Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:25:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Giải phẫu một cuộc chiến tranh  (Đọc 112950 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #120 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:37:18 am »

Kít-xin-giơ thành thật tin rằng nền ngoại giao các nước lớn sẽ đưa lại một sự nhất trí có hiệu lực và có thể cùng nhau chấp nhận được, để giải quyết các vấn đề khu vực. Nếu ông ta còn có chút hoài nghi nào đó, thì chính quyền sẽ ít bị lôi cuốn một cách sai lầm vào điều mà họ cho là Trung Quốc và Liên Xô có thể làm để chấm dứt chiến tranh.

Kít-xin-giơ không có bất cứ khả năng nào để hiểu thấu đáo rằng những biến động xã hội trong thế giới và những khủng hoảng về chính sách đối ngoại do tình hình không ổn định gây ra, đã làm cho ngoại giao không còn thích hợp hoặc ít ra là có tính chất hời hợt như thế nào.

Bằng cách củng cố những nhận định đã ăn sâu của Tổng thống về chiến lược phức tạp của ông ta với chiến lược của chính mình, Kít-xin-giơ đã đưa chính quyền đi vào một nền ngoại giao viển vông có thể làm cho Mỹ cuối cùng rút được quân nhưng lại tạo điều kiện tiên quyết cho chiến thắng của Cách mang. Tóm lại, vị giáo sư trường đại học Ha-vát cũng không có nhận thức gì hơn các người trước ông ta.

Nhưng cách nhìn đặc biệt của Kít-xin-giơ đối với chiến tranh trước khi được cử vào chức vụ chiến lược của ông ta, không giàu tưởng tượng bằng Ních-xơn. Cũng tin rằng Mỹ không thể thắng cuộc chiến tranh bằng quân sự, Kít-xin-giơ cũng vậy, cũng tán thành chuyển một trách nhiệm quân sự lớn hơn nhiều cho Việt Nam cộng hòa và củng cố nó bằng chính trị. Ông ta tin rằng Mỹ phải hướng tất cả các hành động quân sự của mình để đi đến các cuộc thương lượng; nếu việc này mà thất bại thì đành phải đơn phương đạt được càng nhiều mục tiêu càng tốt. Đối với Kít. xin-giơ, rút quân hoàn toàn mà không cứu vãn được thể diện và lòng tin của Mỹ là không thể đặt thành vấn đề.

Điều làm cho các mục tiêu của tổng thống mới và các cố vấn của ông ta trong giai đoạn tiếp theo khác với các mục tiêu của chính quyền Giôn-xơn là việc Ních-xơn nhấn mạnh đến ngoại giao các nước lớn chứ không phải ngoại giao song phương để làm chìa khóa cho một giải pháp. Việt Nam hóa và đe dọa leo thang không phải là những biện pháp duy nhất. Nhưng kết hợp các thành phần của chính sách lại với nhau và thực hiện chúng, đòi hỏi phải có thời gian.

Trong khi đó thì Kít-xin-giơ lao ngay vào việc xem xét dư luận chính thức về tình trạng chiến tranh và cách lựa chọn, mà kết quả đã thể hiện dưới hình thức văn kiện "NSSM-1" đã được hoàn thành giữa tháng 3 năm 1969. Bản nghiên cứu mật bộc lộ một sự khác biệt vừa phải về triển vọng của chiến tranh giữa giới quân sự và phần còn lại của Oa-sinh-tơn, kể cả những người dân sự trong Lầu Năm Góc.

Tất nhiên là giới quân sự bảo vệ tính có hiệu quả của các hành động và chương trình của chính họ, nhưng trên thực tế họ chỉ đưa ra những mức độ khác nhau của sự bi quan vế sự kéo dài cuộc chiến tranh trong tương lai. Phần đông tin rằng chiến tranh sẽ kéo dài hơn là Ních-xơn hoặc bất kỳ ai khác cho là có thể chịu đựng được. Bản báo cáo cho rằng tương lai chính của Việt Nam cộng hòa là mong manh; không có sự có mặt của Mỹ nó không thể sống sót lâu.

Bản báo cáo cũng coi những người cộng sản vừa có khả năng vừa có quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh một cách vô thời hạn. Nếu điều mà chính quyền mới cần là thời gian để áp dụng chiến lược của mình cho chiến tranh, thì NSSM-1 tiết lộ rằng cán cân lực lượng ở Việt Nam là rất bất lợi và khả năng của vũ khí Mỹ nhằm thay đổi cán cân đó không còn hứa hẹn gì cho Ních-xơn hơn là cho Giôn-xơn.

Nhưng trong khi NSSM-1 tỏ ra rất thực tế trong việc chẩn đoán có phần bi quan của mình, bây giờ vấn đề còn lại là liệu chính phủ mới có tỏ ra là hợp lý hơn những chính phủ trước để đương đầu với những thực tế không.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #121 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2008, 11:38:09 am »

CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH THỜI GIAN CỦA CHÍNH QUYỀN

Những giả định ban đầu của chính quyền về vấn đề Việt Nam đòi hỏi thời gian một cách vô hạn định cũng như đòi hỏi thoát khỏi muôn vàn sức ép cả ở trong nước lẫn ở các nơi khác trên thế giới; thế tiến lùi đều khó là việc chính quyền không nắm được mức độ của sự tự do hoặc những ràng buộc của mình.
Chính quyền sớm thấy được sự thoát khỏi như thế nào các sức ép chính trong nước khi trong tháng 3, họ bắt đầu nói bóng gió về việc rút quân Mỹ đi đôi với một hành động hỗ tương của Cộng sản.

Chính quyền Giôn-xơn đã xem xét những cử chỉ như vậy nhưng chủ yếu là để giảm các lực lượng không chiến đấu quá mức để tiết kiệm chi tiêu, còn Ních-xơn thì đến tháng 6, để đáp ứng các sức ép chính trị, đã tán thành rút 25.000 quân và tiếp theo là rút một số lớn hơn vào tháng 9 và tháng 12 đưa tổng số quân rút trong năm đầu 1à 111.000.

Sự nghi ngờ của báo chí Mỹ đối với những cố gắng đó nhanh chóng xuất hiện. Không chịu tiết lộ toàn bộ chiến lược ở Việt Nam, tuy đã công khai khẳng định có một kế hoạch, Nhà Trắng cuối cùng bắt đầu làm giảm sự tin cậy đối với mình và đặt cơ sở cho một cuộc xung đột lớn giữa cơ quan hành pháp và quốc hội và cho một khủng hoảng lịch sử của nhiệm vụ tổng thống. Riêng Tổng thống cũng phải đương đầu với những vấn đề kinh tế và quân sự của đất nước.

Chống đối chiến tranh là một thực tế chính trị của cuộc sống sau Tết 1968, đạt đỉnh cao mùa xuân năm 1970, khi mà đa số hai trên một của người Mỹ tin rằng việc gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm. Phong trào chống chiến tranh, hoạt động hơn và rõ rệt hơn cuối năm 1969, đã bám rễ sâu trong giới trí thức và trong các trường đại học lớn, đầy uy tín. Quốc hội cũng biết rõ những xu thế chính trị này và tình cảm chống chiến tranh cũng được phát triển ở đây. Trong khi đó thì chiến tranh bị hạ xuống thành một hành động tàn bạo, tội ác và cuộc thảm sát thôn Mỹ Lai tháng 11 năm 1969 là một bằng chứng của quá trình đó.

