Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 01:49:43 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những hòn cuội nhặt dọc đường  (Đọc 47819 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #30 vào lúc: 17 Tháng Chín, 2013, 07:16:40 am »


Hà Nội trong tôi

Tôi là người Hà Nội!
Mẹ tôi hoài thai tôi trong những tháng năm khói lửa của cuộc kháng Pháp trường kỳ tại số nhà 20 phố Tô Hiến Thành. Tên phố lấy tên một khai quốc công thần, phò 3 đời vua nhà Lý, nổi tiếng vì lòng trung thành và cương trực.
Lúc còn trong bụng mẹ, suốt ngày tôi nghe thấy mọi người rục rịch chuẩn bị đồ đạc, khăn gói… từ “tản cư” là từ mẹ tôi nói hàng ngày. Sát vách nhà tôi là nhà viên quan hai phòng Nhì làm việc cho Pháp, từ phòng ông ta, hai từ “tấn công” và “đè bẹp” luôn vẳng ra. Ông bà tôi không muốn mẹ tôi đi vì sắp sinh tôi, nhưng mẹ tôi là một người cứng rắn, bà muốn theo chồng (cha tôi lúc đó đang công tác ở Liên khu 3 - Thanh Hóa) sớm ngày nào, hay ngày ấy. Theo tính toán của người dẫn đường, vào đến vùng tự do thì sẽ sinh tôi… Nhưng chắc cái rét bất ngờ và sự vận chuyển vất vả của hành trình nên mẹ đã đẻ rơi tôi dọc đường. Tôi ra đời trong nhà một người nông dân ở chợ Lương (Hà Nam), chính ngọn lửa từ đống rơm, cạnh chuồng ngựa đã cứu sống tôi khỏi chết rét, những người đàn bà nông dân sặc mùi mồ hôi đồng ruộng đã ôm ấp bế ẵm tôi, tiếng ngựa gõ vó và hí bên chuồng đã khích lệ tôi phải sống. Lúc ấy, ông Nguyễn Sơn, một vị tướng trong quân đội Việt Minh trên đường lên Việt Bắc họp đã đặt tên cho tôi (ông là một tướng quân nổi tiếng về tài chỉ huy trận mạc, về lòng dũng cảm, cầm kỳ thi họa cũng tài, là tướng hai nước Việt Nam và Trung Quốc và rất đào hoa…). Khi đó, họa sỹ Tạ Tỵ cũng ở bên (họa sỹ cũng là người rất tài giỏi, văn thơ nhạc họa đều hay, lại lãng mạn nữa…) Hai ông đã đặt tên cho tôi. Có lẽ, không! Chắc chắn hoàn cảnh đó đã hun đúc nên con người tôi, những mùi rơm rạ, mùi chuồng ngựa, trầu không, mùi khói lửa, tiếng vó ngựa và phong cách của ông tướng và họa sỹ đã hấp thụ vào tôi… Sau tháng ngày đó, tôi lớn lên ở đồng quê, uống nước sông Chu, ăn củ khoai củ ráy, hít thở lộng gió cánh đồng, sống trong tình yêu bộc trực của người nông dân Việt Nam. Sau này, tôi có đọc được từ một tài liệu khoa học là chính hai năm đầu đời, đứa trẻ đã hình thành toàn bộ cá tính và nhân cách con người mình, mãi mãi sau này, tôi vô cùng biết ơn hoàn cảnh đã ban cho tôi lúc ấu thời, đặc biệt biết ơn những người đàn bà nông dân đã “giáo dục” tôi, và cả gió trên những cánh đồng đã thổi vào lồng ngực tôi ngọn gió bộc trực thuần khiết Việt Nam.
Cứ thế … năm năm sau…
Tôi như đi trong mơ, lúc lắc trong cỗ xe ngựa, chòng chành trong khoang thuyền, sông Chu, rồi sông Mã, sông Hồng… Cho đến một ngày, não bộ bị đập phá  ầm ầm vì trống giong cờ mở, và mắt bị một rừng cờ đỏ tràn vào. Khiếp! Sao cơ man nào là cờ, đỏ rực, cờ to cờ nhỏ, xen kẽ đôi khi một lá cờ xanh hòa bình.
Rồi từng đoàn người đội mũ nan cài lá ngụy trang, đeo những khẩu súng có băng tròn trước ngực, thấp đậm, quần túm ống, ngón chân cái toè ra như Giao Chỉ trong đôi dép tự chế từ lốp xe tải lũ lượt qua nhà tôi.
Rồi không thấy tiếng chân trâu buổi sáng, thay vào đó là tiếng Chế-mà-phù, Phá-xa, Lục-tào-xá, tôi phát buồn nôn khi ngửi mùi ét-xăng phun ra từ cái xe đen bốn bánh mũi trông giống con ve sầu, từ trên đó bước xuống những ông thông, bà phán, cậu ấm, cô chiêu hay những người đàn bà tóc quăn mặc áo dài, thơm nức…
Rồi leng keng tiếng tàu điện, chiếc xe bánh sắt to, dài mà tôi luôn nhảy lên để nó chở qua chợ Hôm, nhà Gô-Đa, Bờ-Hồ, chợ Đồng Xuân là điểm đến cuối cùng của tôi, để mua về một hũ cá vàng, dọc đường được nghe ông lão hát xẩm ca những bài ca não ruột về số kiếp con người…
Rồi tôi đi học, học giỏi (tất nhiên), cuối năm lớp một, thầy Lạc (là một giáo chức dưới chế độ cũ) kéo tôi ra góc trường, đặt một tay lên vai tôi, khen tôi và dặn: “Con luôn phải cố gắng, tuổi con rời cố gắng là chết đấy!”. Lần đầu tiên tôi được gọi bằng “con” từ một người đàn ông! Và cảm thấy sức nặng của lời tiên tri đè nặng lên vai.
Rồi tôi vào Đội, lúc bấy giờ phố Thể-Dục (tức phố Tô Hiến Thành) không còn nữa! Cả bãi Thể-dục rộng mênh mông người ta đã xây nhà lên đó. Tức là toàn bộ nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo bây giờ, còn trước nữa là nhà máy Diêm. Bà tôi dắt tôi ra cuối chợ Giời, bảo: “Đi nữa là Ô Cầu Dền, là làng Hoàng Mai con ạ, có chợ Mơ ấy!” Tôi vút mắt nhìn xa, chỉ thấy con đê cao cao, tre pheo phơ phất, làng quê vẫn rất gần tôi, bóng những người đàn bà mặc váy đen, áo nâu, quấn khăn mỏ quạ gánh lúa làm tôi nhớ đến Thanh Hóa ngày nào.
Rồi những buổi đi học, mò bi ve, chun kếp ở bãi rác Vân Hồ (bây giờ là Công viên Thống Nhất) bị sa lầy trong bùn ngập đến cổ suýt chết, may thằng bạn quăng cành cây kéo lên, tối mịt mới dám về nhà (vì không có quần áo).
Rồi mẹ tôi mở cửa hàng sách báo, Hà Nội khi ấy chỉ có mấy cửa hàng. Qua sách báo đem về, tôi biết có một trận chiến nhằm vào một đám người chống chế độ, thấy bìa cuốn sách vẽ rất đẹp (ảnh hưởng vào tôi mãi sau này) đề chữ “Giai Phẩm” gì đó, ầm ầm, ầm ầm! Cha tôi thời gian này trở lên lặng lẽ, rất buồn!
Rồi tôi vào học Trường Mỹ thuật, cuốc bộ đi học. Có hai cây số mà ngày ấy thấy rất xa, phố xá vắng vẻ, qua hồ Ha-Le đìu hiu, bàng là giống cây tôi thích nhất, quả ngọt lừ, lá gói xôi, thân xù xì khúc khuỷ và đặc biệt dưới gốc bao giờ  cũng có một bác chữa xe đạp hoặc bà hàng nước chè chén. Đi học trường Mỹ thuật ở phố Yết Kiêu tôi mới biết gần đó, ở giữa Hà Nội còn có một cái xóm gọi là xóm Hạ Hồi… Qua câu chuyện của bà và mẹ, còn biết Hà Nội còn nhiều vùng “đặc biệt” nữa, nào là Bưởi, nào là Dịch Vọng, nào là Cầu Giấy… Toàn những cái tên nghe rất xa, mà gần… Tuổi thơ của tôi trôi qua trong những trận Sô-vê sũng mồ hôi dưới ánh sáng điện đèn, những trận đánh đáo, đánh xèng, dưới bóng bàng và sấu trưa hè vắng vẻ phố xá, tĩnh lặng kinh người…
Rồi năm 1966 đến, tôi đứng góc hồ Ha-Le, nhặt một mảnh bom lên. Nó vỡ lưa tưa, sắc cạnh, linh cảm dân tộc mình, Hà Nội mình, và mình bắt đầu chuyển sang một trang mới, đường xá không còn vắng vẻ nữa, khắp nơi là hầm tăng-sê, góc Bờ Hồ chỗ tháp Hòa-Phong là cả một dãy hầm nổi chạy dài, cao xạ chạy ầm ầm, cầu Long Biên biến thành ụ pháo lớn chơi nhau với không quân Mỹ, tên lửa giăng ngay bãi giữa sông Hồng. Vẫn xếp hàng mua gạo bằng tem phiếu, vẫn xếp hàng dài dằng dặc chờ lấy một vại bia, một que kem… Tin chiến sự từ miền Nam dội về, từng đoàn lính mới lũ lượt lên đường, mũ cối, mũ tai bèo, tiểu liên AK và dép đúc Trung Quốc…
Rồi những giấy báo tử… ngày kết thúc chiến tranh còn xa quá!
Rồi 12 ngày đêm… Hà Nội tan nát dưới B52, những quầng sáng chói lòa, phía Hồ Tây, dù phi công, mảnh máy bay Mỹ rơi lả tả…
Rồi lại đỏ rực một lần nữa, lần này đỏ hơn, vang dội hơn, ba lô cóc, búp bê tràn ngập phố xá, dép đúc, mũ cối bày bán đầy chợ, nào Hon Đa, Suzuki, Yamaha, nào dàn TEAC, Sony băng cối… Hàng hóa tư bản từ phía Nam ùn ùn theo tàu xe ra bắc… Hà Nội dường như đã bị “Sài Gòn hóa” sau những tháng ngày lao khổ của chiến tranh.
Rồi đói…
Rồi đổi tiền
Rồi thì thào những chuyến vượt biển Đông…
Rồi chen nhau xuất khẩu lao động, làm đội trưởng thì tốt, không thì làm công nhân cũng được!
Rồi từng đoàn người Hoa lũ lượt thu vén đồ đạc rời Hà Nội. Chiến sự nổ ra 6 tỉnh phía bắc Tổ quốc!
Rồi lại từng đoàn lính mới lên xe quân sự, ùn ùn đổ vào phía Nam. Chiến tranh nổ ra ở biên giới tây nam. Quân ta đụng phải mìn lá và chiến tranh du kích của đối phương.
Người Hà Nội thấy không có lời khuyên nào hay hơn lời khuyên: “Hãy tự cứu lấy mình, trước khi trời cứu”. Càng thanh lịch bao nhiêu, lúc gian nan người Hà Nội càng trở lên mạnh mẽ bấy nhiêu…
Thời gian phi như ngựa chạy, thấm thoát đã 35 năm kể từ cái ngày đỏ rực cờ sao lần thứ hai ấy! Hà Nội bây giờ đã rộng lớn lắm rồi, Bưởi, Dịch - Vọng, Cầu Đuống… còn là nội đô, Hà Nội đã lên tận Hòa Bình, Hà Nội có rừng xanh núi đỏ, có Mán có Mường, đèo cao vực thẳm… Hà Nội không còn là những khu phố cổ, là Kẻ Chợ nữa. Những cánh đồng bị san lấp đi để mọc lên những nhà cao tầng như khối hộp, những đồi trung du bị biến thành sân gôn.
Rồi khắp nơi đường sá bị đào lên để làm cống, vừa lấp đi, lại đào tiếp để làm vỉa hè, chưa hồi sức, lại đào lên để đặt cáp điện.
Rồi túi ni lông, rác thải vứt khắp nơi, người Hà Nội đại tiểu tiện, văng tục, nhổ bọt mọi chỗ có thể.
Rồi cướp giật giữa ban ngày, xe cộ ùn ùn, mạnh ai nấy đi, bất chấp đèn xanh đèn đỏ, mỗi ngày các bệnh viện nhận hàng trăm ca què chân què tay, chấn thương sọ não…
Người Hà Nội vẫn không sợ
Vẫn tắc đường, tắc khủng khiếp
Cứ đôi quang gánh, trong thùng có vài vỏ hộp, lon bia… đi văng mạng giữa ô tô, xe máy, chết thôi.
Rồi khắp nơi là khẩu hiệu, hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, xen lẫn là biển quảng cáo thông tắc hố xí và nạo phá thai tại nhà có bảo hành.
Rồi bụi, kinh doanh khẩu trang phát tài.
Rồi hoa quả chứa chất bảo dưỡng độc hại, thịt lợn tiêm thuốc tăng trọng, sữa có chất mêlamin.
Rồi sàn nhảy, thoát y, rồi lắc, rồi xì ke ma tuý, kim tiêm vứt đầy ngõ hẻm.
Rồi hết dự án này đến dự án khác, quan tham đầy túi, Hà Nội như một công trường. Ra đường, tôi ngày càng bị hỏi đường nhiều hơn… xem ra Hà Nội toàn người nơi khác đến.
Tôi bay từ Sài gòn ra, nhìn từ trên máy bay, sông Hồng không còn như dải lụa đỏ trên cánh đồng xanh mướt nữa, cao ốc khối hộp đã mọc lên san sát, có những ngôi nhà mỏng như tờ giấy. Lòng buồn và thầm nghĩ Hà Nội xưa đã không còn, những biệt thự cổ đã bị chắp vá loang lổ, những chung cư đã chụp thêm nhiều lồng sắt trong cơn mưu sinh, buồn mà nghĩ rằng “bao giờ cho đến ngày xưa?”… Nhưng lại chợt nghĩ rằng, biết đâu, cái “vặn mình” lại báo hiệu một sự đổi mới… Xưa nay lẽ đời là: “Thế gian biến cải vũng nên đồi” mà! Có cái gì giữ mãi được đâu? “Lòng người” là cái bền vững nhất còn có khi thay đổi nữa là!

Tháng Chạp - một ngày đông giá buốt
 
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #31 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2013, 06:57:03 am »


TẤM LÒNG NGƯỜI LÍNH


Trong cuộc đời ngắn ngủi mà tôi vẫn gọi đùa là cuộc du ngoạn bất đắc dĩ trên hành tinh xanh mấy chục năm của chúng ta, có những “sự cố” lạ lùng, không ngờ tới, ví như tôi là người lính có mặt trong những ngày tháng đầu tiên tại Sài Gòn, đi giữa đống quân trang quân cụ khổng lồ như núi của địch khi tháo chạy, hít cái bầu khí sặc mùi “Sài Gòn”, ăn hủ tiếu, uống laze... sau những tháng năm “lương khô”, nằm hầm... Hứng những trận mưa chiều ào đến ào đi của cái thành phố ăn chơi hoa lệ này... Thế rồi, bỗng dưng ra quân, lấy vợ và chìm mình trong cuộc bươn chải mưu sinh đến tầm thường cả kiếp người mấy chục năm trời. Sài Gòn, cho dù thật sự đang đổi thay đến thế nào, thì trong tôi vẫn là những biệt thự lịch lãm của các tướng quân đội Quốc gia trên những con phố sang trọng, vắng vẻ. Vẫn là những mảnh vườn hoang yêu dấu thơ mộng, vẫn là hàng cây thẳng tắp in trên nền trời đêm của phố Mạc Đĩnh Chi, Tú Xương... Vẫn là không khí rầm rầm của vũ trường cộng với tiếng ống bô xé trời của Honda 67...

Thế mà, bẵng đi hơn 30 năm không đến với nó, dù cho bây giờ nó không còn là thủ phủ cuối cùng của đối phương, bây giờ nó đã là máu thịt của ta, chỉ cần 2 giờ đồng hồ và hơn 1 triệu Việt Nam đồng là đã đến được bằng 1 vé bay... Thế mà, ta cứ lao vào cuộc mưu sinh, nhoáng cái đã nửa đời người...

Bây giờ thì chiếc Boing747 mang tôi đã là là hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Lý do trở lại Sài Gòn thật đơn giản: thăm người thủ trưởng cũ, đang bị tai biến mạch máu não và những đồng đội năm xưa đang định cư ở Sài Gòn... Phi đạo lấp lánh dưới ánh mặt trời, dãy nhà mái vòm chứa máy bay năm xưa rách tung toé dưới đạn pháo quân giải phóng. Bây giờ nằm nghiêm chỉnh. Phía ngoài sân bay, cao ốc mọc lổn nhổn, mây trắng cuồn cuộn trời xanh, nóng quá! Thế mà Hà Nội đang 12 độ, áo đơn, áo kép. Người Sài Gòn vẫn ào ào đi lại, ào ào kiếm sống, ào ào ăn nhậu y hệt những trận mưa ào đến ào đi... Xứ này hợp với những ai muốn đơn giản cuộc sống, bộc trực, thẳng băng, hen và thấp khớp!

Tượng Thánh Gióng ở Ngã 6 vẫn giơ roi đánh giặc Ân, Trần Hưng Đạo Quốc Công tiết chế vẫn chỉ tay ra bến Bạch Đằng. Nhưng dòng người cuồn cuộn ngược xuôi thì khác hẳn, “Bắc hóa” mất rồi. Như là ông trời xẻ 1 khúc Hà Nội ném vô Sài Gòn.

Trong những tháng năm lính tráng, tôi có gặp hai ông Chính uỷ, một ông là Chính uỷ Đào Xuân (người đưa tôi vô chiến trường Quảng Trị) và một ông là Chính uỷ Bùi Tùng (Chính uỷ Lữ đoàn xe tăng 203 nơi tôi sống và chiến đấu suốt 1972 - 1973 và chính ông ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã thảo ra và bắt đại tướng quân đội Việt Nam cộng hòa, tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân giải phóng). Khi tôi vào chiến trường Do-Linh, cỏ lau bạt ngàn chen bụi cây lúp xúp, toàn bộ căn cứ quân giải phóng chìm trong lòng đất, trong những nhà hầm kiên cố, chính uỷ Bùi Tùng tiếp tôi trong một căn hầm như thế, có khác chăng các căn hầm khác bởi hai thứ, một là cái cửa hầm chữ A được đan chéo bằng hai nửa quả bom tấn của Mỹ hãy còn rõ chữ USA sơn trắng bên sườn, hai là sách! Tôi cũng không rõ chính uỷ làm thế nào mà “cõng” được đống sách ấy vào chiến trường, liếc mắt điểm qua... “Bông hồng vàng” của Pautovski, “Những người khốn khổ” của Victor hugo, “Thơ” của Fêtơphi, “Thép đã tôi thế đấy” của Oxtrovski... Quái lạ! Đánh nhau chí chết, B52 rải thảm bất cứ lúc nào, gạo, muối đang báo động số 1... Ông này định đọc sách trừ cơm chắc? Trò chuyện một lúc, khi biết mẹ tôi chính là người vẫn bán sách cho ông ở Quốc Văn tổng hợp phố Tràng Tiền, Hà Nội. Ông “ồ” lên một tiếng, vỗ vai tôi một cái thật mạnh, rồi tháo cái xanh tuya rông bên sườn có gắn khẩu K59 bóng loáng đưa tôi, bảo: “Cậu dùng nó, tôi đã có khẩu khác rồi. Từ mai xuống các Tiểu đoàn, công tác độc lập rất cần nó đấy!” Nhận lệnh xong, cầm cái giấy giới thiệu, cái “Hộ chiếu thông hành” do  ông viết tay xuống nằm vùng ở các đơn vị giáp ranh với địch, tôi bồi hồi với hình ảnh một người chỉ huy cao lớn, môi cong, cánh mũi nở, vầng trán rộng với giọng nói miền Trung chân thật. Bồi hồi với đống sách cao ngất trong hòm đạn pháo, bồi hồi cái tin bất ngờ là quanh đây, các đồng nghiệp của tôi đang sống và chiến đấu, trong đó có các anh: Lê Duy Ứng, Phạm Mai Châu, Hoàng Tích Minh, Nguyễn Hải Nghiêm, Trần Lê An, Trần Luân Tín... và vô số người khác, các đồng đội đó đều nhập ngũ từ mái trường Mỹ thuật 42 Yết Kiêu thân yêu, một số đã hy sinh... có những khi sống kề bên nhau mà không hề biết nhau vì khác đơn vị và phải “bí mật quân sự” như trường hợp tôi và họa sỹ Nguyễn Hải Nghiêm, chuyện là thế này: “Sau trận đấu tăng dữ dội trước khi ký Hiệp định Paris một ngày ở Cửa Việt, thế trận ta địch xen kẽ kiểu “da báo”, tại chốt Long Quang (Thanh -Hội), ta và địch chỉ cách nhau một con hào chống tăng rộng 3 mét, sâu ngập đầu người, khoảng cách đó làm xe tăng không vượt qua được, cách hào 200 mét là ba xe tăng T54 của ta nằm trong hầm cát, chĩa nòng pháo về đối phương, phối thuộc với một đại đội bộ binh của Sư đoàn 325, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chốt (hoạ sỹ Nguyễn Hải Nghiêm đang phiên chế trong đại đội đó). Phía ta, cắm cờ nửa xanh nửa đỏ, có ngôi sao vàng, bên kia hào là cờ vàng ba sọc... Hai bên giằng co, giữ miếng... Khoảng hai giờ sáng một đêm, đang chìm trong giấc ngủ, lính tăng nghe tiếng động cơ ô tô vang trời rồi dưới ánh đèn pha quét sáng trong đêm của xe tăng, một chiếc xe JEP lao vun vút trên trảng cát, trên xe cắm cờ vàng ba sọc đỏ có hai lính cộng hòa chở thêm một con đàn bà cầm AR15 bắn loạn xạ vào xe tăng, đạn AK nổ chiu chíu bắn đuổi, chiếc JEP chạy sâu vào trận địa quân ta chừng 300 mét thì vòng lại, vượt qua đoạn nông nhất của con hào do gió cát lấp đầy, trở về căn cứ của chúng an toàn (Mãi về  sau tôi mới biết đó là do bọn địch thách đố nhau, thằng nào dám phóng sâu vào 300 mét thì được thưởng chiếc đồng hồ Rado)... Và cũng mãi gần đây, chỉ nhờ một sự tình cờ, ngồi tán phét ở quán cà phê 17 Lý Nam Đế, khi tôi vô tình kể ra cái “tích” đó, Nghiêm mới ôm chầm lấy tôi: “Trời! Anh Dũng ơi, đêm hôm đó em cũng có mặt ở đó...!” Ôi! Tuổi trẻ gian lao! Long Quang, Phó Hội, Cửa Việt, Do Linh, Cam Lộ..., những địa danh. Ôi! biển xanh, mây trắng, cát vàng, ngổn ngang hàng trăm xác tăng địch in sẫm trên nền trời xanh với những nòng thép bị bẻ cong trong những cú húc kinh người hoặc không chịu được sức nóng của B41... Trận mạc thời trai trẻ đã in dấu quá đậm trong lòng chúng tôi, như những vết sẹo, không bao giờ phai!

Giờ đây, tôi đang ngồi bên chính uỷ Bùi Tùng, cạnh ông là chiếc xe lăn, ngoài kia là mảnh vườn hoang yêu dấu có vô vàn giống cây lạ mà ông yêu thích, tâm sự với chúng mỗi ngày... Kể từ ngày ông bị tai biến sau “sự cố” lật lại sự kiện ngày 30 tháng 4 năm 1975, có lẽ do bất ngờ và do tuổi tác nên não bộ bị tổn thương! Kể cũng lạ! Người bị tai biến trí nhớ mất đi rất nhanh, hầu như dễ quên, thậm chí không nhận ra người thân cạnh mình, nhưng ông lại là trường hợp đặc biệt. Khi tôi áy náy hỏi về hiện trạng bệnh tình của ông và sự phẫn nộ của ông với những người đã gây nên hiện trạng này, anh Bùi Hải con trai ông (cũng là một người lính) nói: “Bố em thật kỳ lạ, chính những chuyện gần đây, kể cả “sự kiện” gây nên bệnh tật của bố em, bố em quên hết! Nhưng những kỷ niệm xa xưa ở chiến trường, những đồng đội cũ thì cụ lại nhớ như in mới lạ, các bác sỹ cũng ngạc nhiên...”. Quả thật, lúc tôi bước vô nhà, hỏi to: “Thủ trưởng, nhớ em là ai không?” Ông ngồi dậy trên giường bệnh: “Dũng đấy à!” Ôi! 28 năm rồi, chiếc xanh tuya rông Mỹ tôi vẫn giữ, các lỗ kim loại trên thắt lưng đó đã han rỉ, nhưng người đồng đội mặc áo xanh Tô Châu ngày ấy gặp nhau giờ sao đến nông nỗi này? Hàn huyên rất lâu, tôi còn nối máy cho ông tâm sự với anh Hữu Thỉnh. Trước khi về, tôi biếu ông gói trà Thái Nguyên và cuốn sách, ông tặng lại tôi 2 đĩa CD về đơn vị xe tăng của ông húc tung cổng Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975... Tôi ra về trong trạng thái băn khoăn, ngày tháng thoi đưa, liệu nắng gió Sài Gòn có nâng đỡ ông khoẻ hơn không? Cầu mong như thế, tôi cũng nghe nói, vô đây sống lâu hơn 10 tuổi vì không phải chịu rét, còn tôi muốn ông lâu hơn 20 tuổi, tôi cũng mong các đồng đội khác của tôi đang sống ở Sài Gòn này như thế... Hôm nay là 22 tháng 12 năm 2009, ngày thành lập QĐNDVN. Chẳng lẽ mọi sự trên đời “lập trình” sẵn như thế ư? Nhưng tôi vẫn phải về Hà Nội nơi có nhiều người thân, niềm vui, hạnh phúc, cùng những tai ương, đau khổ... mà tôi đang phải “trả nợ” trong kiếp làm người đã được “lập trình” trong số phận của tôi...

Sáng ngày 2 tháng 2 năm 2010 điện thoại tôi reo vang. Đầu dây kia, là một số máy lạ. Tiếng một người con gái: “Thưa anh, em mời anh sáng ngày 4 tháng 2 năm 2010 tới dự lễ sinh nhật của ba em là Đại tá Bùi Tùng tại Dinh Độc Lập, em là con gái của bố Bùi Tùng đây...” Ủa! Chính uỷ còn con gái nào nữa? Tôi bảo: “Tôi đã ra Hà Nội rồi và không biết ngày nào vô!” - “Ồ! Em tưởng anh định cư ở Sài Gòn... Em tên là Quỳnh Hoa sống tại Kiep (Ucraia). Em về Việt Nam để lo tổ chức lễ sinh nhật cho bố em rồi lại bay sang...” Trời! Thật là một ý tưởng đặc biệt sinh nhật cho Đại tá Bùi Tùng tại Dinh Độc Lập! Không thể có gì độc đáo và ý nghĩa hơn. Tôi chúc lễ sinh nhật được long trọng và thành công, lòng tự hào về hậu duệ của chính uỷ. Dù không có mặt ngày 4 tháng 2 năm 2010 tại Dinh Độc Lập nhưng trong tôi vẫn mường tượng ra đồng đội tấp nập ôm hoa đến mừng chính uỷ đang ngồi trên xe lăn. Tôi vẫn mường tượng ra bãi cỏ xanh và đài phun nước trước Dinh nơi đó ngổn ngang những chiếc T54 lúc 2 giờ chiều ngày 30 tháng 4 1975. Tôi vẫn mường tượng ra lúc đứng trên đỉnh nóc Dinh Độc Lập phóng tầm mắt nhìn Sài Gòn, nơi có con đường Hồng Thập Tự rầm rập những chiếc xe tăng sứt sẹo tiến vào cổng Dinh. Nơi có hàng rào đổ vỡ do chiếc 843 của anh Bùi Quang Thận húc vào cú húc đầu tiên và tôi cũng mường tượng ra cờ và hoa đang tràn ra đường phố Sài Gòn trong tiếng đạn pháo hỗn loạn trong trận chống trả cuối cùng của đối phương.

Sài Gòn
Tết Canh Dần


Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #32 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2013, 07:34:27 am »


CÂY GHI TA CŨ KỸ

Sau chiến tranh, những người lính chúng tôi trở về với đời thường... Dù thế nào thì ngày 5 tháng 10, ngày thành lập binh chủng Tăng - Thiết Giáp, cũng vẫn cứ là ngày "sôi nổi" nhất trong nỗi nhớ của chúng tôi.
Chẳng ai bảo ai, dù có điện thoại, nhắn tin hay không... tất cả những cựu binh tăng thiết giáp vẫn như có một sức hút thần kỳ tề tựu, quây quần lại với nhau.

Trong ngày ấy mỗi năm, người đến Bộ Tư lệnh Thiết giáp liên hoan theo định kỳ, người gặp gỡ ăn mừng với nhau theo kiểu của mình. Tụ tập nhà một ai đó, sau ly mừng, không thể không hát ca. . .

"Đầu trò văn nghệ" không thể thiếu được cựu chiến binh Nguyễn Quý Lăng - trở về từ chiến trường anh làm giảng viên Đại học Thủy lợi, kiêm "nhạc sĩ”. Gọi "nhạc sĩ” cũng chẳng ngoa bởi anh sáng tác khá nhiều bài hát về cuộc chiến anh hùng, về nỗi nhớ, tình yêu, người ra đi và người ở lại... Lần nào gặp lại bạn lính xưa, anh cũng ôm một cây đàn ghi-ta cũ kỹ đệm cho đồng đội. Anh bảo, ca khúc anh sáng tác đều nhờ cây đàn này!

Tôi cầm cây đàn lên. Đó là một cây ghi-ta cũ kỹ. Cũ đến tả tơi... Toàn bộ lớp véc ni đã sờn tróc từng mảng. Các khóa phím nhựa trắng đã ngả vàng.
Quanh vòng tròn thoát âm khảm một vòng giả đồi mồi đầy vết trầy xước. Thân đàn đã bong tróc lớp gỗ dán phía ngoài và được chủ nó "trợ lực" bằng chằng chịt những băng dính. Màu cây đàn giờ là vàng đất, xám xịt, nâu bẩn, véc-ni pha bụi, gỗ pha đất sét...! Chỉ duy nhất các phím kim loại của cây đàn vẫn ánh lên màu thép do được các ngón tay thường xuyên lướt qua.

Lăng kể cho tôi nghe:
"...Cuối năm 1975, trung đoàn xe tăng 574 chúng tôi được điều về đóng chốt tại phía tây Quảng Nam giáp Lào, ngay thượng nguồn sông Thu Bồn, con sông thất thường hay giở chứng trong mùa mưa lũ... Cuộc chiến vừa kết thúc, người ta hối hả bao là việc. Sau cuộc chiến, đất nước chưa hết những vết thương dữ dội, những hố bom pháo, hầm hào và cả những vết thương trong tâm hồn con người. Thế mà không dưng chúng tôi lại lọt vào một thung lũng hoang vắng... giữa các triền núi thoai thoải, lau sậy um tùm và cánh rừng thưa.
Chiều ấy, sau khi cho xe vào lán, bảo dưỡng xong, tôi một mình lang thang vào sâu trong thung lũng, nơi khuất sau vách núi... Chiều hè, gió hun hút thổi từ Lào sang, khô nóng, lốm đốm những hoa dại màu vàng nhỏ li ti mọc sau cơn mưa. Ngay sau hàng rào bằng những cọc tre xô lệch, dốc lên một chút theo con đường mòn là một mái tranh trơ trọi, mấy đứa trẻ đang chơi cỏ gà ngoài sân.
Tôi bước vào nhà, một mẹ già đang ngồi trong góc vẻ bình dị. Tôi chào mẹ và bất ngờ thấy trên vách treo một cây ghi-ta. Tôi xin phép mẹ cầm xem và chơi luôn hai bài: "Quê em miền Trung du” và "Bài ca hy vọng"...
Tiếng đàn vừa vang lên, lũ trẻ đã ào vào. Tôi đã sẵn sàng chờ sự náo nhiệt, láo nháo của chúng, giống bọn trẻ con ngoài Bắc hồi đó mỗi khi thấy bộ đội mũ tai bèo, thắt xanh tuy rông... Nhưng không! Chúng lắng nghe, im phắc... Chỉ khi tiếng đàn vừa dứt, chúng mới ùa sát vào tôi. Mùi mồ hôi trẻ con thật dễ thương.
Tôi lễ phép xin mẹ cho mượn cây đàn vài ngày, để mang về tổ chức liên hoan văn nghệ cùng đơn vị. Bà ngần ngừ: "Chú chờ chút, con nhỏ nhà tôi sắp về đó. Mà thôi, chú cứ cầm đi!". Tôi áy náy nhưng vốn là lính sinh viên, mấy năm toàn dầu mỡ súng đạn, giờ vớ được cây đàn như "buồn ngủ gặp chiếu manh", ham lắm. Song tôi vẫn đọc được điều gì đó dường như băn khoăn trong lòng người mẹ".
Tôi lặng lẽ cầm cây đàn lên. Cây đàn nhẹ đến vừa độ, ấn vào các phím cảm giác mềm, rất vừa tay. Đặc biệt, âm thanh không chê vào đâu được. Tôi chuyển vài gam và chợt nhận ra một âm sắc hiếm thấy ở các cây đàn khác... "Một âm sắc não nuột sâu lắng” nảy lên... Bao giờ tôi cũng thấy Lăng xúc động khi ôm đàn. Có lần tôi hỏi: "Ông với cây đàn có uẩn khúc gì chăng?" Lăng không giấu: "Đó không phải là một cây đàn thường đâu nhé, mà là của một người lính đối phương đấy”...
Lăng kể tiếp câu chuyện:
“Đúng một tuần sau, tôi đem cây đàn đi trả. Lần này, đón tôi là một thiếu phụ rất trẻ. Tôi đoán là con gái bà mẹ. Cô gái xứ Quảng ấy hiền thục dịu dàng, vóc mảnh mai, gương mặt hiền như Đức Mẹ đồng trinh, tóc dài, mắt thăm thẳm. Bọn trẻ bắt đầu xúm vào. Tôi xin lỗi giữ cây đàn hơi lâu, tận hôm nay mới tới trả và cảm ơn gia đình, đồng thời cũng chào tạm biệt vì đơn vị sắp về Đà Nẵng...
Cô gái mừng ra mặt: "Em cứ tưởng không còn gặp lại cây đàn này nữa” - Câu chuyện dần chuyển sang thăm hỏi gia đình. Tôi chợt hỏi: "Vậy anh ấy đâu, làm gì mà không thấy?". Cô gái nói: "Chồng em cũng là sinh viên đang học ở Sài Gòn, đi lính gần một năm thì giải phóng, bây giờ đang học tập - Cây đàn này của chồng em đó...". Tôi giật mình xin lỗi, nói: "Cho tôi gửi lời chào của một người lính sinh viên, tôi tin anh ấy sẽ sớm trở về...". Thiếu phụ trẻ không giấu được xúc động.
Tôi ôm cây đàn chơi bài "Giọt lệ" của Tarrega như một lời tạm biệt. Bản nhạc buồn như một lời chia ly, da diết ... Tôi lặng người treo cây đàn lên vách, ra về.
Bờ lau hun hút gió, xuống chân đồi, sắp qua khúc ngoặt, một đứa trẻ chạy băng băng xuống: "Chú ơi! Mời chú quay lại, cô cháu biểu...". Tôi ngạc nhiên... Thiếu phụ đứng đầu ngõ, tay ôm cây đàn: "Anh Giải phóng, em xin thay mặt nhà em tặng anh cây đàn...". Tôi xua tay: "Không! Chắc tôi không dám". Thiếu phụ ngắt lời: "Xin anh vui lòng nhận cho tấm lòng của vợ chồng em!"...
“Không! Tôi không thể, đây là kỷ vật của anh ấy. Anh ấy cũng sắp về để gặp nó.... Nó sẽ giúp anh ấy trong những khi vượt khó đời thường, hy vọng chúng ta sẽ gặp lại.... Chào em!”
Ào ào xếp hàng mua bán tem phiếu, xếp hàng gạo, thực phẩm, ào thời gian trôi đi như một cơn lốc, có cảm giác những năm tháng sau 1975 trôi nhanh hơn bình thường. Người ta ào ào “Ra Bắc nhận họ, vào Nam nhận hàng”, ào yêu và ào ào cưới theo cơn cuồng vui dân tộc. Quân đội trong chiến tranh lên đến vài triệu người, lực lượng làm ra lúa gạo kiệt quệ, đã đến lúc giảm quân số. Tôi cũng ở trong số quân trở về các trường đại học. Trước khi cởi bộ quân phục, tôi lững thững dạo qua các phố nhỏ Đà Nẵng, bụng nghĩ sẽ mua một vật gì đó kỷ niệm đời lính chiến? Trời về chiều, trong một tiệm đồ cũ bán tượng Chàm và cổ vật, thấp thoáng một cây đàn ghi ta cũ kỹ, lớp vec-ni đã sờn tróc từng mảng, các khóa phím nhựa trắng đã ngả vàng, quanh vòng tròn thoát âm giả đồi mồi đầy vết trầy xước... Thoảng thốt, như trong giấc mộng, tôi hỏi chủ tiệm đồ cũ: “Làm sao ông có cây đàn này?” “Ủa! Sao chú hỏi lạ, nhà tôi là tiệm cầm đồ mà, tôi mua nó cùng một mớ đồ cũ của một người lính dù, chắc sắp đi đâu đó xa... Chú thích mua về xài, không đắt đâu, nó cũ rồi...”

Cuối cùng, cây đàn vẫn trở về với Lăng - Như một định mệnh.
Lăng ôm cây đàn, chìm trong những hồi ức trong vắt. Anh nghẹn lời: "Hôm ấy ráng hoàng hôn đỏ lựng sau dãy Trường Sơn. Gió từ sông Thu Bồn ào ạt thổi vào lồng ngực... Đã 34 năm rồi, mỗi khi lướt trên phím đàn, tôi lại bồi hồi tự hỏi: "Vợ chồng người lính năm xưa giờ làm gì, họ có còn nhớ đến cây đàn xưa? Còn lũ trẻ con nữa?... Giờ chắc chúng cũng ngót 40 rồi... Mới đó mà đã 34 năm, nhưng dường như lúc nào tôi cũng vẫn thấy dòng Thu Bồn trước mặt, nước vẫn xanh như buổi chiều hôm ấy... Nước vẫn xanh ào ạt chảy về xuôi!".

7.5.2009
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #33 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2013, 08:05:55 am »


NHỮNG LINH HỒN THẠCH HÃN


Đừng nói là tại sao cứ nói mãi một chuyện, báo chí, văn thơ, lịch sử đã nói mãi rồi... Bởi có những chuyện có nói bao nhiêu cũng không đủ và cũng có những chuyện mới nghĩ đến thôi đã thấy... không còn gì để nói.

Cứ mỗi lần đi qua dòng sông ấy - sông Thạch Hãn, tôi như lại thấy lũ bạn thuở thiếu thời bay qua bay lại, cả thằng sống lẫn thằng chết, phần lớn bọn tôi đều là học sinh hệ 7 năm trường Mỹ thuật Việt Nam sơ tán ở Hiệp Hòa - Hà Bắc vào những năm đầu cuộc chiến tranh. Lê Duy Ứng, Hoàng Thượng Lân, Hoàng Tích Minh, Trần Luân Tín, Phạm Mai Châu, Lê Minh Trịnh, Hồ Nia, Trần Lê An, Nguyễn Hải Nghiêm... với quân phục chỉnh tề, AK cắp nách, không hẳn là thế, Hoàng Thượng Lân với RPD, Phạm Mai Châu với 12 ly 7, Hoàng Tích Minh với cối 81 ly, Nguyễn Hải Nghiêm với con dao găm bên sườn... còn Trần Luân Tín vẫn hụp lặn như một con cá kình đôi bờ Thạch Hãn để nối dây thông tin dưới làn bom pháo. Với cảm xúc rối bời tháng 7, tôi không biết bao giờ tụi nó sẽ rời khỏi tôi? Có lẽ không bao giờ... Khi tôi trầm xuống dòng nước giá lạnh của Thạch Hãn tháng 7 này, khỏa nước cho cái vòng hoa hình vuông có dòng băng kính cẩn “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ đã bỏ mình vì nước...”. Cái vòng hoa đang trôi cùng rất nhiều hoa khác nhấp nhô theo sóng Thạch Hãn như nghe thấy lời “khấn xin” của riêng tôi, từ từ quay lại, lững lờ trôi ngược và tấp vào chỗ tôi. Trên kia là một đàn tràng đầy đủ lễ vật gồm 30 nhà sư, 1 nhà ngoại cảm đang niệm chú, siêu sinh tịnh độ “tất cả các vong hồn trận vong trong chiến cuộc...”. Lời kinh khấn tới đó, một cơn lốc vô hình ào tới, cuộn giữa bàn thờ, bốc lên cao (chụp được ảnh). Theo lời nhà ngoại cảm, dưới sông còn 3982 bộ hài cốt, có cả trẻ em.

Thạch Hãn xa xưa có tên gọi là Thạch Hàn, tương truyền nó có một mạch đá ngầm dưới lòng sông phun nước lạnh và thanh sạch ra. Bởi thế nước quãng chảy qua Cổ thành rất trong và lạnh. Dài 155km, quãng qua Cổ thành rộng hơn 200m lúc nước lên, khi cạn có thể lội qua sông được. Đầu nguồn có tên là Đăkrông bắt nguồn từ dãy Trường Sơn và thoát ra biển bằng Cửa Việt. Cửa Việt tháng 7 này gặp bão, trời âm u không nắng, 40 năm trước, vẫn cát này đây trắng không thể trắng hơn, vẫn nước biển này xanh không thể xanh hơn, vẫn rừng phi lao này nhưng ngày ấy bị phạt ngang dọc, trụi thùi lụi... Trên bãi cát năm nào ngổn ngang xác xe tăng cả hai bên năm nào giờ đây là một cái cổng chào khổng lồ màu cô ban, xa xa các lều chống nắng cho du khách tắm biển... Nhìn dòng Thạch Hãn trôi, đổ ra biển Đông, như là thấy nó mang anh em mình đi đâu đó, biệt tăm... Nghe đạo diễn Lê Hùng kể lại chuyện “Vong nhập” khi anh làm chương trình tri ân dịp 27 tháng 7 năm 2012. Chuyện thế này: “Lê Hùng phải tường trình ý tưởng, bố cục , phác thảo về kịch bản sân khấu 3 cầu truyền hình, anh dự kiến như sau: Khi đại diện thế hệ sau thả một vòng hoa lớn xuống dòng Thạch Hãn, từ đáy sông sẽ nổi lên một chiếc mũ tai bèo, chiếc mũ đó sẽ dẫn vòng hoa và đoàn đại biểu qua sông, phía sau là 12 chiến sỹ giải phóng trang phục chỉnh tề, AK cắp nách, hùng dũng vượt sông...”. Nói tới đây, phía hậu trường bỗng rối loạn, có tiếng la thất thanh: “Nhập rồi, nhập rồi...”. Mọi người ùa tới, chính giữa đám đông là cô biên tập viên đang ngồi lảo đảo, miệng ú ớ, tay ra hiệu lấy giấy bút... Đang báo cáo dở dang, hơi bực mình, Lê Hùng vỗ vỗ vào cô biên tập viên: “Chúng tôi đang bận, cứ thế này thì còn làm việc sao được?” Cây bút bi viết lên mặt giấy thế này: “Thích Lê Hùng... Anh em chúng tôi về đây hơn ba chục người nghe Lê Hùng nói , tôi tên là Bình, cấp bậc... tiểu đội... mà làm gì có quần áo chỉnh tề như thế! Lúc qua sông có mỗi cái quần đùi, súng đạn với phao ni-lông thôi...”. Lê Hùng châm một điếu thuốc, cô biên tập viên hút ngon lành, Hùng lại hỏi: “Có uống rượu không?”. Trả lời: “Có”... Sau cốc rượu trắng lớn, cô biên tập viên xỉu đi... Những chuyện rất “thật” trên, không khỏi làm tôi day dứt . Đa số chiến sỹ ta vào trận mới 18, 20 tuổi, rất nhiều người chưa biết đến nụ hôn đầu đời , theo giải thích của một nhà ngoại cảm, vì khi ra đi những người đó chưa được “chuẩn bị” tốt, chưa “sẵn sàng” cho sự chết, lòng ham sống còn quá nặng, vẫn quá luyến tiếc cõi trần cho nên sự vấn vương có khi gây nhiều nhũng nhiễu chốn dương gian. Người đời rất nên tổ chức nhiều lễ cầu siêu để các vong có dịp giải thoát. Họ hiểu tất cả và thông qua sự “hiểu” của họ. Ta cũng sẽ nhẹ nhàng hơn . Đạo diễn Lê Hùng dẫn lời của một vị lãnh đạo cấp nhà nước khi tham dự đại lễ tưởng niệm , đại lễ cầu siêu , lễ thả hoa đăng trên sông (những lễ này được tiến hành từ đầu tháng bẩy) nói: “Đảng và Chính phủ chưa làm được những việc này, nhân dân tự làm được là rất quý...”. Tôi nhìn những tượng đài, khu tưởng niệm, những hộp các tông xếp cao chồng chất (đó là tiền vàng lễ và 4000 chiếc ba lô đựng quần áo , mũ , giày bộ đội để hóa) thấy sự tri ân của những linh hồn sống sót. Sau cuộc chiến, khi họ thấy “mình sống được là một điều vô lý” ... “không chết là lãi quá rồi...”. Nhớ đồng đội , một tập thể họp lại do cựu chiến binh Trần Lê An phụ trách, tập hợp các bài viết, hồi ký, ảnh, tranh, nhạc... của trận chiến 81 ngày đêm lại, để tri ân trong một cuốn sách có tên: “Khúc tráng ca Thành Cổ”. Đọc nó, ta như sống lại cả một thời hoa lửa cùng các liệt sỹ và các cựu chiến binh một thời biến thân mình thành viên đạn bắn thẳng chỉ tiến không lùi. Giờ đây, nhạc sỹ Nguyễn Văn Bằng , thành viên của Ban biên tập lại có ý tưởng dịch cuốn sách ra tiếng Anh để âm vang của trận chiến có thể ra ngoài biên giới Tổ quốc... Nguyễn Quí Lăng, Nguyễn Văn Bằng... tri ân bằng những ca khúc viết về tình đồng đội, về những người ra đi khi chưa tròn 18 tuổi, Nguyễn Hải Nghiêm, Trần Lê An tri ân bằng những bức tranh với chủ đề: “Thành cổ 81 ngày đêm” bằng những bức sơn dầu khổ lớn... Tạ Quỳnh Phương, Đoàn Xuân Hòa bằng những bài thơ da diết... Trần Lê An còn góp công thiết kế một đài tưởng niệm Sư đoàn 325 (Sư đoàn sinh viên tham chiến trực tiếp ở Thành cổ). Đài cao 21m trong một khuôn viên to rộng ven bờ Thạch Hãn... chỉ 2 năm nữa thôi, nó sẽ cùng Đài chứng tích sinh viên trong Thành Cổ, nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường 9... cùng bao công trình tưởng niệm khác góp phần nói lên sự tri ân của hậu thế... Sau tất cả những việc làm đó, gặp các anh, các “lính” rạng rỡ và hồ hởi: “Vì những thằng đã chết thôi mà...!”.

Đắng cay là điều không ai muốn. Nhưng số phận bắt thì phải chịu. Nhớ lại giai đoạn 1969 - 1972 sau khi Bác Hồ mất, lực lượng cách mạng tổn thất nặng. Những người bạn vốn “chung lưng đấu cật, thề non hẹn biển” bắt tay với kẻ thù. Đói , khát , thiếu vũ khí thì có thể chịu nổi , nhưng sự tráo trở của tâm hồn thì không còn gì để nói . Người lính giải phóng nuốt nước mắt vào trong , lùi sâu vào tận cùng cõi lòng , tự liếm vết thương , để rồi lại biến mình thành một viên đạn bắn thẳng. 65 năm trước - Bác Hồ chọn tháng 7 làm tháng tưởng niệm các liệt sỹ. 25 năm sau, năm 1972 tháng 7 là tháng khốc liệt nhất của trận đánh Thành Cổ Quảng Trị , sự vô tình hay số phận sắp đặt trước? Đi dọc dòng Thạch Hãn vào một chiều tháng 7, sóng vỗ bờ, nước lạnh và trong, nhớ lại lời nhà ngoại cảm là dưới sông còn 3982 vong hồn vất vưởng. Thấy trước cái chế , mọi sự biến ảo cuộc đời thật vô nghĩa, chả còn gì để nói nữa./.
             
  Chiều Thạch Hãn, 27/7/2012
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #34 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2013, 08:26:48 am »


Vực QUÀNH.

Khi tôi hỏi nhà văn Xuân Cang: “Anh đã nghe nói đến vực Quành bao giờ chưa?” Anh cười mà rằng: “Chưa…nhưng mới nghe cái tên… Quành, đã thấy uẩn khúc lắm…”. Là nhà văn, nhưng ông cũng nổi tiếng trong thiên hạ bởi công trình nghiên cứu: ”Khám phá một tia sáng văn hóa Phương Đông”(Kinh Dịch)…Anh có thể dựa vào một cái tên, một vật, một khoảnh khắc thời gian…mà luận đoán ra kết quả. Còn tôi, sau ba lần đến vực Quành, trắc nghiệm lại thì quả đúng như nhà văn nói… Nó làm tôi, cũng như trăm ngàn cựu chiến binh, trăm ngàn người Việt yêu lịch sử đất nước này không khỏi day dứt một điều:
Trên đời này, lẽ công bằng có tồn tại không?

Vực Quành là một khu vực rộng lớn có con sông nhỏ ngoằn ngèo chảy ngang qua quẩn lại thành “vực” nằm trên một trong những mạch máu của đường mòn Hồ chí Minh lừng danh năm xưa, cách trung tâm Đồng Hới vài cây số và cách đường Hồ Chí Minh nhánh đông vài trăm mét. Hiểm trở như thế, nhưng nó lại rất trữ tình…Vực nước lúc chảy xiết ngập mấy đầu người, đến mùa khô thì “Nước khe cạn bướm bay lèn đá”… Trong chiến tranh, khu vực này là cái túi bom… Sau chiến tranh, theo dòng chảy của thời gian, nó nhanh chóng bị quên đi như muôn sự đời thường ngoại trừ thỉnh thoảng báo chí địa phương và loa phóng thanh xã thông báo về việc người dân đi làm ruộng đạp phải bom, mìn còn sót lại…

Có một người Hà Nội. Vâng!| Tôi đoán chắc vậy ngay sau lần gặp đầu tiên bởi nước da trắng , làn môi hơi đỏ, và đặc biệt là giọng nói chuẩn Hà nội của anh. Anh là Nguyễn Xuân Liên. Vào tuổi đôi mươi, tốt nghiệp khóa học ở Hà Nội, năm 1961, anh được phân công vào công tác tại Ty Y tế Quảng Bình. Ba năm sau, chiến tranh phá hoại nổ ra. Quảng Bình trở thành tuyến lửa cực kỳ khốc liệt. Bởi địa thế hẹp, nó trở thành con đường độc đạo vận chuyển người, vũ khí, quân dụng, lương thực…tiếp tế cho Tiền tuyến lớn. Mỗi cây số vuông đất Quảng Bình phải chịu hàng chục tấn bom đạn…kèm theo hàng chục ca thương vong mỗi ngày. Đương nhiên một trong những đơn vị chịu trận phải là ngành y tế Quảng Bình rồi. Các bác sỹ, y sỹ, y tá, hộ lý… lăn lộn ngày đêm. Họ thực sự đã là những người lính không quân hàm, đối đầu với không lực Hoa kỳ hiện đại.Tuổi thanh xuân của anh Liên tắm mình trong đạn bom, trong tình đồng đội. quân dân… suốt mười mấy năm trời… Anh đã hiến cả tuổi xuân của mình cho Quảng Bình, góp công sức đào tạo ngành y tế Quảng Bình cho tới tận ngày thống nhất đất nước. Sau giải phóng, khi đã ở tuổi trung niên, anh trở ra Hà nội, công tác tại Viện đông y dưới quyền bác sỹ Nguyễn Tài Thu. Năm tháng trôi đi, đời người như bóng câu qua cửa sổ…Tưởng như bụi thời gian đã lấp đầy quá khứ…Thì bỗng vào lúc xế chiều, với cái tuổi lục tuần, nỗi nhớ thời binh lửa hào hùng, nhớ trời xanh cát trắng, nhớ những người dân chắc nịch, sậm nâu, hiền lành chân chất từng một thời ấm lạnh sống chết có nhau trỗi dậy trong anh. Anh bán căn nhà được một tỷ rưỡi, chia cho vợ quá nửa và cầm số tiền còn lại vào Quảng Bình mua…Vực Quành. Bắt đầu xây dựng “Bảo tàng chiến tranh Việt Nam’’. Khi người đồng đội Nguyễn Thế Tường giới thiệu tôi gặp anh tại Vực Quành vào hè 2005 thì bảo tàng đã “hòm hòm” rồi. Hôm đó tôi đi cùng đoàn của Hội mỹ thuật Việt Nam, các họa sỹ mà đa phần là cựu chiến binh đã thực sự sửng sốt và khâm phục trước công trình và chủ nhân của nó! Khâm phục là phải và sửng sốt cũng là phải… Bắt đầu vào bảo tàng là một hố bom cực lớn mà vây quanh nó là hàng chục quả bom tấn lớn nhỏ…trên đó có dòng chữ: “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!’’. Mỗi quả bom là một chữ cái. Dọc theo tuyến hành quân, ta gặp hàng chục các loại bom, mìn chôn dọc đường, người xem có thể hình dung ngày xưa bộ đội ta phải leo đèo lội suối gian khổ như thế nào. Có cả dốc Ông Bò, có cả dốc Hôn Chân…có cả cầu khỉ cheo leo trên vực thẳm, có cả con “Ngầm” ẩn mình dưới làn nước mà các cô gái thanh niên xung phong quấn khăn dù trắng làm cọc tiêu năm xưa…có cả cầu phao làm bằng cây rừng và thùng phi ra sao…có đoạn quân ta phải qua vực bằng dây cáp và dây rừng như thế nào…dọc đường hành quân, thỉnh thoảng ta lại gặp một hố cá nhân tránh bom và suốt dọc hành trình là những con hào giao thông cao ngập đầu người mà quãng quãng hai bên vách lại có những hầm chữ A, mà vách hầm bằng tre, gỗ… có khi bằng cả vỏ bom bi…Tiếp tục hành quân vào sâu ta sẽ thấy nhiều “Nhà hầm”, đó là những khu nhà nửa nổi nửa chìm trong lòng đất. Là nơi mà người dân Quảng Bình (và cũng là dân cả nước ta ngày đó) sinh sống, ăn ở, học tập, sinh đẻ … ở đó! Nhà nào cũng cuốc xẻng sẵn sàng, băng cứu thương, cả súng đạn của dân quân du kích địa phương sẵn sàng bắt phi công Mỹ… Trong lớp học vẫn đầy đủ phấn, bảng, bàn ghế, hàng loạt mũ rơm treo ngăn nắp…Nhà hầm nào cũng có thùng phi chứa nước sinh hoạt và cứu hỏa…Dưới nhà hầm lại có nhà hầm nữa (địa đạo) đủ chứa cả một trung đội sống trong nhiều ngày, cửa hầm nào cũng có đèn bão hoặc đèn dầu… Lẫn trong cây rừng với thể thực vật vô cùng phong phú (mà bà con địa phương quen gọi bảo tàng là Vườn Sinh thái) là hàng trăm loại cây thuốc như cây Sả chống rắn cắn, Tía tô giải cảm, Ngải cứu chữa đau lưng…Du khách trong và ngoài nước, nhất là các cựu chiến binh Mỹ thực sự khâm phục Vực Quành. Vì qua nó, họ hình dung được “thực mục sở thị” cuộc chiến đấu khốc liệt của nhân dân Việt Nam. Họ cũng khâm phục cả chủ nhân của nó nữa. Họ không hiểu ông Liên lấy đâu ra sức lực và tài chính để gây dựng nên nơi này. Nghe nói, ngày mới đến, cũng có nhiều “đối tác” tìm ông để xin “làm việc”…Nào Địa chính, nào Phòng Thuế, nào Kiểm lâm, quan chức địa phương…nhưng với bản chất cương trực, ông “gạt” hết! Vì thế mấy năm sau vẫn không có Sổ đỏ. Cũng vì thế gặp rất nhiều khó khăn thường ngày… Một hôm, ông đi cắt tóc. Trong lúc chờ đến lượt mình ông kể “khổ” với ông thợ cắt tóc quen thân…lát sau, người khách vừa cắt tóc xong đứng dậy, rũ rũ áo và nói với ông: “Ngày mai, anh tới gặp tôi, tôi sẽ cấp sổ đỏ cho…”. Té ra, đó là ông Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường…Trong quá trình gây dựng cam go đó ông cũng gặp nhiều tấm lòng cao cả ủng hộ… Một lần, dịp 27 tháng 2 (kỷ niệm ngày y tế Việt Nam) vợ chồng nhà văn Nguyễn Thế Tường đèo nhau đưa một lẵng hoa đến vực Quành mừng ông, thấy ông đang hì hục vần vỏ một quả bom tấn vừa mua được… Ông Lê Thanh Tân cũng là một người nghĩa khí, vốn là lính đặc công, từng kinh qua ngành tình báo… ông nhiệt tình giới thiệu đến vực Quành nhiều đoàn tham quan, cả khách nước ngoài… kế tiếp phải kể đến ông Mai Khoa (ông này là hậu duệ của Lãnh binh Mai Lượng, một danh tướng thời Cần Vương). Từng là trưởng phòng an ninh, ông yêu vực Quành tới mức đưa vợ con gia đình và nhân viên dưới quyền với cả vũ khí quân trang quân dụng đến “lưu trú”, đến đêm mắc võng ngủ ngoài rừng y như thời chiến vậy… Bản thân tôi, có dịp công tác qua Quảng Bình, thu xếp được thời gian thế nào tôi cũng ghé thăm anh Liên. Lần gần đây nhất là hè 2010. Thấy vực Quành đã ổn lắm rồi. Nó đã có cổng bảo vệ, anh đã thuê một đôi vợ chồng người quen đến trông nom theo lối “tự sản, tự tiêu” kèm chút đỉnh lương còm…Tôi cũng hơi yên tâm khi thấy con thuyền đánh cá đậu bên vực, vài con bò đang gặm cỏ, đàn gà thả giữa vườn… nhưng khi nghe anh nói về sự đe dọa của mùa mưa tới, của sự xuống cấp nhà cửa, của mối mọt, lại thấy lo lo… Một mình anh, không có “Ai” hỗ trợ sức lực, tiền của, chính quyền địa phương lạnh nhạt…làm sao chống lại sức mạnh thiên nhiên đây?

Tôi có quen một ông người Ba Lan, tên ông là Anđrey Wawzyniak, giám đốc Bảo tàng Châu Á và Thái Bình Dương. Bảo tàng này nguyên là một Bảo tàng tư nhân về văn hóa, cổ vật…Hơn 60 năm trước, khi còn là một thủy thủ trên các tàu viễn dương vùng Thái bình dương…Ông đã dành toàn bộ số tiền thu nhập được để sưu tầm cổ vật và gây dựng nên bảo tàng này…Số lượng hiện vật lên đến hàng ngàn gồm nhiều dân tộc: Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Malaisia, Indonêsia, Brunay, Philippin, Lào, Campuchia, TriềuTiên, Singgapo…

Nhà nước Ba Lan đã hỗ trợ ông trong việc gây dựng bảo tàng. Ông đã hiến cả bảo tàng cho nhà nước. Nhà nước cũng phong cho ông làm “Giám đốc suốt đời”. Nhờ vậy, bảo tàng đã phát huy được hết sức mạnh của nó, nhất là trên trường quốc tế. Nghĩ người lại ngẫm đến thân. Lắm lúc tôi nhớ đến anh Liên, nhớ cái bóng anh lui cui, xoay trần vẩn quả bom tấn…với cái tuổi gần 70. Nhớ tới cái bảo tàng “Độc nhất vô nhị” mà nhà nước muốn làm cũng không dễ. Nhớ tới cái gan khai sơn phá thạch, Ngu Công dời núi của anh, lòng không khỏi ngậm ngùi và linh cảm đến một rủi ro, vô vọng.

Sự linh cảm của tôi không phải là không có lý. Dịp 27 tháng 7 này, nhân vào Quảng Trị thắp hương cho đồng đội… Khi trở ra, tôi dừng chân ở Quảng Bình. Định bụng ghé thăm anh…Chiều Đồng Hới sau cơn bão, gió lạnh hắt hiu…Trước mắt tôi là một vực Quành tan hoang, đồng khô cỏ cháy thê thảm… không người coi sóc, cỏ mọc lút đầu người, hố bom ngập nước…Các “phương diện” quân đồng nát đã vào khuân bom và thùng phi gần hết…Các mái nhà hầm thủng lỗ chỗ, địa đạo gần thành đất bằng...Vực Quành giờ đây đã thành hoang phế. Gọi điện cho anh Liên, chỉ thấy đầu dây bên kia “Số máy này hiện không liên lạc được, xin vui lòng gọi lại sau…”. Điện hỏi Nguyễn Thế Tường (lúc này đang đi tìm đồng đội ở Bình Dương). Tường bảo: “Tôi có nghe nói ông ấy bệnh nặng, ra Hà nội chữa. Anh nên nhắn tin lại, khi nào mở máy ông ấy sẽ biết. Ra Hà Nội, anh nên tìm gặp ông Nguyễn Tài Thu, chắc ông ấy sẽ biết anh Liên ở đâu…’’

Có một nhà báo công tác tại một tòa báo ngành Văn hóa. 18 tuổi từng tham chiến tại Quảng Trị, nhà báo Tân Linh. Anh cũng biết vực Quành và quen anh Liên. Khi nghe tôi nhắc tới vực Quành, anh sốt sắng: “Vậy để tôi đi tìm ông Tài Thu rồi hai anh em mình cùng đi thăm anh Liên anh nhé?... Ngay tối hôm đó, anh gọi điện cho tôi: “Anh Dũng ơi! Ông Tài Thu cũng không liên lạc với anh Liên lâu rồi, nhưng ông ấy mách nước cho tôi nên đến phòng tài vụ Viện Đông y, nơi con gái anh Liên từng công tác tại đó. Có thể qua con gái anh mà tìm ra anh chăng? Và tôi đã vào tận phòng tài vụ Viện Đông y, một chị đã cho cả địa chỉ và số điện thoại con gái anh Liên. Mừng quá vì coi như “sờ” thấy chiến thắng rồi. Tôi gọi ngay, đầu dây bên kia là một giọng phụ nữ. Khi nghe tôi nói chỉ cần đến thăm bố Liên thôi, không Vực Quành vực quèo gì đâu… Chị nói: “Anh ơi! Không cần đến nhà em đâu, vì bố em đang một nơi rất xa…Còn nếu anh muốn liên lạc với bố em thì phải để em hỏi ý kiến bố em đã! Có gì em sẽ nhắn lại cho anh…”

Và chúng tôi đã chờ, đã chờ…đến hôm nay vẫn không một hồi âm…không một hồi âm và không một hồi âm! Anh Liên ơi! Anh ở rất xa là ở mãi đâu? Mà tại sao anh phải đi đến đó? Anh đi thế bỏ vực Quành cho ai? Thật khốn khổ cho anh và khốn nạn cho cuộc đời! Tôi nhắn tin như thế cho một người bạn thân của tôi và của anh, tin nhắn trả lời: “Sự khốn nạn đến thế thì không còn gì để nói!”.

Rằm tháng 7- Nhâm Thìn.
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #35 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2013, 06:59:57 am »



    ĐỒNG ĐỘI

    Lời dẫn: bạn tôi, họa sỹ Lê Trí Dũng, nguyên là lính xe tăng trong chiến tranh chống Mỹ. Hết chiến tranh, anh trở về đời thường với hàng trăm ký họa và ảnh còn khét mùi thuốc súng…Trong khi đồng nghiệp lao vào cuộc bươn trải áo cơm với các đề tài chim, hoa, lá, cá, gái…thì anh vẫn đắm chìm vào tranh lính .Tôi để ý thấy trong hàng chục bức sơn mài, sơn dầu khổ lớn, hàng trăm minh họa của anh thấp thoáng bóng dáng một người lính mảnh khảnh, hiền lành…khi thì cõng đồng đội bị thương, khi thì chơi đàn cho các cháu thiếu nhi…Tò mò, tôi hỏi: Tay này là ai vậy? Anh trả lời: Duyệt đấy mà, để tôi kể ông nghe…

    Chuyện của Dũng:

    Cuối chiến dịch Quảng Trị , trên điều tôi làm phóng viên chiến trường tại tất cả các đơn vị xe tăng trên mặt trận tiền tiêu. Vừa trực tiếp chiến đấu, vừa ký họa, chụp ảnh…Gian khổ thật nhưng lại rất hợp với máu phiêu lãng của tôi. Đầu 1973, sau hiệp định Pa-ri, quân hai bên xen kẽ như da báo. Địch tăng cường lấn chiếm vùng giải phóng… Một chiều, khoảng sau trận đấu tăng ở Cửa Việt. Tiểu đoàn trưởng Ngô Nhỡ bảo tôi: “Trên vừa điện vào, lệnh cho ông mở một lớp học vẽ cho binh chủng để sau này về đơn vị có thể làm bích báo tăng cường sỹ khí quân ta”. Tôi nghĩ, giữa lúc không biết địch nó thọc vào lưng lúc nào đây, sao mà mở lớp? Nhưng quân lệnh như sơn, chỉ biết chấp hành thôi…Anh Nhỡ bảo: “Mỗi đại đội một người, nhưng do đại đội 4 của anh Thận ở A Sầu xa quá không lên được, nên tiểu đoàn bộ ưu tiên hai người…”
    Lớp học có bốn người nhưng vẫn có lớp trưởng hẳn hoi. Đó là Nguyễn Kim Duyệt, trung sỹ, người Hà nội ở 39 Đại La. Dáng mảnh khảnh, rất ít nói, nhưng tỉ mỉ chu đáo như con gái. Đặc biệt rất ham học…Ngoài những bài vẽ cơ bản, anh còn đòi tôi vẽ vào sổ tay của anh bông hoa hồng, đóa hoa sen, Lê Nin, Bác Hồ… để dùng sau này. Đặc biệt Duyệt rất có năng khiếu âm nhạc. Chiều sau buổi học vẽ anh vác đàn chơi cho bọn trẻ con trong xóm nghe. Duyệt bảo: “Hết đánh nhau, em chỉ muốn về học tiếp…ngoại ngữ và ghita là hai thứ em sẽ theo hết đời…không gì hơn…Lớp học luôn bị gián đoạn bởi những trận chống lấn chiếm , thường về đêm. Những khi lâm trận, Duyệt khác hẳn ngày thường, anh xông xáo dữ dội với một sức mạnh lạ thường, như là có một Duyệt khác nhập vào anh. Một đêm, chừng 3 giờ … đang ngủ say. Vì nằm võng đơn không có tấm đắp nên tôi dùng một tấm poncho để chống muỗi… Đang ngủ rất say, tôi bị một cú huých trời giáng, lăn từ trên võng xuống cùng tấm poncho… Bừng mắt vớ vội khẩu AK đã thấy Duyệt nằm bên cái bao cát bắn xối xả đuổi theo cái xe JEP có hai thằng ngụy lái, chúng vào sâu trận địa ta tới 200 m và đang tăng tốc cố vượt qua đoạn bị cát lấp của con hào chống tăng rộng 3 mét. Thằng ngồi sau quạt A R15 trả lại… cái võng tôi nằm thủng lỗ chỗ…Lúc sau , trung đội trưởng quát ầm lên: “Cảnh giới chó gì mà ngủ như chết”…Duyệt chỉ im lặng, lẩm bẩm: “Khổ! Ban ngày đào hầm mệt quá mà”. Những lúc tâm sự, anh kể: Là con thứ 4 trong nhà và giống mẹ nhất nên cũng được bà cưng nhất. Khi anh vào chiến trường bà khóc rất nhiều . Anh an ủi mẹ là anh và đồng đội đã có vỏ thép dày của xe tăng che đạn rồi… Anh đùa với bà là khi “chạy” cũng rất nhanh vì xe tăng có nhiều bánh…Chiến sự xoay vần, lớp học kết thúc. Tôi cũng kịp chụp một kiểu ảnh bốn học viên thân yêu đã sát cánh cùng thầy sống chết có nhau dù trong thời gian ngắn…Duyệt muốn tôi nếu được ra bắc trước, nhớ rửa ảnh và đem đến tận nhà đưa cho mẹ anh và nhớ nói với bà rằng thằng Duyệt rất khỏe…Tôi đã hứa và thực hiện vài tháng sau đó. Chiến tranh vốn có hàng trăm ngả đường, mỗi người lính chúng tôi không bao giờ được chọn. Thầy trò chúng tôi chia tay nhau sau một bữa liên hoan có canh rau tập tàng tự tay Duyệt nấu… Chiến trường cứ thế lùi dần vào phương nam.

    Kết thúc chiến tranh đạn bom. Chúng tôi lại tiếp tục chiến đấu trong một cuộc chiến tranh mới - cuộc chiến với cơm áo thời bao cấp. Chả còn kịp thở để nhìn thấy nhau. Mãi quãng đầu những năm 2000 binh chủng mới tổ chức những cuộc gặp gỡ đồng đội cũ. Sáng 28-4, đang trò chuyện vui vẻ, đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt đứng dậy: “Tôi phải đi.”, Tôi hỏi: “Có gì gấp thế?” Nguyệt bảo: “Hôm nay giỗ Duyệt, đồng đội cũ”. Tôi giật mình: “Duyệt nào? Có phải Duyệt chơi đàn và biết vẽ?”. Đến lượt Nguyệt giật mình: “Sao quê biết Duyệt?”, “Thì tôi dạy vẽ hắn mà…nhà ở Đại La, nhưng hy sinh trong trường hợp nào?”, “Chuyện dài lắm, để tôi kể quê nghe”.

    Sau đây là chuyện kể của Nguyệt:

    Cuối tháng 3 năm 1975, pháo 2 của xe tôi được điều sang xe khác vì thế phải bổ sung pháo 2 mới. Một chiều, một lính đến nhận nhiệm vụ, balô lép kẹp, cây ghita trên vai, dáng mảnh khảnh thư sinh, hai tay mềm như tay con gái, rất ít nói…Đó là Duyệt. Cả xe hơi thất vọng! Ai cũng biết lính xe tăng xốc vác, rất cần sức khỏe, nhất là pháo 2…Đó là vị trí phải bê những quả đạn nặng hơn 30 kg tống vào buồng đạn để bắn với tốc độ ba, bốn phát một phút…, khi cần còn phải đội cửa lên tháp pháo dùng 12 ly 7 bắn máy bay, phải dùng Ak đánh bộ binh, ném lựu đạn…Chưa kể đến các công tác bảo dưỡng xe máy nặng nhọc vô cùng... Năm ngoái, pháo thủ số 2 Đạt nạp đến quả đạn thứ 16 thì ngất xỉu…Nhưng ngay chiều hôm đó, qua công tác bảo dưỡng xe bằng những động tác thuần thục, lanh lẹ, chu đáo… Duyệt đã làm chúng tôi yên tâm. Nhất là đến bữa cơm chiều ngoài những món thường ngày ứ đến tận cổ…Duyệt đã cho chúng tôi bát canh nấu bằng rau tập tàng tranh thủ hái…Những ngày sau, hậu cần của xe được bảo đảm khi Duyệt luôn lo cơm dẻo canh ngọt, nhất là trong xe luôn có nước sôi để uống sữa. Những khi hai đứa tâm sự, Duyệt chỉ ước hết chiến tranh được về học tiếp, ra trường đi làm lấy tiền nuôi mẹ. Ước mơ nhỏ bé xiết bao…

    Chiều ngày 27 tháng 4 năm 1975, đại đội xe tăng đến Long Khánh. Tối hôm đó, trưởng xe Luông đi họp về, tập trung toàn xe lại phổ biến: “Trận đánh này rất lớn, mang tên Chiến dịch Hồ chí Minh, chúng ta chỉ còn cách Sài Gòn chưa đầy 100 km nữa. Đại đội ta có nhiệm vụ thọc sâu, cắm cờ lên nóc Dinh Độc lập…’’. Anh chỉ vào cái bản đồ dã chiến bằng hai bàn tay: “Nhớ qua cầu Sài Gòn, đến ngã tư thứ bẩy rẽ trái là đến Dinh Độc lập, dùng cờ cũ cắm lên xe, lá cờ mới cất đi để dành cắm lên nóc Dinh…”. Chúng tôi hối hả chuẩn bị, để có chỗ cho cơ số đạn thêm vào, tất cả balô đều phải đưa ra ngoài buộc sau tháp pháo. Riêng Duyệt cứ loay hoay cố nhét cái balô của anh vào sát ngách trong cùng tháp pháo. Vì buồng chiến đấu chật chội, anh phải bê từng viên đạn ra, rồi lại xếp từng viên đạn vào. Pháo thủ Thọ vốn nóng tính quát ầm lên: “Lính tráng có cái mẹ gì mà dấu dấu giếm giếm”. Trưởng xe Luông cũng lẩm bẩm: “Thằng này làm cái gì mà loay hoay mãi thế nhỉ?” Trong thâm tâm tôi cũng ngờ vực không hiểu sau mỗi trận đánh, vào thành phố Duyệt lấy được những gì mà không nói với tôi. Trước sự cố đó, Duyệt chỉ im lặng. Rồi mọi chuyện cũng qua đi trong nỗi hồi hộp trước mỗi trận đánh.

    Sáng 28-4-1975,trận đánh mở màn lúc tảng sáng. Đến gần trưa ta đã tiêu diệt được nhiều hỏa điểm của địch. Nhưng địch chống cự quyết liệt vì đây là chốt chặn cuối cùng, cánh cửa cuối cùng vào Sài gòn. Tổn thất của ta cũng khá nặng, nhiều xe đã bắn hết đạn phải lui về tuyến sau củng cố, không khí bỗng dưng im ắng lạ thường. Thấy một bãi đất trũng, trưởng xe Luông lệnh cho tôi lái xuống. Vừa đi được vài mét, thì ầm một tiếng, tôi ngất đi không còn biết gì nữa. Lúc tỉnh lại, thấy Thọ hổn hển: “Xe trúng đạn rồi, Luông và Duyệt bị thương nặng lắm”.Tôi ngẩng lên, trưởng xe Luông gục đầu bên cái đài thông tin, phía dưới, Duyệt nằm bất tỉnh, suốt từ thái dương xuống nửa người mảnh đạn xé tả tơi, đẫm máu. Hai chúng tôi đưa hai người ra khỏi xe đi cấp cứu. Lúc bấy giờ mới biết một quả đạn pháo cỡ lớn khoan trúng lỗ thông gió, phá tung nắp xe, đánh bay khẩu 12 ly 7 nặng gần 1 tạ cùng toàn bộ quân dụng buộc trên xe…Duyệt đã hứng trọn toàn bộ mảnh vỡ của cánh quạt vào người . Lúc bế Duyệt trên tay, anh thì thào, rất tỉnh táo: “Quê ơi, tao đau lắm, chắc không sống được đâu…”. Tôi vẫn động viên Duyệt: “Vài hôm nữa quê khỏi, lại về xe thôi mà”. Nhưng kinh nghiệm chiến trường lại làm tôi lo lo vì sự tỉnh táo của Duyệt…Tôi nhẹ nhàng bón cho Duyệt thìa sữa. Rồi bàn giao cho quân y và nhanh chóng trở về xe thu dọn chuẩn bị đánh tiếp. Lúc dỡ cái balô của Duyệt ra để bàn giao cho quân y, chúng tôi choáng người… Một bộ quần áo cũ, một chiếc võng dù, còn lại toàn bộ là sách học tiếng Anh, từ điển Việt- Anh, Anh-Việt…Chúng tôi vô cùng ân hận vội quay lại quân y để xin lỗi…Trên cáng thương, Duyệt nằm thiêm thiếp như đang ngủ…Không thể làm gì hơn, chúng tôi đành quay về xe, đợi lệnh trên…Sau này được biết Duyệt đã hy sinh chỉ hai giờ sau khi chia tay chúng tôi…

    Tất cả chúng tôi lặng đi , cuối cùng anh Tuân, phụ trách cựu chiến binh nói: “Chúng ta cùng đến thăm Duyệt đi”. Ba chúng tôi đến 39 Đại La. Mẹ Duyệt đón các con. Bà cụ tóc bạc phơ phơ, mảnh mai. Tôi bỗng thấy Duyệt giống mẹ lạ lùng. Nhìn lên bàn thờ, tôi giật mình thảng thốt. Chính giữa là bức ảnh Nguyễn Kim Duyệt đang ngồi trên tháp pháo đo đạc vẽ chiến trường dưới lá cờ giải phóng… Bức ảnh do chính tay tôi chụp năm 1973 nơi chiến trường Cửa Việt hơn 30 năm trước. Chắc chắn không phải chỉ có Mẹ anh mà tất cả chúng tôi những người của một thời hoa lửa mãi mãi không bao giờ quên Anh. Ngày nay, anh đã được an nghỉ tại nghĩa trang anh hùng liệt sỹ Long Thành, Đồng Nai trong tình yêu thương của đồng đội và nhân dân cả nước, và trong cả những tác phẩm hội họa của tôi.

    20-3-2012.

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #36 vào lúc: 23 Tháng Chín, 2013, 08:08:54 am »

Ơi cái Tết 73

Quảng Trị, đầu 1973, sau những trận ác chiến giành giật quyền cắm cờ ở Thành Cổ, sau những đợt rải thảm của B52,chiến trường trở nên im ắng...

Hiệp định Paris vừa ký kết, quân hai bên án binh bất động, gió mùa đông bắc tràn về, cái rét làm người lính nhớ đến khí xuân. Mà xuân về thật, đã qua Ông Công Ông Táo rồi, còn vài ngày nữa là Tết...

Nhưng cái Tết ở chiến trường thật lạ. Không có bánh chưng bánh tét, không có mứt kẹo hương hoa... Đó đây đì đùng súng trận cả hai bên! Đối phương liên tục lấn chiếm vùng giải phóng. Nhìn vào bản đồ dã chiến, chốt đóng quân cả hai bên liên tục thay đổi, miếng da báo loang lổ biến dạng từng ngày, ở từng thôn, hôm nay cắm cờ nửa đỏ nửa xanh có ngôi sao vàng, ngày mai có thể là cờ vàng ba sọc. Người dân địa phương đã quá quen với đạn bom và hy sinh mất mát. Người Quảng Trị dường như sinh ra để “thử lửa”... Nước da đen sậm, ít nói, săn chắc, chịu đựng. Bom Mỹ dội xuống, lính hai bên ào đến rồi ào đi. Họ kiểm lại xem trong nhà còn ai... rồi tiếp tục sống!

Thôn Phó Hội sát ngay biển, không một ngôi nhà nào còn nguyên vẹn. Ngay cạnh những mảng tường vỡ vụn, những cột bê tông gãy lìa, chồi tua tủa, những thanh sắt còng queo là chiến hào nằm kề những ngôi mộ chưa xanh cỏ. Trung đội xe tăng đóng ngay ở đó.

Xa xa, mấy chục xác xe tăng cả hai bên còn đó chưa kịp “dọn”. Dưới gầm mỗi xe tăng là một “ngôi nhà” mà mái nó là gầm xe che chở. Lệnh trên chỉ thị xuống: “Phải tổ chức cho bộ đội ăn Tết tốt nhất trong hoàn cảnh có thể. Bám chốt, sẵn sàng chiến đấu khi địch lấn chiếm. Tuyệt đối không phiền nhiễu đến dân...”.

Cầm tờ điện khẩn trong tay, trung đội trưởng hình dung phút giao thừa cầm chắc anh em sẽ được liên hoan gạo Mỹ với muối trắng, tráng miệng bằng lương khô. Đã một tháng qua hậu cần không tiếp tế gạo và thực phẩm, tất cả đã chuyển vào sâu hơn, vào Tây Nguyên rồi. Vậy giữa miền cát trắng mênh mông này đào đâu ra rau? Họa chăng, trơ lại trên mặt đất chỉ còn những cây phi lao xơ xác, cụt ngọn vì bom pháo.
May tuần trước đánh vào cứ địch lấy được mấy bao gạo Mỹ, thứ gạo chỉ đổ nước lã vào là ăn được, không cần nấu nướng gì, nhưng nhai bã cả miệng, sức khoẻ anh em xuống trông thấy! Nhưng thực sự, sỹ quan và chiến sỹ đều không thể rời xe.

Đêm hôm kia ở chốt Thanh Hội, hai lính thủy quân lục chiến phía đối phương dám lái một cái xe “Zep” phóng sâu vào trận địa ta, dạo một vòng, AK bắn đuổi, không làm gì được! Đấy! Thời buổi này sơ suất một cái là “toi” ngay.

29 Tết, rồi 30 Tết đến rồi, trung đội trưởng đã lệnh cho dán lên vách hầm mỗi xe hai bức tranh cổ động, một bức “Đã ra Quân - là đánh thắng” do họa sỹ Lê Trí Dũng vẽ, bức còn lại, “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân” của họa sỹ Nguyễn Thụ và Huy Oánh. Và lá cây sẽ được tết thành cổng chào ở cửa mỗi hầm xe. Lệnh còn là thêm khẩu phần mỗi xe hai phong lương khô đón giao thừa!

Còn nữa, món ăn tinh thần mỗi xe đã có thêm một cỗ bài Tây lấy được trong M48 của địch từ trận Cửa Việt (thứ bài Tây mà hình vẽ ở Z, Q, K, át toàn hình khỏa thân)... Thôi, đời lính phong sương, trận mạc, sống đến bây giờ là may rồi. Vả lại, địch quân toàn nhè vào ngày lễ ngày Tết mà đánh, nhìn qua con hào chống chiến xa rộng 3 mét. Anh bồi hồi nhớ đến quê nhà với bếp lửa ấm nồng và nồi bánh chưng sùng sục, đến câu đối đỏ rực cùng nhành đào đầu xuân, đến gia đình, người thân... Nhưng “quân lệnh như sơn!” Mệnh lệnh là mệnh lệnh... “Không được phiền nhiễu đến dân!” Đó là câu cuối cùng của tờ điện khẩn!

Xa xa, biển Cửa Việt chìm dần trong sương mù, nước biển đã chuyển dần từ màu xanh sang màu tím... Chờ đợi phút giao thừa thiêng liêng tới.

Nhưng! Như có lần tôi đã viết trong tản văn nào đó. Đời mình rất hay gặp “sự cố bất ngờ”. Thí dụ có lần bị kẹt giữa một quả đồi ba ngày liền giữa dòng lũ, trong ba lô tôi may có 1kg đường và 2 gói tăng lực lấy về cho trung đội. Tôi phải “ăn vã” đường và thuốc tăng lực chờ lũ qua. Hay lần lạc đơn vị bị đói, hai anh em tôi đêm phải nằm trên cây cao tránh hổ. Thế quái nào lại vớ phải trúng cây mít rừng đương bói quả còn xanh, nhưng vẫn... chén tốt.

Còn lần này, tôi vừa vứt cái mũ công tác vào góc hầm, bê cái bi đông xe tăng (to gấp 5 lần cái bi đông thường) tu ừng ực, vừa chuẩn bị lao vào làm một chân đánh bài “tiến lên” thì... “ào” một tiếng như tiếng sấm, xuất hiện ba cô du kích bộ đội địa phương tới... “Chúc mừng năm mới” các anh.

Bạn đừng quên đời lính chúng tôi, những thằng “đực rựa” giáp mặt với tử thần, nay được phái đẹp đến thăm thì “tuyệt quý hoá” như thế nào, lại còn một cành hoa đào các em mamg theo! Không, hoa mai chứ, vì hoa màu trắng làm bằng dù pháo sáng.
Lúc đó, chú Năm lái xe đã kịp gõ một tràng băng đạn vào chiếc xoong quân dụng giòn như pháo đón mừng khách quí. Trung đội trưởng vừa định “lệnh” đem lương khô ra đãi khách thì, huỵch một cái, o Đóa, cô xinh nhất trong bọn lẳng từ sau vai xuống một cái bao tải dứa công sự, dốc ra mấy chục lon giò Mỹ! - Thứ này đêm qua tụi em đánh, lấy được, gởi mừng các anh đón Xuân đó.
...
Tết Quý Sửu 73 chúng tôi đã ăn vã giò Mỹ, mỗi người được hẳn ba lon, ấm áp tình dân Quảng Trị. Thật là một mùa Xuân khó quên, ơi cái Tết 73...

Đón năm Mão 2011
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #37 vào lúc: 24 Tháng Chín, 2013, 08:36:27 am »


CHIẾC XE ĐẠP

        Tôi sinh ra ở Hà nội.
        Chiếc xe đạp đầu tiên trong đời tôi được thấy là chiếc Merce, xe đua của cha tôi (Ông đã tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông dương. Lúc này ông đã bán được tranh, ông nói giá trị chiếc xe bằng hai tạ gạo lúc bấy giờ, và ngoài nghệ thuật, ông còn có hai cái thú là đua xe đạp và quyền Anh). Chiếc xe nhẹ bỗng, tôi thấy ông nhấc lên chỉ bằng một ngón tay. Trông nó như một con ngựa chiến, bánh nhỏ tý, nghe nói không phải bơm, líp ba tầng , lúc quay nghe lách tách như pháo nổ.

           Kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Cả nhà tản cư vào Thanh Hóa. Lần thứ hai trong đời tôi thấy xe đạp. Chiếc xe này khác hẳn xe trước. Bánh to đùng, bằng sáu bánh xe đua của cha, tay lái buộc một gậy tre, giữa khung xe buộc túi quần áo, chỗ đèo hàng phía sau hai bên có hai cái sọt tre thồ lương thực, súng đạn, có một cái càng chống thật to, cũng bằng tre…(nó chính là chiếc xe thồ của dân công vận tải vũ khí lương thực ra mặt trận đánh giặc  Pháp). Nom nó lầm lũi như một con trâu vừa đi cày về.

            Chiếc xe thứ ba tôi thấy là chiếc Điamăng, anh cả tôi du học ở Đức mang về. Tất cả đều thẳng băng như người Đức, ghi đông ngang…thỉnh thoảng tôi mượn được một lúc đèo bạn gái đi chơi. Oách!

   Hà nội ngày đó cũng không nhiều xe đạp lắm đâu. Ngoài những xe cũ thời Pháp để lại còn thì rặt xe Thống nhất…Gớm ngày đó mà được  phân phối (phải xếp hàng rất lâu) một cái xe Thống nhất thì giống như trúng sổ số… cái xe ô tô bây giờ. Đa phần là Phượng hoàng hoặc Vĩnh cửu … Còn nếu nhà nào mua xe Pra ha hay Pơgiô thì coi chừng…không buôn lậu thì cũng nhận viện trợ từ phe địch…Đạp xe mà cả phố nhìn theo, phát ngượng!

Rồi tôi cũng có chiếc xe đạp riêng, nó tên là Molion…tên chữ Nôm là Cởi truồng (Nó do cha tôi bàn giao cho tôi sau khi ông tháo hết máy móc chiếc Môbilét của ông. Biến nó thành một chiếc xe đạp khổng lồ dùng cho riêng mình). Còn cái xe của tôi tên Cởi truồng vì ngoài ghiđông, bộ xích và hai bánh ra , nó không còn gì khác…lúc cần phanh gấp tôi chỉ việc đạp chân vào bánh trước là xong! Ngoài việc thồ hàng tiếp tế lên nơi sơ tán cho gia đình nó còn đưa tôi đi khắp miền đất nước mà chiến công hiển hách nhất là cùng các anh chị trong lớp đạp vào Vĩnh Linh 600 km dưới bom đạn Mỹ để thực tập.

Chiếc xe đạp còn ghi đậm dấu ấn trong lòng người Hà nội trong những buổi sớm tinh sương trong gió mùa Đông Bắc, cô gái trẻ ngồi sau xe, tóc tết đuôi sam ôm chiếc balô trong lòng, cầm lái là chàng trai trẻ trong bộ quân phục mới tinh đèo người yêu đến nơi nhập ngũ. Hoặc những nữ tự vệ đội mũ sao vuông khoác súng trường K44 đeo túi cứu thương đạp xe qua cầu Long Biên trong 12 ngày đêm đối mặt với B52…Giải phóng miền Nam! Ôi ! hàng trăm loại xe đạp xuất hiện, đủ các nhãn mác… Hình ảnh anh bộ đội miền Bắc trở về quê nhà với chiếc khung xe đạp trên vai và con búp bê trong tay làm sao quên được?
Chiếc xe đạp đã gắn bó với tâm hồn người Việt và với riêng tôi như thế đấy! Tưởng như dấu ấn tốt đẹp mãi không bao giờ phai…

   Nhưng…
   Ở đời thường vẫn chết vì chữ nhưng đó…! 30 năm sau…Rồi 40 năm sau!... Xe đạp biến mất. Bây giờ ra đường rặt ô tô và xe máy…Tai nạn giao thông xảy ra như cơm bữa. Mỗi ngày hơn ba mươi người chết, rồi hàng trăm người bị thương vỡ sọ, cụt chân tay, giập lá lách, gãy xương sườn…Chung qui chỉ là coi thường Luật giao thông. Đánh giặc ngoại xâm thì giỏi thế sao học Luật giao thông lại tối dạ thế ? Thấy đèn đỏ cứ đi ào ào. Kệ !…Đèo hàng nặng hàng tạ kồng kềnh hơn một mét sẵn sàng lao vào người khác! Kệ….Nhưng chết nhiều quá cũng hơi chờn…Xe máy, ô tô cũng dần dần vào qui củ mặc dù số người chết vì tai nạn giao thông vẫn đứng hàng đầu thế giới.

   Khủng khiếp nhất vẫn là ÔNG xe đạp. Tôi phải gọi bằng ÔNG là vì ngay bây giờ, ngay lúc này đây, khi mà xe máy, ô tô thấy đèn đỏ đã biết dừng thì xe đạp cứ tự do vận hành vượt đèn đỏ ngay trươc mũi cảnh sát giao thông. Tôi để ý thấy phần nhiều là mấy cô nhà quê đèo thúng hàng rong, mấy bà nạ dòng ngoại tỉnh nhập khẩu theo con đạp xe đi thể dục sáng chiều hay vài ông cán bộ về hưu (chắc cậy mình lão thành cách mạng thì đếch sợ đèn đỏ…). Họ cố ý vi phạm luật giao thông hay thực sự họ tưởng họ đi xe thô sơ nên được phép vượt đèn đỏ? Thôi thì cứ cho là họ không được giáo dục Luật giao thông đầy đủ đi… Nhưng còn các chiến sỹ cảnh sát của chúng ta? Rất nhiều ngã tư (cần chứng mlnh có ngay vì điều này quá phổ biến ). Các bà ngoáy mông vượt đèn đỏ, vài thằng choai con tóc nhuộm vàng  kẹp 3 không đội mũ bảo hiểm ngang nhiên phóng qua mặt các anh…Các anh như nhìn vào không khí…Đoàn xe máy rối loạn vì đang đèn xanh bị bọn này đâm ngang! Mấy người ác khẩu bảo: Cứ đâm chúng nó một phát . Có ra công an mình vẫn phải cơ mà…Nhưng nhìn mặt mấy anh cảnh sát . Chính tôi cũng phải tự nghi ngờ chính mình: CÓ KHI CHÍNH MÌNH PHẢI VỀ HỌC LẠI LUẬT…CÓ KHI LUẬT ĐÃ SỬA ĐỔI, ĐÃ CHO PHÉP XE ĐẠP ĐƯỢC VƯỢT ĐÈN ĐỎ CHĂNG?

   18-9-2012
Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #38 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2013, 07:28:19 am »


NHƯ MỘT ẢO ẢNH


Tháng 7. Sau những trận mưa rớt bão như trút xuống đầu khi tôi đi viếng đồng đội ở nghĩa trang Đường 9, nghĩa trang Trường Sơn, Cổ Thành, ở Cửa Việt, Cửa Tùng, Vĩnh Chấp rồi Vĩnh Thuỷ, La Vang rồi Đông Hà... Nhân có đồng đội cũ, bây giờ là luật sư Lê Văn Hiến, bảo tôi: “Tôi có công việc ở Huế, mời ông đi cùng, trong khi tôi làm việc, ông đi chơi thoải mái...” Rất cần trấn tĩnh lại sau bao xáo trộn với người âm là điều tôi muốn. Ở Huế, biết bao nhiêu là điểm du lịch: chùa Thiên Mụ và hàng trăm ngôi chùa nổi tiếng, lăng Tự Đức cùng hàng chục lăng tẩm lừng danh..., nhưng con trai bảo tôi: “Ta nên đến một ngôi chùa ít ai đến bố ạ. Con biết có một ngôi chùa đẹp, cổ, và ở đó có một đặc điểm là có các ngôi mộ của các quan thái giám đời Nguyễn xa xưa, đó là chùa Từ Hiếu...”. “Mộ các thái giám...” kích thích trí tò mò của tôi.

Phía Tây Nam cố đô Huế, kể từ trung tâm thành phố ta đi năm cây số nữa, qua những đồi thông xanh mướt ven đường, đến một khoảng rừng quanh co, cỏ lau ngút ngàn, sông suối vắt quanh, sơn thuỷ hữu tình, thế như tiên cảnh, ít người lai vãng, rẽ phải xuống dốc vài trăm mét là đến một rừng thông già trăm tuổi, ngọn vút trời mây, gió reo rì rào, vi vút. Thảm lá trải dày dưới chân du khách, thấp thoáng dưới rừng thông là tam quan của một ngôi cổ tự, rêu đá xanh rì, ba chữ “Từ Hiếu Tự” gần như bị bào mòn theo năm tháng, rêu phong mọc dày. Vào chút nữa đã thấy một ao hình bán nguyệt, ta sẽ sửng sốt với những đóa sen đơn cánh to và những con cá thần dài gần một mét bơi lượn. Như một tiền định, tôi không vào chùa ngay, một xui khiến vô thức đưa tôi lạc bước sang phía tả vu. Nơi có một đầm sen mênh mang và thấp thoáng trong nắng sớm là những ngôi mộ cổ với những tháp, xá lị cao thấp vô thường đó chính là khu mộ của các đại tăng qua các đời trụ trì ở chùa. Xa xa, lọt vào một cổng lớn có ba cửa là khu mộ của các viên thái giám với hàng mộ thẳng tắp và khô khan... Khu mộ điêu khắc chạm trổ cầu kỳ với những họa tiết gắn mảnh sứ công phu của bàn tay những nghệ nhân tài giỏi một thời với đề tài long phượng... ta có thể thấy nơi đây, từng đã được trọng vọng, ưu ái và hương khói thường xuyên... nhưng giờ đây, gạch nát hương tàn, nhiều góc tường đã sụp đổ, hoang phế, các bát hương không còn chân hương. Trong lấp loáng bóng nắng rừng thông, trong điêu tàn gạch ngói hoang phế. Tôi, con trai và Thanh (người đưa chúng tôi đi, một sinh viên yêu nghệ thuật) cảm thán trước mấy chục nấm mộ quạnh hiu, không người hương khói. Chúng tôi đặt tiền, châm hương, chẳng biết lời khấn có thấu tới họ không. Họ cũng giống như các thái giám Trung Hoa ta thường thấy trong các phim ảnh, đều phải “tịnh thân” trước khi vào triều (tự thiến hoặc chấp nhận thiến). Nhưng đa phần các thái giám Trung Hoa xảo quyệt, tham lam. Còn xem ảnh các thái giám Việt đời Nguyễn... gầy hóp má, hiền lành, mẫn cán. Được cái danh là phục vụ trong hoàng cung cũng oai (thời nào danh chả hấp dẫn người đời ô trọc, kể cả thời nay).

Trước khi lên chùa, tôi và Thanh rời khu mộ, ra bờ đầm sen ngồi. Sen hồng cánh đơn nở rực, vài đóa sen tàn... Chợt Thanh chạy ra bãi cỏ, lấy cái que gạt gạt... Trong đám cỏ dày, một chú chuột con còn chưa mở mắt giẫy giụa, thân mình nó kiến đã bu đầy. Nó nghịch quá bò ra khỏi ổ, khỏi đàn trong khi mẹ đi kiếm ăn hay là ổ bị ai phá? Thanh vội chạy đi lấy một cánh hoa sen múc đầy nước hồ đổ lên người nó, kiến chạy tan hết. Tôi và Thanh khẽ khàng dùng lá sen đưa nó đến một chỗ an toàn, chả biết sau này số phận nó ra sao? Mẹ có về kịp để cứu nó không? Hay nó sẽ chết thảm dưới nanh vuốt của bầy kiến? Kiến thì đông mà nham hiểm, dai dẳng tới cùng, nó thì ngờ nghệch đáng thương... Tại sao tôi lại gặp cảnh này ở Từ Hiếu Tự?

Chùa Từ Hiếu có một lai lịch rất đáng nể, năm 1843 có một nhà sư tới khai sơn, đó là nhà sư Thích Nhất Định. Ông là người rất hiếu thảo, tương truyền khi mẹ ông mệt nặng, rất khó qua khỏi, có người khuyên nên tìm thịt, cá bồi dưỡng cho mẹ. Vượt qua những lời đàm tiếu, ông đã lặn lội gần chục cây số để mua cá về chăm mẹ... Lòng hiếu thảo của ông đã động đến tai vua Tự Đức. Tự Đức cũng là một vị vua hiếu thảo với mẹ, nhà vua đã ban cho “Sắc tứ Từ Hiếu Tự” và góp tiền xây dựng chùa. Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa có câu: Từ là đức lớn của Phật, nếu không có Từ thì lấy gì để tiếp độ tứ sinh, cứu giúp vạn loại. Hiếu là đầu hạnh của Phật, nếu không có Hiếu lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ trời đất.

Sau này, chùa được các vua Tự Đức, Thành Thái, các quan đương triều, các tăng ni Phật tử mười phương, đặc biệt là các quan thái giám cúng dường, tu bổ... Từ Hiếu ngày nay còn được gọi là Từ Hiếu Đình Tổ hay là Đệ nhất Cổ Tự xứ Huế này. Dù vậy, sự hoang phế điêu tàn của nó cũng chứng tỏ nó ít được chăm sóc, quan tâm. Nhưng tôi thấy cũng là may, nó mà được “quan tâm” để biến thành một ngôi nhà xanh xanh, đỏ đỏ thì thật là bất hạnh cho chúng sinh... Tôi bước lên ba lần tam cấp và châm hương, lòng tâm niệm một điều ẩn ức suốt bấy lâu nay. Giữa nơi Phật đài thanh khiết, thiện ác vô thường này, chỗ đứng của công lý và lương tri có tồn tại không? Cách không xa, một người đàn bà, vâng, một nhà sư nữ, cà sa nâu, trạc ngũ tuần đang đi lại qua các ban thờ, miệng nói, tay chỉ cho các sư thầy bày đặt đồ lễ chuẩn bị tụng kinh. Vừa nhìn thấy tôi trong bộ đồ lính trận, bà đon đả đi tới: “A di đà phật, ngày lành, chẳng hay tín chủ từ đâu tới thăm chùa này?”. Tôi thảng thốt nhìn lên, như bị điểm huyệt. Một người đàn bà, một nhà sư mặt đẹp như ngọc, dáng tầm thước, da trắng, địa các đầy đặn, làn môi thắm hơi dày, cặp lông mày cong hơi nhạt dưới vầng trán cao, sống mũi hơi lõm, gần đó ở gò má bên trái ẩn hiện một nốt chàm xinh nhỏ, nhạt nhòa... Tôi lúng túng, choáng váng thì đúng hơn: “Dạ... tôi từ Hà Nội tới”... Lẽ ra, khi đó tôi có thể trò chuyện với bà, hỏi phật danh của bà, hỏi lai lịch của chùa. Nhưng như tôi đã nói, vẻ đẹp của bà, dáng đi mạnh mẽ, chỉ huy, giọng nói vang đầy quyền uy của bà, ánh mắt, vâng, nhất là ánh mắt mà qua đó tôi có thể thấy đầy thiện tâm, như truyền dẫn và chỉ một thoáng thôi chúng tôi như người xưa gặp lại, thoáng ấy qua đi, một giọng thanh và mạnh vang lên: “A di đà phật, vậy cầu cho tín chủ may mắn, luôn gặp tốt lành, gia đình đoàn thể bình yên...”. Rồi một câu nói như không nói với tôi: “Đích đã đến không sầu/ Giải thoát ngoài tất cả/ Đoạn trừ mọi buộc ràng/ Vị ấy không nhiệt não”.
Rồi lại những câu vọng trong thinh không: “Tì kheo tát thuyền này/ Thuyền không, nhẹ đi mau/ Trừ tham, diệt sân hận/ Tất chứng, đạt Niết bàn... Còn duyên sẽ gặp lại/ Duy nhất và mãi mãi...

Tôi nhắm nghiền mắt, quanh tôi tiếng mõ đã nổi lên, vài tiếng xì xào ở đám du khách ngoại quốc quanh đó. Lòng tập trung cao độ vào câu “cú” bà vừa nói: Thế nào là “vị ấy không nhiệt não”... Tại sao lại: “Duy nhất và mãi mãi”?... Phải chăng bà là hiện thân của... đến với tôi? Tôi choàng mở mắt, những nén hương tôi thắp đang bùng cháy. Ba sư thầy đang tụng kinh cho buổi hành lễ. Ngoài sân, gần chục sư bà đang chuẩn bị đi đâu đó... Áo nâu lẫn áo lam, có bà trong đó không? Bà đã biến đi như một ảo ảnh.
Lễ Vu Lan sắp đến rồi, liệu sang năm con trai còn rủ bố đi Từ Hiếu Tự nữa không? Vu Lan là lễ báo hiếu cha mẹ, con chuột con chưa mở mắt của tôi trong tầu lá sen liệu có qua nổi đàn kiến dữ dằn không? Sự non nớt, ngờ nghệch không có lỗi nhưng đôi khi lại trở thành một tội ác. Gián tiếp tiếp tay cho cái ác hoành hành. Nhân quả là chủ thuyết của nhà Phật. Nhưng đó là khẳng định hay ước mơ? Khẳng định chắc không phải vì thân tôi tự thấy Cái Ác đến tàn độc ngang nhiên hoành hành, cười diễu vào mặt cái Thiện, vậy lý do còn lại là ước mơ…là ước mơ thì xa vời quá, nhục nhã quá. Phật giáo cũng phân tích thấu đáo ấy là bởi vì cái Ngu còn tồn tại…Phật giáo đánh giá cái Ngu và cái Ác ngang nhau chứ không phải cái Ngu nhẹ tội hơn…nhất là cái Ác lại đội lốt cái Thiện và cái Ngu đội lốt cái minh triết… Xa xa những xá lị nhấp nhô rêu phong phủ kín, xa nữa thấp thoáng những mộ phần thái giám. Chúng ngăn nắp và khô lạnh chứa đựng bao bí ẩn chốn hậu cung cõi thế...
Có lẽ, tôi phải quay lại Từ Hiếu Tự lần nữa... nhiều lần nữa.


Vu Lan - Lập Thu - Nhâm Thìn - Mưa

Logged
lixeta
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1531


« Trả lời #39 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2013, 07:19:10 am »


BÀI HỌC LÒNG NGƯỜI

TRỐNG RỖNG 1

Lúc 8 tuổi, đại lý sách gia đình nhập một loạt sách truyện Dân gian các nước của Nhà xuất bản Kim Đồng [loại quanh bìa sách có tia  sáng bao quanh]. Có một truyện tôi không nhớ của nước nào… Nói về lòng người! Đại để câu chuyện thế này: “Ở xứ nọ có 10 ông lão chơi thân với nhau. Ngày nọ, mười ông hứng khởi bàn nhau tụ họp uống rượu vui chung…Vào một ngày đẹp trời, các cụ hẹn nhau tập trung ở nhà ông lão có bộ râu dài nhất. Mỗi cụ đem theo một bình rượu và cùng đổ chung vào một cái bình lớn, sau đó ông lão có bộ râu dài nhất sẽ múc ra 10 cái cốc cho 10 cụ cùng thưởng thức…Khi đến chỗ tụ họp, ông lão râu quai nón đem theo một bình nước lã, bụng nghĩ: “Bình nước lã của ta nếu đổ lẫn với 9 bình kia thì sẽ chả ai phát hiện ra được…” Rủi thay, ông lão râu ba chòm cũng nghĩ và làm như thế. Ông lão có ria mép, ông lão  râu thưa, ông lão râu vểnh, ông lão râu hùm, ông lão râu quặp, ông lão râu ghi đông… và cả đến ông lão chủ nhà râu dài tới rốn cũng nghĩ và làm như thế…Lúc múc rượu ra uống, cả 10 ông đều …uống nước lã nhưng cả 10 ông đều nắc nỏm khen rượu ngon… Ngày ấy, đọc đến đó tự nhiên cảm giác trống rỗng ùa vào lòng. Như là sụp đổ một cái gì!

TRỐNG RỖNG 2

Tôi còn nhớ, truyện này tôi đọc hôm trước khi lên đường nhập ngũ. Truyện kể về một cuộc báo thù! Vì hơi dài nên tôi xin phép độc giả tóm tắt đại để như sau: Ở một làng vô cùng hẻo lánh nọ xứ Phù tang có một lớp học. Cả làng có duy nhất một thầy giáo vì y là người duy nhất biết chữ giữa những người nông dân chất phác. Y có một cái tật là rất hay say rượu. Khi say, y hay đánh học trò…Những người nông dân bực tức nhưng không biết làm gì chỉ vì  không có y thì  không có ai dạy chữ cho con cái họ. Một ngày nọ, trong cơn say mất trí, y lấy cái liềm đánh vào cổ một bé gái, không may cứa đứt động mạch chủ làm em bé tử vong…Tỉnh rượu, y vọt khỏi cửa chạy trốn! Cha em bé, sau khi chôn cất con gái, lẳng lặng gói  túi quần áo, cất cái liềm đẫm máu vào bọc và lên đường đi tìm kẻ thù. Cuộc truy tìm tên giết người cực kỳ gian nan vì cứ mỗi lần ông sắp tóm được hắn, hắn lại biến đi như có ma báo nguy hiểm cho hắn…Nhiều năm trôi đi… cả hai người đều đã già. Cuộc săn đuổi đã dẫn họ trôi đến hòn đảo lớn thứ 4 của đất nước… Họ đã cùng phải âm thầm chịu đau khổ như nhau, cùng phải quần quật làm thuê để kiếm sống, cùng phải ra sức đánh hơi nhau… một để báo thù và một để chạy trốn…
   Cuối cùng, cả hai dạt đến một hòn đảo, hòn đảo hẻo lánh nhất trong quần đảo nhỏ nhất của quốc đảo bé nhất. Người cha đã như sờ tay vào kẻ thù…mặc dù y đã khôn ngoan như một con cáo, tìm đến ở nhờ trong một túp lều rách nát của một bà lão mù ăn mày, chỉ đến đêm mới mò ra bến cảng bốc vác thuê  kiếm tiền sinh nhai, ban ngày ngủ vùi âm thầm lẩn trốn. Người cha tìm đến tận nơi, tận túp lều của bà lão ăn mày, rút cái liềm ra và sờ vào cái ổ nằm của tên giết người như vẫn còn hơi ấm…Bà lão chậm rãi nói với ông rằng: Hăn vừa mới chết ngày hôm qua do cảm lạnh, vì tứ cố vô thân nên chính quyền sở tại đã… “Thủy táng” hắn!
   Trống rỗng!

TRỐNG RỖNG 3

Bạn tôi, một họa sỹ cựu chiến binh. Con gái anh cũng theo nghiệp cha, cháu sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Nghị lực, trong sáng và hoài bão lớn lao…Được giữ lại trường giảng dạy với cháu như là một phần thưởng nâng đỡ cháu phấn đấu! Năm ấy, ông trưởng phòng bảo cháu: “Phòng ta có 7 người, trên muốn có điển hình tiên tiến và chọn phòng ta lấy một chiến sỹ thi đua. Phải trẻ. Tôi già rồi, đã có tham khảo mọi ngưỡi thấy chọn cô là hơn cả vì nhiệt tình công tác, vì năng lực chuyên môn, nhưng nguyên tắc là phải bỏ phiếu kín ta nên làm cho đủ thủ tục báo cáo… Sau hôm bỏ phiếu kín, cháu thút thít kể với tôi trước mặt cha mình: “Cháu không nghĩ là cuộc đời lại như thế… Vì tự trọng, cháu không bỏ cho mình rồi, ông trưởng phòng chắc ủng hộ cho cháu vì thành tích chung của phòng và số phiếu thật không ngờ, đó là 1 trên 7 trước cuộc họp mọi người vẫn ôm hôn thắm thiết và ca ngợi cháu mà… Cháu không thể ở lại cái tập thể này được. Trống rỗng, đáng sợ quá!

TRỐNG RỖNG 4.


Thế rồi cháu tôi cạy cục chuyển được sang một Viện nghệ thuật. Bên đó có sẵn cô bạn thân đã là đảng viên, găp nhau, tay bắt mặt mừng… “Cậu yên tâm, với tài năng và ý chí như cậu, có tớ bên cạnh sớm muộn cậu cũng được đứng trong tổ chức, vào rồi thì mới tiến được…Thế rồi, tháng này qua tháng khác, năm nọ kế năm kia… Cô chả thấy chi bộ đả động gì cả mặc dù giấy chuyển sinh hoạt đối tượng từ đơn vị cũ đã nộp đầy đủ cho cô bạn thân… và thỉnh thoảng cô bạn cũng có đưa đẩy: kỳ này đang xét… hoặc… đợt tới trên làm khắt khe lắm… Cho đến một hôm. Bí thư chi bộ tình cờ gặp cô và hỏi thẳng: “Sao cháu phấn đấu tôt như thế mà không thiết tha gì vào Đảng à?”. Cô choáng người, không nói lên lời. Hóa ra, vì nếu giúp cô vào Đảng thì cô bạn thân thiết yêu quí sẽ gánh thêm một vật cản trên bước đường thăng tiến của mình… Cô cháu gái mất hết niềm tin vào cuộc sống… Ngay sau đó, lại tìm cách “di trú” một lần nữa, lần này vào tuốt thành phố Hồ Chí Minh… Chả biết rồi cháu tôi còn phải di trú bao nhiêu lần nữa trong cuộc đời này? Tôi thì thấy trống rỗng hoàn toàn…Nhưng hay nhất là sau khi nghe tôi kể lại chuyện này thì Trà, một học sinh của tôi, một thanh niên mạnh mẽ, cười sảng khoái và khỏe  khoắn nói rằng:  Lẽ ra chị ấy chả việc gì phải đi đâu cả, dưới cái Gầm Trời này thì ở đâu cũng thế thôi, khác nhau chỉ dưới hình thức này, khác mà thôi… Em thì em sẽ trụ lại, đánh đến cùng... Chả lẽ mình chân chính ngay thẳng lại sợ đứa tiểu nhân à?

TRỐNG RỖNG 5

Trên đây, tôi đã điểm qua một vài trống rỗng của bài học lòng người… Nhưng ở đời lại có nhiều cái trống rỗng rất…hay! Tháng tám, mùa thu, tôi đang cày cục minh họa mướt mồ hôi thì máy di động tút tút, báo hiệu một tin nhắn…Đó là tin của Nguyễn thế Tường cựu binh thiết giáp, bạn thân tôi từ  Đồng hới nhắn ra [xin phép Tường đăng nguyên văn]: “Nắng vàng như mật ong trải dài trong buổi sáng đầu thu, gió biển hiu hiu thổi…nằm dài trên phản. ĐẦU ÓC TRỐNG RỖNG. Mẹ kiếp! Khoái thật!”
   
TRỐNG RỖNG 6

Chả biết viết gì nữa! Dường như có một chiếc thuyền nan nhỏ nhẹ, xinh xắn bay qua mặt Người. Trong thuyền rỗng không, trèo lên, bay đi là hết!

   Mùa thu - Nhâm Thìn.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM