SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #100 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:45:37 pm » |
|
Chương hai mươi hai TÁC ĐỘNG KINH TẾ CỦA CHIẾN TRANH ĐỐI VỚI MỸ Về mặt quân sự và chính trị, Việt Nam và trước hết Đông Nam Á, tạo thành một thử thách trọng yếu đối với Mỹ với tư cách là một cường quốc đế quốc đang tìm cách áp đặt bằng quân sự bá quyền địa lý chính trị và kinh tế của mình lên các phát triển chính trị, kinh tế và xã hội chính trên khắp Thế giới thứ ba. Tuy nhiên, vào năm 1965, cơ sở kinh tế cho chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á đã tạo ra chính những mâu thuẫn tai họa của nó và những mâu thuẫn đó tỏ ra là quyết định trong việc gây ra thất bại, khi mà về mặt quân sự, Mỹ dường như còn khả năng đạt được thắng lợi. Cuộc leo thang của Mỹ ở Việt Nam đến vào lúc gay go không những trong việc Mỹ xác định chiến lược quân sự và chính trị toàn cầu mà còn trong nền kinh tế trong nước và quốc tế tạo ra một căng thẳng cơ bản cho chính quyền Giôn-xơn ngay từ khi bắt đầu sự can thiệp. Sự can thiệp của Mỹ vào bốn cuộc chiến tranh trước từ năm 1898 đã bắt đầu vào lúc mà nền kinh tế đang trong một cuộc suy thoái hoặc vừa mới thoát ra từ một thời kỳ công suất sản xuất rất thấp; cùng với việc đạt những mục tiêu quân sự và chính trị của đất nước, các cuộc chiến tranh đó đã tạo ra sự phồn vinh cao hơn và gây ra ít, hoặc không có những thách thức cơ cấu cho nền kinh tế. Thời điểm như vậy củng cố đà tiến đằng sau vai trò toàn cầu của Mỹ, làm cho mô hình của chủ nghĩa đế quốc Mỹ được khẳng định với sự chống đối chính trị ở mức tối thiểu từ các phe phái quan trọng trong tầng lớp kinh tế lớp trên và trong xã hội. Hầu hết những người này đều có lợi trong cuộc chiến tranh. Cuộc can thiệp ào ạt năm 1965 bắt đầu vào lúc có giai đoạn phát triển dài nhất trong nền kinh tế sau chiến tranh của Mỹ. Bắt đầu từ năm 1961, nghĩa là khá lâu trước khi được các chi tiêu ở Đông Nam Á thúc đẩy, giai đoạn phát triển đó kéo dài cho đến năm 1969. Trong bối cảnh như vậy tăng ngân sách quân sự chỉ tăng thêm lạm phát. Trái lại với việc tạo ra thỉnh vượng, nó chỉ làm hại cho thịnh vượng. Về mặt quốc tế, Mỹ rất dễ bị tổn thương. Mỹ tìm cách đóng vai trò ổn định cơ cấu kinh tế thế giới được hướng vào việc phục vụ cho sức mạnh đồng đô-la, trong khi, một mặt nó xuất khẩu vốn đầu tư và hàng hóa và mặt khác thì lại chịu những tổn thất và chi tiêu rất tốn kém về mặt chính trị và quân sự có tác hại lớn cho vai trò kinh tế của nó trên thế giới. Vào cuối những năm 1950, đồng đô-la vẫn còn là đơn vị cơ sở của mậu dịch quốc tế. Đô-la và vàng làm cơ sở cho phần lớn các đồng tiền của thế giới tư bản, ngay khi các nền kinh tế nước ngoài phát triển vượt bậc và bắt đấu chiếm tỷ lệ lớn hơn về mậu dịch quốc tế và sản xuất công nghiệp thế giới. Vị trí đồng đô-la còn có thể ổn định chừng nào nền kinh tế Mỹ còn được quản lý một cách khôn khéo và điều đó đòi hỏi rất nhiều việc phải làm, từ tránh lạm phát và thâm hụt ngân sách cho đến phải có một cán cân thanh toán thuận lợi. Với một ý nghĩa nhất định, chính sự thành công của Mỹ trong việc nhất thể hóa nền kinh tế thế giới sau chiến tranh quanh hệ thống Brét-tơn Út và đồng đô-la, đã đưa lại cho các nước tư bản chính khác một vai trò tiềm tàng trong việc kiểm soát và thúc ép những hậu quả kinh tế của chính sách quân sự và chính trị của Oa-sinh-tơn. Bởi vì, một mức độ kiểm soát toàn bộ chính sách của Mỹ trên thế giới, đã được mặc nhiên chuyển cho họ. Đó là điều mà chính quyền Mỹ chưa nhận thức ra khi đi vào leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Nó gây ra sự chia rẽ tế nhị trong các giới cấp cao của chủ nghĩa tư bản Mỹ, giữa những người biết rõ những đòi hỏi cấp thiết của vai trò đồng đô-la trên thế giới và ảnh hưởng của nó đối với chính sách quân sự và chính trị và những người không biết hoặc không quan tâm đến các vấn đề đó. Ngay từ năm 1959 Giô- dép M.Đốt-giơ, nhà ngân hàng, một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất về chính trị và kinh tế sau chiến tranh, đã kết luận rằng chỉ còn là vấn đề thời gian thôi trước khi sự ổn định của đồng đô-la bị giảm sút nghiêm trọng: "Câu hỏi thực sự là: bao lâu nữa?...". Các đồng tiền nước ngoài khác đang trở nên mạnh hơn và chuyển đổi được và sau năm 1957 các nước tư bản chính bắt đầu bớt tín nhiệm đối với đồng đô-la và đòi đổi lấy vàng. Với dự trữ vàng gần 23 tỷ đô la năm 1957, chỉ còn 16 tỷ cuối năm 1962. Vào đầu những năm 1960, sự kiểm soát tiềm tàng của thế giới tư bản phương Tây đối với những hậu quả kinh tế của các chính sách kinh tế và quân sự của Mỹ cho thấy một sự thay đổi quan trọng trong cán cân lực lượng thế giới. Sự giảm sút về tỷ trọng của Mỹ trong thương mại thế giới, từ 48 phần trăm năm 1948 xuống 25 phần trăm năm 1964 và 10 phần trăm năm 1969 đã làm cho bá quyền của đồng đô- la trở thành một điều thất thường do điều kiện thời chiến để lại. Chiếm ưu thế ngay từ lúc ban đầu bởi vì Chiến tranh thế giới thứ hai đã vừa tàn phá các đối thủ tư bản của Mỹ, vừa để cho Mỹ quyền tự do chỉnh đốn hệ thống tài chính thế giới, nhưng đến đầu những năm 1960, Mỹ khó mà có thể tiến hành một cuộc chiến tranh dù chỉ có thể làm đảo lộn tình thế một phần. Ngay dù cho những người quyết định leo thang không biết những thực tế đó, họ không thể tránh khỏi những hậu quả cuối cùng của hành động họ. Gioóc-giơ Bon, người thuộc phái "bồ câu" duy nhất trong bọn họ, cũng là người duy nhất lo lắng về những hậu quả kinh tế quốc tế của chiến tranh.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #101 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:46:25 pm » |
|
PHÍ TỔN CỦA CHIẾN TRANH VÀ THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA NỀN KINH TẾ TRONG NƯỚC Việc Mỹ không thừa nhận những giới hạn của sức mạnh kinh tế của mình và mối quan hệ của sức mạnh đó với chính sách quân sự và ngoại giao của Mỹ, chắc chắn không những chỉ xảy ra trong giữa những năm 1960 mà ngày nay vẫn còn là một vấn đề cơ bản gây rắc rối cho chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Một quốc gia còn khó thừa nhận những yếu kém của mình hơn là một cá nhân bởi vì các quốc gia thường có những lợi ích mâu thuẫn nhau và có đầy đủ biện pháp để chần chừ. Năm 1965, Mỹ rơi vào một tình trạng kinh tế rắc rối, phức tạp đi đến một thế bế tắc và chỉ với một thắng lợi nhanh chóng mới khỏi bị biến thành một cuộc đấu tranh quân sự và chính trị kéo dài mà tổn phí kinh tế quá lớn sẽ làm tăng nhanh thất bại của Mỹ. Dù cho Mỹ tiến hành cố gắng chiến tranh của mình như thế nào đi chăng nữa, chiến lược quân sự của họ trong chiến tranh hạn chế vào giữa những năm 1960 chắc chắn là rất tốn kém. Gần một nửa chi tiêu chiến tranh là dành cho hoạt động không quân, đó là chưa kể tốn kém to lớn cho hỏa lực cao... Mỹ đã dùng phương pháp tốn kém nhất khi Mác Na-ma-ra đưa ra cho các tướng một séc trắng tháng 3 năm 1965. Vào đầu năm 1968, khoảng 700.000 tấn vật liệu xây dựng được tích trừ ở Nam Việt Nam trong đó "tất cả đúng là hư hỏng tại chỗ", như một tướng phụ trách công nhận lúc đó. Tấm séc trắng bao gồm vô số chi tiêu khác mà Lầu Năm Góc bày ra cho chiến tranh Việt Nam để xin thêm tiền Quốc hội. Mác Na-ma-ra tìm đủ mọi cách để che giấu chi tiêu của chiến tranh cho nên cuối cùng không thể kiểm soát được chúng. Cho đến ngày nay con số chi tiêu chính xác vẫn còn là một bí ẩn, trừ một điểm, đó là chiến tranh quá tốn kém cho điều kiện trong nước cũng như quốc tế của nền kinh tế Mỹ. Oa-sinh-tơn tìm mọi lý lẽ chính trị để lừa dối Quốc hội và công chúng về những chi tiêu thực sự và, do đó mà họ tự dối mình vì không còn làm chủ được đồng tiền làm cho chương trình kinh tế của chính quyền bị thất bại. Đơn đặt hàng quân sự và các hợp đồng tăng gấp đôi giữa năm 1965 và 1967 và chi tiêu chiến tranh chính thức ghi trong ngân sách đã tăng từ 5,8 tỷ đô-la năm tài chính 1966 lên 20,1 tỷ năm sau và 26,5 tỷ năm 1968. Tình hình chi tiêu bừa bãi này gây nguy hại cho chương trình xã hội vĩ đại trong nước của Tổng thống. Thế nhưng cuối năm 1965, Giôn-xơn làm ngơ trước lời nhắc nhở của Hội đồng cố vấn kinh tế rằng chi tiêu chiến tranh đòi hỏi phải tăng thuế nếu không muốn có thâm hụt ngân sách lớn. Chính vì lý do chính trị mà Tổng thống muốn hoãn tăng thuế cho đến sau cuộc bầu cử tháng 11 năm 1966. Nhưng từ năm 1967 cho đến giữa năm 1968, chính quyền Mỹ không thể vận động được Quốc hội thông qua một đạo luật tăng thuế cho nên chương trình xã hội vĩ đại bị thiệt hại nghiêm trọng, còn thắng lợi ở Việt Nam thì xa vời hơn bao giờ hết và nền kinh tế thì đi vào giai đoạn phức tạp nhất của lịch sử Mỹ kể từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai. Trước tiên là thâm hụt ngân sách: 3,8 tỷ đô-la trong năm tài chính 1966, 8,7 tỷ năm sau và con số 25,2 tỷ rất kỳ lạ năm 1968, lớn hơn nhiều so với bất kỳ năm nào từ sau 1945 và chiếm 3 phần trăm toàn bộ tổng sản phẩm quốc dân. Từ năm 1965 trở đi công suất sử dụng của công nghiệp chế tạo đạt điểm cao nhất trong thời kỳ sau chiến tranh, sản lượng công nghiệp tăng lên đến điểm giới hạn, tăng 23 phần trăm giữa năm 1964 và 1967. Tỷ lệ chi tiêu của Lầu Năm Góc so với chỉ tiêu của chính phủ đã tăng rất mạnh, tất cả là vì Việt Nam. Kết quả không tránh khỏi là lạm phát. Do có thời gian dài đầy đủ công ăn việc làm và sản xuất cao, bắt đầu từ năm 1961, không thể tránh khỏi rằng lãi suất cao hơn mà chính phủ phải trả để bù cho thâm hụt ngân sách và cho nền kinh tế quá căng thẳng, xô đẩy giá cả lên. Đỉnh cao của tăng giá là 6,1 phần trăm năm 1969 và tình hình này mở đầu cho sức ép lạm phát đánh vào nền kinh tế Mỹ kể từ đó. Chỉ 1,3 phần trăm trong thời kỳ 1960-1965, sự tăng giá đó trung bình là 4,5 phần trăm trong 5 năm tiếp theo. Và vì lạm phát và vì nhu cầu lớn về lao động, phụ nữ đổ vào lực lượng lao động. Nhu cầu về hàng tiêu dùng cũng tăng lên. Hiệu quả của công nghiệp chế tạo giảm mạnh sau năm 1965, tăng năng suất tính theo giờ lao động là thấp nhất so với các nước tư bản lớn. Mặc dù giá của một đơn vị lao động tăng lên, nhưng thu nhập thực tế của công nhân tăng cho đến năm 1969 và rồi, lần đầu tiên trong lịch sử sau chiến tranh, bắt đầu dao động mạnh để cuối cùng giảm xuống một cách chưa từng có trong thế kỷ này. Chỉ sự đa dạng của các vấn đề cơ cấu kinh tế của Mỹ vào năm 1968 đã làm cho mọi người lo sợ. Và nguyên nhân là rõ ràng cho tất cả mọi người còn có thể phân tích vấn đề A-lan Xprao, nguyên chủ tịch hùng mạnh của Ngân hàng dự trữ liên bang ở Niu Yoóc tâm sự với một người bạn tháng 2 năm 1968: "Sự dính líu của chúng ta vào lục địa châu Á... là trung tâm của các khó khăn chính trị, xã hội và kinh tế trong nước và trên quốc tế của chúng ta" (xem Lawrence S.Ritter. ed. Selected papers of Allan Sproul, Niu Yoóc, 1980, tr. 20).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #102 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:47:03 pm » |
|
NHỮNG HẬU QUẢ KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA CHIẾN TRANH Tác động chính trị và kinh tế của chiến tranh đối với nền kinh tế trong nước có thể hòa hoãn được bởi vì chính quyền thao túng tin tức và bởi vì Quốc hội còn tiếp tục ủng hộ những mục tiêu chiến tranh, nhưng đối với nền kinh tế thế giới thì không thể có hoàn cảnh như vậy được. Đồng đô la, tuy yếu hơn về mặt cơ cấu vẫn còn là một cơ sở được đánh giá quá cao cho mậu dịch và tài chính thế giới. Sự đánh giá quá cao đó đã đẩy nhanh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Mỹ khi mà các công ty nhiều nước của Mỹ mua những bộ phận to lớn phương tiện sản xuất của châu Âu. Từ 33 tỷ đô-la năm 1960, đầu tư trực tiếp của Mỹ tăng 22 tỷ đô la trong 6 năm tiếp theo và lên đến con số 78 tỷ đô-la năm 1970. Đồng thời hàng xuất của Mỹ được định giá quá cao và hàng nhập định giá quá thấp đã tăng gấp đôi từ năm 1960 đến năm 1969, xóa sạch cán cân thương mại dư thừa sau chiến tranh và tạo ra một vấn đề cán cân thanh toán nghiêm trọng. Trong khi quy mô của thâm hụt đó là một vấn đề kỹ thuật phức tạp, tác động của nó đối với chính trị lại không phải đơn giản như vậy. Từ 1968 đến 1972 đã xảy ra một thâm hụt dài nhất và lớn nhất sau chiến tranh. Thâm hụt cán cân thanh toán tăng từ 3,3 tỷ đô-la năm 1964 lên 9,4 tỷ năm 1968, con số lớn hơn nhiều con số mà Oa-sinh-tơn báo cáo. Dù cho con số là như thế nào, số lượng đô-la nằm trong tay nước ngoài tăng lên rất mạnh làm cho lợi ích các nước châu Âu càng gắn liền với sự ổn định của đồng đô-la. Vào mùa thu năm 1966, Đơ-glat Đi-lon, Đa-vít Rô-cơ-phe-lơ và những cố vấn hàng đầu của cộng đồng ngân hàng về các vấn đề tiền tệ thế giới đều thấy rõ vai trò của chiến tranh gây ra tối thiều là ba phần tư những thâm hụt quân sự ở ngoài nước. Họ không nghi ngờ gì về sự bào chữa chính trị cho cuộc chiến tranh nhưng họ đòi chiến tranh không được làm đảo lộn thêm nữa các vấn đề cán cân thanh toán của đất nước. Vấn đề là không có cách nào vừa tiến hành chiến tranh vừa không để xảy ra những hậu quả kinh tế. Tuy họ có thể tiếp xúc với phần đông các cơ quan quan trọng của chính quyền, nhưng những nhà ngân hàng đó chỉ tập trung thuyết phục Bộ ngân khố xem xét nghiêm chỉnh vấn đề tài chính bên cạnh những nhân tố chính trị và quân sự Mặc dù các nhà ngân hàng châu Âu để cho Oa-sinh-tơn có thì giờ trong năm 1966 để chấn chỉnh công việc của mình, nhưng vào giữa năm 1967 thì họ hoàn toàn thấy rõ rằng lạm phát và thâm hụt đã gây tác hại như thế nào cho giá trị số đô-la nằm trong tay họ. Nhưng bởi vì họ cũng vậy cũng có lợi ích trong việc bảo vệ đồng đô-la chừng nào nó còn có thể là một đồng tiền trung gian tốt hơn cho mậu dịch và tài chính, nên từ năm 1965 họ đã hợp tác với hội vàng của tám nước và với các sắp xếp tập thể khác để bảo vệ mối quan hệ giữa giá vàng và giá trị đồng đô-la. Việc Oa-sinh-tơn không cứu chữa được căn bệnh của mình làm cho tương lai của hội vàng và của vàng rất khó khăn, khi Pháp rút khỏi tổ chức đó tháng 7 năm 1967. Vấn đề cơ bản vào lúc này là tuy đồng đô-la đã bị yếu đi nhưng vẫn còn được vàng chính thức bảo đảm và có thể bị các ngân hàng trung ương đòi chuyển đổi bằng vàng. Trong khi đó thì các thâm hụt làm cho đô-la chạy ra ngoài nước Mỹ vì lạm phát làm giảm nghiêm trọng sức mua của nó và rõ ràng là toàn bộ hệ thống tài chính thế giới lấy đồng đô-la làm cơ sở, ngày càng dễ bị ảnh hưởng của một cuộc săn vàng. Ngày 17 tháng 11 năm 1967, Anh giảm giá đồng bảng Anh sau nhiều tháng gặp khó khăn và kéo toàn bộ chính quyền Mỹ vào một vấn đề phức tạp rất ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ. Sự phá giá của Anh gây ra một cuộc săn vàng của hội và vào giữa tháng 12, 1,5 tỷ đô-la vàng đã được rút ra, 60 phần trăm của số này là rút từ dự trữ vàng của Mỹ, làm cho nó giảm thêm 1,2 tỷ đô-la nữa năm 1967. Dự trữ vàng hầu như bị vét rỗng cho những mục tiêu của hội vàng mà thành viên rất quan tâm đến sự xấu đi nghiêm trọng của cán cân thanh toán Mỹ trong quý 4 của năm 1967. Vào giữa tháng 12 sáu đồng minh của hội vàng sẵn sàng giải tán hội và giao cho Mỹ tự giải quyết lấy khó khăn của mình, Nhà Trắng buộc phải công khai đương đầu với vấn đề kinh tế nóng bỏng của cuộc chiến tranh Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #103 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:48:08 pm » |
|
chương hai mươi ba CÁN CÂN LỰC LƯỢNG TRONG CHIẾN TRANH VÀO CUỐI NĂM 1967 Kết quả cuộc chiến tranh phụ thuộc vào những nhân tố thấy rõ và không thấy rõ, và khả năng của mỗi bên đánh giá kẻ thù của mình càng chính xác bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu và khả năng đi sát thực tế để thấy rõ được chỗ mạnh, chỗ yếu của mình, có thể ảnh hưởng một cách quyết định đến kết thúc chiến tranh. Chiến tranh Việt Nam không khác gì bất kỳ cuộc chiến tranh nào khác bởi vì những hậu quả xã hội, kinh tế và con người cũng càng ngày càng trở nên quan trọng hơn với thời gian. Trong chừng mực Đảng Cộng sản hiểu rõ mối quan hệ giữa hành động của mình với cán cân quân sự quy ước cũng như với vô số những nhân tố khác đang quyết định kết quả cuộc chiến tranh, Đảng cũng biết được phải hành động như thế nào để thành công. CÁCH MẠNG VÀ SO SÁNH LỰC LƯỢNG Năm 1967, đã ngày càng rõ ràng rằng khả năng của Cách mạng thích nghi với mỗi một bước leo thang của Mỹ đã gây ra một bế tắc quân sự. Cách mạng luôn luôn hiểu rõ rằng hoạt động quân sự luôn luôn phụ thuộc vào đấu tranh chính trị và Cách mạng luôn luôn đánh giá một cách toàn bộ những vấn đề mà mình phải đương đầu. Với cách như vậy Cách mạng đã đủ khả năng bù lại cho sự còn thấp kém về vật chất của mình bằng việc phát huy cao độ những khả năng con người cho đến năm 1967. Vào lúc này rõ ràng là chiến tranh tạo ra những thách thức mới đòi hỏi phải có những điều chỉnh quan trọng. Mặc nhiên, các nhà lãnh đạo Đảng đánh giá so sánh lực lượng đang thay đổi của chiến tranh, những chỗ yếu và chỗ mạnh của chính mình cũng như của Mỹ và của Việt Nam cộng hòa và Đảng biến những phân tích của mình thành những chính sách và hành động nhằm duy trì quyền chủ động chính trị, quân sự, chiến lược của Cách mạng. Sự biến đổi cơ cấu dân cư và thành công tương đối của chương trình bình định Mỹ - Việt Nam cộng hòa là những khó khăn lớn nhất của Cách mạng. Việc đẩy dân vào đô thị đã làm yếu nhiều cơ cấu nông thôn của Đảng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng, tuy Đảng đã có những hành động thích nghi thắng lợi. Đảng xem đây là một vấn đề quan trọng và một số các nhà lãnh đạo cho rằng điều quyết định là phải chấm dứt việc làm xói mòn nông thôn đó và khôi phục sự kiểm soát nông thôn cho Cách mạng. Cũng cần phải gạt bỏ thái độ "chờ thời" của một số nông dân. Đồng thời với việc làm xói mòn nông thôn, việc di dân cũng gây ra những thách thức lớn ở đô thị cho Cách mạng. Thông thường mà nói thì đa số quần chúng nghèo thành thị phải thân Mặt trận, nhưng trên thực tế thì có phần rắc rối hơn. Trái lại, chính những sinh viên, trí thức, một số thành phần tiểu tư sản lại dễ tiếp thu chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng hơn hoặc sẵn sàng đi với Mặt trận vì sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình. Nhưng mặt khác vấn đề đô thị cũng bộc lộ một chỗ yếu cơ bản của cố gắng Mỹ. Nếu có nhiều người trong vùng đô thị vì lý do này hoặc lý do khác đã không đi với Mặt trận Dân tộc Giải phóng, thì họ cũng không ủng hộ Việt Nam cộng hòa, vì Việt Nam cộng hòa không tranh thủ được sự trung thành chính trị của nhân dân. Đảng thấy rõ sự thiếu cơ sở xã hội đó của Việt Nam cộng hòa nên từ 1966 trở đi Đảng tập trung vào việc tiêu diệt Việt Nam cộng hòa cùng với bộ máy quân sự và cai trị của nó, với sự tính toán rằng việc gạt bỏ Việt Nam cộng hòa sẽ gạt bỏ luôn lý do tồn tại của Mỹ ở Nam Việt Nam và buộc họ phải thừa nhận họ không có cơ sở thể chế để hòng kiểm soát tương lai của miền Nam. Như vậy là chiến lược của cả Cách mạng lẫn Mỹ đều tập trung chú ý vào số phận của kẻ thay thế cho Mỹ chủ yếu được dựng lên ở đô thị. Ngay dù cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng không huy động được các đô thị trong cuộc tổng khởi nghĩa thì ít ra Mặt trận cũng không để yên cho bá quyền của Việt Nam cộng hòa ở đô thị. Đảng luôn luôn thấy rằng Đảng đã nắm được quyền chủ động chiến lược trong các giai đoạn quân sự của cuộc chiến tranh bởi vì Đảng vừa quan hệ chặt chẽ với du kích và các lực lượng địa phương, vừa có khả năng đánh theo cách riêng của mình ở nơi và lúc do Đảng chủ động lựa chọn. Những sự kiện sau năm 1965 càng làm cho Đảng tin tưởng vào khả năng của mình. Những thắng lợi quân sự của Đảng đến năm 1967 đã bắt đầu vượt quá những mặt lợi chính trị do các thắng lợi đó đưa lại một phần vì Đảng có thể phân tán chủ lực và một phần vì Đảng đã áp dụng chiến lược và chiến thuật nhằm lợi dụng những chỗ yếu trong việc sử dụng kỹ thuật cao của Mỹ. Sau khi đã nắm được phải đánh Mỹ như thế nào để giành thắng lợi và phải tổ chức Việt Nam dân chủ cộng hòa như thế nào để thành một hậu phương lớn cho chiến tranh ở miền Nam, các nhà lãnh đạo Đảng sẵn sàng nắm những thời cơ thuận lợi. Trong khi sẵn sàng về mặt lý thuyết cũng như về mặt thực tiễn tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài nếu cần, Đảng cũng cam kết giành "thắng lợi trong một thời gian tương đối ngắn nếu được”. Mặc dù các nhà lãnh đạo Mỹ nghĩ rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa là yếu và càng ngày càng yếu, nhưng trên thực tế Đảng tự thấy sung sức hơn bao giờ hết để tiến hành một hành động quân sự lớn vào lúc thích hợp. Đảng lập luận rằng tiến hành một hành động như vậy "không phải bản thân nó là phiêu lưu" bởi vì dù có thất bại sức mạnh vật chất của Đảng ở cả hai miền cũng được phát triển. Vì vậy đến tháng 1 năm 1967, Đảng đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc tiến công Tết năm sau.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #104 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2008, 11:49:09 pm » |
|
MỸ VÀ CÁN CÂN LỰC LƯỢNG. ĐẦU NĂM 1968 Vào cuối năm 1967, cố gắng chiến tranh của chính quyền Giônxơn không còn đưa lại bất kỳ kết quả có ý nghĩa nào nữa, nhưng lại gây ra những khó khăn ngày càng nghiêm trọng. Đứng hàng đầu là vấn đề Việt Nam cộng hòa, phải chăng vì nó là không còn đảo ngược được. Mỹ đã can thiệp, một phần là để tạo ra một cơ cấu thay thế cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng, nhưng đến năm 1967 thì ý đồ này cũng thất bại. Trừ một vài cá nhân, các quan chức cấp cao ở Oa-sinh-tơn, suốt những năm 1967 và 1968 tỏ ra bi quan về chương trình bình định rất then chốt để duy trì sự kiểm soát nông thôn. Đó chủ yếu là do sự yếu kém vốn có của quân đội Việt Nam cộng hòa mà chính quyền Mỹ cũng thừa nhận. Mặc dù thái độ lạc quan công khai của mình, cuối năm 1967 Tổng thống mong muốn hơn bao giờ hết rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam cộng hòa "ngày càng phải chịu trách nhiệm hơn về tương lai của mình bằng bất cứ biện pháp nào có thể có”. Bởi vì nếu không làm được như vậy thì số lớn người Mỹ phải ở lại vô thời hạn hoặc là phải tìm một giải pháp khác. Thế tiến lui đều khó của Mỹ, về cơ bản, là Việt Nam cộng hòa không thể trở thành một cơ cấu thay thế được cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và vai trò lãnh dạo của họ phản ánh cuộc khủng hoảng xã hội Việt Nam trong thế kỷ này và cho thấy không có một cơ sở vững chắc cho giai cấp thống trị địa phương. Hoàn toàn phụ thuộc vào tiền bạc và quân đội Mỹ, bây giờ Việt Nam cộng hòa chỉ còn một giải pháp duy nhất là tiếp tục sống bằng viện trợ và sự có mặt của Mỹ. Quân đội của họ là một bộ máy chính trị dựa vào sự tham nhũng được thể chế hóa ở cấp cao, và bị đói ăn, mất tinh thần ở dưới đáy. Hệ thống quân sự và bộ máy hành chính nhà nước là đồng nghĩa với nhau. Mọi người trong chính quyền Mỹ đều biết rõ thực tế này. Về mặt quân sự, Mỹ đang đi vào một thế bế tắc trong chiến tranh. Ngay từ đầu, chiến lược tìm diệt của Mỹ đầy rẫy mâu thuẫn nghiêm trọng và đòi hỏi phải có những khu căn cứ rộng lớn và một hệ thống hậu cần và kỹ thuật khổng lồ. Bị sa lầy trong chiến lược đóng quân tại chỗ để giữ đất và trong những chi tiêu to lớn, các tướng Mỹ không giành được thế chủ động và không lợi dụng được ưu thế hỏa lực lấn át của mình. Tuy họ có thể thực hiện những chiến thuật thành công, nhưng không thể phát triển được một chiến lược đưa lại thắng lợi. Như vậy họ không kiểm soát được cả thì giờ lẫn chi tiêu, một sự kiểm soát trở thành thực chất của chiến tranh. Các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ không hề bao giờ nhận thức được những thực tế chính trị và kinh tế đó ở trong nước cũng như ở Việt Nam đừng nói gì đến phạm vi toàn cầu là nơi mà họ ngày càng ít quan tâm đến những lợi ích khác của họ. Học thuyết chiến tranh hạn chế của Mỹ vào năm 1967 bị núi rừng bao la của Việt Nam chặn đứng lại và tại đây chủ lực của Cách mạng kéo số lượng lớn lính Mỹ vào trò chơi đuổi bắt. Đồng thời việc ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa và đường mòn Hồ Chí Minh một cách ào ạt và không bao giờ dứt nói lên rằng tác động của chiến tranh không quân cuối cùng cũng mong manh như chiến thuật cơ động cao trong việc xác định kết quả của chiến tranh hạn chế. Không những không giải quyết được thế tiến lui đều khó của chiến lược chiến tranh hạn chế, một trong những nhân tố đẩy Mỹ can thiệp vào Việt Nam ngay từ đầu chiến tranh Việt Nam đã ngày càng phơi bày những thất bại của Mỹ. Nhận thức của chính quyền Mỹ đối với tính chất và tình trạng kẻ thù của họ cũng không được rõ ràng, một phần vì thông tin quá đồ sộ và quá mâu thuẫn cho nên cả người lạc quan lẫn kẻ bi quan đều có thể tìm được tư liệu họ muốn. Không dựa vào thực tế và không biết đến thực tế là điều luôn luôn xảy ra ngay từ đầu khi Oa-sinh-tơn vạch chính sách về Việt Nam, nhưng đến năm 1967 thì cách làm đó càng gây ra nhiều tác hại hơn nữa. Trong khi một số xem Cách mạng chỉ là một hệ thống tổ chức có thể thay thế bằng một hệ thống khác, thì những chuyên gia chính thức khác nhận định rằng Cách mạng sâu gốc bền rễ trong nhân dân vì nhiều lý do xã hội trọng yếu. Người ta thường tranh cãi vế tác động của việc ném bom cũng như về khả năng quân đội Cách mạng có thể đương đầu với những thách thức của Mỹ bằng cách tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài. Vấn đề thừa nhận thực tế, vào năm 1967 đã trở thành một vấn đề lớn của chính sách đối ngoại Mỹ, bởi vì thực tế bây giờ không phải chỉ bao gồm những giới hạn về quyền lực trong nước và trên quốc tế của Mỹ, mà còn bao gồm cả chính sự tồn tại của chế độ Mỹ. Trong khi đó thì các nhà lãnh đạo Mỹ hoặc là không dám nhìn thẳng vào điều đang xảy ra hoặc không chịu rút ra những kết luận rõ ràng và đối phó với điều xảy ra đó. Vì thế cuộc chiến tranh ngày càng trở nên siêu hiện thực và tàn phá. Phải có một cố gắng vượt bậc mới phá được bức tường tư tưởng ngăn cách quan niệm tự do và chính sách của Mỹ với thực tế.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #105 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:30:27 pm » |
|
PHẦN BỐN CUỘC TIẾN CÔNG TẾT VÀ CÁC SỰ KIỆN NĂM 1968
Chương hai mươi bốn CUỘC TIẾN CÔNG TẾT Cuộc tiến công Tết 1968 là sự kiện quan trọng nhất và phức tạp nhất của chiến tranh Việt Nam. Những phản chiếu của nó cho thấy cơ cấu phong phú của các lực lượng đang quyết định kết quả của chiến tranh trong kinh nghiệm lịch sử hiện đại. Các chiều cạnh chính trị, quân sự và tâm lý của nó rất to lớn và rộng rãi cho nên bất kỳ giải thích đơn giản nào sẽ không nói lên được tính chất thật sự quan trọng hơn nhiều của tình trạng chiến tranh giữa chủ nghĩa đế quốc và các phong trào cách mạng trong lịch sử hiện đại. Khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng giêng năm 1967 quyết định tiến hành cuộc tiến công Tết 1968, Ban Chấp hành đã chuẩn bị vừa một "thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn” vừa một cuộc chiến tranh tiếp tục kéo dài hoặc, xấu nhất, một cuộc leo thang của Mỹ. Ban Chấp hành hy vọng rút ngắn cuộc chiến tranh và cho rằng dù sao đi nữa nó cũng không quá kéo dài. Quan tâm chính của Ban Chấp hành là tác động của hành động quân sự đối với nội dung chính trị của chiến tranh, cả ở Nam Việt Nam lẫn ở Mỹ. Quang cảnh chính trị đó, theo đánh giá đúng đắn của các nhà lãnh đạo Đảng, tỏ ra thiết yếu và một cuộc tiến công sẽ là một chất xúc tác rất quan trọng trong quá trình thay đổi. Nó sẽ kéo Mỹ ra khỏi tình trạng tự mãn quá đáng. Đảng xem đó là chìa khóa cho tương lai của toàn bộ cuộc xung đột, bởi vì nếu không có sự cam kết không hạn chế của Mỹ thì Đảng có thể hy vọng giành được thắng lợi trong một tương lai không xa lắm. Từ giữa năm 1967 trở đi, Đảng tiếp xúc với các trí thức khác nhau trong các đô thị lớn và những người lưu vong ở Pa-ri và bắt đầu thương lượng về một mặt trận chính trị đoàn kết rộng rãi. Một số kiểu liên hiệp đã được ghi vào chương trình như là một mặt của cố gắng Tết. Ít nhất Đảng cũng cố đưa cho được những phần tử tượng trưng quan trọng vào một lực lượng chống đối do Đảng lãnh đạo và vai trò của lực lượng này sẽ là vô giá trong một giải pháp chính trị ngoại giao trong tương lai. Tuy nhiên, nói một cách rộng ra, mục tiêu chủ yếu cuộc tiến công là nhằm ảnh hưởng đến Mỹ. Tuy Bộ Chính trị xem cuộc tiến công quân sự và tổng khởi nghĩa kết hợp đưa đến thắng lợi cuối cùng là có thể có, nhưng ý kiến chủ động tháng 12 năm 1967 là kẻ thù có thể tiếp tục cuộc chiến tranh, tuy trên một vị trí quân sự, chính trị và tâm lý ít thuận lợi hơn một cách quyết định. Đảng tin rằng có thể nhanh chóng bù lại những thương vong của mình. Những điều kiện khách quan của một thắng lợi cuối cùng sẽ có thể không xuất hiện trong một chiến dịch ngắn ba tháng, nhưng một cố gắng lớn hơn chắc chắn sẽ tạo ra những điều kiện như vậy. Đập tan những ảo tưởng của Mỹ vào lúc này lại càng rất thiết yếu vì cuộc khủng hoảng của đồng đô-la mà báo chí của Đảng đã phân tích rất chi tiết suốt tháng giêng năm 1968. Đảng cũng công khai đánh giá những hạn chế của chiến lược quân sự Mỹ, sự mập mờ về học thuyết của nó và sự căng mỏng lực lượng của Mỹ. Trên thực tế, Đảng cảm thấy rằng bây giờ Đảng hiểu kẻ thù của mình tốt hơn là họ tự hiểu lấy họ và Đảng có thể tạo ra hoàn cảnh buộc họ phải chịu những hạn chế về sức mạnh và về tình cảnh của họ. Trong nửa sau của năm 1967, Đảng bắt đầu phổ biến cuộc tiến công cho những sĩ quan cấp cao ở chiến trường. Việc tăng mạnh công tác chuẩn bị hậu cần trong suốt năm 1967 cho số đông thấy rằng một chiến dịch quy mô tương đối lớn đã được đặt kế hoạch cho tương lai gần. Vì mục đích tinh thần, cuộc tổng tiến công và khởi nghĩa được mô tả là có tính chất quyết định làm cho so sánh lực lượng chuyển biến có lợi cho thắng lợi cuối cùng của Cách mạng. Để làm cho Tết trở thành điểm ngoặt của chiến tranh và là điều kiện tiên quyết thiết yếu cho thắng lợi hoàn toàn cuối cùng, những người sắp bước vào chiến đấu được kêu gọi hy sinh tối đa và làm tất cả để tạo ra thắng lợi càng lớn càng tốt. Chỉ có hành động và cam kết mới thay đổi được lịch sử và chính với nhận thức đó về thắng lợi mà mọi người được yêu cầu hành động với tất cả lòng tự tin.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #106 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:31:29 pm » |
|
NGƯỜI MỸ CHUẨN BỊ CHO MỘT CUỘC TIẾN CÔNG Tết là một hoạt động rất rộng lớn và rất quan trọng nên mặc dù cẩn thận che giấu các kế hoạch chính xác của mình, Cách mạng không sao tránh được sự đánh giá chung của công chúng đối với những điều kiện và những suy tính về cố gắng sắp xảy ra đó. Bất cứ ai theo dõi những gì được công bố, và Oa-sinh-tơn đã bỏ ra rất nhiều tiền của để làm việc đó, đều có thể nói rằng một cố gắng đặc biệt sắp xảy ra. Vào tháng 9 năm 1967, Ban Chấp hành Trung ương đưa ra những mệnh lệnh cho tất cả các bộ phận lớn ở miền Nam và tình báo Mỹ bắt đầu thu nhặt những tin tức về một cuộc tiến công sắp đến. Đầu tháng mười hai, tất cả mọi người của Oa-sinh-tơn chính thức, hoàn toàn biết về một "cuộc tiến công tổng lực" sắp xảy ra. Nó sẽ là điểm ngoặt của chiến tranh và bao gồm cả những cuộc tiến công vào nhiều khu vực đô thị. Phạm vi của cố gắng này được mô tả trong một thông cáo báo chí mà phái đoàn Mỹ ở Sài Gòn công bố ngày 5 tháng giêng năm 1968, tiên đoán sẽ có một cuộc tiến công vào Sài Gòn nhưng không nói đến ngày giờ xảy ra. Giới quân sự Mỹ cho rằng cuộc tiến công sẽ có ba giai đoạn: một là, quân Mỹ bị nhử ra khỏi các vùng đông dân để vào vùng núi và biên giới; tiếp theo là những cuộc tiến công trên khắp đất nước tìm cách giành lại sự kiểm soát từ tay các bộ phận của quân đội Việt Nam cộng hòa đã được để lại để giữ các vùng đông dân; và cuối cùng, cả hai giai đoạn đó sẽ được tiếp theo bằng một cuộc chiến đấu trên bộ lớn ở một tỉnh phía bắc vì ý đồ của những người cộng sản là muốn chiếm một hoặc hai tỉnh. CIA cũng vậy, bị ảnh hưởng vì lập luận nói trên, tiên đoán một cuộc tiến công vào Huế, PLây Cu và có lẽ Sài Gòn, nhưng không thể nói ngày giờ chính xác. Trong suốt tháng giêng, Oét-mo-len và các sĩ quan của mình thu thập những tin tức không thể bác bỏ được về một cuộc tiến công sắp đến, chỉ khác nhau về thời gian xảy ra, và họ đã chuyển số lớn quân đội vào vùng Sài Gòn và rút khỏi các biên giới. Trong khi đó thì hai bên tập trung lực lượng to lớn quanh căn cứ Khe Sanh xa xôi, gần vĩ tuyến 17, giữ quân của Mỹ và của Quân đội nhân dân Việt Nam trong một cuộc chiến đấu ác liệt nhất của chiến tranh. Tổ chức một cuộc bao vây Khe Sanh từ 21 tháng 1 đến đầu tháng 4. Quân đội nhân dân Việt Nam coi đó là một hành động đánh lạc hướng nhằm kéo các lực lượng Mỹ cùng với lực lượng không quân yểm trợ của họ vào một vùng hẻo lánh. Vai trò này đã được thảo luận rộng rãi giữa các nhà phân tích quân sự phương Tây. Tuy nhiên Oét-mo-len khao khát một cuộc chiến đấu cổ điển và bất chấp sự suy xét tốt hơn của nhiều sĩ quan Mỹ, đã tìm cách kéo 20.000 Quân đội nhân dân vào đối đầu với 6.000 quân của mình và sử dụng 100.000 tấn đạn dược chống lại họ. Nhưng sự kiện ở Khe Sanh cũng làm cho Oét-mo-len tin rằng một cuộc tiến công sẽ được thực hiện ở các tỉnh phía bắc. Vào cuối tháng 2, với một nửa các tiểu đoàn cơ động tập trung vào vùng chiến thuật, Oét-mo-len đã rơi vào một chiếc bẫy rõ rệt. Trong khi chính quyền Mỹ chờ đợi một cuộc tiến công, thì cuộc tiến công lại đến như một bất ngờ. Tuy hoàn toàn biết rõ cuộc tiến công sắp xảy ra, nhưng về sau Tổng thống buồn rầu tổng hợp sự ngạc nhiên của ông ta như sau: "Nó (cuộc tiến công) ào ạt hơn là chúng ta tưởng... chúng ta không ngờ họ tiến công nhiều (thành phố) như họ đã làm... chúng ta không tin rằng họ có khả năng tiến hành mức phối hợp như họ đã chứng tỏ... nó (lực lượng tiến công) đông hơn là chúng ta dự tính" (xem Lin-đơn B.Giôn-xơn, The Vantage, Point, Niu Yoóc 1971, tr.384). Lạ lùng thay, sự lựa chọn Tết làm cho mọi người bất ngờ. Những tác giả Tài liệu Lầu Năm Góc đã viết không lâu sau sự kiện rằng "Cuộc tiến công Tết của kẻ thù, tuy đã được đoán trước; đã chộp bộ chỉ huy Mỹ và công chúng Mỹ trong sự bất ngờ, và sức mạnh, thời gian và cường độ của nó làm cho sự bất ngờ càng kéo dài thêm" (xem Tài liệu Lầu Năm Góc, Thượng nghị sĩ Gravel xuất bản tập IV, tr.539). Bây giờ người Mỹ tiết lộ rằng họ đã không hiểu chiến lược và khả năng của kẻ thù cũng như không hiểu cả chính mình. Tết đã đưa Oa-sinh-tơn đến thực tế rằng Mỹ không nắm được một cách cơ bản tính chất cuộc chiến tranh mà họ đã cam kết nửa triệu quân nhân. Sai sót này lại càng đáng ngạc nhiên hơn bởi vì vào cuối năm 1967, khí mà bằng chứng của một cuộc tiến công sắp xảy ra không còn có thể bác bỏ được nữa, thì phần lớn các cơ quan ở Oa-sinh-tơn xem xét lại sự phát triển và triển vọng của chiến tranh và đều cho rằng chiến tranh là bế tắc. Bấy giờ Mác Na-ma-ra tin rằng chiến tranh có thể kéo dài vô hạn định và CIA thì lập luận rằng Cách mạng có thể kéo dài chiến tranh quá năm 1968. Bộ tham mưu liên quân thì kết luận rằng nếu không được phép leo thang mạnh, "tiến bộ sẽ tiếp tục là chậm" và không thấy được sự kết thúc chiến tranh trong tương lai gần. Nhưng Tổng thống thì gạt bỏ leo thang. Cuối tháng 11 Oét-mo-len trở về Oa-sinh-tơn và đọc một diễn văn được quảng cáo rộng rãi, ca tụng tiến bộ giành được trong chiến tranh, nhưng khi các nhà báo đa nghi ép ông ta tiên đoán lúc nào các lực lượng Mỹ có thể rút thì ông ta chỉ nói một cách không thỏa đáng rằng có thể rút tượng trưng vào cuối năm 1969, tùy theo tốc độ nhận trách nhiệm của quân đội Việt Nam cộng hòa. Một tâm trạng đần độn rõ rệt, nếu không nói là bi quan, bao trùm lên một thủ đô mệt mỏi.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #107 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:32:23 pm » |
|
CUỘC TIẾN CÔNG BẮT ĐẦU Bức tường giữa những nhận thức của Mỹ và thực tế đã sụp đổ ngày 31 tháng 1 khi những đơn vị đặc công và những lực lượng địa phương bắt đầu một cuộc tiến công chủ yếu là đồng loạt vào tất cả các đô thị lớn, 36 trên 44 tỉnh lỵ và 64 trên 242 huyện lỵ. Với việc đột nhập vào Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, sự phô trương sức mạnh của Cách mạng làm kinh ngạc và đau đớn một Oa-sinh-tơn và một nước Mỹ đang còn ngờ vực. Phi-líp Ha-bíp của Bộ Ngoại giao báo cáo: "Kẻ thù đánh mạnh và vô cùng chú ý đến tổ chức, kho tàng và việc giữ bí mật". Mặc dù các lực lượng Cách mạng đã tiến công trong các vùng chiến thuật I và II hai mươi bốn giờ trước cuộc tiến công ở miền Nam, và mặc dù các đơn vị Mỹ đã được báo động tối đa và tất cả các giấy nghỉ phép của quân đội Việt Nam cộng hòa đã được hủy bỏ, nhưng sự bất ngờ là phổ biến bởi vì không ai tưởng tượng được quy mô của cuộc tiến công, và quan trọng hơn, như CIA kết luận, Mỹ "đã hạ thấp hình ảnh của kẻ thù trong chúng tôi". Số lượng binh sĩ mà Oét-mo-len ước tính vào khoảng 67.000 đến 84.000, tức chỉ khoảng một phần tư số quân sẵn có của Cộng sản, bây giờ đang khống chế toàn bộ khu vực đô thị của đất nước. Quan trọng hơn, với số lượng to lớn những nhà báo và những nhà quay phim vô tuyến truyền hình của mình, Sài Gòn là chiến trường được toàn thế giới theo dõi. Hầu như hỏa lực không chút bị giới hạn của Mỹ và của quân dội Việt Nam cộng hòa đã được sử dụng trong cuộc chiến đấu giành lại sự kiểm soát vật chất của các đô thị chống lại một số tương đối nhỏ những người tiến công. Kế hoạch của Cách mạng, trừ Huế ra, là nhằm tiến công các đô thị với các lực lượng địa phương và đặc công cho đến khoảng năm ngày trong khi quân đội chính quy đợi sẵn gần đó. Nếu có khởi nghĩa của nhân dân hoặc một cuộc sụp đổ hoàn toàn của quân đội Việt Nam cộng hòa, thì chủ lực sẽ vào thành phố và chiến đấu sẽ có phạm vi rộng lớn hơn. Tuy nhiên tại khu vực Sài Gòn, việc triển khai lại vào phút cuối cùng của quân đội Mỹ quanh thành phố đã làm cho Cách mạng không triển khai được phần lớn chủ lực đóng trong khu vực. Khởi nghĩa không xảy ra, ngay dù cho phần đông quân đội Việt Nam cộng hòa vẫn đi nghỉ hoặc đào ngũ. Quyết định trước mắt của Cách mạng là hạn chế tổn thất và đánh giá kết quả của đợt tiến công đầu tiên. Những thắng lợi của những số nhỏ chiến sĩ như vậy mà chủ yếu là thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng và một số thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam chắc chắn là một trong những bài học cay đắng nhất trong chiến đấu của Mỹ. Chỉ một nghìn nhân viên vũ trang trong Sài Gòn, với sự giúp đỡ của các đơn vị chính trị địa phương đã chặn được trong ba tuần trên mười một nghìn quân Mỹ và Việt Nam cộng hòa và cảnh sát. Ở Huế một nghìn Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy đã chiếm thành phố Huế mặc dù có tin tình báo chính xác báo trước một tuần về cuộc tiến công, và đã giữ Thành cho đến ngày 24 tháng 2, trong khi hỏa lực Mỹ biến 80 phần trăm thành phố thành gạch vụn. Trọng pháo và máy bay đã san bằng một nửa Mỹ Tho, một thành phố 80.000 dân, và tỉnh lỵ Bến tre với 140.000 dân, đã bị phá hủy với lời bào chữa, như một đại tá Mỹ đã nói trong một tuyên bố được trích dẫn nhiều nhất trong chiến tranh: "Chúng tôi phải tàn phá thành phố để cứu nó". Trong tháng 2, cuộc tiến công của Cách mạng khi lên, khi xuống trong suốt miền Nam, nhưng sau tuần đầu thì chuyển nhiều hơn sang dùng súng cối và tiến công nhỏ, và sau ngày 21 thì, chiến đấu đã giảm trên phần lớn các địa phương.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #108 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:33:08 pm » |
|
Quanh Khe Sanh, bị bao vây từ 21 tháng 1, Cách mạng khởi xướng một cuộc chiến đấu quy ước trên bộ lớn nhằm hút hỏa lực và chú ý của Mỹ. Trong một tháng tròn, các đợt sóng của chiến tranh đụng đến mọi góc bể chân trời của đất nước, đi vào cuộc sống của mọi con người và tạo ra khoảng một triệu những người di tản tạm thời.
Trong tình hình chiến đấu ác liệt và sử dụng không hạn chế hỏa lực, không có gì có hơi hướng một cuộc khởi nghĩa đô thị. Tuyệt đại đa số những người đô thị kinh hãi tỏ ra thụ động đối với cả Mặt trận Dân tộc Giải phóng lẫn Việt Nam cộng hòa. Đảng đã biết trước những khó khăn và không phải không lo đến những chỗ yếu của mình ở các đô thị. Đảng cũng biết có khả năng Mỹ và Việt Nam cộng hòa tiếp tục duy trì sự kiểm soát các dinh lũy cai trị và quân sự then chốt của đô thị, nhưng Đảng cũng thấy trước rằng những người của Đảng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng vào được các đô thị sẽ có khả năng động viên quần chúng nhiều hơn trước. Trên thực tế, cố gắng của cán bộ trong chiến đấu cũng làm cho một số cơ sở đô thị bị bắt và bị giết và lãnh đạo Đảng do dự trong việc đưa thêm lực lượng vào nếu không thật là cần thiết.
Đến ngày 10 tháng hai, CIA đánh giá rằng những người cộng sản đã đạt được những mục tiêu quân sự, chính trị và tâm lý lớn của họ, kiểm soát được những vùng nông thôn mới rộng lớn, đập tan hệ thống chính trị, kinh tế và quân sự của Việt Nam cộng hòa và ít ra là liên hệ được với khu vực đô thị một cách trực tiếp hơn và có tác dụng hơn.
Cuộc tiến công của Cách mạng đã thành công với một mức độ trọng yếu trong tất cả các mục tiêu lớn ban đầu của mình, trừ cuộc khởi nghĩa đô thị. Cuộc khởi nghĩa đô thị không thành công không phải chỉ vì hỏa lực điên cuồng nhắm vào bất cứ ai chống Mỹ và Việt Nam cộng hòa, mà còn vì những điều kiện tiên quyết chính trị chưa xuất hiện và vì những người có cảm tình với Cách mạng, tuy rất nhiều, nhưng chưa dám hy sinh. Nếu một số đông những người đô thị tham gia cuộc chiến đấu thì Việt Nam cộng hòa có thể bị lật đổ hoàn toàn, nhưng đồng thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng cũng mất phần lớn các cơ sở vốn đã mong manh của mình.
Tuy sự động viên của Mặt trận đối với những người đô thị không thành công, nhưng ít ra nó cũng làm cho họ thấy rằng chiến tranh không tránh khỏi ảnh hưởng trực tiếp đến họ và chấm dứt nó là rất thiết yếu cho tương lai của mình. Tết đã khuyến khích nhiều phần tử có học ở đô thị tham gia hoạt động và làm cho một tỷ lệ lớn của họ thấy rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng không thể loại trừ ra khỏi quyền lãnh đạo Nam Việt Nam trong tương lai.
Tuy nhiên các tính toán khác của Đảng nhanh chóng tỏ ra là rất có giá trị, và ngoài tác động sâu sắc của cuộc tiến công đối với Mỹ, tác động của nó đối với vị trí quân sự, chính trị và nông thôn của Việt Nam cộng hòa cũng càng khẳng định lại sự lạc quan ban đầu của Đảng.
Vì các lực lượng quân đội Việt Nam cộng hòa và quân đội Mỹ rút khỏi vùng nông thôn để bảo vệ các đô thị, chương trình bình định phải chịu, theo lời tướng On-lơ Uy-le, Tổng tham mưu trưởng liên quân, "một bước lùi nghiêm trọng". Tuy khó mà minh họa tình hình này bằng tỷ lệ phần trăm, nhưng có một sự nhất trí ở Oa-sinh-tơn lẫn ở Sài Gòn rằng mặc dù Mặt trận dân tộc giải phóng không thành công ở các đô thị, nhưng đã thu được nhiều thành tựu ở nông thôn và do đó mà đền bù lại được những tổn thất về nhân lực của mình.
Những thất bại của quân đội Việt Nam cộng hòa vào lúc này còn quan trọng đối với Oa-sinh-tơn hơn là những thắng lợi của Đảng. Tỷ lệ đào ngũ của quân đội Việt Nam cộng hòa đạt đỉnh cao hơn bao giờ hết; nhìn toàn bộ, năm 1968 là năm xấu nhất của cuộc chiến tranh cho đến năm 1975. Các tiểu đoàn bộ binh của Việt Nam cộng hòa trong hai tuần đầu của tháng hai chỉ có một nửa số quân, các lực lượng biệt động ưu tú lại còn thấp hơn. Bốn trong chín tiểu đoàn không vận không còn hiệu lực chiến đấu. Các quan chức Mỹ vô cùng bất bình về tình hình không kỷ luật và về nạn cướp phá của họ trong suốt giai đoạn đó.
Nhưng điều làm cho các quan chức Oa-sinh-tơn lo âu nhất là trong khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng tiến gần đến thắng lợi hoàn toàn thì các nhà chính trị ở Sài Gòn vẫn chỉ tự lo cho mình và tham nhũng, không chú ý gì đến cuộc khủng hoảng trước mắt. Cuối năm đó, Oét-mo-len công khai phàn nàn rằng "chính phủ quốc gia lúc đầu tỏ ra bị rơi vào một tình trạng hỗn loạn". Do toàn bộ cơ cấu chỉ huy của quân đội Việt Nam cộng hòa chỉ lo làm nhiệm vụ chính trị, nên nó rõ ràng không còn khả năng phối hợp chiến đấu. Có sự nhất trí của Oa-sinh-tơn vào đầu tháng 3 rằng Việt Nam cộng hòa có thể sụp đổ trong vòng vài tháng nếu những thách thức nghiêm trọng hơn xảy ra cho nó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #109 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:34:12 pm » |
|
chương hai mươi lăm TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC TIẾN CÔNG TẾT ĐỐI VỚI OA-SINH-TƠN
OA-SINH-TƠN BẮT ĐẦU ĐƯƠNG ĐẦU VỚI NHỮNG HẠN CHẾ CỦA MÌNH Tác động quyết định nhất của cuộc tiến công Tết là làm rõ thực tế rằng Mỹ đang đương đầu với một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng một cách tiềm tàng. Ba tháng đầu của năm 1968 do đó là những tháng quan trọng nhất trong lịch sử của toàn bộ cuộc xâm lược Mỹ ở Việt Nam. Tết đã làm trầm trọng thêm những khó khăn kinh tế cũng đồng thời gây ra những thế khó xử mới cho chính quyền Mỹ. Đó là những vấn đề không thể giải quyết được như căng thẳng chủng tộc trong các đô thị, tác động của chiến tranh làm yếu sức mạnh quân sự Mỹ và sự suy giảm dự trữ nhân lực chiến lược cần thiết để đối phó với những khủng hoảng thế giới khác, thậm chí ngay cả khủng hoảng trong nước. Thế yếu đó đã được biểu hiện rõ ràng đầu năm 1968 khi Bắc Triều Tiên bắt chiếc tàu Pu-ê-blô của Mỹ và 83 người của tổ lái ngày 23 tháng giêng, một hành động làm nhục chính quyền và chứng minh rằng chính quyền là bất lực. Những căng thẳng ở vĩ tuyến 38 cũng đưa Nam Triều Tiên đến chỗ tính toán việc rút ngay số 49.000 quân của họ ở Nam Việt Nam, làm cho Oa-sinh-tơn có thể phải thay số quân đó đúng vào dịp Tết. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng vàng và đô-la mới là cuộc khủng hoảng gây ra những sức ép kéo dài và không thể cưỡng nổi đối với Oa-sinh-tơn. Tuy những lời hứa của chính quyền Mỹ hạ thấp những thâm hụt đã làm cho hội vàng tiếp tục tồn tại sau tháng 12, nhưng việc tiếp tục mua vàng cho thấy rằng các nhà ngân hàng châu Âu vẫn còn rất lo lắng. Họ đặc biệt lo lắng bởi vì Quốc hội Mỹ không chịu hành động theo đề nghị tăng thuế của Tổng thống để giảm thâm hụt. Chính trong hoàn cảnh đó mà các cố vấn tổng thống xem xét những phản ứng của họ đối với một thất bại trước mắt có thể xảy ra và Mác Na-ma-ra đưa ra lời khuyên lúc rút lui là Tổng thống không nên cho phép tăng quân ở Việt Nam, gây tổn thất cho đồng đô-la ở nước ngoài và cho nền kinh tế trong nước. Ngày 4 tháng 3, bộ trưởng ngân khố Phao-lơ cảnh cáo Tổng thống rằng việc đổ xô vào vàng và trốn tránh đồng đô la là nghiêm trọng và có thể xấu đi nhanh chóng với việc cấm vận vàng đưa đến "những cuộc chiến tranh hối đoái và những khối mậu dịch riêng rẽ gây ra những tác động chính trị và kinh tế có hại”. Đồng thời các cố vấn chủ chốt khác cẩn thận và bi quan đánh giá những hậu quả của mọi sự tăng quân đối với tín nhiệm của các nhà ngân hàng châu Âu vào đồng đô-la. Trong khi các thành viên hội vàng châu Âu đầu tháng 3 đồng ý giữ vững đồng đô-la, thì ngày 11 tháng 3, các ngân hàng tiến công hội làm mất gần một tỷ đô la bằng vàng trước khi cuộc tiến công đó chấm dứt bốn ngày sau đó. Rô-xtốp nói với Tổng thống ngày 14 tháng 3: "Chúng ta không thể tiếp tục như vậy" và, cùng ngày, nhiều nước châu Âu đưa đô-la ra mua lại vàng của ngân khố Mỹ để bù vào số vàng họ đã bỏ ra để giữ giá đồng đô-la. Chiều đó, sau khi mất 372 triệu đô-la và sợ sẽ mất thêm một tỷ nữa ngày tiếp theo, ngân khố Mỹ đóng cửa ngay thị trường vàng. Ngày 15 tháng 3 Giôn-xơn viết cho các thủ tướng châu Âu rằng: "Những lộn xộn tài chính này, nếu không được khắc phục ngay và kiên quyết sẽ gây tác hại sâu sắc cho các mối quan hệ chính trị giữa châu Âu và Mỹ và sẽ làm xuất hiện những lực lượng giống như những lực lượng đã làm tan rã thế giới phương Tây giữa năm 1929 và năm 1933". Đầu tiên, Nhà Trắng muốn các đồng minh của mình chấp nhận những số lượng đô-la không hạn chế mà không có bảo đảm vàng, nhưng Phao-lơ và Mác-tin chống lại ý đồ đó vì là vừa không thực tế vừa là một chứng chỉ để tiếp tục sự vô trách nhiệm về tài chính. Thực vậy, nếu chính quyền Mỹ không chịu đặt vị trí của việc bảo vệ đồng đô-la lên trên tất cả các xem xét khác thì lúc đó các nhà ngân hàng châu Âu sẽ giữ quyền đòi một bước đi có thể làm đảo lộn hoàn toàn địa vị của Mỹ trong nền kinh tế thế giới, với tất cả mọi tác động đến vai trò lãnh đạo chính trị của Mỹ. Sau Tết, cuối cùng chính quyền Mỹ thừa nhận rằng mọi sự tăng quân đến Việt Nam đe dọa không phải chỉ nền kinh tế của đất nước Mỹ mà còn những ưu tiên trong nước và trên quốc tế nữa. Với việc nước Mỹ bị căng mỏng trên toàn cầu và với một cuộc khủng hoảng còn phôi thai ở Triều Tiên, Bộ tham mưu liên quân nhanh chóng làm sống lại yêu cầu trước đây về việc gọi quân trù bị, một biện pháp không được lòng quần chúng cho Tổng thống, và Chủ tịch tham mưu liên quân, tướng Uy-le dành phần còn lại của tháng 2 để vận động thêm người cho ngành quân sự. Bằng 1 một việc làm có tính chất chuyên môn, ông ta bay đến Sài Gòn và sau bốn ngày ông ta trở về Oa-sinh-tơn ngày 27 tháng 2 với một báo cáo vô cùng bi quan và một yêu cầu, cho là của chính Oét-mo-len, xin thêm 206.000 quân. Việt Nam đã làm yếu rất nhiều dự trữ nhân lực chiến lược dành cho những cuộc khủng hoảng ở nơi khác trên thế giới, và Uy le cam kết có thể xây dựng lại, và tuyên bố rằng 206.000 quân xin thêm là thiết yếu để đảo ngược lại trào lưu. Bác bỏ toàn bộ yêu cầu của ông ta có nghĩa là làm nguy hại cho vị trí của tư lệnh ở Việt Nam, nếu không nói là gây nguy hiểm cho lực lượng của ông ta, Uy-le lập luận như vậy. Kết quả ngay tức khắc của việc xin thêm 206.000 quân là Tổng thống ngày 28 tháng 2 yêu cầu Clác Clíp-phớt, Bộ trưởng quốc phòng mới, thành lập một ủy ban để nghiên cứu việc xin quân đó. Và chính ủy ban này đã chuyển sự chú ý của mình vào việc xem xét một cách toàn diện cuộc chiến tranh và đưa đến việc các nhà vạch chính sách chủ chốt chống lại những cuộc leo thang thêm nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|