Sự tàn phá hàng loạt các thôn xã và giết hại người dân vô tội là đặc trưng của chiến tranh ngay từ đầu và vấn đề này đã được các nhóm chống chiến tranh công bố rộng rãi. Lúc đầu những tin tức này bị coi là cực đoan, cho đến khi các tờ báo lớn, đặc biệt tờ Thời báo Niu Yoóc phát hiện rằng ý định thực sự của chính quyền là kéo dài chiến tranh vô thời hạn. Tính chiến đấu mới này không phải là do có thêm tin tức mới mà là do một nỗi lo sợ sâu sắc của các tầng lớp khác nhau của xã hội truyền thống, rằng chiến tranh có thể kéo dài và tổn phí xã hội, kinh tế và chính trị có thể là khổng lồ. Vào cuối năm 1969, thời kỳ đặc ân của Tổng thống đã chấm dứt và một chuyển hướng bền bỉ trong Quốc hội, báo chí và các thành phần tinh túy khác sang tình cảm chống chiến tranh đã bắt đầu.

Sự thay đổi lớn trong cộng đồng kinh doanh xảy ra cuối năm 1968 và năm 1969. Tháng 9 năm 1969, tạp chí Phoóc-tuyn thăm dò dư luận những người đứng đầu của năm trăm công ty hàng đầu của Mỹ và thấy rằng Việt Nam, theo sau là lạm phát, các vấn đề đô thị, và tình trạng náo động trong các trường đại học, đã được xem như là một trong những vấn đề trầm trọng nhất mà đất nước phải đương đầu. Họ xem Việt Nam là gắn với tất cả những vấn đề đó và việc không thắng chiến tranh đã làm cho những người tin tưởng nhiều nhất vào nến kinh tế chuyển sang các chính sách có tính chất bồ câu.

Lạm phát năm 1969 và 1970 đạt đỉnh cao của thời kỳ sau năm 1951, và tuy ngân sách liên bang năm tài chính 1969 đã được cân đối sau một thâm hụt 25 tỷ đô-la năm trước đó, ngân sách đầu tiên của Ních-xơn năm 1970 đã thâm hụt 3 tỷ đô-la và tăng lên đến 23 tỷ trong năm 1971 cũng như trong năm 1972. Thị trường chứng khoán đầu năm 1970 bắt đầu trượt theo lạm phát, theo lợi nhuận kém sút và theo sự không ổn định của chiến tranh, và mùa xuân năm 1970, khi những đe dọa của một cuộc chiến tranh mở rộng ở Đông Dương bắt đầu lưu hành thì những phần tử có uy tín của cộng đồng kinh doanh bắt đầu nói lên lời nói của giới kinh doanh.

Lui B. Lơn-đboóc chủ tịch Ngân hàng Mỹ, ngân hàng lớn nhất thế giới nói ngày 15 tháng 4 với ủy ban quan hệ đối ngoại của Thượng viện, rằng "Đối với tôi, dường như đã đến lúc phải nói rõ: Cuộc chiến tranh đã phá hoại nghiêm trọng nền kinh tế Mỹ, đã làm rực cháy ngọn lửa lạm phát, đã làm khô kiệt tài sản vô cùng cần thiết để khắc phục các vấn đề nghiêm trọng trong nước... và đã hạ thấp tốc độ phát triển của lợi nhuận...".

Từ lúc này trở đi, sự chống đối chiến tranh không phải chỉ đóng khung trong những vùng cử tri cách biệt mà lan đến những khu vực quyền lực quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến báo chí và Quốc hội. Tuần báo Bi- di-nêt-uýt kết luận vào giữa tháng 4: "Có ít diều hâu còn lại trong thế giới kinh doanh".
Sau khi mở rộng cuộc chiến tranh ra Cam-pu-chia, kể cả việc sử dụng lính Mỹ ngày 30 tháng 4, sự tự do hành động còn lại của Tổng thống đã bị gắn liền với khả năng của ông ta đối phó với sự chống đối rộng lớn của công chúng và của giới trí thức mà cuối năm 1970 đòi một sự rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam trong vòng một năm.

Không có tổng thống nào sau chiến tranh bị bao vây kìm chế như vậy. Điều đó không có nghĩa là ông ta không thể khắc phục được những vấn đề chính trị trước mắt của ông ta, nhưng không còn nghi ngờ gì nữa rằng dư luận bây giờ là một thách thức to lớn và mạnh mẽ đối với ông ta.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #122 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 10:56:11 am »

VIỆT NAM VÀ NHỮNG RÀNG BUỘC CỦA CÁC ƯU TIÊN TOÀN CẦU MỸ

Những thách thức chính quyền Ních-xơn bao gồm phần lớn các tác động chồng chất của cuộc chiến tranh kéo dài đối với vị trí và các ưu tiên quân sự và kinh tế toàn cầu Mỹ. Chính quyền đó nhận thức ra rằng họ không còn có thể trì hoãn đối phó với những vấn đề như vậy mà không gây ra một sự lu mờ nghiêm trọng quyền lực của Mỹ trên thế giới, và mặc dù tầm quan trọng rất tượng trưng của chiến tranh, chính quyền mới cũng thấy rằng họ còn phải giải quyết nhiều nhu cầu khác nữa.

Các thành viên chủ chốt của ngành hành pháp đối phó với thế khó xử đó một cách khá khác nhau, và trên nguyên tắc, tất cả đều thống nhất rằng phải làm một việc nào đó, nhưng chính Mên-vin R. Le-đơ, bộ trưởng quốc phòng mới, là người có quyết tâm nhất trong việc giải quyết các thách thức đó.

Vào năm tài chính 1969 chiến tranh chiếm 37 phần trăm toàn bộ chi tiêu quân sự và số tiền đó chủ yếu rút ra từ ngân sách dành cho vũ khí và trang bị, kể cả những hệ thống vũ khí mới, và cho các lực lượng lớn hơn ở châu Âu. Ngoài thực tế rằng các ngành đó luôn luôn thiếu kinh phí nên rất bất bình về những tác động của chiến tranh đối với tên lửa, tàu chiến, quyền lực khu vực của họ hoặc đối với khả năng đương đầu với sức mạnh của Liên Xô, toàn bộ ngân sách của Lầu Năm Góc đã bị lạm phát và không tránh khỏi bị cắt xén.

Trong năm tài chính 1973, do ngân sách sụt mất 8 phần trăm so với mức năm 1964 nên Lầu Năm Góc trở thành lực lượng khó bảo nhất mà Tổng thống phải đối phó, trong việc vạch ra chính sách Việt Nam trong nhiệm kỳ đầu của ông ta vì ông ta không dễ gì đàn áp như đàn áp sinh viên hoặc những trí thức suy tàn của miền Đông nước Mỹ. Hơn nữa Tổng thống không thể chống lại lập luận hết sức vững chắc rằng chi tiêu cho chiến tranh Việt Nam phải được giảm xuống để có thể mua tàu và tên lửa hết sức cần thiết.

Chính quyền đã bỏ ra cả năm 1969 để nghiên cứu những nhu cầu và lựa chọn quân sự toàn cầu của mình, và đi đến một bản nghiên cứu khác của Hội đồng an ninh quốc gia, NSSM-3, xác định một loạt các lựa chọn khác nhau, trong đó không có lựa chọn nào có thể thực hiện được nếu không rút các lực lượng Mỹ khỏi Việt Nam vào năm 1973, trừ việc để lại một phái đoàn cố vấn nhỏ.

Việc kéo Trung Quốc ra khỏi hàng ngũ kẻ thù cũng rất cần thiết cho việc thực biện bản nghiên cứu nói trên và chính việc này đã làm cho Oa-sinh-tơn củng cố chiến lược ngoại giao tiếp theo của mình. Vào đầu năm 1970, chính sách hiện đại hóa toàn bộ ngành quân sự đã được mọi người trong chính quyền ủng hộ và xem đó là thiết yếu cho sự khẳng định lại lòng tin và sức mạnh chiến lược của Mỹ chống lại Liên Xô và vào khả năng của Mỹ đánh một cuộc chiến tranh toàn bộ và một chiến tranh cục bộ lớn trong cùng một lúc.

Để cho lực lượng quân sự trở nên gọn và mạnh nhằm có nhiều khả năng nhưng lại tốn ít tiền, lực lượng đó phải giảm một triệu quân vào năm 1973 để lấy tiền mua sắm những thiết bị mới. Một khi đã dốc lòng theo chiến lược đó, Le-đơ đã tìm mọi cách thực hiện nó, vì biết rằng, nếu không làm được, thì tổ chức quân sự sẽ ở trong tình trạng yếu kém, vì thiếu kinh phí.

Đã từng hoạt động mười sáu năm trong Hạ viện, ông ta, hơn ai hết trong chính quyền, hiểu rõ những tình cảm của cơ quan lập pháp. Ông ta cũng tin rằng Mỹ khỏng thể thắng cuộc chiến tranh Việt Nam hoặc ở chiến trường hoặc trên bàn thương lượng, nên ông ta lo rằng dư luận công chúng sẽ buộc Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến tranh bất chấp ý muốn của Tổng thống như thế nào. Ít ra ông ta muốn vừa hiện đại hóa quân đội vừa tiêu ít tiền và ông ta chiến đấu mãnh liệt cho lập trường của ông ta cả công khai lẫn riêng rẽ.

Những đợt rút quân đầu tiên năm 1969 chỉ nhằm vào những lực lượng không cần thiết và, trên hết, nhằm tranh thủ công chúng chấp nhận sự tiếp tục chiến tranh. Lúc ban đầu Le-đơ đề nghị chỉ rút vừa phải, nhưng khi NSSM-3 đã được đưa ra thì ông ta thấy rằng rút thường xuyên khỏi Việt Nam là thiết yếu. Bất chấp sự dè dặt của các tướng chủ chốt lo về chiến tranh, Le-đơ đã thúc đẩy những cuộc rút quân, buộc Tổng thống trong những năm tiếp theo thực hiện một cách vững chắc chính sách chính thức đó, ngay khi Tổng thống còn muốn quay lại chiến tranh lần nữa.

Mặc dù có những diễn biến sóng gió của chiến tranh, chi tiêu đã từ 28,8 tỷ đô-la năm 1969, ngân sách cuối cùng của Đảng Dân chủ, xuống còn 9,3 tỷ năm 1972. Toàn bộ lực lượng quân sự Mỹ trên thế giới đã giảm trên 1,1 triệu quân, gấp đôi số quân ở Việt Nam vào lúc cao nhất trong chiến tranh. Le-đơ đưa việc rút quân khỏi Việt Nam vào phạm vi ngân sách của Lầu Năm Góc và do đó mà tiến công vào mọi trì hoãn như là "từ bỏ việc hiện đại hóa vũ khí" làm cho những phần tử diều hâu cũng không chống lại được.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #123 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 10:57:01 am »

Việc rút quân cũng làm giảm tình cảm chống chiến tranh. Tuy vậy, trong năm đầu làm nhiệm vụ, chính quyền Ních-xơn cũng không đưa ra được một chiến lược chiến tranh nào để thay thế mà vẫn tiếp tục trì hoãn để tranh thủ thời gian và dựa vào các khái niệm về Việt Nam hóa, về sử dụng ngoại giao và về đe dọa bằng "học thuyết người mất trí" để tạo ra một kế hoạch mới, thắng lợi. Đồng thời chính quyền đó cũng vạch ra những chính sách nhất quán hơn về các vấn đề toàn cầu làm cho không thể trở lại một cách lâu dài quá trình leo thang. Nếu làm khác đi, không những có nghĩa là thua chiến tranh ở Việt Nam mà còn để cho sức mạnh ở nơi khác trở nên tan nát và làm phá sản vị trí của Mỹ trong nền kinh tế thế giới.

Chính sách chiến tranh của Nhà Trắng ngay tức khắc xung đột với những đòi hỏi của chiến lược quân sự toàn cầu và với những ràng buộc của tình hình kinh tế thế giới và của mối quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh châu Âu, đã từng làm điêu đứng Giôn-xơn trong năm 1968. Trong suốt 4 năm đầu nhậm chức, Ních-xơn luôn luôn phải giải quyết các vấn đề kinh tế thế giới. Những lợi ích toàn cầu lớn hơn của Mỹ về mặt quân sự, kinh tế và chính trị đòi hỏi sự chú ý thường xuyên trong những năm Ních-xơn hơn là trước kia.

Không có nhân vật quan trọng nào trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông ta sẵn sàng hoặc đủ khả năng đương đầu với những vấn đề kinh tế thế giới.. Kít-xin-giơ, tiêu biểu cho sự thiển cận trong toàn bộ sự nghiệp khoa học xã hội, đã thừa nhận rằng ông ta hoàn toàn dốt về khoa kinh tế quốc tế cho nên đã tránh nó được chừng nào tốt chừng ấy: "Chỉ về sau tôi mới biết rằng những quyết định chính sách kinh tế chủ chốt không phải là kỹ thuật mà là chính trị".

Vấn đề cơ bản là lạm phát. Nó gây ra những thâm hụt lớn khi các nhà kinh doanh Mỹ đầu tư đô-la của họ ra nước ngoài, gây nguy hại cho các nhà tư bản ngoại quốc. Những chi tiêu lớn cho chiến tranh và cho các căn cứ ở nước ngoài và những thâm hụt ngân sách to lớn trong nước làm cho các con số thống kê ngày càng trở nên đáng sợ. Năm 1971 Mỹ chịu thâm hụt mậu dịch đầu tiên sau chiến tranh, và cán cân tiền lưu hành ngoài nước của Mỹ đã lên đến con số đáng ngạc nhiên là 19 tỷ đô-la năm 1972.

Các nhà tư sản châu Âu đòi rằng người Mỹ không được tiếp tục những chương trình kinh tế làm xói mòn đồng đô-la một cách vô trách nhiệm, và chính quyền Mỹ cho rằng người Đức và Nhật Bản phải nâng giá đồng tiền của họ. Giôn Cô-na-li, bộ trưởng ngân khố tuyên bố rằng "đồng đô-la là đồng tiền của chúng tôi nhưng là vấn đề của các bạn".

Để bảo vệ mình, các ngân hàng trung ương bắt đầu đòi đổi đô-la lấy vàng ở Oa-sinh-tơn, và 845 triệu đô-la trong dự trữ vàng của Mỹ chạy ra khỏi Mỹ trong 9 tháng đầu năm 1971. Ngân hàng dự trữ liên bang ở Niu Yoóc trong mùa xuân đã luôn luôn nhắc nhở Oa-sinh-tơn rằng đồng đô-la có thể sụp đổ và sự sụp đổ có nghĩa là một cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị thế giới.

Vào lúc này hầu như tất cả những tập đoàn kinh tế Mỹ có hoạt động ở hải ngoại đều rất lo sợ trước các xu hướng đó, và chính quyền Mỹ thì buộc phải đương đầu với những vấn đề đang xảy ra. Ngay Kít-xin-giơ bàng quan, mà tính thụ động là mặt nạ che giấu sự dốt nát, cũng thấy rằng rất cần thiết "Không được để cho các vấn đề kinh tế lấn át tất cả các suy xét của chính sách đối ngoại".

Vào đầu tháng 8, các quan chức dự trữ liên bang Niu Yoóc nhắc nhở Oa-sinh-tơn về một sự hoang mang sợ hãi sắp xảy ra. Và ngày 15 tháng 8, chấp nhận một loạt các đề nghị do người đứng đầu trước đây của IBM dự thảo ra cho ông ta và phản ánh các nguyện vọng của các công ty Mỹ lớn hoạt động ngoài nước, Tổng thống đã chấp nhận một chương trình bảo vệ đồng đô-la, quy định giảm chi tiêu ngoài nước và tiến công vào lạm phát. Quan trọng hơn là, không tham khảo ý kiến các đồng minh nước ngoài hoặc các nhà lãnh đạo tài chính Niu Yoóc, chính quyền Mỹ đã hủy bỏ bảo đảm vàng của đồng đô-la và chấm dứt hệ thống Brêt-ton Út, đã từng khống chế nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới từ năm 1945.

Ngay biện pháp đó bây giờ cũng tỏ ra là quá ít và quá chậm. Người châu Âu bất bình sâu sắc về hành động đơn phương đối với những vấn đề có liên quan đến phúc lợi của họ. Tìm cách đưa ra những chính sách tài chính để thỏa mãn những nhu cầu trong nước, chính quyền Mỹ bị kẹt vào thế khó xử cổ điển giữa các vai trò kinh tế quốc tế và trong nước của mình.

Ngày 18 tháng 12 Mỹ chính thức phá giá đồng đô-la. Nền kinh tế thế giới bây giờ lại rơi vào cơn nước xoáy không bao giờ dứt và trong nhiều năm tiếp theo, nó buộc Oa-sinh-tơn phải quan tâm và trở thành một nhân tố dai dẳng trong các lựa chọn chiến tranh của Mỹ. Tuy chi tiêu chiến tranh thay đổi, nhưng bây giờ đã có một giới hạn về thời gian và về mức độ để chính quyền Mỹ tiếp tục cuộc chiến tranh, e rằng càng chi tiêu thêm càng làm nguy hại đến địa vị ngày càng mong manh của Mỹ trong nền kinh tế thế giới.

Cách tiến hành chiến tranh của chính quyền Ních-xơn đã làm giảm nhiều sự tự do hành động của họ. Vấn đề nổi bật mà Tổng thống phải đương đầu là: chiến tranh đấu với sức mạnh quân sự và kinh tế của Mỹ trên thế giới và với sự vững vàng của hệ thống kinh tế và chính trị trong nước. Nếu tránh né và trì hoãn được những vấn đề ở một lĩnh vực này thì Tổng thống lại phải đối phó với nhiều vấn đề ở lĩnh vực khác. Những vấn đề chồng chất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc Mỹ đã đi vào một giai đoạn mới về chất lượng.

Cũng như cái lô-gích của tham vọng toàn cầu sản sinh ra sự xâm lược, khuyến khích các học thuyết về lòng tin và sự lo lắng về những đô-mi-nô ở Việt Nam, khi Oa-sinh-tơn tin là đã có sức mạnh to lớn về quân sự, kinh tế và chính trị, thì cũng chính cái lô-gích đó đã buộc Oa-sinh-tơn phải rút lui. Chính hoàn cảnh đó, những nhận thức và những vấn đề, những sức ép và những ép buộc về cơ cấu sau năm 1970 đã ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với một cuộc chiến tranh mà sự nguy hiểm cho sức mạnh và lợi ích của Mỹ trên khắp thế giới cũng như cho sự ấn định trong nước, đang ngày càng tăng lên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #124 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 10:58:06 am »

LEO THANG VÀ VIỆT NAM HÓA

Bất chấp những khó khăn to lớn và ngày càng tăng của mình, chính quyền Ních-xơn rất ưa thích những ảo tưởng và hão vọng khi hoàn cảnh cho phép. Chính quyền đó rất kiên trì trong việc tranh thủ thời gian. Đứng trước những lựa chọn bị thu hẹp và tài sản bị hạn chế, chính quyền Ních-xơn không đi vào một chủ nghĩa thực tế trung thực để có một sức mạnh tổng hợp trong nước và ngoài nước nhằm bảo vệ lợi ích của mình, mà đi vào thỏa mãn những mong muốn và giả định hão huyền đã từng làm cơ sở cho chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh.

Không thể chờ đợi rằng Mỹ sẽ tử tế và thông minh trước những sức ép không ngớt của các lực lượng bên ngoài, trước những thất bại vừa qua và trước nhược điểm hiện tại của họ. Tuy nhiên, dù là không nói lên rõ ràng, nhưng sự rút lui là thực tế ngay cho rằng hai người quan trọng nhất làm ra chính sách của chính quyền, Ních-xơn và Kít-xin-giơ, có đủ ảo vọng để làm cho mỗi bước đi trong quá trình trở nên đẫm máu và đau đớn một cách khủng khiếp, cho toàn bộ đất nước Việt Nam và một phần nhỏ hơn, khó mà so sánh được cho bản thân đất nước họ. 

Chính sách Mỹ ở Việt Nam sau năm 1969 trên thực tế chỉ là một loạt những hành động ngẫu hứng và những thí nghiệm dựa trên một số những ý muốn và giả định. Trong những giai đoạn dài, bản thân Nhà Trắng không thực sự hiểu hết những tác động cuối cùng và những mục tiêu chính sách của họ, mà nhìn lại về trước thì thấy là rất ngẫu nhiên.

Tuy vậy họ lấy lý do là để cứu vãn "lòng tin" vào sức mạnh của Mỹ, nên họ phải kéo dài chiến tranh đến lúc đạt được một giải pháp chấp nhận được mà không bị các vấn đề và các tổn thất khác lấn át. Đó là một chính sách mà Le-đơ không tán thành bằng cách đòi rút quân Mỹ với một tốc độ ngày càng tăng.

Còn Kít-xin-giơ, một nhà tư tưởng, thì cho rằng thuyết phục được những đồng minh châu Âu về "sức chịu đựng của Mỹ” là điều sống còn đối với NATO và thiết yếu cho việc duy trì sự ổn định và vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới. Ông ta luôn luôn trở lại đề tài này, như Tổng thống đã làm, và đó là điều giải thích chủ trương nhất quán của ông ta nhằm từng lúc leo thang bạo lực trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống.

Tuy nhiên lòng tin không phải là nguồn gốc duy nhất của việc kéo dài chiến tranh, bởi vì chính quyền còn muốn có thời gian để thí nghiệm chính sách Việt Nam hóa và sự thích hợp của nền ngoại giao các nước lớn cho một giải pháp Việt Nam. Bản thân Kít-xin-giơ trong năm 1969 bắt đầu xem xét kế hoạch khác nhau để leo thang chiến tranh với lòng tin rằng ông ta có thể đẩy Việt Nam dân chủ cộng hòa vào thương lượng theo những điều kiện của Mỹ. Ních- xơn thì vẫn còn muốn áp dụng "học thuyết người mất trí" của ông ta vào tình hình thực tế.

Một cơ hội như vậy xuất hiện trong tâm trí của Kít-xin-giơ và Ních-xơn, có lẽ để làm hoảng sợ Liên Xô và Việt Nam dân chủ cộng hòa khi vấn đề Cam-pu-chia diễn ra trong tháng 3 và tháng 4 năm 1970. Sự lật đổ Xi-ha-núc ngày 18 tháng 3 bởi tập đoàn Lon Non thân Mỹ hơn, đầu tiên không phải là việc làm của Mỹ nhưng Oa-sinh-tơn biết cuộc đảo chính trước khi nó xảy ra và nhanh chóng giúp đỡ những nhà lãnh đạo mới. Việc chế độ mới sẽ đuổi các lực lượng cộng sản ra khỏi các căn cứ của họ ở vùng biên giới là điều chắc chắn.

Cuối tháng 3, các đơn vị Việt Nam cộng hòa, được máy bay lên thẳng Mỹ chở đến, đã tiến công vào các căn cứ đó, do đó mở rộng chiến tranh ra một quốc gia khác. Cơ hội để tỏ ra cứng rắn đã đến.

Cả Le-đơ lẫn bộ trưởng ngoại giao Uy-li-am Rô-giơ đều phản đối một cuộc xâm lược Mỹ vào Cam-pu-chia. Nhiều trợ lý then chốt của Kít-xin-giơ cũng từ chức để phản đối. Ngày 20 tháng 4, Tổng thống công bố rút 150.000 quân Mỹ nữa trong năm tiếp theo và dùng nó để biện bạch cho một cuộc tiến công vào Cam-pu-chia rõ ràng là để quét sạch các căn cứ hậu cần lớn và tổng hành dinh của Trung ương Cục và để bảo vệ số quân còn lại sau khi rút.

Tác động cụ thể là đập tan mọi ảo tưởng và khoan dung nào còn lại ở nước Mỹ đối với Tổng thống; các trường đại học nổi dậy và phản đối nổ ra khắp nơi, và càng bị kích động hơn nữa, bởi việc lực lượng trù bị quốc gia giết chết bốn sinh viên tại trường đại học bang Kent ngày 4 tháng 5. Vào cuối năm, Quốc hội nghiêm chỉnh xem xét một loạt các đề nghị nhằm hạn chế chiến tranh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #125 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 10:58:49 am »

Về quân sự, cuộc xâm lược Cam-pu-chia làm cho cuộc chiến tranh mở phạm vi ra cả Đông Dương, dàn mỏng một Việt Nam cộng hòa không được chuẩn bị tốt cũng như dàn mỏng cả những khả năng quân sự và chính trị của Mỹ. Cuộc xung đột mở rộng đó nhanh chóng chuyển so sánh lực lượng mới có lợi cho Cách mạng, làm cho Cách mạng lấp được lỗ trống mà không quân Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa phải bỏ lại khi bị điều động ra hoạt động ở ngoài Nam Việt Nam.

Quan trọng hơn, Nhà Trắng bắt đầu một hành động tàn phá kinh khủng đất nước Cam-pu-chia. Rồi họ lại đưa ra một kế hoạch cho một cuộc viễn chinh của quân đội Việt Nam cộng hòa nhằm cắt đứt đường tiếp tế đi ngang qua Nam Lào. Cuộc tiến công lấy tên là Lam Sơn 719, bắt đầu ngày 8 tháng 2 năm 1971 với sự yểm trợ hoàn toàn của không quân Mỹ.

Khác với cuộc xâm lược Cam-pu-chia vạch ra một cách vội vã làm cho Quân đội nhân dân không đủ thì giờ để chuẩn bị. Cách mạng đã nắm được kế hoạch tiến công Lào khá lâu trước đó nên đã biến nó thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn. Những tác động đối với quân đội Việt Nam cộng hòa và đối với sự thiếu khả năng vận động chiến của họ là vô cùng lớn lao. Cố gắng của chính quyền nhằm tranh thủ thời gian bằng cách mở rộng chiến tranh, đã nhanh chóng phát sinh ra những mâu thuẫn gay gắt. Chính quyền không thể xác định được một chiến lược quân sự chặt chẽ trong khi rút quân, và việc đó chỉ càng tăng thêm những vấn đề quân sự sẽ để lại.

Tính chất xoắn vào nhau của các mục tiêu Mỹ đã được điển hình hóa trong mối quan hệ phức tạp giữa "Việt Nam hóa" và rút quân. "Kế hoạch" của Tổng thống cho đến nửa năm 1972, khi những cuộc thương lượng nghiêm chỉnh bắt đầu, là vừa cải tiến quân đội Việt Nam cộng hòa cho đến lúc đủ sức làm nhiệm vụ chiến đấu, phá hủy những khả năng quân sự của Cách mạng càng nhiều càng tốt, vừa rút ra các lực lượng Mỹ để giảm sức ép chính trị trong nước. Một sự kết thúc chiến tranh do đó sẽ không phụ thuộc cuối cùng vào những tiến bộ ngoại giao, mặc dù ngoại giao có thể có ích nhiều và chính quyền cũng luôn luôn nói rõ rằng một lực lượng để lại sẽ được duy trì để phụ trách công tác hậu cần và chiến tranh không quân và hải quân trong một thời gian vô hạn định. Tháng 3 năm 1971, Le-đơ và Bộ tham mưu liên quân ước lượng con số để lại có thể vào khoảng 60.000 vào tháng 9 năm 1972.

Vấn đề là không có quan chức cao cấp Mỹ thông thạo nào tin rằng chương trình Việt Nam hóa có thể có kết quả nếu Mỹ không sẵn sàng trở lại khi cần thiết. Tháng 4 năm 1970, CIA củng cố thêm ấn tượng bao trùm của các sĩ quan Mỹ ở Sài Gòn rằng quân đội Việt Nam cộng hòa không thể nào đạt được tiến bộ thêm. Kít-xin-giơ thì nghĩ rằng Việt Nam hóa đang làm mất các lựa chọn quân sự và ngoại giao, vì nó bao gồm cả việc giảm lực lượng Mỹ. Le-đơ thì không muốn chiến tranh phá hoại những kế hoạch xây dựng lại toàn bộ cơ cấu quân sự và các ưu tiên mà ông ta đã vạch ra, ông ta ghi việc giảm quân vào ngân sách và nói rõ rằng mọi sự trì hoãn sẽ có hại cho sức mạnh quân sự của Mỹ ở các nơi khác trên thế giới.

Sự kết hợp các chính sách nói trên làm cho Tổng thống đỡ sức ép một phần và cho phép bánh xe ngoại giao chuyển động cho đến giữa năm 1972. Đây là một phản ứng có tính chất chiết trung đối với những đòi hỏi trong nước và quốc tế. Nhưng qua đó có thể thấy rằng chiến tranh tối đa chống lại Cách mạng đã thất bại và có nguy cơ kéo theo nó nền kinh tế của Mỹ.

Cố gắng xác định những mục tiêu cơ bản của Mỹ ở Đông Nam Á cũng rất là ngẫu nhiên, tuy chiếm rất nhiều thì giờ khi Mỹ bước vào cuộc chiến tranh nhưng đồng thời cũng chẳng đưa lại được gì bao nhiêu. Việc vạch ra "học thuyết Ních-xơn" khi Tổng thống ở Gu-am ngày 25 tháng 7 năm 1969 là cái làm ra vẻ nhất quán duy nhất. Cái gọi là học thuyết trên thực tế là kết quả của cuộc thảo luận có tính chất khá ngẫu nhiên với Kít-xin-giơ và của ý muốn quảng cáo của Tổng thống. Bản thân Kít-xm-giơ cũng rất ngạc nhiên. Học thuyết đã trở thành cơ sở cho việc xác định các chính sách về sau ở Đông Á của chính quyền.

Ních-xơn nhắc lại rằng Mỹ sẽ giữ các cam kết hiệp ước hiện có và mong rằng các nước châu Á ngày càng giải quyết các vấn đề an ninh nội bộ của mình bằng chính nhân lực của mình, tuy Mỹ vẫn còn sẵn sàng cung cấp viện trợ vật chất.

Về mặt kinh tế các quan chức cấp cao Mỹ nói rõ rằng, bất chấp các sắp xếp an ninh giữa Mỹ và các đồng minh khu vực của Mỹ như thế nào, Đông Á sẽ "ngày càng quan trọng” cho Mỹ, đặc biệt là về mặt buôn bán và đầu tư. Mức độ cam kết quân sự tương lai có thể có, do đó, chỉ có thể hiểu ngầm qua các hành động quá khứ và qua sự xác định mục tiêu của Mỹ chứ trên thực tế chưa có một sự đánh giá lại chính thức nào. Châu Á vẫn còn là một điều bí ẩn trong các tính toán của Oa-sinh-tơn về các ưu tiên toàn bộ của mình.

Chính sách của Mỹ có một mức độ linh hoạt nhất định nhưng không bao giờ chấp nhận nguyên tắc rút hoàn toàn, không can thiệp, và, như vậy là không chấp nhận thất bại. Đưa vấn đề rút quân ra như thế nào để giữ được danh dự và hình ảnh quốc tế của Mỹ là một vấn đề rất thiết yếu. Đồng thời Mỹ cũng nhấn mạnh những nhân tố khác, đặc biệt là sức mạnh quân sự và hoạt động ngoại giao. Chính những giới hạn ngày càng tăng của Mỹ sau năm 1969 đã làm cho ngoại giao ngày càng trở nên lĩnh vực duy nhất trong đó chính quyền có thể tìm cách đạt những mục tiêu của mình mà không bị những thúc ép vật chất và chính trị.

Sự chống đối chiến tranh tăng lên trong nội bộ Mỹ. Ở Việt Nam, không có cách nào vượt qua được những thực tế trên chiến trường cũng như những khả năng hạn chế của người thay thế Mỹ ở Sài Gòn. Năm 1972, với việc chính quyền bị hạn chế trong tất cả các lĩnh vực khác và đứng trước cuộc bầu cử tổng thống, hoạt động ngoại giao đã chuyển từ hậu trường ra sân khấu chính.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #126 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 10:59:42 am »

Chương hai mươi tám
CUỘC KHUNG HOẢNG CỦA SỨC MẠNH QUÂN SỰ MỸ

NHỮNG GIỚI HẠN CỦA SỨC MẠNH QUÂN SỰ MỸ Ở VIỆT NAM

Vào lúc Ních-xơn nhậm chức, không có gì chứng minh cho lòng tin rằng sự bế tắc quân sự ở Việt Nam có thể lật ngược lại. Đã không thắng được cuộc chiến tranh chi tiêu gần 30 tỷ đô-la hàng năm, Mỹ không thể nào hy vọng thắng bằng cách chi tiêu ít hơn. Hầu như ngay tức khắc tất cả các bài học và thất bại quân sự của những năm trước đã bắt đầu xuất hiện trở lại. Bởi vì Nhà Trắng cũng tin rằng "lòng tin" và chiến lược ngoại giao đòi hỏi phải định kỳ leo thang chiến tranh trong thời gian tương đối ngắn, ngay dù cho Nhà Trắng tìm cách tiến hành việc giảm quân, giảm chi tiêu và làm chệch hướng sự chống đối chiến tranh.

Tất cả các thành viên của chính quyến đồng ý rằng việc kiểm soát chiến lược quân sự phải được chuyển từ Bộ chỉ huy viện trợ quân sự ở Việt Nam, dưới quyền của tướng Crây-ton E-bram, về cho Oa-sinh-tơn. Ních-xơn, Kít-xin-giơ và Le-đơ bây giờ quyết định các vấn đề mà trước kia được quyết định gần ở chiến trường. Nhưng nói chung Le-đơ đã thắng được các vấn đề đang rất được tranh cãi về quy mô và thời gian rút quân bằng cách đơn phương sử dụng địa vị của ông ta.

Một trợ lý của ông ta giải thích năm 1971, "ông ta là một diều hâu về vấn đế răn đe hạt nhân" nhưng ông ta "muốn rút ra khỏi Việt Nam...". Le-đơ không chống chiến tranh vì chiến tranh mà chỉ vì chi tiêu quá cao. Giữa năm 1969, khi Kít-xin-giơ vạch ra những kế hoạch ném bom ồ ạt và rải mìn Việt Nam dân chủ cộng hòa, hoặc sau đó xem xét những cuộc leo thang tương xứng, thì ông ta và Ních-xơn không để cho Le-đơ biết.

Trong khi đó, chiến lược quân sự Mỹ ở Việt Nam đã được điều chỉnh cho hợp với việc rút quân. Năm 1969 gần một nửa nhân lực Mỹ ở Nam Việt Nam được xem là nhân viên phục vụ và hầu hết số quân giảm năm đó là rút từ số quân này. Phải đến năm 1971 các lực lượng chiến đấu của Mỹ và của Việt Nam cộng hòa dành cho các hoạt động tiến công mới được giảm một cách có ý nghĩa. Tuy nhiên, Mỹ đã giảm các hoạt động tiến công quy mô lớn trên bộ và muốn củng cố vị trí trong các vùng "hữu nghị".

Năm 1970, với số quân trên 400.000 trong suốt cả năm, số chết trong chiến đấu của Mỹ còn dưới một phần ba của con số năm 1968, và năm 1971 khi số quân còn bằng một nửa của năm 1968 thì số chết chỉ còn dưới một phần mười. Sự thay đổi này đã làm giảm chi tiêu của chiến tranh và sự chống đối chính trị trong nước và đồng thời cùng trở nên phù hợp với thực tế bao trùm là lục quân nhanh chóng không còn là một lực lượng chiến đấu có hiệu quả nữa.

Chiến lược của chính quyền Ních-xơn là dựa nhiều hơn nữa vào không lực và trọng pháo, tóm lại vào hỏa lực. Hơn một nửa số bom đạn của toàn bộ cuộc chiến tranh đã được sử dụng trong bốn năm đầu của Ních-xơn. Giả thuyết của Kít-xin-giơ là cần phải làm giảm cung cấp và lực lượng của Cách mạng càng lâu càng tốt nhằm tranh thủ thời gian cho các lựa chọn khác của ông ta. Năm 1969 Mỹ dùng 2,8 triệu tấn bom và đạn mặt đất, thấp hơn một ít đỉnh cao năm 1968. Năm 1971 số bom đạn còn hơn một nửa năm 1968. Đạn mặt đất giảm đi là do việc rút trọng pháo năm 1971 trong khi sức mạnh không quân ào ạt vẫn được duy trì trong khu vực. Chìa khóa cho hoạt động chiến đấu của chiến tranh là hệ thống căn cứ và hạm đội Mỹ ở Đông Á.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #127 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 11:00:17 am »

Vào đỉnh cao của cuộc chiến tranh, một phần tư triệu người Mỹ tham gia cuộc xung đột từ ngoài Việt Nam, đặc biệt là hải quân. Tùy theo cách tính, có khoảng từ 125.000 đến 200.000 quân ở Thái Lan, Ô-ki-na-oa, Gu-am, Phi-líp-pin, Hạm đội 7, Đài Loan và Ha-oai, trực tiếp tham gia các hoạt động có liên quan đến chiến tranh vào đầu năm 1972, đại khái gần bằng số quân Mỹ còn ở Nam Việt Nam vào lúc đó.

Không quân vẫn còn là con bài Oa-sinh-tơn sẵn sàng sử dụng và không bị Lầu Năm Góc, kể cả Le-đơ phản đối. Vì các máy bay Mỹ đậu bên ngoài lãnh thổ Nam Việt Nam, cho nên người Mỹ vẫn dùng chúng như một đe dọa để trở lại cuộc chiến tranh dù cho tất cả các lực lượng Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam.. Mặc dù Kít-xin-giơ và Ních-xơn có thể dùng leo thang hay đe dọa leo thang như là những mục tiêu chính trị chống lại Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhưng giới quân sự Mỹ vẫn còn chưa quyết định. Ném bom chỉ là một cách để che giấu thất bại chứ không phải để tránh thất bại.

Đến năm 1970, quân đội mới làm chủ được hệ thống hậu cần phức tạp của mình. Việc ăn cắp nhiên liệu giảm xuống dưới mức cao 25 phần trăm trước đây, nhưng vẫn còn cao. Sự phung phí vẫn là thông thường, đặc biệt là đối với trang bị, nhưng chiến tranh có "giảm đi". Phần đông các sĩ quan cho là những dụng cụ tinh vi, như mắt điện tử phát hiện kẻ thù bằng điều khiển từ xa, đã thất bại tuy đã đầu tư nhiều thì giờ và tiền của cho việc sử dụng chúng. Hệ thống tình báo của Mỹ cũng kém cỏi. Tin tức tốt nhất là lấy từ những người đào ngũ và tin tức có lợi cho chiến đấu trước mắt là các chuyến trinh sát bằng máy bay, nhưng lại thiếu phi công cho các chuyến bay như vậy vì đa số lớn bị thương hoặc bị giết trong vòng 6 tháng qua.

Thế tiến lui đều khó thực sự của Mỹ sau năm 1969, khi họ ngày càng dựa vào không lực, là các lực lượng không quân chiến thuật và chiến lược tỏ ra không hiệu quả gì hơn, thậm chí trên một số mặt còn kém hơn trước. Dù cho Kít-xin-giơ hy vọng gì về việc ném bom, Cách mạng vẫn tiếp tục cung cấp cho các lực lượng của mình, giải quyết các nhu cầu thiết yếu và tin tức này đã được chuyển từ Lầu Năm Góc đến Nhà Trắng.

Ít nhất 108 máy bay lên thẳng và máy bay có cánh bị phá hủy và 608 chiếc khác bị hư hại trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào đầu năm 1971 bởi một hệ thống phòng không của Quân đội nhân dân Việt Nam, một hệ thống còn ít dễ sợ hơn nhiều so với hệ thống ở Việt Nam dân chủ cộng hòa và hệ thống này lại được luôn luôn cải tiến hằng ngày. Chiến tranh không quân chống Việt Nam dân chủ cộng hòa chủ yếu chấm dứt trong thời gian 1969 - 1971 nhưng những máy bay trước kia dùng ở đó lại được chuyển đi nơi khác, chủ yếu là đi Lào.

Cố gắng cắt đứt luồng tiếp tế quân sự đã thất bại bởi  xe vận tải càng bị phá hủy bao nhiêu thì lại càng được tăng lên nhiều hơn. Mức tiếp tế cần thiết luôn luôn được đầy đủ... các chuyên gia không quân không tin lắm vào hiệu lực những công cụ của họ với tư cách là một thành phần của chiến lược "người mất trí" trong Nhà Trắng.

Trong khi cả Ních-xơn lẫn Kít-xin-giơ tin rằng việc sử dụng và đe dọa không quân có thể thực sự thay đổi cán cân quân sự hoặc ít nhất cũng ảnh hưởng đến thương lượng thì Cách mạng và thậm chí một số chuyên gia quân sự và Lầu Năm Góc không tin là có khả năng đó. Khi mà lục quân bắt đầu giảm số lượng và, nghiêm trọng hơn và sâu sắc hơn, giảm sút về tinh thần và đoàn kết nội bộ thì trọng lượng bom ném xuống đã trở thành trụ cột duy nhất và cuối cùng của chiến lược quân sự đang sụp đổ của Oa-sinh-tơn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #128 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 11:02:41 am »

CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA QUÂN ĐỘI MỸ

Chiến tranh Việt Nam đã thử thách mọi chiều cạnh của khả năng tiến hành chiến tranh hạn chế của Mỹ: vũ khí, chiến lược và cuối cùng, các lực lượng vũ trang. Nhưng, trong khi kinh nghiệm trước đây đã cho thấy hỏa lực bị hạn chế như thế nào khi đối phó với các cuộc chiến tranh cục bộ chống lại những kẻ thù có sức cơ động cao, thì Mỹ hoàn toàn tỏ ra không được chuẩn bị để đối phó với những nhược điểm của con người trong chính lực lượng vũ trang của họ. Lúc Ních-xơn vào Nhà Trắng, đó là một vấn đề nghiêm trọng ngày càng tăng; đến năm 1970, đó là một cuộc khủng hoảng lớn với những tác động rõ ràng đối với khả năng kéo dài chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam và khả năng can thiệp ở những nơi khác trong tương lai.

Trong khi chiến tranh đi theo lô-gích của việc Mỹ phụ thuộc vào kỹ thuật, thì giới sĩ quan Mỹ đưa lại cho vũ khí một tính chất đặc biệt làm cho nó ngày càng tàn phá hơn tuy rằng về mặt quân sự thì lại vô nghĩa. Người sĩ quan, cũng như binh sĩ, trung bình phục vụ một năm ở Nam Việt Nam, cho dù anh ta là một vị tướng. Trong những năm 1960 khoảng một phần mười quân đội là gồm những sĩ quan, và đối với những sĩ quan chuyên nghiệp, đặc biệt là những người tốt nghiệp ở U-oét Poang, thì một nhiệm kỳ ở Nam Việt Nam là cần thiết để được thăng chức. So với các cuộc chiến tranh trước, số sĩ quan cấp cao của quân đội Mỹ trong chiến tranh này thường là rất nặng nề trên chóp bu, vì vậy nhiều người tình nguyện rằng thời hạn chỉ huy ở Việt Nam có thể rút xuống 6 tháng để cho tất cả đều học được kinh nghiệm và tất nhiên là có cơ hội hơn để được đề bạt.

Chủ yếu ở lại các căn cứ hậu phương an toàn và thường là hết sức đầy đủ tiện nghi, các sĩ quan đó lấy lòng tham danh vọng làm động cơ cho các hành động của mình trong 6 tháng vinh quang đó. Các sĩ quan cấp thấp hơn, thường là các người tốt nghiệp trung tâm huấn luyện sĩ quan dự bị và không phải chuyên nghiệp, đều bị điều ra chiến trường và chịu những mối nguy hiểm như người lính thường. Theo một cách nhìn quân sự thì những sĩ quan đó vừa không có kinh nghiệm vừa không có động cơ chính đáng để trở thành những người chỉ huy tốt.

Đối với người chuyên nghiệp thì tăng thêm con số hoặc sửa đổi những con số về kẻ địch bị giết và về những mục tiêu bị phá hủy là điều làm thường xuyên. Vì vậy, một khi họ rời Nam Việt Nam thì chiến tranh trở thành là vấn đề của người khác. Lừa dối, hoài nghi và tàn bạo đã được nuôi dưỡng trong một chế độ như vậy.

Bom và đạn được sử dụng để đưa lại những kết quả có thể biến thành những huân chương, những lời khen ngợi và cả sự thăng chức. Gần như 9 trong 10 tướng phục vụ ở Việt Nam nghĩ rằng lòng tham danh vọng là một vấn đề phải quan tâm, trong khi 37 phần trăm xem đó là một vấn đề nghiêm trọng.

Một trong những tác động của việc này là sự tan vỡ trong mối quan hệ giữa sĩ quan và binh lính. Khá lâu trước khi chiến tranh kết thúc những nhà chỉ trích bên ngoài quân đội và một số sĩ quan cũ bất bình, đã nêu lên các vấn đề này.

Những sĩ quan cấp cao luôn luôn xuất thân chủ yếu từ giai cấp giữa và từ các cộng đồng nhỏ. Sự khác biệt giai cấp của họ với hàng ngũ binh lính xuất thân từ nông thôn hoặc khu ổ chuột ở thành thị tất nhiên không phải là một vấn đề gì mới. Trong số 27.222 quân nhân chết trong chiến tranh Đông Dương giữa năm 1965 và 1972, 3.269 là sĩ quan, trong số này 2.348 là từ trung úy hoặc thấp hơn, 554 là lái máy bay lên thẳng. Trong số 43.000 sĩ quan cấp thiếu tá hoặc cao hơn phục vụ trong quân đội ở Nam Việt Nam, chỉ 201 người bị chết trong chiến đấu, và phần đông là thiếu tá.

Nguồn đầu tiên cùng cấp những sĩ quan cấp thấp tại chiến trường khi bắt đầu chiến tranh là các trung tâm huấn luyện sĩ quan dự bị trong 268 trường đại học. Ngoài việc tham gia phong trào chống các trung tâm huấn luyện này, nam thanh niên thường tìm mọi cách để khỏi bị đưa đi chiến đấu. Việc tuyển chọn đã giảm từ 231.000 năm 1965 xuống còn 73.000 năm 1972, và lục quân buộc phải thay họ bằng những sĩ quan cấp thấp hơn huấn luyện trong chính những trường của mình. Hơn nữa vào năm 1970, gần 40 phần trăm những người còn trong trung tâm huấn luyện chống lại sự có mặt của quân Mỹ ở Nam Việt Nam, và 60 phần trăm không muốn tình nguyện phục vụ ở đó. Những người trẻ này ít có gì thống nhất được với những nhà chuyên nghiệp cấp cao ở trên họ. Ở các khu vực chiến đấu, mối quan hệ giữa sĩ quan và binh lính lại càng nghiêm trọng hơn.

Trong số 2.150.000 binh lính đưa sang Việt Nam, những người da trắng nghèo và người da đen đã chiếm một tỷ lệ có phần cao hơn mức bình thường. Chương trình xã hội vĩ đại của Giôn-xơn đã mưu toan đưa những thanh niên không may mắn vào các lực lượng vũ trang và một số lớn đã trở thành những tay súng của lục quân và chính những người này lại thường xuyên bị đưa đi chiến đấu. Như là một quy luật chung, các sĩ quan thích đưa những binh lính ít học ra tiền tuyến.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #129 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2008, 11:03:36 am »

Trong những năm 1968-1970, 62 phần trăm thương vong là lính quân dịch. Những binh lính có từ 10 năm học hoặc ít hơn, chiếm tỷ lệ thương vong gấp ba lần số có 13 năm học hoặc hơn. Những binh lính thuộc các gia đình có thu nhập hàng năm từ 4.000 đến 7.000 đô-la, chiếm tỷ lệ thương vong gần gấp ba lần những binh lính thuộc các gia đình với thu nhập 17.000 đô-la hoặc hơn.

Khi cuộc chiến tranh bắt đầu, thương vong của những người da đen chiếm gần một phần tư tổng số và giảm xuống còn 13 phần trăm cho toàn bộ cuộc chiến tranh, cao hơn một ít tỷ trọng của người da đen trong toàn bộ số dân. Những người da đen và da màu chiếm đến một nửa số quân của các đại đội súng trường chiến đấu. Chủng tộc đã trở thành một bộ phận mới quan trọng của cơ cấu quân sự Mỹ trong chiến tranh.

Tuy được học ít và nghèo, người da đen ở Nam Việt Nam có một ý thức tự hào về chủng tộc của mình và có một ý thức đoàn kết với nhau rõ rệt hơn trong các cuộc chiến tranh trước và tính tình của họ cũng đã thay đổi. Cũng không kém phần quan trọng là nhận thức của họ đối với bản chất chính trị đầy tranh cãi của cuộc chiến tranh đã tạo ra cơ sở đầu tiên cho sự mất đoàn kết của quân đội trong lịch sử hiện đại của Mỹ.

Mâu thuẫn bên trong của người lính Mỹ chắc chắn là một trong những điều đáng ngạc nhiên của chiến tranh đối với các nhà lãnh đạo ở cả Oa-sinh-tơn lẫn Hà Nội. Một chiến lược thắng lợi đòi hỏi phải có những con người toàn tâm toàn ý ở tất cả các cấp chứ không chỉ ở các văn phòng hoặc các phòng nghiên cứu đầy đủ tiện nghi. Chiến tranh đối với các lực lượng Mỹ là đầy rẫy những bi kịch và đau khổ cá nhân, nhưng không phải đụng chạm đến tất cả hai triệu người đã đến Nam Việt Nam.

Giống như có hai loại sĩ quan ở Nam Việt Nam cũng có hai loại binh lính. Binh lính cũng chia ra thành những người luôn luôn phải tham gia chiến đấu và một đa số lớn khác chỉ bị nguy hiểm khi có quân biệt kích và pháo bắn từ xa. Phần đông lục quân không phải trải qua những kinh nghiệm của lính súng trường và chỉ một nửa được xem là lực lượng chiến đấu, bao gồm vừa trọng pháo, vừa cơ giới. Nhìn chung tất cả số này dễ bị những nguy hiểm nhưng chỉ một phần năm làm chức năng nhử quân đội cách mạng trong các nhiệm vụ tìm và diệt. Tuy nhiên, khi không phải chiến đấu, thường là chiếm nhiều thì giờ hơn, thì người lính Mỹ hưởng một cuộc chiến tranh xa xỉ nhất và tốn kém nhất trong lịch sử Mỹ. Có những căn cứ với những tiện nghi cực kỳ sang trọng, với việc ra vào thành phố rất thuận lợi, với việc đi nghỉ và giải trí ở các nhà chứa Đông Nam Á, có nhiều trò tiêu khiển và truy hoan phong phú.

Khí hậu của Việt Nam rất không thích hợp với lính Mỹ, và những cố gắng bù lại cho họ khi hoạt động ở chiến trường bằng lương thực và chăm sóc y tế không bao giờ được đủ. Mục tiêu của các cấp chỉ huy là muốn họ giết Việt cộng bằng hỏa lực, nhưng mục tiêu của chính họ là sống sót. Người lính Mỹ sẵn sàng tàn phá và một số rất nhỏ trở thành những kẻ giết người vô tri vô giác, sẵn sàng bóp cò súng trước bất kỳ đe dọa nào đối với đời sống của họ. Thảm sát làng Mỹ Lai là một trong vô số ví dụ về tình hình đó. Những người sử dụng hỏa lực bằng trọng pháo và không quân đã dùng chúng từ xa, nên không thấy điều gì hối hận trong lòng. Còn những lính chiến đấu thì hằng ngày tiếp xúc với cái chết thê thảm và thấy mình là một người sống sót.

Sự tàn bạo của Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh hầu như hoàn toàn là kết quả của những lệnh cấp trên và, người lính chỉ là công cụ của những sĩ quan của mình. Nhưng người lính chỉ mong sống sót sau 12 tháng để được trở về. Các sĩ quan cấp cao thường phàn nàn rằng binh lính cụm lại với nhau và tránh tham chiến. Đại tá Rô-bớt D. Hên viết trong một báo cáo rất được chú ý tháng 6 năm 1971: "Tìm và tránh là một nguyên tắc của chiến tranh hiện nay, thể hiện một cách sinh động bằng một từ của lính Mỹ CYA (có nghĩa là giữ lấy thân anh; viết tắt của chữ cover your ass. (ND) và về nước". (xem Robert D. Heinl, Jr. quyển "The collapse of the armed Forces", Nhật ký Armed Forces, 7 tháng 6, 1971, tr. 31).

Việc không có cam kết chính trị của người lính Mỹ là một trong những chỗ yếu tai hại nhất của quân đội Mỹ. Người lính xem Việt Nam như là một nước của người khác, và anh ta rất nhạy cảm với những sĩ quan lành lặn trở về căn cứ đầy đủ tiện nghi nhưng lại đòi anh ta hy sinh hơn nữa. Anh ta bắt đầu không tin ai cả, từ những chiến hữu cùng đoàn kết với anh ta trong chiến đấu. Thật là ngược đời nhiều người, có lẽ là phần đông, ngày càng bất bình với quân đội Việt Nam cộng hòa và nhân dân Việt Nam, và sự thù địch chung đó vừa là một lý do cho bao nhiêu tội ác gây ra cho những người dân sự, vừa có những tác động quân sự gay cấn khi phải hợp tác với quân đội Việt Nam cộng hòa. Về phần mình nhân dân Việt Nam xem người Mỹ là nguyên nhân của sự làm nhục và làm mất, phẩm cách quốc gia của họ.

Tất cả những lực lượng và những mối quan hệ đó hoạt động bên trong cơ cấu quân sự Mỹ, đã tạo ra một món nợ nghiêm trọng cho toàn bộ cố gắng chiến tranh của Mỹ. Dù cho phần kỹ thuật có hiệu quả như thế nào, với tư cách là một tổ chức của con người, cơ cấu quân sự Mỹ trở nên yếu đến mức thời gian biến nó thành một nhân tố quan trọng trong toàn bộ cán cân quân sự. Những phản ứng cá nhân của người lính bộ binh đối với tình trạng khó khăn và hiểm nguy của họ, đối với sự xem thường giai cấp, thái độ cách biệt và lòng tham danh vọng của những cấp trên họ, đối với sự căng thẳng, sự gay gắt và sự thoái hóa, đã tạo ra những vấn đề lớn về con người với những tác động quân sự sâu rộng. Đương đầu với sự chống đối chiến tranh trong nước là một vấn đề, nhưng đương đầu với những người Mỹ ở Việt Nam lại là một vấn đề hoàn toàn khác.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM