Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:17:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 113087 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #110 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:35:34 pm »

CHÍNH QUYỀN XÁC ĐỊNH MỘT GIỚI HẠN

Khi những người không nhận thức được những giới hạn của quyền lực mình mà chạm trán với thực tế, thì luôn luôn xảy ra căng thẳng và đột ngột. Tất nhiên trong tháng 2 và tháng 3 năm 1968, có những lúc rất căng thẳng và đột ngột như vậy; hối hận và nghi ngờ đưa đến mất lòng tự tin chưa từng gặp trong các nhà lãnh đạo Mỹ hàng thế kỷ nay. Nhưng từ lúc bắt đầu Tết cho đến bài diễn văn 31 tháng 3 lịch sử của Giôn-xơn, Oa-sinh-tơn gặp rất nhiều rắc rối và khó xử trong các quyết định về việc điều khiển chiến tranh.

Phản ứng đầu tiên của giới quân sự Mỹ là một mối hoài nghi do dự về sự đánh giá thấp một cách quá đáng khả năng của kẻ thù và về thất bại của chính mình sau ba năm cố gắng hết sức vẫn không làm nhụt được khả năng tiến công ngày càng tăng của Cách mạng. Ngay trong khi  Uy-le còn tích cực dỗ dành Oet-mo-len đòi thêm quân, thì chính Bộ tham mưu liên quân ngày 12 tháng 2 đề nghị hoãn một quyết định gửi quân.

Vào lúc Uy-le huy động được các tham mưu liên quân đứng đằng sau mình thì ông ta lại phải đương đầu với một sự chống đối khác từ tất cả các phía. Trong khi những nhà dân sự trong Lầu Năm Góc là những người hăng hái nhất thì họ cũng được phần đông CIA và Bộ Ngoại giao ủng hộ khi họ cho rằng gửi thêm quân sang Nam Việt Nam là vô ích. Những người chống đối lại yêu cầu thêm quân của Uy-le lập luận rằng không những việc thêm quân làm cho quân đội Việt Nam cộng hòa vốn đã không hiệu quả, sẽ lại chiến đấu kém hơn nữa, mà còn phải thấy rằng những cuộc chiến đấu quan trọng đang diễn ra sẽ được quyết định xong xuôi trước khi quân đội mới của Mỹ đến nơi. Chính để đối phó với những quan điểm trái ngược nhau đó mà Tổng thống thành lập ủy ban Clíp-phớt để giúp ông ta quyết định.

Ủy ban Clíp-phớt bắt đầu thu thập những sự kiện cơ bản. Mở đầu, nó không có ý định đặt vấn đề gì về sự hiệu quả của chiến tranh. Mác Na-ma-ra khi ra đi, có nhắc nhở Tổng thống, rằng nếu ông ta tán thành một lực lượng tiến công mới, lớn thì phải có 400.000 quân và 10 tỷ đô-la nữa. Bộ tham mưu liên quân thì cho rằng 108.000 quân trong số 206.000 quân yêu cầu, có thể làm nhích cán cân trong cuộc chiến tranh bế tắc trên tất cả các mặt. Nhưng ngay Rô-xtốp đã từng ủng hộ sự leo thang mới, bây giờ cũng thừa nhận rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ đáp ứng được mọi leo thang của Mỹ.

Trong quá trình thảo luận của ủy ban một vấn đề rất quan trọng là có lập luận cho rằng chiến tranh đang buộc Mỹ phải hy sinh nhiều lợi ích ở những nơi khác trên thế giới, không phù hợp với những mục tiêu quốc tế toàn bộ của mình. Dần dần khả năng tiếp tục chiến tranh bằng leo thang đã bị gạt bỏ. Đặc biệt CIA lập luận rằng chiến tranh bị bế tắc và những người cộng sản vẫn giữ quyền chủ động chiến lược.

Vào lúc những cuộc thảo luận và phân tích ủy ban Clíp-phớt kết thúc ngày 3 tháng 3 thì Clíp-phớt thay đổi lập trường và không còn ai tán thành kế hoạch 206.000 quân trừ Uy-le và Bộ tham mưu liên quân. Uy-le đã lập luận một cách chính xác rằng: Năm 1968 sẽ là năm trụ cột" của chiến tranh.
Kết quả là một sự bế tắc trên danh nghĩa trong hàng ngũ các cố vấn then chốt của Tổng thống, nghĩa là một sự tiếp tục giữ nguyên trạng, mặc dù trên thực tế dư luận đang thay đổi một cách tế nhị dưới sức nặng của thực tế. Tuy khả năng đưa thêm 206.000 quân còn đang được bỏ ngỏ trên cơ sở "tuần này qua tuần khác", nhưng chỉ 22.000 quân được phép đưa đi ngay. Đó là "tất cả cái gì chúng tôi có thể cho được bây giờ" như Tổng thống đã nói.

Về sau ông ta tâm sự "Tôi cảm thấy rằng tôi đang bị đuổi tứ phía bởi một cuộc nổi dậy khổng lồ đến từ tất cả các hướng". Có vấn đề Việt Nam và cả vấn đề kinh tế nữa. Những người da đen đang nổi dậy, những sinh viên phản đối và những nhà báo kích động thúc ép... "Điều mà tôi sợ ngay từ ngày đầu của nhiệm kỳ của tôi thật sự đang đến. Rô-bớt Ken-nơ-đi đã công khai thông báo ý định của ông ta giành lại ngai vàng...". Sự căng thẳng làm cho cách cư xử của Giôn-xơn trở nên thất thường, tin đồn về tình trạng tâm thần rời rạc của ông lan truyền khắp nơi. Thượng nghị sĩ chống chiến tranh Iu-gin Mác Ca-ti chiếm 42 phần trăm phiếu bầu trong cuộc bầu cử sơ bộ Niu Ham-sơ ngày 12 tháng 3 đã làm tăng thêm sự tuyệt vọng của Tổng thống.

Trong khi đó thì Clíp-phớt không bằng lòng với tình trạng tê liệt và bất lực của Tổng thống trong việc đảo ngược lại quá trình tai hại đi đến leo thang. Những ý kiến của bạn bè ông ta củng cố thêm ý muốn thực sự và thường là thận trọng của ông ta nhằm xác định lại chiến lược Việt Nam của đất nước.

Năm sau đó ông viết: "Mỗi ngày tôi càng ý thức về tình trạng rối loạn nội bộ trong nước chúng ta. Thật đáng lo lắng cho tôi là những tác động kinh tế của một cuộc đấu tranh sẽ được kéo dài vô thời hạn với sự tốn kém tăng lên hơn bao giờ hết".

Ngày 19 tháng 3, ông ta đề nghị với Giôn-xơn rằng ông ta triệu tập một phiên họp khác của nhóm cố vấn cấp cao Bộ Ngoại giao, được gọi là "những người thông thái" mà mùa thu trước đã ủng hộ mạnh mẽ chính sách chiến tranh của Tổng thống.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #111 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2008, 08:36:29 pm »

Đin A-ki-xơn, người đứng đầu nhóm theo yêu cầu của Tổng thống, từ tháng hai đã xem xét lại một cách không chính thức cuộc chiến tranh và mâu thuẫn của nó với những lợi ích của Mỹ ở các nơi khác trên thế giới và ông ta đã hết sức chỉ trích sự cam kết vô hạn định của Mỹ. Ngày 15 tháng 3, ông ta báo cho Giôn-xơn rằng Bộ tham mưu liên quân cho ông ta tin tức nghèo nàn và đã đến lúc phải rút ra khỏi cuộc chiến tranh không được lòng dân.

Clíp-phớt biết rằng mình có một người bạn hùng mạnh ở con người của vị Bộ trưởng ngoại giao cũ đó mà uy tín với Giôn-xơn là rất to lớn, và ông ta cũng cảm thấy được là nhóm của vị bộ trưởng cũ đó sẽ khuyên bảo những gì. Nhóm "những người thông thái" đã tiếp quản cuộc tranh luận mà ủy ban Clíp- phớt để lại.

Vai trò của nhóm "những người thông thái" nói lên sức mạnh và suy nghĩ ở Mỹ trong những lúc khủng hoảng. Những thực tế quân sự, kinh tế và chính trị ảnh hưởng sâu sắc đến nhóm đó đã từng đến tai phần đông các cố vấn chủ chốt của Tổng thống và cả đến chính Tổng thống nữa. Ngay những người diều hâu quá mức như Rô-xtốp cũng phải thừa nhận rằng tuy còn có thể đặt đất nước vào vị trí chiến tranh hồi tháng hai, nhưng "môi trường chính trị đang thay đổi ở trong nước và cuộc khủng hoảng tài chính tháng ba đã giảm rất nhiều khả năng đó" (xem Rô-xtốp. Diffusion of power, tr.520-21). Không có gì thay đổi được những thực tế đó và những ý kiến của nhóm "những người thông thái" phản ánh chiều hướng của sự kiện nhưng không hình thành được sự kiện.

Thế giới công nghiệp và tài chính lớn trước đây ủng hộ chiến tranh vì họ tin vào các mục tiêu của chính sách đối ngoại Mỹ đã từng đưa đến sự can thiệp. Tuy nhiên những cá nhân thì luôn luôn được triệu tập, hoặc là chính thức hoặc là không, để bình luận những vấn đề kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh như thâm hụt ngân sách và lạm phát. Tuy họ không hề bao giờ có một lập trường chỉ trích chiến tranh trước năm 1968, nhưng họ luôn luôn tán thành những cố gắng làm giảm những thách thức kinh tế đó.

Thái độ như vậy có nghĩa là nếu các khó khăn tài chính của đất nước trở nên khá nghiêm trọng thì họ sẽ chống leo thang và có thể tán thành giảm chiến tranh xuống một tỷ lệ có thể quản lý được về mặt kinh tế. Một lập trường như vậy là hoàn toàn thực tiễn và bộc lộ những mâu thuẫn đưa lại sự dính líu của Mỹ lúc ban đầu, bởi vì điều lý tường đối với họ là Mỹ thắng cuộc chiến tranh vừa nhanh vừa rẻ.

"Những người thông thái", gồm những người có liên hệ chặt chẽ với thế giới tài chính, các tập đoàn luật và kinh doanh lớn như Gioóc-giơ Bon, Đơ-giát Di-lon, Xal-rớt Ven-xơ, Giôn J.Mác Cloa, Mác Gioóc-giơ Bân-đi, Ác-tơ Đin, Rô-bớt Mơ-phi và Hen-ri Ca-bốt Lốt- giơ, rất hiểu những sắc thái đó trong tâm tư thế giới công nghiệp và tài chính. Chắc chắn là những tính toán như vậy sẽ ảnh hưởng đến những đề nghị của họ.

Là những người quen đối phó với những thực tế và những tác động của chúng, họ là những người đủ khả năng hơn ai hết chấp nhận cán cân lực lượng vật chất trong chiến tranh, không phải vì danh tiếng của họ bị lâm nguy mà vì chính lợi ích giai cấp của họ.

Cũng quan trọng trong tháng quyết định đó là tình hình dư luận công chúng và tình hình những nhà chính trị quan tâm đến dư luận, bất chấp sự lãnh đạo của họ trước đây đối với chiến tranh. Việc Mác Ca-ti và Ken-nơ-đi tham gia cuộc chạy đua giành chức ứng cử viên đảng Dân chủ sẽ không phải là thách thức gì ghê gớm lắm đối với Tổng thống, nếu cuộc thăm dò dư luận ngày 16 tháng 3 không cho thấy ông ta ở điểm tín nhiệm thấp nhất kể từ khi ông ta nhậm chức.

Những cảm nghĩ của công chúng về chiến tranh đã trở nên có tính chất phê phán từ năm 1966; vào cuối năm 1967, thì dư luận hai phía ngang nhau. Cuộc tiến công Tết làm cho phe chống đối tăng lên mạnh. Mùa hè năm 1968 những người Mỹ nghĩ rằng gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm đã vượt xa những người ủng hộ. Xu thế này ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều quan chức Mỹ. Họ cho rằng sự mất kiên nhẫn ngày càng tăng của công chúng đặt ra một giới hạn thực sự cho việc kéo dài chiến tranh. Và sự xuất hiện một phong trào chống chiến tranh rộng lớn hơn và tích cực hơn trong các trường đại học nhất là trong hàng ngũ con em giới thượng lưu, đánh vào cá nhân của những người bảo vệ chủ chốt của chiến tranh.

Vào cuối tháng 3 năm 1968, đã khá rõ ràng rằng, ngay dù cho không biết đến những thúc ép quân sự và kinh tế, chính quyền cũng phải đương đầu với một tình hình sau chiến tranh chưa từng có, trong đó sự nhất trí về chính sách đối ngoại giữa cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp và công chúng bị sụp đổ hoàn toàn.

Những cuộc họp nổi tiếng, chi tiết trong những ngày 25 - 26 tháng 3 của "những người thông thái" khẳng định thực tế đó. Chiến tranh đã bị bế tắc và đất nước không thể cam kết thêm tài sản nữa để thắng nó mà không hy sinh nền kinh tế và những lợi ích toàn cầu khác của mình. Công chúng cũng vậy, cả ở Nam Việt Nam cũng như ở Mỹ, đều cực lực phản đối cố gắng chiến tranh. Phần đông nhóm cố vấn cấp cao tán thành chấm dứt leo thang và có những biện pháp đi đến tách ra khỏi chiến tranh, đi từ bớt ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến giảm các lực lượng Mỹ và chuyển giao nhiều trách nhiệm chiến tranh hơn cho Việt Nam cộng hòa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #112 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 12:47:35 pm »

DIỄN VĂN 31 THÁNG 3 CỦA LIN-ĐƠN GIÔN-XƠN

Đối với Tổng thống bị quá rã rời về cảm xúc trong những tuần đó và kết hợp cuộc khủng hoảng cá nhân lớn nhất trong cả cuộc đời của mình với thất bại của chính sách đối ngoại và quân sự Mỹ trong thế kỷ này, những ngày cuối của tháng 3 là những ngày dằn vặt nhất. Sau những ngày khủng khiếp của sự căng thẳng tình cảm gay gắt, Giôn-xơn quyết định rút lui khỏi cuộc chạy đua giành chức ứng cử viên tổng thống năm 1968 để trở về với sự yên tĩnh ở trại Tếch-xát của ông ta.

Diễn văn 31 tháng 3 của Tổng thống đề cập đến mọi vấn đề từ chấm dứt ném bom đến thương lượng, nhưng phần quan trọng nhất và dễ thấy nhất của diễn văn là sự công bố quyết định rút khỏi nền chính trị của ông ta. Sự chấm dứt ném bom của ông ta trừ một vùng rất mơ hồ bắc vĩ tuyến 17 để đổi lấy hành động đáp ứng của Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ mới được một ngày đã làm cho chính quyền Mỹ rất lúng túng và vì máy bay Mỹ lại tiến công những địa điểm cách vĩ tuyến đó đến năm trăm ki-lô-mét về phía bắc.

Vào tháng 4 và tháng 5, những cuộc ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa mạnh hơn nhiều so với tháng 2 và tháng 3. Từ lúc đó cho đến 31 tháng 10, khi Giôn-xơn chấm dứt hoàn toàn ném bom Việt Nam dân chủ cộng hòa nhằm giành phiếu cho Hăm-phrây trong cuộc bấu cử tổng thống, thì rõ ràng việc ném bom đã trở thành một công cụ cho đấu tranh dư luận và một con bài chính trị cho Giôn-xơn đồng thời đặt thành một tiền lệ cho người kế nghiệp ông ta.

Đề nghị công khai của Giôn-xơn đi vào thương lượng nhanh chóng bị sa lầy khi Mỹ rút lui đề nghị gặp Cộng sản bất cứ ở đâu, làm cho chính quyền Mỹ rất khó xử ngay trước khi các cuộc hội đàm Pa-ri kéo dài và vô ích bắt đầu vào tháng 5 sau đó. Thừa nhận rằng sẽ không nâng mức quân lên quá 24.000, ông ta yêu cầu Quốc hội giúp giải quyết thâm hụt ngân sách, khủng hoảng vàng và đô-la và các vấn đề kinh tế khác mà những leo thang trước kia của ông ta đã gây ra.

Đề nghị mới nổi bật nhất trong thông điệp của Tổng thống mà đã trở thành cơ sở cho chính sách Việt Nam hóa tiếp theo của Ních-xơn, là việc mở rộng các lực lượng quân sự Việt Nam cộng hòa để họ có thể dần dần gánh phần chiến đấu lớn hơn và, như vậy là nghiễm nhiên giảm được sự phụ thuộc của họ vào quân đội Mỹ. Chính là chỉ ở chỗ này mà lời khuyên của "những người thông thái" thực sự đã làm chuyển động Tổng thống.

Sự có mặt Mỹ ở Việt Nam trực tiếp gắn liền với những yếu kém quân sự và chính trị kinh niên của Việt Nam cộng hòa, vì vậy mà xem xét hoạt động của Việt Nam cộng hòa trong những tuần sau Tết là rất cần thiết dể Oa- sinh-tơn xác định vai trò và những biện pháp thay thế của mình. Những báo cáo đầu tiên, thận trọng tỏ ra rất bi quan, và những cuộc tranh chấp nội bộ dai dẳng giữa Thiệu và Kỳ trong một cuộc đấu tranh sống chết đã làm cho các quan chức Mỹ thất vọng. CIA tin rằng vấn đề chính trị là rất quan trọng nhưng cũng thú nhận rằng nếu không có khả năng cải cách thì vai trò của Mỹ bất kể quy mô như thế nào, cũng sẽ là tuyệt vọng. Bộ Ngoại giao Mỹ gọi sự sụp đổ của Việt Nam cộng hòa là "một khả năng hiện thực chắc chắn trong vài tháng tới".

Tuy nhiên vào cuối tháng 3, tướng Crây-ton E-bram, người được chỉ định thay Oét-mo-len, lập luận rằng tinh thần quân đội Việt Nam cộng hòa đột ngột biến chuyển tốt hơn nhiều so với trước. Với đại bộ phận dư luận quân sự đối với Việt Nam cộng hòa rất hoài nghi và với di sản của những sự kiện thậm chí tiêu cực hơn, "những người thông thái" tập trung vào việc gắn công cuộc xây dựng quân đội Việt Nam cộng hòa với việc tách ra của Mỹ, tuy họ biết rằng công cuộc đó không chắc sẽ thành công. Vì vậy ý thức về một khoảng cách lịch sự để che giấu thất bại của các lực lượng Mỹ là rất rõ ràng.

Công khai chấp nhận câu chuyện tưởng tượng về những thắng lợi và sức mạnh ngày càng tăng của Việt Nam cộng hòa, chính quyền Mỹ xem đó là một cái cớ để biện bạch cho việc giải quân lúc cần. Mặc dù cho không có biểu thời gian rõ rệt, nhưng giả định ngầm trong các kế hoạch của Oa-sinh-tơn là thắng lợi không thể đạt được và "Việt Nam hóa" chiến tranh cũng chỉ nhằm tranh thủ thời gian để đạt bất kỳ khả năng ngoại giao hoặc chính trị nào có thể có, hoặc ít ra là sẽ đẩy lùi lại sau cuộc bầu cử việc phải đương đầu với thất bại thực sự.

Do không thấy nhắc đến trong diễn văn của Giôn-xơn vấn đề lòng tin, đô-mi-nô và đại loại như vậy, cho nên sự thay đổi mặc nhiên đó trong diễn văn là rất quan trọng. Những mục tiêu chiến tranh của Mỹ không còn là thắng lợi hoặc một vài điều trừu tượng nào khác mà là đưa lại cho Việt Nam cộng hòa một "lá chắn” để nó có thể núp bóng mà phát triển.

"Kết quả cuối cùng sẽ phụ thuộc" vào các cố gắng của nhân dân Việt Nam cộng hòa. Sự xác định lại các mục tiêu quốc gia cơ bản đó phù hợp với cả sự cần thiết quân sự, chính trị và kinh tế lẫn ý kiến bao trùm của các cố vấn và các nhà vạch quyết định hàng đầu. Chính sự sẵn sàng mới đó của Mỹ hạn chế cam kết của mình lại và về sau tách ra một phần, dù cho tuyên bố và xác định lúc đó mơ hồ như thế nào đi chăng nữa, cũng là kết quả lớn của cuộc tiến công Tết.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #113 vào lúc: 13 Tháng Chín, 2008, 12:48:37 pm »

OA-SINH-TƠN VÀ CÁN CÂN LỰC LƯỢNG MỚI

Việt Nam đã trở thành chiến tranh ngoài nước đầu tiên của Mỹ kể từ năm 1812 đã gây ra một cuộc khủng hoảng xã hội nội bộ sâu sắc và một sự phân hóa về mặt chính trị. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai giới lãnh đạo chính trị ở Oa-sinh-tơn đưa ra những quyết định then chốt một cách có ý thức và song song với những thay đổi diễn ra trong cán cân lực lượng toàn cầu. Còn đối với Việt Nam thì không phải như vậy.

Khác với những cuộc chiến tranh trước, Việt Nam làm trầm trọng thêm nhiều vấn đề của chủ nghĩa tư bản Mỹ chứ không phải làm cho chúng nhẹ bớt. Trong cơn chấn thương kéo dài của mối quan hệ chủng tộc, cuộc chiến tranh ngày càng trở nên tiêu điểm của sự phản đối và bất đồng của hàng triệu người. Những người này biết rõ rằng chừng nào chiến tranh còn tiêu tốn quá nhiều tiền của thì không thể nào giải quyết các nhu cầu xã hội trong nước.

Đại bộ phận những người Mỹ chống chiến tranh không có cơ sở để phân tích chiến tranh một cách nhất quán và những cố gắng của phái tả trong phong trào chống chiến tranh nhằm giải thích nó cũng không thành công. Tuy họ không sao nhận thức được cảnh khủng khiếp của người Việt Nam trung bình, nhưng nhờ có những hình ảnh do vô tuyến truyền hình đưa ra, một ý thức về sự khiếp sợ đó đã thấm sâu vào lương tâm của họ.

Vấn đề tội ác chiến tranh đã đi vào các cuộc thảo luận về chiến tranh và quy mô những tổn thất mà Mỹ gây ra làm cho mọi người lo lắng. Dù dư luận và thái độ lúc ban đầu như thế nào đi chăng nữa, người ta vẫn thấy được khoảng cách giữa suy nghĩ thông thường và thực tế, làm cho một số người Mỹ căm phẫn, hoài nghi và chán ghét.

Những đợt chiến đấu liên tiếp bắt đấu từ Tết đã gây ra gần một triệu người tỵ nạn và trên 200 triệu đô-la tư liệu sản xuất đã bị phá hủy chỉ trong dịp Tết. Sản lượng nông nghiệp và sản lượng khu vực tư nhân bị giảm nghiêm trọng năm 1968. Thu nhập của Việt Nam cộng hòa cũng vậy và càng phụ thuộc hơn vào viện trợ và không thể nào gánh được những trách nhiệm quân sự mà Mỹ dự định giao cho.

Gắn với gánh nặng kinh tế ngày càng tăng dó là việc biến đổi và đô thị hóa xã hội. Người Mỹ rất chú ý rằng nhân dân đô thị đã tỏ ra rất thờ ơ đối với thử thách của Việt Nam cộng hòa, thậm chí ở một số nơi còn cộng tác ở mức thấp nhất với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Ủy ban Clíp-phớt đã báo trước: "Sự đáp ứng chính trị không có hiệu quả của chính phủ Việt Nam cộng hòa có thể còn giúp cho Việt cộng cải thiện sự nghiệp của họ trong các đô thị cũng như ở nông thôn".

Quyết định của chính quyền Mỹ tập trung củng cố các loại lực lượng vũ trang của Việt Nam cộng hòa là rất trọng yếu cả về mặt chính trị cũng như về mặt cơ cấu. Với ý định biến tính chất của chiến tranh từ cuộc xung đột giữa người Mỹ và Cách mạng sang cuộc xung đột giữa Việt Nam cộng hòa và Cách mạng, đó là một lựa chọn có hậu quả nghiêm trọng, bởi vì ít có ai thông thạo lại tin rằng Việt Nam cộng hòa có đủ khả năng thắng một cuộc xung đột như vậy.

Đảng đã tính toán chính vấn đề này từ trước cuộc tiến công Tết. Chiến lược mới đó của Mỹ là một sự bào chữa cho việc để lại một số quân Mỹ ở Nam Việt Nam trong khi sức ép trong nước đòi rút quân tăng lên. Trong khi Nhà Trắng xem xét vấn đề Việt Nam hóa thì nhiều người ở Oa-sinh-tơn thực sự xem nó là một công thức gỡ thể diện để thừa nhận chính những thất bại của mình.

Thật là mỉa mai vì việc xây dựng một bộ máy quân sự Việt Nam cộng hòa lớn hơn nữa lại sẽ trở thành thêm một phương tiện nữa để chắc chắn đưa lại thất bại cho sự nghiệp của Mỹ. Bởi vì vai trò tăng lên của quân đội Việt Nam cộng hòa đã thúc đẩy quần chúng nông thôn và đô thị, kể cả những phần tử trước còn thờ ơ hoặc thậm chí thù địch với Mặt trận Dân tộc Giải phóng, chống lại các chính sách chiến tranh của Việt Nam cộng hòa.

Mùa xuân năm 1968, Việt Nam cộng hòa tuyên bố tổng động viên thanh niên 18 và 19 tuổi. Tất cả đàn ông từ 18 đến 38 phải nhập ngũ và ở lại quân ngũ cho đến 45 tuổi, còn những người 16 và 17 tuổi và từ 39 đến 50 phải vào các lực lượng chủ yếu không vũ trang và lực lượng tự vệ địa phương.

Vào năm 1969, 150.000 lính mới được tuyển vào quân đội Việt Nam cộng hòa và 250.000 vào các lực lượng địa phương và dân quân. Việc tuyển quân ào ạt vào lúc các khó khăn kinh tế của Việt Nam cộng hòa ngày càng chồng chất đã làm cho tính chất hoàn toàn giả tạo của chế độ xã hội Việt Nam cộng hòa càng thêm gay gắt và kéo theo vô số chi tiêu mới. Việc tuyển quân bắt buộc đó làm cho nhân dân bất bình rất nhiều mặt. Mặt rõ ràng nhất là mất con và thiệt hại về kinh tế làm cho các gia đình ngày càng nhận thức rằng Việt Nam cộng hòa là gánh nặng chính của cuộc đời họ.

Quân đội Việt Nam cộng hòa, đối với con mắt của toàn đất nước, là gánh nặng ngày càng lớn bởi vì cướp bóc mà một mức mới đã xảy ra trong cuộc tiến công Tết, đã tăng lên với những vấn đề kinh tế khó khăn của binh lính. Đánh giá đầu năm 1969 của Hội đồng an ninh quốc gia kết luận rằng: "Cướp bóc và đạo đức xấu của các lực lượng vũ trang Việt Nam cộng hòa đối với quần chúng dân sự đã làm tổn thương đến lòng tin của nhân dân đối với quân đội Việt Nam cộng hòa" và điều này không có cách nào đảo ngược lại được.

Quân đội Việt Nam cộng hòa trở nên rời rạc hơn tuy có vũ khí mới. Tỷ lệ đào ngũ tăng lên đáng kể, đặc biệt là trong hàng ngũ lính mới và những lính ma trở nên thông thường hơn. Các sĩ quan không sẵn sàng làm nhiệm vụ và điều đó làm tăng thêm tình trạng mất tinh thần. Hội đồng an ninh quốc gia cũng tuyên bố đầu năm 1969 rằng "Tất cả các cơ quan đồng ý rằng quân đội Việt Nam cộng hòa không thể bây giờ hoặc thậm chí sau khi được hoàn toàn hiện đại hóa, đối phó với Việt cộng, và một mức có ý nghĩa với các lực lượng quân đội Bắc Việt Nam, nếu không có sự yểm trợ chiến đấu của Mỹ dưới hình thức không quân, máy bay lên thẳng, trọng pháo và hậu cần cùng với một số lực lượng trên bộ".

Tăng quy mô của quân đội Việt Nam cộng hòa chỉ làm yếu thêm nó với tư cách là một tổ chức chiến đấu, gây tác hại thêm cho toàn bộ trật tự xã hội và làm cho nền kinh tế càng phụ thuộc và càng dễ bị tiến công. Không muốn và không có khả năng đối phó với những thế tiến lui đều khó đó, chính quyền Giôn-xơn thích để tất cả chúng cho người kế nhiệm mình.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #114 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:21:27 am »

chương hai mươi sáu
ĐÁNH GIÁ CUỘC TIẾN CÔNG TẾT

VỊ TRÍ CỦA CÁCH MẠNG SAU THÁNG HAI 1968

Đánh giá những kết quả đợt đầu của cuộc tiến công Tết là một vấn đề cấp bách của Đảng. Tuy tổn thất về người không bằng con số mà quân Mỹ rêu rao, nhưng vẫn cao hơn mức dự kiến của các nhà lãnh đạo chính của Đảng. Những người miền Nam cùng hoạt động lâu năm với Quân đội giải phóng nhân dân cho rằng nếu chiến thuật của cuộc tiến công thực tế hơn thì thắng lợi sẽ lớn hơn và tổn thất sẽ ít hơn. Tuy Cách mạng có thể thay thế số người bị tổn thất, nhưng không bù lại được những hy sinh về chất lượng. Bởi vì phần lớn những người hy sinh là những cán bộ quân sự và chính trị giàu kinh nghiệm nhất của miền Nam, cả ở đô thị lẫn ở nông thôn.

Thật là mỉa mai, trong khi những phân tích đầu tiên của Mỹ thừa nhận những thắng lợi quân sự của Cộng sản thì những đánh giá đầu tiên của lãnh đạo Đảng lại tập trung vào những thất bại của mình. Chỉ sau đó họ mới có những suy xét đúng đắn và cân đối. Những báo cáo bi quan của địa phương làm cho các nhà lãnh đạo cấp trên từ lạc quan trước khi tiến công trở nên thận trọng hơn khi họ cắt bớt những giai đoạn tiếp theo của cuộc tiến công để duy trì lực lượng. Họ thấy được những thành tựu của họ trong việc phá hủy hệ thống quân sự và cơ cấu chính quyền của Việt Nam cộng hòa, nhưng họ xem cuộc tổng khởi nghĩa là một thất bại và cho rằng những kế hoạch hoạt động nông thôn còn quá mơ hồ và ngờ nghệch. Một số cũng nghĩ rằng vai trò lãnh đạo của Cách mạng bị sa sút vào lúc khẩn trương. Đảng rất lưu tâm đến những vấn đề này trong giai đoạn tiếp theo của cuộc tiến công.

Trong tháng ba, các báo lớn của Đảng xem xét lại tiến bộ của đợt Tết đầu tiên, nhấn mạnh đến thắng lợi trong việc đập tan cơ cấu quân sự và chính trị Việt Nam cộng hòa và do đó mà phá hoại cơ sở của cố gắng Mỹ. Chính quyền Giôn-xơn đã ở vào thế phòng ngự ở trong nước cũng như tại Việt Nam. Trong khi Cách mạng đã đạt được một thắng lợi chiến lược, đặt cơ sở cho thắng lợi cuối cùng, và trong khi Tết thực sự là một điểm ngoặt cho Mỹ và Việt Nam cộng hòa, nhưng chiến tranh chắc chắn sẽ còn đòi hỏi nhiều thời gian hơn.

Giai đoạn tiến công tiếp theo thận trọng hơn nhiều. Tiêu điểm chính vẫn còn là hệ thống quân sự và chính trị của Việt Nam cộng hòa, nhưng những cuộc tiến công bắt đầu từ ngày 4 tháng 5 đã được tổ chức tốt hơn, sử dụng những nhóm nhỏ với những mục tiêu linh động và dựa nhiều hơn vào súng cối và rốc-két. Cộng chung tất cả lại, họ đã tiến công 119 đô thị, thị trấn, căn cứ trong đêm 4 tháng năm; nhiều đơn vị đột nhập Sài Gòn, và một tuần chiến đấu trên đường phố tiếp theo là nhiều tuần tiến công đứt quãng bằng rốc-két.

Trong đợt tiến công này, Cộng sản không đánh vào các cơ sở Mỹ, dụng ý cho thấy rằng chính Việt Nam cộng hòa và thủ đô của họ là bộ phận mong manh nhất của cố gắng chiến tranh Mỹ. Tuy quần chúng không tham gia cuộc tiến công, nhưng Cách mạng đã đạt được mục tiêu quan trọng nhất của mình.

Đánh giá kết quả đợt tiến công thứ hai, Đảng kết luận rằng họ đã lặp lại những cuộc tiến công của đợt thứ nhất. Đảng không huy động được nhân dân đô thị và phân hóa được quân đội Việt Nam cộng hòa và tuy có những thiếu sót về mặt quân sự, nhưng về mặt chính trị, đợt này cũng là một thành tựu lớn.

Đợt thứ ba và cuối cùng bắt đầu ngày 17 tháng 8 và kéo dài sáu tuần lễ. Nó khác hai đợt đầu ở chỗ nó cũng tiến công các cơ sở Mỹ và không có ý định huy động khởi nghĩa quần chúng. Chủ yếu dựa vào súng cối và rốc-két, nó dùng các lực lượng địa phương và rút xuống mức tối thiểu tổn thất nhân lực bằng cách dựa vào những đơn vị nhỏ. Đợt này làm cho Việt Nam cộng hòa rối trí và cũng nhằm nhắc nhở người Mỹ rằng họ cũng dễ bị tiến công, một điểm rất phù hợp về mặt chính trị với cuộc vận động bầu cử đang tiến hành.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #115 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:22:03 am »

Cách mạng có thể tập trung lực lượng và tiến công các đô thị, hoặc phân tán ra thành các đơn vị nhỏ và kéo các lực lượng địch ra nông thôn, hoặc đồng thời làm cả hai. Các nhà phân tích Lầu Năm Góc nhấn mạnh vào cuối tháng ba rằng kẻ thù "có thể giới hạn thương vong của mình vào một tỷ lệ mà họ có thể chịu một cách vô thời hạn". Khả năng theo đuổi một cuộc chiến tranh kéo dài và một chiến lược linh hoạt làm cho Cộng sản giữ được quyền chủ động.

Các nhà lãnh đạo Mỹ và Đảng đều có ý thức sâu sắc về những nhược điểm của chính mình. Các tướng Mỹ tại chiến trường thấy khả năng tránh tiếp xúc của kẻ thù là đáng chán nản và thất vọng; những người khác thì thấy rằng ngay những chiến thuật trước Tết của Cộng sản cũng là một "Thắng lợi có ý nghĩa".

Những tin tức như vậy chỉ củng cố thêm quan điểm ở Oa-sinh-tơn sau Tết rằng Cách mạng vẫn giữ khả năng tiến hành chiến tranh kéo dài mặc dù có những thất bại tạm thời. Tuy nhiên, Bộ Chính trị rất có ý thức rằng vì "chưa đạt được những đòi hỏi cơ bản đã được đặt ra" nên phải có chính sách xây dựng lại lực lượng và nhấn mạnh chiến tranh du kích và đơn vị nhỏ để ít bị thương vong nhất. Bộ Chính trị không hy vọng rằng một cuộc khởi nghĩa đô thị sẽ có tính chất quyết định, nhưng cũng không ngờ những tổn thất lớn như vậy đối với cơ sở hạ tầng ở đô thị và đối với các lực lượng đã được đưa vào đô thị. Chiến đấu kéo dài ở đô thị buộc phải tập trung hơn ở đó làm yếu vị trí của Cách mạng ở nông thôn.

Những người Mỹ lại có những kết luận trái ngược. Trong đợt đầu của cuộc tiến công, ủy ban Clíp-phớt kết luận rằng những cuộc tiến công đô thị đã thực sự là một sự đánh lạc hướng thắng lợi để Cộng sản "chiếm nông thôn". .

Ủy ban này ước tính vào cuối năm 1967, Việt Nam cộng hòa thực sự kiểm soát chỉ 30 phần trăm nhân dân nông thôn. Ngay Oét-mo-len cũng thừa nhận rằng các cuộc tiến công đô thị đã kéo quân đội Việt Nam cộng hòa đang bảo vệ làng mạc về thành thị, gây "một bước lùi quan trọng cho chương trình bình định của chúng ta".

Đầu năm 1969 đánh giá có thẩm quyền nhất của Mỹ cho rằng cơ sở hạ tầng thôn xóm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã mở rộng ra đến ba phần tư số dân nông thôn và những tổ chức địa phương của Việt Nam cộng hòa đã yếu đi trong suốt năm 1968. Các chuyên gia Mỹ về các lĩnh vực đặc biệt tin rằng bộ máy chính trị Mặt trận Dân tộc Giải phóng không bị yếu đi trong suốt năm 1968. Họ nghĩ rằng cơ sở hạ tầng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng vào cuối tháng 12 năm 1968 cũng giống như một năm trước đó với các ủy ban giải phóng nhiều hơn các tổ chức Việt Nam cộng hòa, và chương trình "Phượng hoàng" đưa ra năm 1967 đã không thành công một cách rất rõ rệt...

Những người Mỹ hiểu rõ rằng sức mạnh của Cách mạng cuối cùng là ở chỗ kẻ thù của Cách mạng không có khả năng làm vừa lòng nông dân hoặc giành được sự ủng hộ của họ. Hơn nữa, do con em bị bắt lính, tài sản bị cướp bóc và phá hủy, và luôn luôn bị các quan chức bóc lột, phần đông nông dân không ủng hộ phía mà Mỹ nâng đỡ, và đối với Mỹ, điều đó có nghĩa là thất bại. Còn những nông dân khác thì thấy rằng nếu họ làm gì cho phía Mỹ thì điều đó chỉ có hại cho cuộc đời quá mong manh của họ mà thôi. Do đó, vấn đề còn lại không phải là việc Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã bỏ nông thôn hay bị tiêu diệt mà là việc Việt Nam cộng hòa đã bị loại trừ và không thể nào lấp được chỗ trống nữa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #116 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:22:43 am »

ĐÁNH GIÁ TẾT CỦA ĐẢNG

Đánh giá Tết của Đảng đã ảnh hưởng đến chiến lược quân sự và chính trị tiếp theo của Đảng, bởi vì cuộc tiến công cho phép Đảng đánh giá một cách thực tế cán cân lực lượng. Tuy nhiên, trong ba khả năng Đảng vạch ra hồi trước tháng hai, từ khả năng một thắng lợi hoàn toàn và nhanh chóng đến khả năng một cuộc leo thang chiến tranh, khả năng đã xuất hiện cũng là khả năng được chờ đợi nhiều nhất đó là việc Mỹ sẽ chịu nhiều thất bại lớn nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Nhưng so sánh lực lượng mới sẽ đưa lại những thắng lợi về sau.

Mỹ phải thấy rằng những người cộng sản có khả năng đánh cùng một lúc trên khắp đất nước và Mỹ phải rải quân ra để bảo vệ các đô thị nên ở vào thế bị động về chiến lược. Người Mỹ biết rằng Cộng sản có thể kéo dài chiến tranh vô thời hạn, rằng Mỹ không thể dựa vào quân đội Việt Nam cộng hòa và tất cả các chiến lược của Việt Nam cộng hòa là đang thất bại. Chủ nghĩa thất bại xuất phát từ tình hình quá rõ ràng này buộc Oa-sinh-tơn phải rút trước thời hạn và có thể thừa nhận thương lượng có ích trước tiên.

Đảng có hy vọng sẽ thành công trong việc làm mất tinh thần Oa-sinh-tơn, nhưng Đảng hoàn toàn không được chuẩn bị sẵn sàng cho quy mô to lớn của tác động Tết, ảnh hưởng đến nền chính trị nội bộ Mỹ, làm tổn thương vị trí kinh tế trong nước và trên thế giới và làm suy yếu quy thế cường quốc thế giới của Mỹ. Các nhà lãnh đạo Đảng cho là đã chọn thời cơ đúng với cuộc khủng hoảng đồng đô-la. Khi tất cả các nhân tố đó kết hợp lại với những thất bại quân sự của Việt Nam cộng hòa, chính quyền Giôn-xơn mất ý chí chiến đấu của mình, và điều này, theo cách nhìn của Cách mạng, là có tính chất quyết định.

Tuy nhiên tổn thất của Cách mạng cũng rất quan trọng mà trên thực tế chỉ những thất bại lớn hơn của Mỹ và Việt Nam cộng hòa mới che lấp được. Từ đó chiến lược Tết 1968 không hề được lặp lại, và việc giữ gìn lực lượng đã trở thành thiết yếu cho giai đoạn tiếp theo của cố gắng chính trị và quân sự của Cách mạng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #117 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:31:32 am »

Ý NGHĨA CỦA CUỘC TIẾN CÔNG TẾT

Đảng từ năm 1968 đã xem cuộc tiến công Tết như là điểm ngoặt trong cuộc chiến tranh và như là một thắng lợi quyết định mà hậu quả sẽ hoàn thiện thắng lợi cuối cùng. Vào năm 1968, chiến tranh Việt Nam đã trở thành khó phân tích hơn nhiều, bởi vì chính quá trình diễn biến của cuộc xung đột kéo dài đã làm cho nó không chỉ là một cuộc đấu tranh quân sự mà còn là một cuộc đấu tranh trong đó các lĩnh vực chính trị, kinh tế, hệ tư tưởng và con người trở thành ngày càng trọng yếu. Trong tất cả các nhân tố đó, không có nhân tố nào một mình mà có tính chất quyết định được nhưng tác động qua lại của chúng với nhau sẽ hình thành kết quả cuối cùng của chiến tranh.

Đối với Mỹ, Tết là sự đối đầu với thực tế, đã bị trì hoãn quá lâu; trước đó Mỹ đã bị mê hoặc bởi chính những ảo tưởng, những tham vọng và những nhu cầu của chính mình. Nhận thức muộn màng rằng, tuy có chiến thuật và kỹ thuật quân sự, Mỹ không có chiến lược quân sự phù hợp với các ưu tiên trong nước và trên quốc tế, nhận thức đó đã làm cho Tết trở thành điểm ngoặt trong tính toán của chính quyền Mỹ. Những người trước kia tán thành chiến tranh, bây giờ có những đánh giá khách quan hơn nhiều về so sánh lực lượng.

Tuy nhiên sự thay đổi trong dư luận công chúng đã xảy ra do kết quả của Tết, nhưng nó chưa đủ mạnh để đưa lại sự thay đổi trong suy nghĩ của những người đánh giá chính sách. Tất nhiên Tết đã làm cho báo chí nghi ngờ các báo cáo chính thức về chiến tranh nhưng không bao giờ họ phê phán các chính sách đế quốc đưa đến sự can thiệp của Mỹ lúc ban đầu.

Một lý do khác của sự mất lòng tin đó, ngoài thắng lợi của Cách mạng, là việc những người phát ngôn của Mỹ không hiểu gì tính chất của cuộc chiến tranh. Họ không biết tôn trọng báo chí và đưa ra những tin tức cố tình xuyên tạc nên việc báo chí chống lại những ảo tưởng của chính quyền Mỹ là một điều có thể đoán trước được, đấy là chưa nói đến việc nhiều người trong chính quyền cũng không còn tin vào những nhận thức sai lầm đó nữa.

Tết cho thấy rằng đã đến lúc phải tập trung vào những hạn chế của chế độ. Nếu theo đuổi một quy mô leo thang với mức cao hơn nữa thì sẽ gây thiệt hại không kể xiết cho vị trí kinh tế của Mỹ ở trong nước cũng như ở ngoài nước, cho sức mạnh quân sự của Mỹ ở những nơi khác và cho cả đời sống chính trị của Mỹ nữa. Đó là một cái giá mà ít ai nghiêm chỉnh muốn trả.

Cuộc tiến công càng làm cho tình hình trên nghiêm trọng thêm và nhìn về mặt này thì Cách mạng đã đạt được một thế lợi quyết định trong toàn bộ cuộc đấu tranh của mình. Quan trọng hơn nữa là tiến công Tết đã mở mắt cho Oa-sinh-tơn thừa nhận vai trò quan trọng của Việt Nam cộng hòa trong cố gắng chiến tranh.

Tất cả các cố vấn cấp cao có liên quan đến việc vạch ra chính sách tương lai đều đồng ý với nhận xét của CIA rằng: "ý chí và khả năng của chính phủ Việt Nam cộng hòa và các lực lượng vũ trang của nó vẫn là chìa khóa cho kết quả cuối cùng". Những tướng Mỹ biết rằng họ không thể thắng chiến tranh nếu Việt Nam cộng hòa không đảm nhận thêm gánh nặng quân sự và tiếp tục giữ thái độ vô trách nhiệm về mặt chính trị.

Mỉa mai thay, "Việt Nam hóa" chiến tranh một cách muộn màng đã trở thành trụ cột cuối cùng cho chiến lược Mỹ, đồng thời làm cho Mỹ hoàn toàn phụ thuộc vào chính những người phụ thuộc mình.
Chính sự bắt buộc phải dựa vào kẻ khác đó của Mỹ là sự bảo đảm cho thắng lợi cuối cùng của Cách mạng, bởi vì hầu như tất cả những ai có liên quan đến chiến tranh đều nghi ngờ ràng Việt Nam cộng hòa có thể thắng về quân sự trong khi nửa triệu quân Mỹ không thể thắng được.

Với ý nghĩa này, Cách mạng đã đạt các mục tiêu chiến lược chính của cuộc tiến công Tết, buộc Mỹ phải rời bỏ lĩnh vực của ao ước để đương đầu với lĩnh vực của sự cần thiết. Nhưng chính khung cảnh của cuộc đấu tranh sử thi anh hùng đó đang thay đổi đối với Cách mạng cũng như đối với kẻ thù. Chính quá trình của cuộc xung đột làm tan rã toàn bộ trật tự xã hội, ảnh hưởng đến đạo đức và khát vọng.
Sự biến đổi của đất nước, sự đô thị hóa tàn bạo, sự Mỹ hóa tư cách đạo đức của thanh niên, và tất cả những tai họa của chiến tranh và của sự chiếm đóng đã làm biến đổi những mục đích của nhiều người Việt Nam.

Sự xuất hiện những tầng lớp xã hội mới trong các đô thị vừa nổi lên, gây khó khăn cho cả Việt Nam cộng hòa lẫn Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tuy nhiên, trong khi những khó khăn đô thị của Đảng có tính chất chiến thuật thì đối với Việt Nam cộng hòa, chúng là những vấn đề cơ bản của sự sống còn.
Bởi vì khó khăn tai họa của Việt Nam cộng hòa là không có một cơ sở tổ chức kinh tế và tư tưởng để tự biến mình thành một lực lượng chính trị thực sự, có thể hoạt động và tồn tại độc lập với người Mỹ.

Cơ cấu nông thôn Nam Việt Nam cũng thay đổi và mỗi lần quần chúng bỏ ra đi thì sự thay đổi đó càng rõ rệt thêm. Vào năm 1968 tình hình nông thôn Nam Việt Nam khác hẳn khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra đời. Nhân dân ngày càng tha thiết với sự an ninh của mình vì đã chịu đựng quá nhiều những tàn phá của chiến tranh. Những nơi mà cơ sở hạ tầng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bị phá hủy, nông dân vẫn không đi với Việt Nam cộng hòa, bởi vì điều mà họ mong muốn nhất là hòa bình, thì Việt Nam cộng hòa không thể đưa lại cho họ. Tệ hơn nữa, những đòi hỏi ngày càng tăng của Việt Nam cộng hòa đối với nông dân càng làm cho họ thêm bất bình.

Tết là ngưỡng cửa trong sự phát triển của chiến tranh, một điểm ngoặt lớn bảo đảm rằng Cách mạng không thể nào bị đánh bại được. Tất cả những chiều cạnh tổ chức xã hội, kinh tế và con người đang diễn biến nhanh chóng, đã trở nên ngày càng có ý nghĩa cho kết quả cuối cùng của chiến tranh, và ngay dù cho chúng có vẻ mập mờ và u ám như thế nào lúc đó, rõ ràng cuối năm 1968, chúng tỏ ra là quyết định.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #118 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:35:50 am »

PHẦN NĂM
CHIẾN TRANH VÀ NGOẠI GIAO
( 1969 - 1972)

Chương hai mươi bảy
SỰ ĐỐI ĐẦU CỦA CHÍNH QUYỀN NÍCH-SƠN VỚI VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

Chính quyền Ních-xơn mang theo mình toàn bộ di sản của quá khứ: những nhận định trước kia về tính chất sức mạnh Mỹ và thế giới, những mong muốn và tham vọng quá chủ quan, những mục tiêu và những phương tiện để đạt những mục tiêu đó, cả những mâu thuẫn và thất vọng. Sự làm theo cũ chứ không phải đổi mới có tính toán là dấu hiệu của chính sách đối ngoại Mỹ đương thời, và những chuyển hướng lớn, nói chung chỉ nằm trong những lời hứa và ngôn từ của vận động bầu cử. Do cần có sự nhất trí chung, nên những thay đổi xảy ra chậm chạp, thường là để phản ứng lại những lực lượng và nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của Oa-sinh-tơn.

Chính sách Việt Nam của Mỹ trong nhiệm kỳ đầu của Ních-xơn thường có tính chất thí nghiệm và mâu thuẫn nhau, nhằm đối phó với cả so sánh lực lượng đang thay đổi ở Việt Nam lẫn những thúc ép chính trị và kinh tế chủ yếu không thể đoán trước được ở Mỹ cũng như trong chủ nghĩa tư bản phương Tây.

Chính quyền Ních-xơn mang theo một loạt các mục tiêu mà phần nhiều là sản phẩm của ý muốn chủ quan hơn là sự hiểu biết về thực tế, nhưng không có những ưu tiên toàn cầu rõ rệt, càng không có một kế hoạch hành động quyết định.

Mặc dù thông cảm với nỗi thất vọng sâu sắc về chiến tranh của Giôn-xơn, nhưng chính quyền Ních-xơn cũng vây, không thừa nhận thất bại. Chính quyền đó không có khả năng gì hơn để thực sự rút ra bởi vì nó tán thành tất cả các cam kết của các tổng thống trước về lòng tin, thuyết đô-mi-nô và thế khó xử của sức mạnh quân sự Mỹ. Tất cả điều khác nhau cơ bản là tình hình trong nước, ở Việt Nam, và trên thế giới, từ đầu năm 1969 đã diễn biến nhanh chóng và quyết định hơn nhiều so với sức tưởng tượng của chính quyền mới. .
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #119 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:36:40 am »

SỰ CHUYỂN TIẾP CỦA CHÍNH QUYỀN NÍCN-XƠN

Ních-xơn đã vạch ra một chiến lược khái quát về Việt Nam khá lâu trước khi gặp Kít-xin-giơ. Chiến lược đó đi song song với cách suy nghĩ trong chính quyền Giôn-xơn. Giống như phần đông ở Oa-sinh-tơn, cuối năm 1967, Ních- xơn đã thấy chiến tranh như bế tắc. Trong cuộc tiến công Tết, ông ta cùng với chính quyền Mỹ, tán thành quan điểm tranh thủ thời gian để cho Việt Nam cộng hòa nhận lấy gánh nặng chiến đấu, làm cho vai trò trực tiếp của Mỹ có thể giảm đi, trong khi những nhân tố khác có thể được kết hợp để giữ cho Nam Việt Nam không cộng sản tiếp tục tồn tại.

Những biện pháp đó bao gồm những hình thức leo thang mới nhằm gây sức ép đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa đồng thời nhằm khuyến khích những phát triển khác. Vào năm 1968, ông ta không còn tin rằng cuộc chiến tranh có thể thắng chỉ bằng vũ lực. Tính chất độc đáo của Ních- xơn là ở chỗ ông ta mò mẫm tìm một giải pháp ngoại giao song song với chiến tranh bằng cách lôi kéo Liên Xô và Trung Quốc vào.

Trong khi ông ta phải cải tiến và mở rộng chính sách cho phù hợp với thời gian, ông ta có ý định gắn các quan hệ toàn cầu Mỹ - Xô với sự tiến bộ trong việc giành một giải pháp hài lòng cho chiến tranh Việt Nam, dùng sự tiếp xúc với người Nga bằng củ cà-rốt và cây gậy nếu cần. Ních-xơn cũng thấy được một vai trò độc lập của Trung Quốc và khả năng của một nền ngoại giao tam giác để lợi dụng làm sâu sắc thêm những bất đồng Trung - Xô.

Một phần không kém quan trọng của chiến lược Việt Nam như Ních-xơn đã tin trước khi ông ta trúng cử, là áp dụng "học thuyết người mất trí". Ông ta đã giải thích học thuyết đó cuối năm 1968 rằng: "Tôi muốn người Bắc Việt Nam tin rằng tôi đã đi đến chỗ có thể làm bất cứ việc gì để chấm dứt chiến tranh. Chúng ta chỉ cần chuyển lời cho họ rằng, vì chúa, anh phải biết rằng Ních-xơn rất ngán với Cộng sản. Chúng tôi không thể nào kìm chế được ông ta khi ông ta nổi giận - và ông ta có ngón tay đặt trên nút hạt nhân".

Tất nhiên, ấn tượng rằng Tổng thống là vô cùng thiếu trách nhiệm, đã dần dần lan rộng không phải đến những người cộng sản vì họ không bao giờ để cho bị hăm dọa, mà đến chính những người ủng hộ ban đầu của ông ta và đến phần còn lại của thế giới. Tất cả các thành phần đó của chính sách đan chéo vào nhau, kết hợp lại với nhau, đã chiếm phần lớn nhiệm kỳ đầu tiên của ông ta, nhưng những nhân tố của hành động tương lai đã được phát hiện ngay khi Ních-xơn chưa được bầu.

Hăng-ri Kít-xin-giơ không có vai trò gì trong giai đoạn đầu này của việc vạch ra một chiến lược mới. Là một con người mưu cầu quyền lực vô cùng tham lam, đã từng phục vụ cả những người Dân chủ lẫn đối thủ chính của Ních-xơn là Nên-xơn Rô-cơ-phe-lơ, Kít-xin-giơ đã biết lợi dụng sự mất tín nhiệm của Tổng thống đối với Bộ Ngoại giao và việc ông ta muốn tự mình kiểm soát chính sách đối ngoại.

Nhưng, nói rằng vị cố vấn an ninh quốc gia mới là một người cơ hội hoặc biết cách làm tăng cái tôi của Tổng thống và khuếch đại những ý nghĩ của Tổng thống, là điều không quan trọng bởi vì những cố vấn trước ông ta và sau ông ta đều là như vậy, cái độc đáo của Kít-xin-giơ không phải là ở tài bợ đỡ của ông ta mà là ở xu hướng bản năng đơn giản hóa một cách thô bạo bản chất của quá trình diễn biến quốc tế và các quan hệ quyền lực thế giới khả dĩ làm tăng thêm chính xu hướng của Tổng thống muốn đưa ngoại giao trở thành trung tâm cho chiến lược Việt Nam của ông ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM