu hết họ đều là những người cộng sản hoặc những người tham gia những tổ chức chính trị của Đảng Cộng sản, Việt Minh, tổ chức chính trị đã mang lại độc lập cho đất nước, là tổ chức của Đảng Cộng sản, Những người như Chương, như Linh, một cô gái yếu đuối như Thúy Hường, đã bình thản ở lại giữa Liên khu I bị bao vây, lãnh đạo những người như mình chiến đấu, đều là những người cộng sản...

Một băng vải đỏ trên một quả đồi nằm không xa đường, bỗng đập vào mắt họ.

Hội nhanh mắt, đọc được trước hàng chữ vàng trên băng vải, bỗng kêu lên:

- Đơn vị anh Linh! Minh Tú hy sinh rồi!

Nhã sững sờ nhìn dòng chữ: "Vô cùng thương tiếc và nguyện sẽ trả thù cho đồng chí Minh Tú!".

Lại có thêm một người cộng sản hy sinh! Sau trận đánh Chợ Đồn, Nhã biết Minh Tú đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Những ngày đó, người thanh niên này như được chắp một đôi cánh mới. Nhã đã im lặng quan sát người bạn đồng đội cũ ở Liên khu I, và nghĩ rằng không biết với đôi cánh mới này, anh sẽ bay xa đến đâu. Anh đã trở thành người cộng sản để đón lấy một cái chết chóng vánh.

Trên đồi, cả đại đội đang tập trung làm lễ truy điệu. Nhã và Hội lặng lẽ đứng vào sau hàng quân. Qua lời nói của chính trị viên Linh, họ được biết trong trận Đèo Giàng, Minh Tú đã dùng một khẩu trung liên chiến đấu với quân địch để bảo vệ cho bộ đội rút lui an toàn. Đến phút cuối cùng, người ta mới biết anh bị thương nặng. Cáng anh về đến nửa đường, thì Minh Tú thở hơi cuối cùng. Anh mất cách đây ba ngày.Và sáng hôm nay, đại đội vừa về đến khu căn cứ, làm lễ truy điệu anh. Toàn thể đại đội để một phút im lặng, mặc niệm người đã hy sinh, rồi thét vang những lời thề nóng bỏng hứa sẽ chiến đấu trả thù cho anh.

Nhã nhìn đoàn quân vừa trở về sau một cuộc trường chinh. Không mấy ai còn bộ quần áo lành. Những chỗ rách để hở những mảng da thịt tím bầm vì gió lạnh. Phần lớn mọi người đều đi chân đất, những bàn chân nứt nẻ. Người nào cũng gầy và xanh. Hầu như không còn gì là bóng dáng tài hoa son trẻ của những chàng thanh niên ngày mới ở Thủ đô ra. Nhưng trong tay họ đã có thêm những khẩu súng mới, ánh thép xanh biếc. Những vật đó nói lên họ là những người chiến thắng trở về.

Nhã và Hội ở lại với đơn vị ngày hôm đó. Ngay buổi chiều, trong lúc mọingười tấp nập làm lán, Nhã ngồi bên bờ suối với cây đàn của Hội, viết một bài hát mới. Bài hát có hình ảnh đoàn quân đi trên con đường kháng chiến dài dằng dặc trong sương mù và gió rét mùa đông. Bụi đường xa đã nhuốm bạc những bộ quần áo hào hoa. Rách tả tơi rồi những đôi giày vạn dặm. Nụ cười vẫn hiện lên trên đôi môi khô héo giữa những cơn sốt rét, như ánh sáng mặt trời mùa đông len lỏi giữa những khu rừng âm u. Trong bài hát âm vang những lời thề phải trả thù cho một người bạn đồng đội hôm qua vừa ngã xuống. Đó cũng là lời thề chiến đấu đến cùng để giải phóng Thủ đô, giải phóng quê hương, dù cho những mái đầu xanh sớm bạc, dù cho có phải phơi thây giữa hoa ngàn cỏ nội.

Anh đã có câu trả lời nếu lần này người ta sẽ hỏi anh về ý nguyện phấn đấu để trở thành một người đứng trong đội ngũ của Đảng...

Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #117 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2008, 09:25:15 pm »

Tập 3

Phần 1


Mùa Xuân đã trở về với Việt Bắc. Những ngôi nhà xanh mướt màu nứa lá và tre rừng thi nhau mọc lên trên nền tro than những phố xá bị đốt trụi, giống như cây cối sau những ngày bị sương gió mùa đông đốt cháy, đua nhau đâm chồi khi có trận mưa xuân. Những ngôi nhà dựng lại lần này có vẻ khang trang hơn. Người tản cư trong làng kéo ra phố làm nhà cũng đông hơn. Mọi người như tin rằng sau cuộc tiến công mạo hiểm vừa qua, giặc Pháp sẽ không bao giừo dám quay lại dải đất rừng núi hiểm trở này. Đây không phải là nơi chúng có thể thả sức hoành hành như ở vùng xuôi. Rừng núi đã giúp cho những người kháng chiến mạnh lên gấp mười. Họ không bao giờ mất thế chủ động. Chỉ cần rút ra cách địch một khoảng đường rừng là chẳng phải còn e ngại chúng. Muốn đánh địch lúc nào là tùy ý của họ.

Đầu mùa xuân, bộ đội từ các nơi kéo về Đại Từ rất đông. Họ tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng. Không có quảng cáo, không có chương trình, không có người bán vé. Chỉ cần nhìn thấy một đống củi lớn chất giữa sân vận động, hay một bãi ruộng khô nẻ là người nọ kháo người kia tối nay bộ đội liên hoan, và đồng bào lũ lượt kéo tới. Có những người đốt đuốc đi xa dăm, bảy ki-lô-mét. Có người sốt sắng vách theo cả những bó củi, bó nứa để góp ánh sáng cho đêm liên hoan. Đống củi lớn được đốt lên. Ngọn lửa hồng bắt đầunhảy múa reo vui trong gió lạnh. Người đến xem, bộ đội và đồng bào, ngồi vây quanh. Vòng trong cùng là những em thiếu nhi. Rồi đến người lớn tuổi. Những cô gái ít khi chịu ngồi, đứng ngấp nghé ở vòng ngoài cùng. Sương giá bị xua ra xa. Mặt mọi người đều đỏ hồng vì lửa. Có lúc làn gió quẩn lùa vào mắt, mũi họ những luồng khói đặc cay sè. Họ chăm chú nghe anh chính trị viên nói chuyện chiến thắng trên các mặt trận, ở sông Lô, ở đường số 4, và hô hào đồng bào giữ bí mật "không biết, không nghe, không thấy" đề phòng bọn Việt gian, ra sức tăng gia sản xuất, ủng hộ bộ đội đánh giặc... Họ say sưa theo dõi chương trình văn nghệ. Bộ đội hầu hết trẻ măng. Họ hóa trang bằng phấn bảng, nhọ nồi và giấy hồng điều. Họ mượn quần áo của những cô gái trong làng để đóng giả những vãinư. Họ mang váy, áo bằng những tấm vỏ chăn và dán lên đó những sọc giấy xanh đỏ. Họ ca hát, ngâm thơ, đóng kịch. Những tài tử nghiệp dư này đều tỏ ra tự tin. Họ không nghĩ mình có nhiều tài năng về văn nghệ, nhưng họ hiểu là mình đang xuất hiện trước đồng bào như những chiến sĩ vừa chiến thắng trở về. Và trong số họ không phải không có những người tài hoa, những người thực sự có khả năng về âm nhạc, ca hát và diễn kịch.

Những đơn vị thuộc nông trường cũng tích cực tham gia đợt tuyên truyền chiến thắng này. Phong đã biết rõ tài năng của Thìn, anh chàng hàng ngày vẫn ngồi ủ rũ ở gian phòng của đồng chí y tá. Và anh cũng biết về sự hiệu nghiệm của một ống moóc-phin đối với Thìn trong mỗi đêm liên hoan.

Thìn vừa sáng tác ra được một vở kịch "Chôn Tây" làm cho tất cả người xem cười nôn ruột. Câu chuyện rất giản đơn. Một tên lính da đen vào làng kiếm lợn, gà. Một anh dân quân phục bên chuồng gà, nhảy lên đập cho nó một chiếc đòn gánh trúng đầu. Anh dân quân đem nó đi chôn.Chôn tên lính Tây xong, anh vui vẻ quay về làng thì vẫn thấy tên lính da đen đang đuổi theo bắt một con gà. Đây là một tên lính da đen khác, nhưng vì chúng quá giống nhau, nên anh dân quân nghĩ là hồn ma của tên giặc hiện về. Anh rụng rời. Anh cố lấy lại can đảm, tìm cách quật cho "hồn ma" một gậy nữa. "Hồn ma" lăn đùng ra chết. Anh dân quân tìm cách thử xem nó đã chết thực hay chưa. Anh lại đem nó đi chôn. Lần này, anh đào hố rất sâu, chôn nó thật kỹ, và vần những tảng đá lớn xếp chẹn trên ngôi mộ của nó. Khi anh quay về làng, thì lại gặp hai tên lính da đen đang khiêng một con lợn. Anh suýt ngất xỉu vì tưởng là hồn ma hai tên địch lại hiện lên. Nhưng rồi anh cố gắng khắc phục sợ hãi, tìm cách tiêu diệt nốt hai "hồn ma" mới này một lần nữa... Và câu chuyện cứ tiếp tục như thế. Nó chỉ dừng lại khi người xem đã mệt nhoài vì những trận cười.

Thìn đóng vai dân quân. Thoạt nhìn thấy dáng điệu ngờ nghệch của anh là mọi người đã buồn cười.Và vở kịch được trình diễn vẫn với cốt truyện ấy nhưng không lần nào giống lần nào. Thìn luôn có những "miếng" mới để minh họa câu chuyện. Nguyên cái việc thử xem "hồn ma" đã chết thật chưa, anh đã dùng đến chục cách khác nhau. Có lần anh nằm trên đất, áp hết tai bên này đến tai bên kia vào ngực nó, để nghe tiếng đập của trái tim. Có lần anh cù tay vào gan bàn chân của nó.Có lần anh nhổ lông chân, ngoáy vào mũi của nó. Cũng có một lần, anh chạy đến chỗ một đồng chí cán bộ đang ngồi xem, chân đi một đôi giày vải ướt sũng vì lội suối, anh tháo một chiếc giày của đồng chí cán bộ, và lôi tuột chiếc bít tất, đưa lên mũi mình, vờ hắt hơi ầm ĩ, rồi lại đem chiếc bít tất đến đặt trước mũi "hồn ma"; sau đó, anh mang chiếc bít tất lại trả chủnó, cung kính cúi đầu cảm ơn, rồi vác tên lính đi chôn...

Vở kịch nổi tiếng khắp vùng. Hễ thấy trung đội của Phong xuất hiện trong một đêm liên hoan, người xem lại hò reo yêu cầu ầm ĩ: "Chôn Tây!... Chôn Tây...". Kiều Oanh cũng nghe các bạn nói về vở này, và yêu cầu Phong cho xem. Cô gái hay buồn ấy tối hôm đó đã cười đến chảy cả nước mắt.

Vở kịch được tiếp tục diễn cho đến một lần, đồng chí trưởng phòng chính trị từ trên binh đoàn xuống. Khi xem vở kịch, anh cũng cười bò ra như mọingười. Nhưng sau cuộc liên hoan, anh nhẹ nhàng nói với đại đội trưởng Khải:
- Nên xem lại nội dung chính trị của vở kịch này!

Khải nói ngay:

- Báo cáo anh, kịch vui, nhẹ nhàng thôi! Anh dân quân trong vở là người dám đánh Tây và diệt được nhiều Tây, chứ không phải như một số dân quân thấy Tây đến là đánh bài chuồn. Tây mọc lên bao nhiêu, diệt bấy nhiêu, dù là ma hay quỷ cũng cứ diệt, đó là nội dung vở kịch. Đồng bào, bộ đội xem ai cũng thích. Thiếu vở kịch này là mất vui.

Trưởng phòng chính trị gật gù rồi nói tiếp:

- Mình thấy, có mấy vấn đề cần lưu tâm... Đây là một vở kịch vui. Muốn vui thì có thể bịa chuyện ra mà cười, chuyện không có thực cũng không sao! Nhưng... ta dựng lên một anh dân quân quá hù khờ, nhầm cả thằng địch chết với thằng địch sống, dân quân của ta trong thực tế cũng có những đồng chí khù khờ, vì họ là nông dân, có thể có người nghĩ rằng bộ đội chủ lực đem dân quân ra giễu...
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #118 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2008, 07:27:29 pm »

- Chúng tôi có thể chuyển vai dân quân thành một vai bộ đội... - Khải sốt sắng nói.

Trưởng phòng chính trị chậm rãi:

- Còn vấn đề nữa, là vấn đề màu da. Phải để tên lính là da đen thì sự nhầm lẫn này mới có lý. Nhưng lính da đen cũng là những người dân thuộc địa như ta trước kia, bị kẻ địch bắt đi làm bia đỡ đạn... Mình có nên xây dựng một vở kịch trong đó chỉ toàn là lính da đen đi cướp bóc bị dân ta giết không?...

Đại đội trưởng Khải ngẩn người. Từ đó, trung đội Phong không diễn vở kịch "Chôn Tây" nữa. Và Thìn đã sáng tác ngay một vở kịch mới để thế vào đó.

Một hôm, sau một buổi họp cán bộ ở đại đội, Phú nói với đại đội trưởng Khải:

- Có một tiểu đoàn chủ lực mới về đóng quân ở xã Hồng Thái, họ cử người đến mời mình chiều nay chơi bóng đá. Anh thấy có nên nhận lời không?

- Nhận. Sợ gì! - Đại đội trưởng Khải vốn là một người máu mê các trò chơi thể thao. - ông tập hợp cầu thủ, chọn người ở cả ba trung đội.Tôi nhận một chân hậu vệ.

Chiều hôm đó, buổi đấu bóng diễn ra sôi nổi. Đơn vị mới đến đưa cả bộ đội ra xem. Khải cũng huy động toàn thể nhân viên nông trường, trai, gái đều ra cổ vũ. Giữa chừng, một cuộc tranh cãi tỏ ra rất găng. Nông trường đang bị dẫn một quả. Trong một đợt lên bóng, Phong chuyền bóng cho Phú sút gỡ hòa. Những người xem của nông trường hò reo ầm ĩ. Nhưng phía bên kia nói quả bóng đi trệc ra ngoài. Cầu môn chỉ là hai cái mũ nên đúng, sai rất khó xác định.

Phong nói:

- Coi như quả bóng đó ra ngoài. Đây là chúng ta đá chơi cho vui, chứ nếu đá thi thì không những cần có cột gôn, mà còn phải có cả lưới nữa mới tránh được sự tranh cãi. Đề nghị thủ thành bên các anh phát bóng lên.

Từ phía người xem bên kia, một cán bộ thân hình bé nhỏ, bước ra, giọng điềm đạm:

- Tôi nhận thấy quả bóng vừa rồi đã đi vào phía trong cột gôn. Như vậy là "một hòa". Chúng ta đưa bóng lên giữa sân, đá tiếp.

Đội bóng nông trường từ trước đến giờ chưa thua đội nào ở vùng này, nên cố gắng giữ danh dự. Về phía bộ đội mới tới, hình như tự cho mình là một đơn vị chiến đấu ở mặt trận về, thfi không thể thua một đơn vị làm công việc sản xuất ở phía sau. Hai bên đều cố gắng và tất cả cầu thủ đều mệt nhoài. Trận đấu kết thúc với tỷ số hai hòa không làm cho bên nào mất vui.

Phong vừa bước ra sân, đang lau mồ hôi bỗng thấy một người ôm chầm lấy mình.

- Cậu Phong!

Một khuôn mặt nâu sậm đang áp vào mặt anh.

- Anh Nho! Đi đâu mà lại đến đây?

- Đơn vị tôi đây mà! Đây là tiểu đoàn 2. Tôi đang định vào nông trường hỏi thăm anh thì nhìn thấy anh.

- Nhưng tiểu đoàn bóng ở Bình Ca cơ mà?

- Giao lại cho đơn vị khác rồi.

Anh ghé tai Phong nói nhỏ:

- Chúng tôi chuẩn bị đi chiến đấu ở xa.

- Đi đâu?

- Không biết đi đâu!...

Phong không gặp lại được anh Nho. Sáng hôm sau, Phong ra tìm anh, đơn vị đã di chuyển cách đó nửa giờ. Họ chính là những người đã chiến đấu với anh ở Hà Nội. Anh cố nhớ lại khuôn mặt những người mình đã gặp. Cái nét chung về họ mà anh nhớ được là những bộ mặt xanh xao, thân hình gầy guộc, những bộ quần áo bạc màu, rách vá. Nhìn họ khác hẳn với bộ đội ở nông trường. Trong đội bóng của họ, có những người đá rất khéo nhưng không chịu đựng được sự va chạm... Họ vừa qua những ngày chiến đấu gian khổ. Đáng lẽ họ cần được nghỉ ngơi, nhưng họ đã vội vã lên đường. Một cuộc chiến đấu mới, như lời Nho nói, đang chờ đợi họ ở phía trước. Họ thèm khát một cuộc vui chơi như chiều hôm qua. Đó đúng là tính chất của những anh lính Hà Nội. Phong tự trách: hôm qua mình tranh hơn thua với họ làm gì? Đáng lẽ nên dành phần thắng cho họ, để mang lại cho họ một chút vui. Một chút vui có lẽ là rất hiếm hoi đối với họ. Anh cứ xấu hổ mãi về câu nói có vẻ cay cú của mình.

Những người bạn chiến đấu này đã không dự trọn vẹn trận đánh ở Hà Nội. Họ đã không có mặt trong những ngày ác liệt nhất tại Liên khu I như Phong. Nhưng hôm nay, họ vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu với quân thù. Còn anh thì đã dừng lại ở nơi không có tiếng súng.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #119 vào lúc: 16 Tháng Mười, 2008, 07:31:36 pm »

Về nhiều mặt, Phong đang có một cuộc sống ổn định so với ngày xưa, kể cả thời kỳ trước khi nổ ra kháng chiến toàn quốc. Không phải riêng Phong mà cả gia đình anh đã có một chỗ đứng trong guồng máu của xã hội.ăn mặc tuy chỉ tạm đủ nhưng không còn là một mối lo, mối lo rất ghe gớm luôn luôn giày vò họ trong cuộc sống. Họ không còn băn khoăn nhiều về tương lai.Tương lai của họ là tương lai của cả cuộc kháng chiến.Phong ngày càng có thêm sự tín nhiệm đối với đại đội trưởng Khải. Trong những ngày địch đến Đại Từ, Khải đã trao cho Phú và Phong việc tổ chức đánh địch, phối hợp với bộ đội và dân quân địa phương.

Huyện đã khen bộ đội nông trường mặc dù không được trang bị súng nhưng hoạt động rất tích cực. Phú và Phong đã dẫn bộ đội đi quấy rối địch nhiều lần. Họ làm nhiều việc táo tợn, mò vào giữa phố Đại Từ, ném lựu đạn vào nơi địch ngủ, gài bẫy lựu đạn ở quanh vị trí, đốt nhà, gây tiếng động làm cho quân địch hốt hoảng bắn suốt đêm. Những việc này Phong đã quen từ hồi ở Hà Nội. ở đây, anh được rộng cẳng hơn, bốn chung quanh rừng núi, đất trời đều là của ta, lại không bị xe tăng và các phương tiện cơ giới của địch đe dọa.

Suốt đợt hoạt động, bộ đội nông trường chỉ có một người bị thương nhẹ. Họ được tặng một khẩu súng gióp mười, chiến lợi phẩm, để khen thưởng những thành tích đạt được. Qua đợt chiến đấu này, trung đội trưởng Tiếp cũng nhìn anh bằng cặp mắt vì nể hơn. Phong đã bắt đầu chú ý đến việc đồng áng, những việc trước đây anh không hề hay biết một tí gì.

Anh vừa sung sướng vừa lo lắng khi thấy xuất hiện con người mà có lúc anh đã coi đó là lẽ sống của mình. Trái với dự đoán, Kiều Oanh đã không mang lại điều gì đáng gọi là phiền toái mới cho anh. Cô đã thay đổi khá nhiều.

Sau khi ra vùng tự do, Kiều Oanh gặp một người có họ xa với gia đình nhà chồng. ông này đang giữ một chức vụ quan trọng trong ngành quân nhu. ông đã cho Kiều Oanh biết một số tin tức về chồng cô. Theo ông, chồng cô đã rời Hà Nội sau khi nổ súng, và được điều lên biên giới để lo việc mua vũ khí của quân đội Tưởng. ông khuyên cô nên vào nhận công tác tại cơ quan của mình, chờ đến khi có tin tức rõ rệt. Và Kiều Oanh đã theo ông lên Việt Bắc.

Cơ quan quân nhu có quan hệ với nông trường. Gần đây, có ý kiến binh đoàn chủ lực của Bộ sẽ tổ chức thành một đại đoàn chủ lực lưu động tác chiến trên chiến trường toàn quốc, do đó, để nông trường gắn liền với binh đoàn không phù hợp, trong một tương lai không xa, nông trường sẽ trực thuộc với cơ quan quân nhu. Đại đội trưởng Khải thường có việc gặp cơ quan quân nhu, đã biết Kiều Oanh từ trước khi Phong tới nông trường. Anh cũng biết Kiều Oanh là người nhà của đồng chí Bân, một cán bộ chủ chốt của ngành; Bân rất thích tổ chức nông trường này và muốn đưa nông trường sáp nhập vào ngành quân nhu.

Kiều Oanh đến nông trường lần đầu, được đại đội trưởng Khải đón tiếp rất niềm nở. Anh muốn giữ quan hệ tốt với mọi cán bộ thuộc cơ quan nay mai sẽ là cấp trên của nông trường. Oanh nhận Phong là người đã dạy mình và các em học thêm ở gia đình. Mẹ Phong chứng nhận điều này, tuy trước đây bà chưa gặp Kiều Oanh. Đại đội trưởng Khải không nghi ngờ gì về mối quan hệ giữa hai người, vì gia đình Phong đều nói anh đã có người yêu.

Kiều Oanh giữ ý tứ trong những lần đến nông trường. ít khi cô đi một mình. Có lần cô đi với Lượng. Có lần cô đi với người anh họ đến đây vì công việc. Cũng có những lần cô ghé vào nông trường mà không ra thăm Phong, nếu không tình cờ gặp Phong ở đại đội bộ. Họ thường gặp nhau ở những chỗ khác để chuyện trò lâu, khi ở Phúc Trìu, khi ở thị xã Thái Nguyên... Lượng là con chim xanh trong mối quan hệ kín đáo này. Phong đã tâm sự hầu như mọi chuyện với Lượng. Mỗi lần Phong kể thêm một vài chi tiết trong cuộc tình duyên giữa họ. Lượng lại nhoẻn một nụ cười tươi, trong lúc đôi mắt anh dại đi sau làn kính cận và bộ mặt xám ngọet, nhắc lại một câu nói đã trở thành quen thuộc đối với Phong: "Cũng đáng làm một cuộc kháng chiến đấy, ông Phong ạ". Lượng vẫn không chịu nói gì về đời sống tinh thần của anh từ sau ngày chia tay với Phong, kể cả cuộc sống hiện tại của anh. Anh luôn luôn lảng tránh những câu hỏi của Phong bằng một điệp khúc: "Khoan, miễn moi móc mình trong lúc này, trong đầu óc mình luôn luôn có thập đạo sứ quân đang hỗn chiến với nhau, mình nói với Phong điều gì bây giờ là mình nói dối, vì mình có hiểu được mình đâu!".

Kiều Oanh đã quen với cuộc sống kháng chiến. Phải nói là cô khá được nuông chiều. Cô là người nhà của đồng chí phụ trách cơ quan nên ai cũng vì nể. Cô lại biết cách giữ gìn, ý tứ và có thái độ ân cần với mọi người. Không ai, kể cả những người bạn gái hay ganh ghét, có cớ gì để gây phiền toái cho cô.Cô không bao giờ tỏ ra cách biệt với chung quanh, cô sống như mọi người, hơn thế, cô sống như một người con gái có chồng. Mọi người yêu mến, chiều chuộng cô. Một số người săn đón cô. Chỉ cần cô để lộ ra một ý thích, lập tức có người tìm cách làm vừa ý. Ngay cả đối với những ngườinày cô cũng không lợi dụng. Người bạn trai hay chuyện trò với cô là Lượng. tính nết hơi đặc biệt của anh chàng khiến không một ai nghi ngờ có mối quan hệ không chính đáng giữa hai người.Trong cơ quan, không thiếu gì những anh chàng bảnh trai, tán giỏi, có những người thực sự tỏ ra si mê cô, cô không làm họ phải phật lòng mà cũng không dành cho riêng ai hy vọng. Tuy không còn cửa cao nhà rộng, không có người giúp việc như trước, gian phòng cô ở chỉ là một căn lán nhỏ, với chiếc giường tre, giát bằng nứa, mùa rét được lót thêm một ổ rơm, nhưng cô cảm thấy mình còn được nhiều người chiều chuộng hơn cả hồi ở gia đình. Kiều Oanh có thói quen chăm sóc đến nhan sắc, cách ăn mặc của mình. Nhưng cô cũng biết hạn chế nó cho phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến. Cô đã chọn một bộ quần áo bằng lụa đen, chiếc áo len dài tay cũng màu đen, màu thông dụng trong kháng chiến, và bây giờ cô mới nhận thấy màu đó rất phù hợp với màu da và hình dáng của cô, nó làm tôn nhan sắc của cô hơn bất cứ màu nào khác. Không ai chê trách gì được cô về cách ăn mặc này.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM