Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 02:43:34 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc tiến công chiến lược năm 1972: Quảng Trị-Bắc Tây Nguyên-Đông Nam Bộ (P2)  (Đọc 38520 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
spirou
Thành viên
*
Bài viết: 44


Genpei


« vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 03:06:18 pm »

Các bác cho em hỏi: cái căn cứ Charlie mà bên kia hay ca ngợi, bên ta gọi là gì? Có phải nó nằm gần Dakto 2 không?
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #1 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 04:37:48 pm »

Các bác cho em hỏi: cái căn cứ Charlie mà bên kia hay ca ngợi, bên ta gọi là gì? Có phải nó nằm gần Dakto 2 không?

Nôm na thì bộ đội ta gọi là "Sạc Ly" thôi,  Grin. Xin lưu ý là trong KCCM có rất nhiều nơi được gọi là đồi Charlie/ Cha ly,  Grin. Cũng như kiểu có rất nhiều địa danh/ núi Chóp Chài ở Bình Định, Quảng Ngãi vậy. Vì vậy cần phân biệt khi đánh dấu nó với thời gian và thời điểm cụ thể,  Grin
Logged

spirou
Thành viên
*
Bài viết: 44


Genpei


« Trả lời #2 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 10:10:45 pm »

[quote author=quangcan link=topic=3288.msg394219#msg394219
Nôm na thì bộ đội ta gọi là "Sạc Ly" thôi,  Grin. Xin lưu ý là trong KCCM có rất nhiều nơi được gọi là đồi Charlie/ Cha ly,  Grin. Cũng như kiểu có rất nhiều địa danh/ núi Chóp Chài ở Bình Định, Quảng Ngãi vậy. Vì vậy cần phân biệt khi đánh dấu nó với thời gian và thời điểm cụ thể,  Grin
[/quote]
Cứ điểm này phía bên kia thường ca ngợi với viên chỉ huy Nguyễn Đình Bảo "Người ở lại Charlie" bác ạ. Nó nằm trong cụm căn cứ Dakto, Tân Cảnh. Ta nhổ nó năm 1972. Em không biết bên ta gọi bằng tên gì?
Logged
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 10:19:57 pm »

Căn cứ Charlie hình như trên bản đồ của phía ta là điểm cao 1015.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
spirou
Thành viên
*
Bài viết: 44


Genpei


« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 10:31:37 pm »

Chà, cái tên như vậy khó tìm tư liệu nhỉ. Mình cứ nghĩ nó phải đi kèm theo cái tên kiểu như Play Cần, Kleng, vvv...Sơn có tư liệu gì về trận này không? Mình vừa tìm hiểu, vừa thủ sẵn phòng khi đi đánh xứ người.
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #5 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 10:58:45 pm »

Chà, cái tên như vậy khó tìm tư liệu nhỉ. Mình cứ nghĩ nó phải đi kèm theo cái tên kiểu như Play Cần, Kleng, vvv...Sơn có tư liệu gì về trận này không? Mình vừa tìm hiểu, vừa thủ sẵn phòng khi đi đánh xứ người.

Đúng chỗ này đấy Sơn, đau xót đấy, giá phải trả không ít đâu,  Undecided
Logged

spirou
Thành viên
*
Bài viết: 44


Genpei


« Trả lời #6 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 11:01:44 pm »

Lang thang tìm tài liệu lại đúng bài bác quangcan viết :


dạ đúng, ở B3 Tây Nguyên thì nó khác ạ. Địa hình Tây Nguyên hiểm trở, nhiều núi non nên khác với đồng bằng QK V. Em nhớ như mùa mưa 1967, khi ta mở chiến dịch Đăk Tô 1, 2; việc tính đến đầu tiên phải là chiếm giữ bằng được các điểm cao: Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Dơ Rang, Ngọc Tang, Ngọc Ring, và nhất là cao điểm 85. Một là đập vỡ tấm lá chắn cho Đăk Tô - Tân Cảnh;  không những kết hợp giữa uy lực của pháo 75 mm bắn thẳng và 12,7 ly đánh máy bay trực thăng đổ bộ mà còn hỗ trợ tốt bộ binh trong chiến thuật "vây, lấn, tấn, trấn, diệt". Không nghĩ nhiều về chuyện gì khác, chỉ nói: mùa mưa, đường lầy lội, tháo và cùng ghé vai khênh pháo 75 lòng vòng theo sườn núi lên đỉnh 1338m; hẳn đã có nhiều chiến sỹ trung đoàn 40 bỏ mình nơi vực sâu - những tấm gương "Tô Vĩnh Diện" thời chống Mỹ.


Vậy có khi nào Charlie/ điểm cao 1015 là một trong những cứ điểm: Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Dơ Rang, Ngọc Tang, Ngọc Ring... mà bài trên đề cập không?
Logged
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3233



« Trả lời #7 vào lúc: 10 Tháng Tám, 2012, 11:32:44 pm »

Lang thang tìm tài liệu lại đúng bài bác quangcan viết :


dạ đúng, ở B3 Tây Nguyên thì nó khác ạ. Địa hình Tây Nguyên hiểm trở, nhiều núi non nên khác với đồng bằng QK V. Em nhớ như mùa mưa 1967, khi ta mở chiến dịch Đăk Tô 1, 2; việc tính đến đầu tiên phải là chiếm giữ bằng được các điểm cao: Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Dơ Rang, Ngọc Tang, Ngọc Ring, và nhất là cao điểm 85. Một là đập vỡ tấm lá chắn cho Đăk Tô - Tân Cảnh;  không những kết hợp giữa uy lực của pháo 75 mm bắn thẳng và 12,7 ly đánh máy bay trực thăng đổ bộ mà còn hỗ trợ tốt bộ binh trong chiến thuật "vây, lấn, tấn, trấn, diệt". Không nghĩ nhiều về chuyện gì khác, chỉ nói: mùa mưa, đường lầy lội, tháo và cùng ghé vai khênh pháo 75 lòng vòng theo sườn núi lên đỉnh 1338m; hẳn đã có nhiều chiến sỹ trung đoàn 40 bỏ mình nơi vực sâu - những tấm gương "Tô Vĩnh Diện" thời chống Mỹ.
Vậy có khi nào Charlie/ điểm cao 1015 là một trong những cứ điểm: Ngọc Bơ Biêng, Ngọc Dơ Rang, Ngọc Tang, Ngọc Ring... mà bài trên đề cập không?

Hì, khu vực này mình viết cũng nhiều,  Grin. Cao điểm 1015 không phải là các cứ điểm trên đâu:
- Ngọc Tang: cao điểm 1089
- Ngọc Bơ Biêng/ Ngok Bơr Beang: cao điểm 1262
- Ngọc Dơ Lang/ Ngok Do Lang: cao điểm 882
- Ngọc Ring/ Ngok Ring? Ngok Ring Rua (cao điểm 1001) hay Ngok Ring Rong (bình độ 800) chứ nhỉ: ,  Grin.

Chú ý:
- Gọi là các cao điểm nhưng có nhiều mỏm, cách nhau bởi yên ngựa, rất tiện cho công tác phòng ngự và chiếm lĩnh hỏa lực cho điểm cao.
- Phải đặt 1015 trong tầm chiến dịch lớn của F320A mới thấy cái ý nghĩa chiến lược, cái hay và đau xót cho cái giá phải trả của nó. Từ 1015 chỉ duy nhất có một con đường mòn qua 1088 và vào đến 1049. 1049 thì lại nằm tương đối độc lập, cao hơn hẳn các dãy khác ở cùng khu vực và có tầm quan trọng chiến thuật khi bị chiếm lĩnh vì chi phối được đường 14.
- Cần nắm rõ thời điểm đó F320A mới vào B3 Tây Nguyên, chưa quen thung thổ, địa bàn chiến trường và nhất là cách đánh cũng như phương thức tác chiến sao cho phù hợp . Đối phương cũng là "thứ dữ" chứ chả phải vừa.
- Bài học 1015 và 1049 sau này là một trong những kinh nghiệm xương máu và đau xót nhất, được tổng kết và đúc rút cho toàn bộ các cấp từ chỉ huy chiến lược (mặt trận), chiến thuật (E/F), đến từng C trong hoạt động tác chiến.
- Muốn tìm hiểu sâu: diễn đàn mình có nhân chứng sống đấy: bác nguyentrongluan

Logged

hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #8 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2012, 10:38:37 am »

Nhớ về chiến thắng Quảng Trị 1972


Cách đây tròn 40 năm, lúc 11 giờ ngày 30-3-1972, chiến dịch Quảng Trị bắt đầu. Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng ấn tượng về chiến dịch giải phóng Quảng Trị và bảo vệ vùng giải phóng còn in đậm trong ký ức của chúng tôi, những người có vinh dự tham gia chiến dịch.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, chiến thắng Quảng Trị đi vào lịch sử như một mốc son sáng chói. Đó là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng; đó là chiến thắng đầu tiên vang dội, cổ vũ toàn quân toàn dân, mở màn cho cuộc tiến công chiến lược lịch sử năm 1972. Trong cuộc tiến công chiến lược này, Quảng Trị là hướng chủ yếu, nơi tập trung tập đoàn chiến dịch mạnh nhất của quân đội ta gồm các đơn vị binh chủng hợp thành có bề dày truyền thống, được trang bị và huấn luyện tốt. Bởi Quảng Trị tiếp giáp với hậu phương lớn miền Bắc, có điều kiện bảo đảm hậu cần cho yêu cầu tác chiến lớn, dài ngày. Trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng, năm 1972 đã diễn ra một cuộc đọ sức vô cùng quyết liệt giữa ta và địch trong một chiến dịch dài ngày nhất, dài tới 304 ngày, kể từ khi mở màn chiến dịch (30-3-1972) đến ngày ký Hiệp định Pari về Việt Nam (27-1-1973).

Còn nhớ năm 1972 ta mở một cuộc tiến công chiến lược quy mô toàn miền Nam, phối hợp các mũi tiến công của bộ đội chủ lực trên 3 hướng: Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ với các chiến dịch tổng hợp ở Khu 5 và Đồng bằng sông Cửu Long. Mặt trận Trị Thiên là hướng chiến lược quan trọng nhất. Bộ Tư lệnh Mặt trận được thành lập: Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam là Tư lệnh; Trung tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy mặt trận, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được cử làm đại diện Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo hướng chiến lược quan trọng này.

Ngày 30-3-1972, ta tiến công địch ở Quảng Trị và Kon Tum. Ngày 1-4-1972, miền Đông Nam Bộ, Khu 5 và Đồng bằng song Cửu Long đồng loạt tiến công và nổi dậy. Ngày 31-3-1972, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi: “Chiến dịch lịch sử năm 1972 đã bắt đầu! Các đồng chí hãy nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần quyết chiến quyết thắng, tích cực, chủ động, kiên quyết, linh hoạt tiến công địch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu, quyết giành cho được những thắng lợi to lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện Di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch kính yêu…”

Quảng Trị, 11 giờ ngày 30-3-1972, Tư lệnh Mặt trận Lê Trọng Tấn hạ lệnh: “Bão táp I”. Ngay lập tức 247 khẩu pháo các loại của bộ đội pháo binh mở màn chiến dịch, đồng loạt bắn vào 19 căn cứ trên tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.

Ngay từ loạt đạn đầu, pháo ta bắn trúng hầu hết các trận địa pháo, các sở chỉ huy địch ở điểm cao 241, Mai Lộc, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Đông Hà, Cồn Tiên, Dốc Miếu…. Sau cuộc bắn phá của pháo binh dài 36 tiếng đồng hồ với gần 8.000 viên đạn pháo các loại, các lực lượng binh chủng hợp thành gồm bộ binh, xe tăng xuất phát tiến công, đột phá trên hướng chủ yếu ở phía tây và tây bắc Quảng Trị, kết hợp với mũi thọc sâu bao vây ở phía đông và mũi chia cắt chiến dịch ở phía nam.

Sau 5 ngày chiến đấu, đến ngày 4-4-1972, bộ đội ta phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch, diệt 4 căn cứ trung đoàn, 7 căn cứ tiểu đoàn trên đường số 9, bức hàng trung đoàn 56, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2 và lữ đoàn 147, giải phóng hoàn toàn hai huyện Gio Linh, Cam Lộ. Trưa ngày 4 tháng 4, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gọi điện tới Sở chỉ huy chiến dịch biểu dương quân và dân Quảng Trị đánh thắng trận đầu.

Trước đòn tấn công mạnh của ta ở Quảng Trị, ngày 5 tháng 4, Nguyễn Văn Thiệu họp Hội đồng An ninh quốc gia, điều động gấp 5 trung đoàn, lữ đoàn, 3 thiết đoàn xe tăng thiết giáp từ Sài Gòn, Đà Nẵng ra Quảng Trị. Địch điều chỉnh thế phòng ngự thành ba cụm Đông Hà, Ái Tử, La Vang – Quảng Trị, lực lượng chủ yếu tập trung ở Đông Hà.

Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận định: “Địch đã tăng cường lực lượng nhưng chưa được củng cố, tinh thần hoang mang dao động, nếu ta đánh mạnh, đánh nhanh thì chúng sẽ tan vỡ”.

15 giờ ngày 8 tháng 4, pháo binh thực hành kế hoạch hỏa lực “Bão táp II”. Thêm 2.713 viên đạn pháo giáng xuống căn cứ địch ở Đông Hà, Ái Tử. 5 giờ sáng ngày 9 tháng 4, Sư đoàn 304 tiến công cụm quân địch ở Ái Tử. Sư đoàn 324 đánh địch ở La Vang – Quảng Trị. Sư đoàn 308 được tăng cường Trung đoàn 48 (thay choTrung đoàn 88 làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch) và 2 đại đội xe tăng tiến công cụm quân địch ở Đông Hà – Lai Phước. Ngay từ tuyến tiếp giáp, địch chống trả quyết liệt. Quân ta đánh dịch trong hành tiến, bị các trận địa có xe tăng địch giấu trong công sự ngăn chặn, 6 xe tăng T54 của ta bị bắn hỏng. Mũi tiến công của 308 vào căn cứ Đông Hà buộc phải dừng lại. Phía tây Ái Tử, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) giành giật quyết liệt với địch mới chiếm được căn cứ Phượng Hoàng. Hướng đông, 3 tiểu đoàn bộ binh, đặc công vượt sông Cửa Việt bị pháo hạm Mỹ bắn chặn. Tại Cửa Việt, Trung đoàn 126 hải quân chiếm được cảng nhưng cũng bị tổn thất.

Thực tế chiến đấu cho thấy, lực lượng địch ở Đông Hà - Quảng Trị khá đông gồm sư đoàn 3 bộ binh (thiếu), 3 liên đoàn biệt động quân 1,4,5, lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ, 3 thiết đoàn 11,17 và 20, được không quân, pháo binh yểm trợ ở mức cao. Đặc biệt, không quân và hải quân Mỹ hoạt động mạnh, vừa yểm trợ cho quân ngụy ở Quảng Trị, vừa tăng cường đánh phá hậu phương chiến dịch. Máy bay B52 oanh tạc rải thảm, khu trục hạm Mỹ pháo kích ác liệtcác trận địa ta và tuyến vận chuyển chiến dịch từ sông Gianh, Lệ Thủy (Quảng Bình) vào mặt trận.

Về chiến thuật, địch đã thay đổi thủ đoạn phòng ngự. Bị thất bại ở tuyến phòng thủ vòng ngoài, với ưu thế xe tăng thiết giáp, địch kết hợp giữa xe tăng và bộ binh tạo thành từng cụm phòng ngự di động, luôn thay đổi vị trí, tránh bị ta tập kích diệt gọn.

Để đánh bại chiến thuật “xe tăng bầy”, “vỏ thép cứng di động” và phá vỡ hệ thống phòng ngự đã được tăng cường của địch, ta cần phải có thời gian chuẩn bị, tìm ra cách đánh thích hợp. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tạm ngừng tiến công, kết thúc đợt 1, mở một đợt “đệm”, phát động phong trào “săn xe tăng địch”, tổ chức những trận đánh nhỏ, vừa tiêu hao sinh lực địch vừa khẩn trương chuẩn bị cho cuộc tiến công quyết định trong đợt 2 chiến dịch.

5 giờ sáng ngày 27 tháng 4, ta mở đợt 2 chiến dịch, đợt quyết định chiến trường. Mục tiêu là tiêu diệt tập đoàn phòng ngự mạnh của địch ở Đông Hà, Ái Tử, La Vang - Quảng Trị, hỗ trợ cho nhân dân Triệu Phong, Hải Lăng nổi dậy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, sau đó nắm thời cơ, phát triển tiến công địch ở Thừa Thiên. Diễn ra trong 6 ngày đêm, mở đầu bằng đòn hỏa lực “Bão táp III”, Sư đoàn 308 được hỏa lực pháo binh chiến dịch chi viện, liên tục tiến công cụm quân địch ở Đông Hà – Lai Phước. Trong tiếng nổ của đạn pháo, xe tăng T54, pháo cao xạ 37, 57 trong đội hình binh chủng hợp thành của Sư đoàn yểm hộ bộ binh tiến công. 18 giờ ngày 28 tháng 4, thị xã Đông Hà được giải phóng. Ủy ban quân quản được thành lập, do đồng chí Nguyễn Hiền, Phó Chính ủy Sư đoàn làm Chủ tịch. Cùng vào Đông Hà có nữ đồng chí Hồ Thị Bích Lan, Thị ủy viên.

Phía Ái Tử, Sư đoàn 304 được các cụm pháo Trung đoàn 45, 164, 38 chi viện, 21 giờ ngày 30 tháng 4, bộ binh, xe tăng Sư đoàn 304 tràn vào sân bay Ái Tử, 14 giờ ngày 1 tháng 5, quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ.

Mất Đông Hà, Ái Tử, quân địch ở Quảng Trị - La Vang hoang mang rút chạy.

Hơn một trăm xe tập trung ở La Vang Thượng. Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho Sư đoàn 324 (thiếu) cắt đường số 1, pháo binh chiến dịch tập trung hỏa lực bắn vào La Vang Thượng.

Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, nhân dân Quảng Trị nổi dậy giành lại chính quyền ở khắp các thôn xã. 18 giờ ngày 1-5-1972, tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng. Tuy nhiên chiến sự trên mặt trận Quảng Trị diễn ra giằng co quyết liệt, quân và dân Quảng Trị còn phải đương đầu và vượt qua nhiều thử thách rất lớn suốt nửa cuối năm 1972.

Ngày 28-6-1972 được không quân, pháo hạm Mỹ chi viện, Mỹ - Ngụy huy động hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến, một lực lượng lớn pháo binh, thiết giáp vượt sông Mỹ Chánh phản kích lên thị xã Quảng Trị. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã, giữ Thành Cổ Quảng Trị kéo dài gần 3 tháng dưới bom đạn ác liệt của quân thù, không có công sự trận địa nào không bị bom đạn pháo địch cày xới, băm nát hàng trăm lần. Thêm vào đó, mưa lũ đầu mùa đổ xuống công sự, chiến hào ngập nước, nhiều hầm hào bị sụt lở vì thế khó khăn là rất lớn. Các chiến sĩ ta phải dựa vào chiến hào, dựa vào tường thành cổ giành giật với địch từng mô đất, từng mảng tường, từng đoạn chiến hào, có phân đội đã chiến đấu đến người cuối cùng.

Các đơn vị bảo vệ thị xã và Thành Cổ Quảng Trị đã giữ vững trận địa 81 ngày đêm, nêu một tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiềm giữ một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược của địch, tạo điều kiện cho đấu tranh ngoại giao và các mặt trận khác đẩy mạnh tiến công.

Ngày 22-9-1972, dưới sự chi viện của không quân và pháo hạm Mỹ, quân Ngụy mở một cuộc hành quân lớn nữa hòng chiếm lại toàn bộ vùng giải phóng Quảng Trị. Dựa vào hệ thống phòng ngự trận địa, quân và dân Quảng Trị đã đánh lui các đợt tiến công của địch, giữ vững vùng giải phóng Quảng Trị. Do những thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam cùng với “trận Điện Biên Phủ trên không” trên miền Bắc, tại Hội nghị Pari, đế quốc Mỹ buộc phải thỏa thuận về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, đơn phương rút quân về nước.

Chữ ký trên Hiệp định Pari chưa ráo mực, ngụy quân Sài Gòn đã phá hoại Hiệp định. 23 giờ 30 ngày 27-1-1973, lợi dụng lúc gió to nước thủy triều xuống, địch cho lữ đoàn đặc nhiệm có hơn 100 xe tăng, xe bọc thép dẫn đầu tiến theo mép nước lấn chiếm Cửa Việt. Chúng bị Sư đoàn 320B trừng trị thích đáng, đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm đầu tiên của địch sau Hiệp định Pari.

Hai năm sau, ngày 30-4-1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng và trong công cuộc giải phóng miền Nam, Quảng Trị là tỉnh đầu tiên sạch bóng quân thù./.

Trung tướng Phạm Hồng Cư
(Nguồn: Tạp chí Cộng sản)
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5183



« Trả lời #9 vào lúc: 30 Tháng Tám, 2012, 03:41:55 pm »

Chiến dịch giải phóng Quảng Trị và Thành Cổ qua đánh giá của các nhà quân sự và báo chí nước ngoài

Sau thất bại ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971, quân chủ lực ngụy gần như suy sụp, tình hình diễn biến ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Theo dõi sát mọi chuyển động trên chiến trường, trong nước, trong khu vực và trên thế giới có liên quan tới cuộc chiến Việt Nam, Đảng ta nhạy bén phát hiện được thời cơ và nắm lấy thời cơ đó phát động cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam nhằm vào ba hướng chính: Trị Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Trong đó, chiến trường Trị Thiên có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống phòng ngự chiến lược ở miền Trung và Tây Nguyên của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Bởi vị trí đặc biệt quan trọng này, các cơ quan tình báo Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tập trung nghiên cứu nhằm phán đoán hướng tiến công chiến lược trong năm 1972 của ta. Đồng thời, họ cũng mở một chiến dịch chuẩn bị cho tinh thần phải sẵn sàng chiến đấu, triển khai lực lượng và đặt trong tình trạng báo động cao. Bộ Chỉ huy Vùng 1 chiến thuật ráo riết tăng cường lực lượng đẩy mạnh các cuộc “hành quân tảo thanh Việt cộng” trong địa phận đảm nhiệm, tung biệt kích, thám báo nhằm thăm dò, phát hiện lực lượng, sự chuẩn bị của ta và cho rằng: “Năm 1972 là năm bầu cử Tổng thống tại Mỹ. Các nhà lãnh đạo cộng sản không thể nào quên được ảnh hưởng cuộc tấn công Tết Mậu Thân của họ đối với tình hình chính trị ở Mỹ hồi năm 1968. Họ coi mùa xuân và mùa hè 1972 là đặc biệt thuận lợi”, rồi nhận định: “Bộ Chính trị Bắc Việt đi đến kết luận đó vào đầu năm 1971. Sau quyết định đó, Hà Nội đã nhận được pháo, xe tăng và các khí tài nặng khác để có thể mở một cuộc tấn công lớn theo kiểu chiến tranh thông thường. Đây là kiểu tấn công mà các nhà lập kế hoạch của Mỹ đã chuẩn bị đối phó từ những năm trước nhưng chưa bao giờ xảy ra” (1) .

Bên cạnh đó, nhiều cuộc họp giữa các nhà nghiên cứu quân sự sừng sỏ tại Lầu Năm góc luôn theo dõi chặt chẽ và phán đoán: “Các đơn vị Cộng sản ở dọc biên giới phía Tây vẫn đóng tại bàn đạp xuất phát mà không nhích lên phía trước có nghĩa là họ không thể ngày một ngày hai mở cuộc tấn công” (2) .

Mặc dù phán đoán như vậy, nhưng nhiều tướng lĩnh Mỹ đã có những biểu hiện rất lo lắng thể hiện trong các báo cáo rằng: “Các cuộc chuẩn bị tại Bắc Việt Nam thật là dồn dập ở một quy mô chưa từng thấy. Suốt năm 1971, họ tuyển quân liên tục. Con số đích xác không được biết nhưng đủ để bổ sung cho 12 sư đoàn tác chiến được chuẩn bị để mở cuộc tấn công. Những vũ khí mới được viện trợ khiến quân Bắc Việt Nam hơn quân Nam Việt Nam về kỹ thuật. Pháo 130 li khiến cho các đơn vị Bắc Việt Nam có khả năng bắn xa hơn hẳn quân đội Sài Gòn. Xe tăng T.54 có thể đủ đối phó với xe tăng M48 của Mỹ do quân Sài Gòn sử dụng. Xét đến tổng số các khí tài hạng nặng đang có trong tay thì quân Bắc Việt Nam đang chiếm một ưu thế đáng sợ” (3) .

Đối với Tổng thống Richard Nixon, suốt trong 3 tháng đầu năm 1972 lại lấy làm hài lòng và cho rằng: “Hà Nội không đủ khả năng tung ra một cuộc tiến công mùa Xuân” và kết quả cuộc đàm phán Ba Lê đã ở trong tầm tay có lợi cho Mỹ lẫn Sài Gòn”. Còn Nguyễn Văn Thiệu lại muốn chứng tỏ cho người Mỹ thấy rằng, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã trưởng thành, có đủ khả năng chiến đấu trong năm 1972. Quả thật, nếu so sánh lực lượng bố trí trên chiến trường lúc bấy giờ của hai bên tham chiến thì các nhà quân sự Mỹ và Sài Gòn có đủ lý do để lạc quan.

Về bộ binh; quân ta có: 11 sư đoàn và 23 trung đoàn, địch có: 13 sư đoàn và 11 trung đoàn, lữ đoàn; pháo binh ta có: 5 trung đoàn và 7 tiểu đoàn, địch có: 65 tiểu đoàn và 85 trung đội; tăng, thiết giáp của ta có: 4 tiểu đoàn, địch có: 22 tiểu đoàn và 21 trung đội (gồm 2.090 xe tăng, 1.618 xe thiết giáp). Ngoài ra, địch còn có 1.692 máy bay chiến đấu các loại, 1.611 hạm tàu. Các lực lượng của địch được bố trí thành các cụm phòng ngự liên hoàn, có công sự kiên cố che chắn. Ở thời điểm đầu năm 1972, trên bình diện chiến lược, ta không thể nào có lực lượng theo tỷ lệ trên.

Vậy, làm thế nào và bằng cách gì mà “Hà Nội và Việt cộng” lại mở được cuộc tiến công lớn trong khi “Việt Nam hóa” đang thành đạt? Đó là câu hỏi mà các cơ quan quân sự Mỹ đã nhiều lần bỏ công sức và tiền của để nghiên cứu. Sau này, các tài liệu quân sự của của đã viết: “Trừ vũ khí nguyên tử chiến thuật, Mỹ sẽ không hạn chế việc sử dụng không lực Hoa Kỳ trên toàn Đông Dương (4)”. Đối với việc ta mở đợt tiến công hướng chính là Trị Thiên vào thời gian đúng như dự kiến là 30-3-1972, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã phải thốt lên rằng: “Lực lượng của Việt cộng đã gây bất ngờ cho quân phòng thủ của Việt Nam cộng hòa và đồng minh Mỹ” (5). Với những nguồn tư liệu đã được giải mật, ta thấy rõ sự nghi ngờ của Mỹ và quân đội Sài Gòn tiên đoán là sẽ có một cuộc tấn công, rất có thể là vào năm 1972, thậm chí còn chỉ rõ ba khu vực được coi là nguy hiểm nhất. Tuy nhiên, họ không phát hiện được kế hoạch của đối phương là cho thiết giáp làm mũi nhọn của các cuộc tấn công. Chỉ đến khi chiến dịch đã diễn ra, họ mới thừa nhận: sự xâm nhập khôn khéo của Hà Nội đó lọt qua mắt đối phương.

Về phía ta, ngày 23-3-1972, Bộ Chính trị thông qua lần cuối và phê chuẩn kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972, cử đồng chí Tổng Tham mưu trưởng quân đội trực tiếp chỉ đạo hướng chủ yếu Trị Thiên. Trung tuần tháng 3-1972, các đơn vị tham gia chiến dịch lớn tại các hướng đã vào vị trí tập kết.

Trưa ngày 30-3-1972, Sư đoàn 308 với sự hỗ trợ của trung đoàn xe tăng và pháo binh đã vượt qua khu phi quân sự tại giới tuyến 17 chia cắt 2 miền. Từ phía Tây, Sư đoàn 324B, với xe tăng hỗ trợ theo đường 9 từ Lào vượt qua Khe Sanh, tiến vào thung lũng sông Thạch Hãn. Lực lượng tương đương 3 sư đoàn đã “gây bất ngờ cho quân phòng thủ Việt Nam cộng hòa và đồng minh Mỹ”(6), sau đó làm tan rã lực lượng này. Trong thời gian từ ngày 2-4 đến ngày 29-4-1972, quân ta chủ động tiến công trên nhiều hướng. Từ Huế, tại đồn Mang Cá, Trung tướng Hoàng Xuân Lãm nói: “Tối nay, địch (Việt cộng) sẽ vào Quảng Trị mà không tốn thêm một viên đạn nào”(7) và tình báo Mỹ có trụ sở tại Đà Nẵng, trong báo cáo đã viết: “Về cơ bản, các lực lượng quân đội Bắc Việt đã chiến thắng nhanh như chớp. Quân đội Việt Nam Cộng hòa ngạc nhiên khi quân đội Bắc Việt sử dụng lực lượng trong các cuộc tiến công”.

Sự thực là Quân đội Việt Nam cộng hòa có thế trận phòng ngự mạnh, được trang bị bằng “hệ thống chiến trường tự động” do Mỹ trợ giúp nhưng đã bị phá vỡ từng mảng và trở nên mỏng yếu. Từ đó, ta đã tạo ra được những tình huống và thời cơ chiến dịch thuận lợi và ngày 2-5 ta giải phóng Quảng Trị. Bản tin đài BBC Luân Đôn phát tối ngày 2-5-1972 đã loan đi: Huế đặt vào tầm tấn công của Bắc Việt, càng làm cho nỗi kinh hoàng của dân chúng lên đến điểm tận cùng. Mọi việc xảy ra quá đột ngột, như những cơn sét đánh mạnh. Giới tuyến bị mất, đồng bào đổ dồn vào lánh nạn tại Huế ngày càng nhiều. Theo phán đoán của ông William Colby, Giám đốc Cơ quan CIA tại Sài Gòn thì: “Quân đội nhân dân Việt Nam chắc chắn sẽ chiếm được Huế nhưng không qua nổi Đà Nẵng. Dù vậy, thực tế tốt hơn mong đợi khi Hạm đội 7 và Không lực của Mỹ tham chiến, hỗ trợ hỏa lực giúp đà tiến của đối phương, giúp Việt Nam cộng hòa có thêm thời gian bổ sung thiệt hại và tổ chức lại” (8.)

Nhiều nhà nghiên cứu quân sự của Mỹ và Sài Gòn cho rằng: Hướng xuất quân đột ngột bất ngờ của ta trong cuộc tiến quân đầu tiên đã tạo ra một lợi thế rất to lớn lúc đầu. Xét về thế bất ngờ, Mỹ - Ngụy đã không đoán trước được quy mô và phương pháp áp dụng trong các cuộc tấn công của ta. Sự thiếu sót này rất thuận lợi cho quân ta và gây tác động tâm lý đối với phe phòng thủ vẫn nghĩ rằng mọi việc khác hẳn, chứ không phải như đã diễn ra và cuối cùng, họ phải thừa nhận: “Mỹ và Sài Gòn không tiên đoán được Hà Nội lại mạo hiểm như vậy. Tính quy mô của cuộc tấn công cũng là một đòn bất ngờ sấm sét đối với Bộ Chỉ huy Ngụy. Trước đây, Cộng sản luôn né tránh không áp dụng các chiến thuật quy ước. Rất có thể là cần phải như vậy vì ưu thế hỏa lực và kỹ thuật vẫn thuộc về đối phương. Họ luôn áp dụng chiến thuật phân tán, đánh chớp nhoáng, nghi binh, cơ động nhanh và tấn công bất ngờ, rất ít khi họ ra mặt”. Còn Đại tá lục quân Mỹ William S. Reeder nhận xét rằng: “Mùa xuân 1972, Cộng sản bất thần mở những cuộc tấn công như vũ bão. Đây không phải là một cuộc nổi dậy của Việt Nam năm 1968 mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công của Cộng sản băng qua vùng phi khu quân sự”. Một đơn vị tình báo Mỹ có trụ sở tại Đà Nẵng, trong báo cáo ngày 2-5-1972 đã khẳng định: “Về cơ bản, các lực lượng quân đội Bắc Việt đã chiến thắng nhanh như chớp. Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa hoàn toàn ngạc nhiên khi quân đội Bắc Việt sử dụng lực lượng trong các cuộc tấn công” (9).

Chiều ngày 4-5-1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam cộng hòa bay ra thị sát mặt trận giới tuyến, họp kín với các tư lệnh chiến trường. Tướng Thomas Bowen cố vấn quân sự Mỹ tại Quân khu 1 cho biết, Mỹ đã thay thế các xe tăng và pháo binh mà Việt Nam cộng hòa (quân Ngụy) bị mất và hư hại tại Quảng Trị. Đại bác từ Mỹ được chở thẳng sang và xe tăng chở từ Nhật tới để chuẩn bị cho một chiến dịch tiếp theo. Mặc dù từ đầu đến cuối chiến dịch, ta luôn giữ quyền chủ động chiến lược, chiến dịch, buộc địch phải bị động điều quân, làm cho thế bố trí chiến lược của chúng trên toàn miền Nam bị đổ vỡ, rối loạn, nhưng khả năng của ta có hạn, không thể đánh dứt điểm các mục tiêu như ý định ban đầu. Tuy Mỹ - Ngụy có trang bị kỹ thuật hiện đại đến đâu thì cuộc đương đầu lịch sử đã phân rõ thắng, bại.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM