CÁC CÂU HỎI CÓ ĐÁP ÁN ĐÚNG
rongxanh + songoku: mỗi bạn đúng 1/2. Câu hỏi 44: Trong cuộc Chiến tranh phá hoại Miền Bắc, loại máy bay nào của Mỹ thường bay qua bầu trời Hà Nội, mà ta chưa bao giờ bắn rơi ?
Trả lời câu hỏi 44: Đó là máy bay trinh sát SR 71 và U-2.
-----------
rongxanh &Câu hỏi 45: Có một tù binh Việt cộng bị Mỹ-Ngụy bắt năm 1970, ông khai là "y tá đại đội". Năm 1973 ông được trao trả theo Hiệp định Paris. Ngay khi trở về, lập tức ông được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng.
Hỏi: Vị Tướng này là ai ? Sư trưởng Sư đoàn nào ?
Trả lời câu 45: Đó là Nguyễn Văn Trân - sư trưởng F9. Sau khi được trao trả, là sư trưởng F341.
----------------
songoku &Câu hỏi 42: Viên Toàn quyền Đông Dương tên là Albert Sarraut ... Jean Roger Sainteny cũng là ... Hỏi: Cho biết mối quan hệ giữa hai viên quan lớn này?
Trả lời câu 42: Albert Sarraut là bố vợ của Sainteny.
---
Câu hỏi có 2 chỗ sai:
- Chỗ thứ nhất, Altus phát hiện ra: Sainteny không phải là Toàn quyền.
- Chỗ thứ hai: Trường Albert Sarraut là ở phố Trần Phú (bây giờ là Văn phòng một cơ quan nhà nước) chứ không phải ở phố Hai Bà Trưng. Trường Trần Phú ở phố Hai Bà Trưng, ngày xưa là Trường Primair (Sơ học) cho trẻ con Pháp.
- Một số ý kiến sai nữa: Trường Bưởi (Trường Chu Văn An bây giờ) là Trường Protectora (Bảo hộ), sau là Trường Thông ngôn vv...
----------------
rongxanh Câu hỏi 50: Có một tướng Mỹ tử trận khi đi trên trực thăng bị súng máy cao xạ 12,7ly của ta bắn rơi, vào hồi 13giờ ngày 13 trên Đường 13 (ba con số 13 đen đủi !). Tướng này tên là gì, mấy sao, chức vụ gì ?
Trả lời câu hỏi 50: Đó là tướng 3 sao (Trung tướng) Két-u-e, Tư lệnh sư đoàn 1 "Anh cả đỏ". Bị khẩu đội cao xạ của đại đội 18, trung đoàn 320 do xạ thủ số 1 Nguyễn Xuân Hậu bắn rơi, lúc 13h ngày 13/9/1968 ở mặt trận Lộc Ninh.
--------------
rongxanh Câu hỏi 55: Một phi công ta trong một đêm bắn rơi 2 máy bay Mỹ. Ông là ai ?
Trả lời câu hỏi 56: Đó là Phi công Lâm Văn Lích, Đêm 3-2-1966 ta xuất kích 2 máy bay đánh đêm MIG-17 phi công Lâm Văn Lích trong một trận xuất kích đã bắn rơi 2 máy bay AD-6 của Mỹ trên vùng trời Hòa Bình - Chợ Bến. Đây là chiến công đầu tiên của loại máy bay MIG-17 PF
-------------------
anhkhoi & Câu hỏi 60: Tấm ảnh dưới đây, ai là tác giả ? Hãy ghi nội dung tấm ảnh này.
Trả lời: Ảnh của NS Trọng Thanh. Tên ảnh: Chỉ còn lại hai người. Nội dung: chính trị viên đại đội của ta (tên là Diễn) cho một lính VNCH bị thương uống nước trong trận tấn công cao điểm 550, chiến dịch Đường 9 Nam Lào -1971.
----------------
anhkhoi & Câu hỏi 53: Một Đại tá cáo già bị đốn ngã và bắt sống, xin Giám thị cho gặp người hạ gục mình. Đại tá há hốc miệng: té ra đây chỉ là một Trung úy trẻ tuổi. Hỏi: những ai đó ?
Trả lời câu 53: Trung úy Ngô Đức Mai vs. đại tá Norman Carl Gaddis, không chiến ngày 12/5/1967.
----------
chiangshan & Câu hỏi 52: Quả bom to nhất trong chiến tranh Việt Nam ?
Trả lời câu 52: ...bom công phá, dài 3,1m, đường kính 1,19m, chứa 4.000 kg thuốc nổ Tritonal. Sau khi tháo gỡ, lực lượng công binh thu được 1,7 tấn thuốc nổ chất lượng còn tốt. 2,3 tấn thuốc nổ đã bị hư hại cùng với các trạm truyền nổ (chứa thuốc nổ mạnh RDX) đã bị thiêu huỷ.Theo tính toán của BOMICEN, nếu chui xuống độ sâu 240m mới phát nổ, quả bom có thể tạo đường kính hố sâu 300m, "dọn sạch" diện tích 7 ha rừng. Đến nay, đây là quả bom lớn nhất Đông Dương bị phát hiện và vô hiệu hoá. BOMICEN cho biết, khi tra cứu ngân hàng dữ liệu bom mìn đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam từ 1964-1972 do phía Mỹ cung cấp, tại địa bàn Gia Lai, không có thông tin về quả bom này!
----
Thêm ý kiến: Để chở quả bom này, máy bay C-130 mở khoang hàng phía sau ra, xe vận tải đưa quả bom vào đặt trên một chiếc giá đỡ, giá này có các bánh xe đặt trên hai thanh ray trượt, nằm dọc trong khoang chứa hàng. Quả bom đeo một chiếc dù. Đến nơi cần thả, khoang hàng mở ra, chiếc dù được ném tung ra sau, nó xòe ra giật cả giá đỡ cùng quả bom trượt trên ray, rơi xuống. Sở dĩ quả bom này không nổ là do máy bay C-130 thả không trúng mặt bằng cao điểm, có thể do phi công tính sai lực gió tác động dù, bom từ từ hạ trượt theo sườn núi dốc nên không đủ gia tốc để kích thích cả 3 ngòi nổ.
-------
chiangsan & Câu hỏi 59: Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Pháp dùng vũ khí phổ biến: tiểu liên loại gì, trung liên loại gì, xe tăng hạng nhẹ loại gì ?
Trả lời câu 59: Tiểu liên MAT-49, Sten, Thompson. Trung liên FM 1924/29, Bren, BAR. Xe tăng M-24.
----------
chiangshan & Câu hỏi 49: Chiếc máy bay B-52 đầu tiên bị rơi trong Chiến tranh Việt Nam ?
Trả lời câu 49: Ngày 18/6/1965, B-52F số hiệu 57-0179 và 57-0047 đâm vào nhau trong khi chờ tiếp nhiên liệu.
----------------
anhkhoi & Câu hỏi 47: *Trong bài hát "Con kênh xanh xanh" của Nhạc sỹ Ngô Huỳnh (đề viết sai là Lê Huỳnh) có câu: "Tiếng ai nhịp nhàng giã bàng. Như tiếng lòng tôi..." * Trong bài hát "Nam bộ kháng chiến" của Nhạc sỹ Tạ Thanh Sơn có câu: "Nóp với giáo. Mang trên trên vai. Nhưng thân trai nào kém oai hùng...". Hỏi: hai câu hát trên, có gì liên quan với nhau ? Bạn cho biết thật cụ thể nhé !
Trả lời Câu 47: Đây là dụng cụ "2 trong 1": vừa là màn, vừa là chiếu. Phát minh này của dân khai khẩn đất hoang vùng Đồng Tháp Mười, có từ thời Chúa Nguyễn, hồi ấy trời đất mênh mông thẳng cánh cò bay, dân nghèo ngủ màn trời chiếu đất. Nóp đan bằng sợi cỏ bàng, hình dáng nóp giống như hai chiếc chiếu một ép lại, khâu 3 cạnh, còn một cạnh dài không khâu. Khi ngủ, người ta trải nóp ra, chui vào cạnh dài, nằm xuống, khép kín lại rồi lăn một vòng. Nhìn người ngủ nóp giống như hình cái mũ ca-lô lớn úp lên. Vừa chống muỗi, vừa sạch như nằm trên chiếu, gió đêm se se lạnh mà không rét. Khi ngủ xong, gập lại, có thể chứa thêm đồ đạc quần áo vào, buộc gọn lại và đeo như ba-lô.
Cỏ bàng cao khoảng 2 mét, thân tròn dạng ống to như que đũa, cắt về, qua nhiều công đoạn sơ chế như giã dập, phơi khô vv...
Ngày nay nóp không còn dùng nữa, cỏ bàng mọc hoang cũng không còn, người ta trồng những ruộng cỏ bàng rộng hàng chục héc-ta, chế biến cỏ bằng máy chứ không vất vả như khi xưa "giã bàng" bằng chày tay. Cỏ bàng dùng để sản xuất hàng mỹ nghệ mây-tre-đan như thảm, chiếu, mũ, bị xách vv...
-------------
anhkhoi & Câu hỏi 54: Hiệp định "một đổi một" là Hiệp định nào ?
Trả lời Câu 54 : Hiệp định Paris 1973 còn được gọi với cái tên khác là "Hiệp định một-đổi-một", bởi tại Khoản II Điều 7 ghi "... Sau lệnh ngừng bắn, hai phía miền Nam Việt Nam được phép tiến hành thay thế định kỳ những vũ khí, đạn dược, vật liệu chiến tranh... theo nguyên tắc một-đổi-một...".
----------
LeDuyYenLan & Câu hỏi 43: Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:" Lính ... , từ ngày đầu chiến tranh đã là chỗ dựa chủ yếu của tướng lĩnh Pháp".
Hãy điền vào chỗ chấm chấm (...)
Trả lời câu 43: " Lính Lê Dương, từ ngày đầu chiến tranh đã là chỗ dựa chủ yếu của tướng lĩnh Pháp".
Nguồn dẫn: "Đường tới Điện Biên Phủ", Nxb QĐND, 1999, trang 131.
--------
Bàn thêm: Đây là loại lính người ngoài, đánh thuê theo Hợp đồng với Chính phủ Pháp. Lính Lê Dương (Legion) thường có nguồn gốc từ các loại lính Đức Quốc xã bại trận, lính Tiệp Khắc, Angéri, Maroc, Senegal, Tunisie vv...
Trong suốt 80 năm cuộc chiến tranh, từng có khoảng 300.000 lượt tên từng đến Việt Nam, loại lính "máu lạnh" này gây không biết bao nhiêu tội ác với người Việt ta. Đội quân này từng ném bom, xả súng vào đoàn biểu tình Phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, giết 300 người. Trang phục lính Lê Dương có hai chiếc túi rất to ở phía đằng trước quần, mỗi khi hành quân càn quét thường nhét gà cướp được vào đó, bà con thường gọi là "túi bắt gà". Đội quân này đủ các màu da, phân biệt đẳng cấp rõ rệt: lính da đen thường bị đẩy đi trước nỗi khi càn quét, thường xuyên phải phục dịch lính da trắng.
Trong mặt trận Điện biên Phủ 1954, từng có "Binh đoàn Lê Dương số 13", được gọi là "con cưng" của Quân đội Pháp, cũng bị thất trận ở đây. Hòa bình lập lại, một số tù binh lính Lê Dương có hoàn cảnh vô gia cư, không muốn hồi hương, xin ở lại Việt Nam sinh sống, một số lập gia đình với phụ nữ Việt Nam, thường sinh sống ở Lai Châu, Sơn La. Sau đó Cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ bắt đầu, Chính phủ ta tạo điều kiện cho họ hồi hương.
Lịch sử Đội quân Lê Dương có từ thế kỷ XVI, Triều đình Pháp (Vua Louis) đã tuyển mộ lính Lê Dương để phục vụ các cuộc chiến tranh với các nước khác. Trong Đại chiến Thế giới Thứ nhất, từng có 10.000 người An-nam (bọn Tây nó gọi dân ta đấy !) sang Pháp để đánh nhau trong Cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, bởi vậy họ cũng được gọi là lính Lê Dương.
Ngày nay chế độ lính Lê Dương vẫn duy trì ở Cộng hòa Pháp. Những người nước ngoài được tuyển dụng phục vụ trong Quân đội Pháp đủ 5 năm sẽ được nhập quốc tịch Pháp.