SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #140 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 10:22:32 am » |
|
Sự huấn luyện chiến đấu cho hơn một nửa quân lực là không có hiệu quả và khả năng chiến đấu với đơn vị lớn chưa được thử thách. Thời gian không làm giảm khó khăn; trong các binh chủng như trọng pháo, thời gian còn làm cho khó khăn thêm trầm trọng. Mọi cố gắng đều bộc lộ rằng "ít thấy có tiến bộ trong chiến đấu".
Cuộc xâm chiếm Cam-pu-chia cho thấy sự phụ thuộc hoàn toàn của quân đội Việt Nam cộng hòa vào sự yểm trợ không quân Mỹ, còn trọng pháo của họ thì cũng không làm được gì. Lam Sơn 719 bộc lộ sự bất lực của quân đội Việt Nam cộng hòa trong việc phối hợp một chiến dịch lớn và trong việc sử dụng ưu thế hỏa lực một cách hợp lý. Các nhà báo luôn luôn lặp đi lặp lại lập luận rằng quân đội Việt Nam cộng hòa không bao giờ có thể thay thế, càng không thể tiến bộ hơn binh lính Mỹ.
Như nhiều tướng lão thành của Việt Nam cộng hòa về sau thừa nhận, Mỹ đã tìm cách biến một đội quân vốn đã không thỏa đáng thành một đội quân càng tồi tệ hơn, làm cho nó hoàn toàn phụ thuộc vào trang bị và học thuyết của Mỹ. Họ lập luận một cách đúng đắn rằng quân đội Việt Nam cộng hòa chỉ là một bộ phận phụ thuộc của lực lượng viễn chinh Mỹ và chính người Mỹ mà họ dựa vào, là người quyết định các vấn đề của họ khi thật cần thiết. Bởi vì, tình hình của quân đội Việt Nam cộng hòa là do sự lãnh đạo của Thiệu quyết định, mà Thiệu nắm được chính quyền là vì Mỹ muốn giữ ông ta ở đó.
Nhưng mặt khác phải thấy rằng giới sĩ quan cấp cao của Việt Nam cộng hòa là một thực thể chính trị thống nhất, nó sẽ tồn tại mà không cần đến Thiệu. Nói cho cùng mục đích của quân đội không phải là quân sự mà là chính trị và kinh tế, vì thế nó không tạo ra được một cơ sở quần chúng để chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Do đó Mặt trận Dân tộc Giải phóng bây giờ chỉ còn phải đương đầu với bạo lực có tổ chức của một bộ máy quân sự trang bị quá mức.
Nhưng cũng phải thấy rằng trong khi Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp thu kỹ thuật nước ngoài một cách thành công, làm cho đội quân của họ thêm nhiều hiệu quả trong chiến tranh hiện đại, thì kỹ thuật lại làm cho quân đội Việt Nam cộng hòa thêm phụ thuộc và không còn chủ tâm đến hoạt động của họ. Sự khác nhau là tính chất của hai quân đội, một bên thì tích cực tận tụy vì có động cơ chính trị rõ rệt, còn bên kia thì là một phế phẩm giả tạo. Với ý nghĩa này, việc quân đội Việt Nam cộng hòa tin rằng Mỹ sẽ giúp họ thoát ra khỏi những hoàn cảnh khó khăn là một điều lô-gích bởi vì không có người Mỹ thì trước tiên họ không thể tồn tại được.
Chính quyền Mỹ đánh giá Việt Nam hóa một cách thắng thắn và khá bi quan ngay từ đầu. Những ảo tưởng còn lại cũng giảm dần với thời gian, và năm 1969, chính quyền vẫn còn xem một lực lượng lớn quân Mỹ để lại là rất thiết yếu cho sự tồn tại của chế độ. Lầu Năm Góc biết rõ hơn ai hết quân đội Việt Nam cộng hòa ít được chuẩn bị như thế nào cho chiến tranh hiện đại, và thời gian càng làm cho họ tăng thất vọng hơn chứ không phải giảm.
Trung tâm của khó khăn Việt Nam hóa vẫn là chất lượng của người lính thường và tính chất của giới sĩ quan. Vấn đề đào ngũ và lính ma càng trở nên xấu thêm, do đó mà việc tăng quân nhanh chóng cũng không tránh khỏi đưa đến việc giảm tỷ lệ lính chiến đấu thực tế, trong vòng bốn năm sau 1968. Kết quả cuối cùng là quân đội trở nên yếu hơn, loãng hơn và không đưa lại lợi ích quân sự nào trong khi tác động tàn phá xã hội của nó lại tăng lên không ngừng.
Xu hướng giảm thu nhập thực tế của quân đội Việt Nam cộng hòa vẫn tiếp tục phát triển và cả các quan chức Mỹ lẫn Việt Nam cộng hòa đều thừa nhận ảnh hưởng của nó đến tinh thần và tình trạng đào ngũ của binh lính. Tháng 4 năm 1970, những cựu binh tàn phế bị bỏ rơi và đói khổ, đã khởi xướng những cuộc phản đối và cảnh sát của Thiệu đã tiến công dã man và bắt những người lãnh đạo của họ vào tù. Dù sự mỉa mai của tình tiết này như thế nào đi chăng nữa, nó vẫn nhắc nhở những binh lính thường rằng họ phải tự lo liệu lấy chứ không thể trông cậy gì vào các tướng lĩnh đang bòn rút nền kinh tế. Khi những tàn dư cuối cùng của mối quan hệ giữa con người và con người ở Việt Nam cộng hòa mất đi, thì người dân thường càng phải chịu cướp bóc và bạo lực nhiều hơn nữa và cái chế độ chịu trách nhiệm về sự tàn phá đó vẫn tiếp tục bắt con cái của họ đi lính làm bia đỡ đạn.
Trong triển vọng rộng lớn hơn đó, chính vai trò xã hội và kinh tế chứ không phải vai trò quân sự, cuối cùng ảnh hưởng sâu sắc nhất đến chiến tranh, bởi vì chính sách chính trị và sự huy động quần chúng là thực chất cố gắng của Cách mạng. Dù lực lượng quân sự của Đảng còn yếu như thế nào đi chăng nữa, việc Việt Nam cộng hòa tiếp tục gây oán thù trong nhân dân làm cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng giành được thế thuận lợi. Quân đội Việt Nam cộng hòa càng được mở rộng, càng đô thị hóa bao nhiêu thì càng bị nhân dân xa lánh bấy nhiêu và nhân dân càng thiết tha với hòa bình bấy nhiêu. Một quân đội như vậy đi ngược lại những mục tiêu lớn hơn của Thiệu. Việt Nam hóa không còn làm cho Việt Nam cộng hòa mạnh hơn về quân sự mà chỉ làm cho yếu hơn về kinh tế và xã hội, bởi vì không có cách nào tạo ra được một đội quân lớn, có hiệu quả mà lại ít tốn kém.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #141 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 10:23:39 am » |
|
VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA HỆ THỐNG QUÂN SỰ Thế tiến lui đều khó của Việt Nam hóa và toàn bộ cố gắng của Mỹ ở Việt Nam là việc không có bất kỳ một cơ sở xã hội thực sự nào cho Việt Nam cộng hòa ngoài giới quân sự mà vai trò và động cơ chính trị đã làm cho các chức năng chiến tranh trở thành thứ yếu. Những tính toán phức tạp đưa Mỹ đến việc ủng hộ cơ cấu quân sự hiện có vì những lý do chính trị, nói lên rằng việc chuyển giao trách nhiệm chiến đấu từ Mỹ sang Việt Nam không thể nào thành công được. Mọi người lúc đó đều thấy rằng việc Oa-sinh-tơn ủng hộ Thiệu sẽ đưa đến việc chính trị hóa hơn nữa các sĩ quan cấp cao, đưa đến một nền kinh tế chỉ nhằm vào việc duy trì lòng trung thành của họ và đưa đến một sự suy giảm liên tục năng lực quân sự của quân đội Việt Nam cộng hòa. Nếu bỏ Thiệu, như Oa-sinh-tơn hiểu một cách đúng đắn, thì sẽ là một mớ hỗn tạp của những tập đoàn gây chiến, những phe phái và những người tham lam đã nổi lên sau khi Diệm chết và vì thế mà sản sinh ra một sự mất ổn định triền miên chỉ có lợi cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Giữa hai lựa chọn đều xấu đó, Mỹ chọn Thiệu, một phần vì sau năm 1969 Mỹ tin sẽ có những cơ hội quân sự và ngoại giao có thể cứu được Thiệu. Một báo cáo của văn phòng Thượng viện Mỹ tháng 12 năm 1969 viết: "Chính phủ hiện nay có thể giữ được quyền hành nếu Mỹ tiếp tục ủng hộ nó. (Nhưng) nếu chính phủ hiện nay tiếp tục nắm quyền... thì Việt Nam hóa sẽ thất bại". Thiệu củng cố xong cơ sở chính trị của mình vào năm 1969 và bỏ ra ba năm tiếp theo thu thập các đặc quyền mà Diệm đã có, chỉ khác Diệm ở chỗ ông ta cho các tướng chủ chốt của mình những quyền lợi bất di bất dịch để giữ ông ta nắm quyền. Cách xây dựng bộ máy của ông ta có thể lấy trường hợp của tướng Nguyễn Văn Toàn làm điển hình. Nguyễn Văn Toàn bị Ban chống tham nhũng tố cáo về tội tham nhũng, bóc lột binh sĩ và buôn lậu quế, nhưng Thiệu không những bỏ qua mà còn đề bạt và tặng thưởng huân chương. Ban chống tham nhũng hủy bỏ sự tố cáo ngay tức khắc. Đã trung thành từ trước, Toàn càng dốc lòng hơn với Thiệu, cuối cùng được cử làm tư lệnh vùng chiến thuật II trọng yếu. Một nhà phân tích hàng đầu của Oa-sinh-tơn viết trong một đánh giá mật tháng 6 năm 1970: "Nói chung đã được thừa nhận rằng một sự thăng cấp hoặc một sự thay đổi nhiệm vụ có nghĩa là một sự thay đổi vận mệnh chính trị chứ không phải một sự thưởng công tại chiến trường". Thiệu làm việc một phần thông qua một người bạn chí thân, cùng lớp quân sự và là thủ tướng, tướng Trần Thiện Khiêm, để điều khiển mạng lưới tham nhũng và hạn chế những kẻ thù tiềm tàng. Thiệu đã cố gắng trong vòng vài năm không những gạt bỏ được những sĩ quan cấp cao và những tỉnh trưởng bị nghi ngờ mà còn tạo được một hệ thống chính quyền kiểu Diệm mới rất trung thành với ông ta. Điều khiển bộ máy nhà nước và làm giàu là hai việc chiếm phần lớn thì giờ của các tướng nắm quyền. Nguồn gốc thực sự của quyền lực là Thiệu và những người trung thành của ông ta và bộ máy cá nhân hóa dựa vào ông ta. Công tác liên hệ với quần chúng của chính quyền Ních-xơn muốn tuyên truyền cho bộ mặt của Việt Nam cộng hòa. Cuộc bầu cử tổng thống của Việt nam cộng hoà năm 1971 đã tỏ ra là một thất bại gây bối rối khi Thiệu đặt ra một luật bầu cử mới và gạt Kỳ, làm cho ông ta cuối cùng thành ra ứng cử viên duy nhất. Theo một phóng viên NBC Mỹ ở Sài Gòn thì số tiền dùng cho cuộc vận động đó là do một đồng minh gần gũi với Thiệu, tướng Đặng Văn Quang đóng góp với tư cách là nhân vật quan trọng nhất trong nghề buôn ma túy. Nguyên là người đứng đầu vùng chiến thuật IV, Quang đồng thời cũng là cố vấn tình báo chính của Thiệu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #142 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2008, 10:24:32 am » |
|
Trong khi đó, Thiệu cũng tìm được cách củng cố quyền lực của mình đối với Quốc hội bằng việc cho các nghị sĩ tham gia các hình thức tham nhũng hoặc mua phiếu của họ đối với các vấn đề quan trọng. Vào tháng 9 năm 1972, Thiệu cũng tìm được cách tạo ra một hệ thống kiểm soát chính quyền cũng hoàn toàn giống như của Diệm với các quan chức ở tất cả các cấp rất trung thành với ông ta. Từ đó Thiệu bỏ mọi cố gắng về quan hệ công cộng, không tiếp xúc với ai và hiếm khi để cho ai phỏng vấn.
Tuy nhiên, quan trọng nhất là toàn bộ hệ thống quân sự tập trung về dinh tổng thống, bộ tư lệnh tác chiến gồm một chục người như tướng Tuấn, chịu ơn trực tiếp của Thiệu và không đủ khả năng hoạt động như những sĩ quan có tài và có thành tích. Thật là chẳng may cho Mỹ, một cơ cấu như vậy không thể làm được gì có hiệu quả về chính trị hay về quân sự để chống lại Cách mạng.
Những nhóm chống cộng nhưng cũng chống Thiệu không gây khó khăn gì cho Thiệu vì họ cũng không có cơ sở quần chúng. Đạo Phật và đạo Thiên Chúa lúc đầu có cơ sở tôn giáo cho hành động chính trị, nhưng cũng rất mong manh. Sau năm 1967, các tôn giáo này rất chia rẽ và đã có năm liên danh đạo Thiên Chúa và bốn liên danh đạo Phật ứng cử vào hạ nghị viện năm 1970.
Giới lãnh đạo Phật giáo trong giai đoạn 1963-1967 đã gây ra nhiều rắc rối, nhưng bây giờ với viện trợ và tiền của Mỹ, đã khéo léo hợp tác hoặc nằm im. Một nhóm các cố vấn của Oa-sinh-tơn kết luận năm 1970 rằng: "Phần đông những nhà chính trị mà Thiệu phải đối phó không phải là những nhà lãnh đạo chính trị với bất kỳ một ý nghĩa thực tế nào... Họ không có người ủng hộ, không có cương lĩnh hoặc chính sách, chỉ có lòng tham cá nhân và ham muốn theo đuổi những mưu đồ chính trị. Mỗi người đều muốn làm thủ tướng với quyền lực và tự do tối đa". Đánh giá chính thức của Mỹ đối với những nhóm này cũng đi song song với đánh giá của Cách mạng, nhưng Cách mạng tích cực tìm cách liên hệ với họ và chính các nhóm này được Cách mạng xem là lực lương thứ ba.
Vào năm 1972, sự chống đối Thiệu phản ánh một tình cảm thực sự ngày càng lớn mạnh, có tính chất toàn quốc, thiết tha muốn có hòa bình, và sự thù địch tàn nhẫn của Việt Nam cộng hòa đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng càng củng cố thêm tình cảm này. Tuy vậy, họ vẫn khác nhau sâu sắc về cách đi đến hòa bình; tất cả điều mà họ cùng chung quan điểm, cuối cùng là chống lại Thiệu. Và khi biết rằng Oa-sinh-tơn tiếp tục ủng hộ Thiệu chống lại mọi đối thủ của ông ta nghĩa là khi Thiệu và Oa-sinh-tơn trở thành đồng nghĩa với nhau theo con mắt của họ thì một trào lưu chống Mỹ có ý nghĩa xuất hiện.
Rõ ràng là đến năm 1971, quân đội Việt Nam cộng hòa là một đội quân mong manh một cách tuyệt vọng. Cũng vào lúc này những nhược điểm nghiêm trọng của Thiệu với tư cách là một nhà lãnh đạo quân sự cũng bộc lộ một cách rõ rệt nhất. Những tư lệnh quan trọng nhất của ông ta ở chiến trường là những người trung thành về chính trị, và người chịu trách nhiệm về cuộc hỗn loạn Lam Sơn 719, trung tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh vùng chiến thuật 1, vừa là tham nhũng vừa là bất tài. Quân đội Việt Nam cộng hòa không có một cơ cấu chỉ huy nhất thể hóa có thể hoạt động độc lập với Thiệu khi có những sức ép tại chiến trường. Hệ thống chỉ huy hiện có, hoàn toàn phục vụ cho quyền lực của Thiệu, và Thiệu giữ nó cho đến nạn hồng thủy cuối cùng năm 1975.
Thiệu mặc nhiên cho rằng nhiệm vụ chủ yếu của ông ta là chính trị và nhiệm vụ của người Mỹ là về các vấn đề quân sự. Tính chất chính trị chủ yếu của Việt Nam cộng hòa làm cho nó không đứng vững được về quân sự và vì cuối cùng Oa-sinh-tơn thừa nhận vai trò chính trị của Việt Nam cộng hòa, nên Oa-sinh-tơn phải đương đầu với những tác động quân sự. Cuối cùng, Mỹ không đạt được cả ổn định chính trị lẫn hiệu lực quân sự.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #143 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:51:05 am » |
|
Chương ba mươi mốt CUỘC ĐẤU TRANH CHO MỘT VIỆT NAM NÔNG THÔN ĐANG THAY ĐỔI CHƯƠNG TRÌNH PHƯỢNG HOÀNG VÀ BÌNH ĐỊNH Chương trình bình định của Mỹ và Việt Nam cộng hòa ngay từ đầu đã phải chịu những thế tiến lui đều khó không thể cứu vãn được. Oa-sinh-tơn không bao giờ tách chức năng chính trị ra khỏi chức năng quân sự, và khả năng của chương trình không thể hoạt động có hiệu quả về mặt chính trị đã làm cho nó chủ yếu là một cố gắng quân sự nhằm kiểm soát vật chất nhân dân nông thôn. Những sĩ quan và người dân sự Việt Nam cộng hòa phụ trách chương trình này chỉ trung thành với bản thân mình, và với những người chủ của họ, và sự tham nhũng và bất lực của họ đã ngấm vào toàn bộ hệ thống. Ý thức chính trị của nông dân phản ánh những bài học cay đắng mà những sĩ quan và quan chức làm công tác bình định đưa lại cho họ. Các quan chức Mỹ hy vọng Việt Nam cộng hòa sẽ chịu trách nhiệm chủ yếu về bình định, phá hủy cơ sở hạ tầng chính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng trong khi các lực lượng Mỹ đánh các đơn vị quân sự của Mặt trận. Họ luôn luôn bị thất vọng rằng chương trình không có hiệu quả nhũng lạm và bị xếp vào ưu tiên thấp ở Sài Gòn. Chính hỏa lực của Mỹ cũng gây ra những mâu thuẫn tai họa trong chương trình, bởi vì công cuộc bình định không thể tránh khỏi trở thành nạn nhân của cách làm chiến tranh của Mỹ cũng như của trật tự quân sự, mà Oa-sinh-tơn dựng lên ở Sài Gòn để thay thế cho họ. Tuy vậy, Mỹ vẫn còn nhận thức được rằng một chiến lược có hiệu quả ở nông thôn là một điều kiện tiên quyết cho sự sống sót của Việt Nam cộng hòa và năm 1969 Mỹ không còn ảo tưởng về những thiếu sót của Việt Nam cộng hòa nữa. Khi Cách mạng giảm hoạt động quân sự của mình để đi vào giai đoan củng cố, các quan chức bình định lại trở lại nông thôn hoạt động như trước nhưng lại tham nhũng nhiều hơn do sức ép của lạm phát tăng lên. Theo con số của Mỹ thì những tiến bộ trong cố gắng bình định là do những chỗ trống mà Cách mạng để lại. Phần đông những người Mỹ thông thạo xem những kết quả giành được trong năm 1969 là mong manh và thừa nhận rằng số lượng không nói lên được gì về lòng trung thành của nông dân. Nhiều người cho rằng nếu có bất cứ một cuộc tiến công nào của Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì sẽ đảo ngược mọi kết quả đã giành được. Bình định được thực hiện trong giai đoạn của chính quyền Ních-xơn khác với trước kia ở chỗ nó áp dụng hai sáng kiến. Một, rõ ràng là củ cà-rốt, tức là chương trình cải cách ruộng đất mà Thiệu chứ không phải Mỹ khởi xướng năm 1970. Hai là cây gậy, chương trình Phượng hoàng mà Mỹ đưa ra năm 1967 nhưng không được chính thức tổ chức cho đến tháng 7 năm 1968. Phượng hoàng chắc chắn là một trong những chương trình có nhiều tranh cãi nhất của toàn bộ cuộc chiến tranh và mặc dầu luôn luôn có những cố gắng chính thức để tô son trát phấn cho nó nhưng nó là một trong những chương trình tàn bạo nhất. Lấy con số chết và bị thương làm mốc thì nó còn nhỏ hơn so với việc ném bom và bắn trọng pháo, nhưng nó bộc lộ quy mô những yếu kém của Mỹ trong việc tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại những kẻ thù chính trị. Người Mỹ đưa Phượng hoàng ra như một chương trình phối hợp chín cơ quan của Việt Nam cộng hòa và Mỹ nhằm tiêu diệt các cán bộ và hạ tầng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Một cố gắng của nhiều cơ quan cùng một lúc như vậy làm trầm trọng thêm tính chất quan liêu và tăng thêm cơ hội tham nhũng. Cũng giống như tất cả cố gắng do Mỹ tổ chức, tiến bộ của Phượng hoàng được đánh giá bằng số lượng và hàng tuần một chỉ tiêu số lượng "VC" định trước được giao cho huyện làm công tác này. Nếu không bắt được đủ số cán bộ Mặt trận hoặc là thực sự hoặc là nghi ngờ thì nhân dân phải bị bắt để cho đủ số. Một tướng Việt Nam cộng hòa giải thích: "Lý luận chính thức là, thà bắt nhầm người nghi ngờ còn hơn để thoát người có tội, dù cho việc đó gây ra giận dữ”. Trong số 450 người Mỹ tham gia chương trình có những quan chức của ngành đối ngoại và những sĩ quan của quân đội. Nhưng bộ phận tàn bạo nhất của chương trình là các đơn vị trinh sát cấp tỉnh, trực tiếp dưới sự chỉ huy của CIA được CIA huấn luyện và trả tiền. Số 4.400 người của các đơn vị trinh sát tỉnh là cánh tay hành động của Phượng hoàng và là những bàn tay đẫm máu nhất. Mỹ khó đánh giá được tác động thực sự của chương trình Phượng hoàng và chỉ Cách mạng mới làm được việc này. Tuy các quan chức Mỹ tuyên bố đã bắt 86.000 người từ năm 1968 đến năm 1972, cộng với 20.000 người bị giết, nhưng kết quả đã làm cho họ thất vọng. Họ cho rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã thâm nhập trong hàng ngũ của Phượng hoàng để báo trước cho cán bộ quan trọng nên không có quan chức cấp cao nào bị bắt cả. Với tốc độ này, họ tin rằng cơ sở hạ tầng có thể tồn tại mà rất ít gặp khó khăn gì, ngay ở những cấp thấp hơn. Người Mỹ cũng nghi ngờ rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã lo lót để nhiều người bị bắt được thả. Một số người cấp thấp Mỹ tham gia Phượng hoàng tin vào thắng lợi của chương trình, nhưng cũng thừa nhận là không đồng đều. Nhưng phần động người Mỹ muốn lánh xa việc bắt bớ độc đoán, tra tấn và gây chết chóc xảy ra hàng ngày. Một cố vấn CIA cảnh cáo rằng việc bắt bớ đã làm cho nhiều nông dân căm thù sâu sắc: "Tác dụng thực sự của chương trình trong một tỉnh là tạo ra thêm Việt cộng mới chứ không phải quét sạch những người hoạt động đã có sẵn". Các quan chức Mỹ không bao giờ tin rằng họ đã tìm được cách làm tổn hại cơ sở hạ tầng của Cách mạng một cách không thể đảo ngược được, nhưng ấn tượng chung cho mọi người là Phượng hoàng mở rộng hố ngăn cách, đã từng là rộng lớn giữa nhân dân và Việt Nam cộng hòa. Trừ một số nhỏ những người ủng hộ Việt Nam cộng hòa, ít người Việt Nam tán thành một nhà nước cảnh sát độc đoán.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #144 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:52:17 am » |
|
THIỆU VÀ NHỮNG PHỨC TẠP CỦA CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Cuộc đấu tranh giành ruộng đất đã từng là động lực của Cách mạng Việt Nam ngay từ đầu, là khâu nối trọng yếu giữa nông dân và Đảng. Nhưng chính sách của Việt Nam cộng hòa và sự ngờ vực của Mỹ cùng với việc chiều theo ý muốn của Sài Gòn đã gạt vấn đề cải cách ra khỏi chương trình bình định dưới chính quyền Giôn-xơn. Vào lúc Mỹ và Việt Nam cộng hòa quay trở lại vấn đề, thì tính chất của vấn đề ruộng đất đã thay đổi lớn. Sự biến đổi đó là do nhiều nhân tố. Trước tiên, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã cải cách chế độ ruộng đất cả về mặt phân phối lẫn về mặt mức tô. Chỉ một mình việc làm này đã đưa một bộ phận lớn nông dân về phía Mặt trận, với nhiều mức độ khác nhau và kéo dài cho đến khi chiến tranh kết thúc. Thứ nhì, mặt kinh tế của ruộng đất đã thay đổi mạnh mẽ do tác động của chiến tranh. Nông dân phải bỏ ruộng đất khi họ phải tìm nơi tỵ nạn, và việc quân đội Việt Nam cộng hòa chiếm trên một nửa số nam giới với lứa tuổi 18 đến 35 cũng như tình hình thương vong dân sự, đã làm thiếu nghiêm trọng nhân lực. Mặt khác một số lớn trâu bò bị sát hại cũng làm thiếu sức kéo. Tô ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ còn trung bình từ 5 đến 10 phần trăm, so với 40 đến 60 phần trăm trước năm 1939. Thậm chí số tô đó thường không được thu và giá đất ở đồng bằng từ năm 1958 đến năm 1967 giảm xuống còn một nửa. Tuy vậy, người ta vẫn còn kiếm được tiền trong nông nghiệp do thị trường đô thị được mở rộng, nhưng cách làm tốt nhất là đầu tư vốn vào kỹ thuật và giống còn quyền sở hữu đất thì trở nên ít quan trọng hơn. Nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long thì nông dân không còn cần đến cải cách ruộng đất nữa, dù cho ý muốn sở hữu ruộng đất của họ mạnh như thế nào. Cải cách ruộng đất không còn là một vấn đề khẩn cấp nữa. Địa chủ cũng muốn biến ruộng đất của mình thành tiền để có thể đầu tư vào lĩnh vực khác. Ngày 21 tháng 9 năm 1968, Thiệu đến Kiến Hòa, một tỉnh mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã chia ruộng đất. Vào lúc này Thiệu đã hiểu được tính chất thay đổi của nền kinh tế nông nghiệp. Thiệu cũng đã biết được những lời phàn nàn của Mỹ rằng Thiệu đã củng cố quyền lực của Cộng sản bằng cách cộng tác và giúp đỡ địa chủ sau khi chiếm đóng một khu vực. Chưa thật yên tâm với việc tranh thủ các quan chức dân sự và các sĩ quan. Thiệu muốn mở thêm một mối quan hệ mới với nông dân bằng cách tuyên bố mập mờ rằng nông dân đã được Cách mạng chia ruộng đất có thể giữ số đất đó và ông ta cũng sẽ tiến hành một chương trình chia không ruộng đất. Sau đó, Thiệu đưa ra chương trình "Ruộng đất cho người cày" mà đến tháng 3 năm 1970 đã trở thành một đạo luật. Thiệu đề ra mục tiêu phân phát một triệu héc-ta ruộng đất. Chương trình cải cách được áp dụng ở đồng bằng, vùng chiến thuật IV và III sau khi chương trình đã hoàn thành thì vẫn còn nửa triệu héc-ta đất bỏ hóa. Hai vùng chiến thuật ít ruộng đất ở phía bắc được giữ nguyên trạng. Chỉ 5 phần trăm ruộng đất định chia nằm trong khu vực này. Nhưng ở đây cũng vậy, như một cố vấn Mỹ về sau kết luận, chương trình ruộng đất cho người cày là "một thất bại khốn khổ ở Trung phần Việt Nam".
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #145 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:53:13 am » |
|
SỰ THAY ĐỔI RUỘNG ĐẤT VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG NÔNG THÔN CHỚM NỞ Luật cải cách ruộng đất của Việt Nam cộng hòa đưa ra chậm mất mười năm nên không thể có hiệu quả chính trị được nhưng nó được địa chủ hoan nghênh và nông dân chấp nhận. Nó gây ra một cơ sở cho cuộc khủng hoảng ruộng đất mới mà sự kết thúc chiến tranh năm 1975 mới đẩy lùi được Mỗi một địa chủ được giữ lại mười lăm héc-ta. Nhưng chỉ cần khéo một chút là anh ta giữ lại được nhiều hơn tuy ít người làm như vậy. Đất dùng cho cây công nghiệp và cây ăn quả không phải là đối tượng cải cách cũng như ruộng tự cày cấy trong vùng biên giới của đô thị. Loại đất này, vào khoảng một triệu héc-ta, là có giá trị nhất. Chương trình này đã tốn ít nhất 500 triệu đô-la. Trong 3 năm tiếp theo 1,1 triệu héc-ta tức là một phần ba đất trồng trọt đã được chuyển không cho 40 phần trăm nhân dân nông thôn tức là 800.000 tá điền. Những nông dân ở đồng bằng có thể được đền ba héc-ta. Khoảng 85.000 địa chủ bị lấy đất vẫn còn giữ 1,7 triệu héc-ta, nhưng bây giờ họ cũng có vốn hơn do được bồi thường. Địa chủ rất phấn khởi. Nhiều người trước đây không thu được gì hàng năm trời, và tô thường là thấp hơn tiền lãi họ có thể nhận được. Nhiều địa chủ hối lộ quan chức cải cách để họ lấy ruộng và trả tiền bồi thường. Tỷ lệ người có ruộng trong nông thôn đã tăng từ 29 phần trăm cuối năm 1970 lên 56 phần trăm hai năm sau đó. Thăm dò dư luận của sáu nghìn nông dân có liên quan đến chương trình các chuyên gia Mỹ thấy rằng "người nông dân Việt Nam không được cảm kích như người đứng ngoài". Các chuyên gia rất thất vọng mà thấy rằng cải cách ruộng đất không tạo ra được một sự thay đổi quyết định cho sự ủng hộ Việt Nam cộng hòa về chính trị và đa số lớn những người được chia ruộng không chịu đi với Việt Nam cộng hòa. Quá nhiều người đã được Cách mạng chia ruộng đất rồi cho nên vị trí của họ chẳng được thay đổi gì hơn. Nhưng địa chủ ,thì bây giờ lai tốt hơn trước. Trong hoàn cảnh thiếu nhân lực và thừa ruộng đất, việc cải cách không còn ý nghĩa thực sự nào. Một giai cấp tư sản mới xuất hiện nhanh chóng, gồm những địa chủ bị lấy ruộng và được bồi thường; họ đi vào buôn bán, kinh doanh, cho vay, thiết lập lại quyền nắm giữ nền kinh tế nông thôn qua các hình thức mới. Với lợi tức 60 đến 72 phần trăm hàng năm, họ dựng lại chế độ cổ truyền kiểm soát những nông dân sống nhờ vào vay mượn. Họ bắt đầu hiện đại hoá cày cấy trong các trang trại riêng của họ bằng cách dùng giống lúa thần kỳ và phân bón. Một số lớn máy kéo, máy cày và cơ giới nông nghiệp được nhập khẩu, do đó gần một nửa đất cày cấy trong năm 1973 đã được cày máy. Chẳng bao lâu, sức mạnh kinh tế thật sự ở đồng bằng không còn lấy ruộng đất làm cơ sở nữa mà lấy sở hữu về sức ngựa của máy móc và khả năng kiểm soát thị trường cho vay, và cả hai mặt này những địa chủ cũ vẫn nắm độc quyền. Gần một phần ba lúa gạo của miền Nam là thuộc các giống cao sản và giống lúa này đòi hỏi máy móc và tiền vốn. Đến năm 1972, nông dân bắt đầu phàn nàn về sự lên giá của phân bón và thuốc trừ sâu và về những khó khăn của công cuộc hiện đại hóa quá tốn kém mà Mỹ và Việt Nam cộng hòa đang khuyến khích; trong năm tiếp theo, những vấn đề đó bùng nổ thành một cuộc khủng hoảng quy mô đầy đủ. Hàng nghìn nông dân bắt đầu lại mất ruộng đất của họ một lần nữa cho những chủ nợ của mình, mà nhiều người là những địa chủ cũ đã sử dụng tiền được bồi thường khi bị lấy ruộng. Nhiều nông dân khác phải trả lại ruộng vì những địa chủ cũ xoay xở được để đưa ruộng đất của họ vào loại ruộng đất đô thị không phải là đối tượng cải cách. Một phần ba tỉnh Biên Hòa được sắp xếp lại là khu vực đô thị và những chủ đất mới được phân phối bị đuổi đi. Tóm lại, cải cách ruộng đất nhanh chóng bị phá sản và chắc chắn là không gạt bỏ được cơ sở kinh tế cho tinh thần cấp tiến của nông dân. Tuy nhiên, sự kết hợp mới của những nhân tố sản xuất sau năm 1969 đã làm cho sản xuất gạo và các nông phẩm khác tăng lên trong nhiều năm. Nó làm tăng thu nhập của những địa chủ có đặc quyền, đặc biệt là những người cho vay hoặc phát canh. Nhưng điều có thể thấy trước là chế độ mới đó sẽ phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu. Từ đầu chiến tranh, Mỹ đã hạ giá phân bón bán cho Nam Việt Nam. Với cuộc khủng hoảng giá đầu năm 1973, toàn bộ hệ thống nông nghiệp bị đe dọa nghiêm trọng; giá phân bón tăng gấp ba lần giữa năm 1972 và năm 1974. Thuốc trừ vật hại và nguyên liệu cũng tăng giá sau đó. Khi chiến tranh kết thúc toàn bộ cơ cấu nông nghiệp miền Nam chìm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Cách mạng phải chấp nhận chính tình trạng như vậy. Cải cách ruộng đất chỉ đẩy nhanh sự biến đổi của hệ thống nông nghiệp, làm cho nó mất ổn định và dễ bị tổn thương hơn, trước nền kinh tế thế giới. Sự thay đổi chứ không phải cải tiến số phận của quần chúng nông dân hoặc sự ủng hộ chính trị đối với Việt Nam cộng hòa, đã làm yếu thêm vị trí của cả hai bên và đẩy nhanh sự mai một của kẻ thù phụ thuộc vào Oa-sinh-tơn.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #146 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:54:03 am » |
|
THẾ TIẾN LUI ĐỀU KHÓ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH KÉO DÀI VÀ NÔNG DÂN Không thể mô tả được toàn bộ tác động của cuộc chiến tranh đẫm máu, kéo dài đối với nông dân miền Nam và xã hội của họ, bởi vì nhiều năm tàn phá, biến đổi hệ thống dân cư và khủng bố đã làm thay đổi nghiêm trọng môi trường chính trỊ mà cả Cách mạng lẫn Mỹ phải có quan hệ. Ít có gia đình nông dân không phải chịu một tổn thất không thể bù lại được hoặc thậm chí nhiều tổn thất như chết chóc, nhà cửa bị tàn phá hoặc phải rời bỏ, chịu nhục nhã... một thứ tổn thất không biết lấy gì cân mà người ngoài cuộc khó lòng hiểu thấu được. Đối với phần đông nông dân, những sức ép tàn nhẫn, không bao giờ dứt bắt đầu làm cho họ có một cách lập luận khác; mục đích của họ chỉ là làm sao sống sót được và hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất. Cả Đảng lẫn Mỹ đều hiểu rõ tâm lý đó và cố tìm cách đối phó với nó và giải quyết những thách thức của nó. Thái độ thụ động đó đặt ra một thách thức cho Mỹ và Việt Nam cộng hòa lớn hơn là cho Cộng sản, bởi vì chương trình bình định của Mỹ lấy sự kiểm soát lãnh thổ và nhân dân làm một thần tượng quá đáng trong khi cách mạng linh hoạt hơn nhiều trong quan hệ với quần chúng. Xét các mục tiêu của Mỹ, sự hợp tác tích cực của nhân dân là rất cần thiết, nếu không, công cuộc bình định sẽ phải chịu những gánh nặng quân sự và kinh tế dài hạn quá đáng, như đã bắt đầu xảy ra. Thiếu sót tai họa trong cố gắng Mỹ là hậu quả của phương pháp cơ bản tiến hành chiến tranh cả về mặt quân sự lẫn mặt chính trị. Trong khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng tìm cách gần gũi quần chúng lại trong làng thì Mỹ và Việt Nam cộng hòa buộc họ phải bỏ làng ra đi. Sau năm 1969 hầu như Việt Nam cộng hòa bắt tất cả con trai của nông dân vào lính. Cho đến năm 1971 việc bỏ thuốc trụi lá cây là nguyên nhân quan trọng cho những lời oán trách của nông dân nhất là trong các tỉnh ngoại vi. Tất nhiên, chương trình Phượng hoàng là một nguồn khiếp sợ của quần chúng. Tuy mức sống có tăng lên và chiến đấu có giảm đi, nhưng tham nhũng hàng ngày của các quan chức Việt Nam cộng hòa và sự cướp bóc triền miên của binh lính, thuế khóa cao và sự xúc phạm đến nhân cách vẫn tiếp tục tồn tại hàng ngày. Tóm lại, khi đường lối của nông dân tiến từ vấn đề kinh tế sang vấn đề sống còn, sự thù địch của họ đối với Việt Nam cộng hòa và đối với Mỹ tăng lên, bởi vì ruộng đất mà không có hòa bình thì cũng chỉ là vô dụng Những người Mỹ tham gia công tác bình định, và ngay cả những sĩ quan cao cấp của quân đội Việt Nam cộng hòa cũng hiểu rõ quy mô của thách thức này và luôn luôn đánh giá đúng những thất bại của chính họ. Bộ chỉ huy của sư đoàn ky binh thiết giáp thứ 11 của Mỹ báo cáo cuối năm 1969 rằng nông dân "thật sự không có cảm tình" và điều đó che giấu "cảm tình rõ rệt với Việt cộng và cơ sở của Việt cộng mà phần đông là người nhà của họ. Điều trên hết là nhân dân muốn hòa bình và muốn được để yên, tuy rằng họ luôn luôn sẵn sàng ủng hộ tinh thần và vật chất Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Những chuyên gia của CIA và quân đội Mỹ cảm thấy rằng nông dân co lại, thích nghi với những thực tế quyền lực nhưng không muốn bắt nộp cán bộ Mặt trận. CIA báo cáo tháng 4 năm 1970 rằng tuy được cải thiện về kinh tế nhưng chẳng có sự ủng hộ chế độ Thiệu một "mức độ có ý nghĩa" nào ở nông thôn. Khi Mỹ hỏi ý kiến một số lớn nhân dân trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 1972 liệu Mỹ rút quân về nước có phải là điều khôn ngoan không, thì ít hơn một phần năm nghĩ rằng đó là không khôn ngoan. Sự căm ghét kẻ xâm lược nước ngoài đã lan đến cả những người cộng tác với họ và di sản của chủ nghĩa yêu nước không bao giờ không còn là một lực lượng phải tính đến. Dù cho Mỹ gây thiệt hại như thế nào cho cố gắng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, Rô-bớt Cô-mơ rất tiếc mà kết luận năm 1974 rằng "chúng ta không bao giờ có khả năng biến điều đó thành sự ủng hộ tích cực của quần chúng nông thôn đối với chính phủ Việt Nam... chúng ta không hề bao giờ có thể tự chúng ta gây ra một sự hấp dẫn ngược lại ở Sài Gòn đưa lại tình cảm của quần chúng, khả năng và hiệu quả công tác cai trị của chúng ta...". Một vài sĩ quan quán đội Việt Nam cộng hòa có suy nghĩ hơn, cũng thừa nhận như vậy sau đó: "Đối với nhân dân nói chung, dày dạn và tỉnh táo vì cuộc chiến tranh kéo dài, tàn phá; bị vỡ mộng và thất vọng vì một nền hòa bình mong manh; và ngày càng lo ngại về một tương lai không chắc chắn, nhiều người tất nhiên không đi theo sự nghiệp và cố gắng của chính phủ Việt Nam cộng hòa". Thực tế này, tuy còn đặt ra tất cả các khó khăn, đã giúp cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng nắm quyền chủ động trong việc liên hệ với nhân dân.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #147 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:54:47 am » |
|
PHẢN ỨNG CỦA CÁCH MẠNG ĐỐI VỚI BÌNH ĐỊNH Mặt trận Dân tộc Giải phóng đối phó với vấn đế bình định sau năm 1969, trong một tư thế phòng ngự cho đến khi Mặt trận có thể bảo vệ những cán bộ chính trị của mình bằng một lực lượng vũ trang tối thiểu. Tuy mặt trận có ít vấn đề trong các khu vực đông dân phía bắc Sài Gòn mà đã trở thành trung tâm hoạt động quân sự của Mặt trận, nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long, Mặt trận gặp nhiều khó khăn và tạm thời phải bỏ nhiều nơi. Tuy tố chức của Mặt trận còn nhỏ, nhưng những người còn lại, cũng đã buộc được lực lượng Việt Nam cộng hòa dành một lực lượng vũ trang lớn rải ra một vùng rất rộng để đối phó với họ. Với ý nghĩa này vai trò của Mặt trận là quân sự nhằm phân tán lực lương địch, chứ không phải là chính trị. Nhưng cũng xảy ra nhiều phát triển làm giảm sức ép đối với Mặt trận. Trước tiên là việc đưa quân đội Việt Nam cộng hòa ra hoạt động ngoài Nam Việt Nam làm giảm các lực lượng để tấn công vào các căn cứ của Mặt trận. Hai là việc triển khai các hoạt động du kích ở đồng bằng căng mỏng các hàng ngũ của quân đội Việt Nam cộng hòa làm cho các cán bộ chính trị có cơ hội hoạt động hơn. Đến năm 1971 thì Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã có thể trở lại một số vùng ở đồng bằng sông Cửu Long mà trước kia phải rời bỏ. Một vấn đề mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng rất quan tâm là vấn đề đô thị, tuy rằng sau Tết, Mặt trận còn yếu ở đây, Mặt trận tự tuyên bố là một liên hiệp của nhiều thành phần khác nhau ở miền Nam, và Đảng là trung tâm có quyền kiểm soát liên hiệp đó. Những thành phần đô thị đã xuất hiện trong Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình trong cuộc tiến công Tết, gồm những cá nhân có học thức rất thiết tha với hòa bình và bị Thiệu làm cho xa lánh. Tháng 6 năm 1969, để thúc đẩy thương lượng tương lai và hoạt động ở đô thị, Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Liên minh tuyên bố thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời làm cho Mỹ rất lo ngại rằng Đảng sẽ đi vào một hình thức liên hiệp nào đó với giới thượng lưu không cộng sản chống Thiệu. Đảng rất quan tâm đến các xu hướng này ở đô thị, và phong trào sinh viên có rất nhiều hứa hẹn. Mỗi một lần Thiệu củng cố quyền lực, thì khoảng cách chính trị giữa chế độ của ông ta và những người đứng ngoài chế độ lại rộng thêm. Những thành phần tri thức đô thị, chủ yếu thuộc giai cấp giữa, ngày càng thù địch với chiến tranh. Đảng luôn luôn thảo luận vai trò tiến bộ của giai cấp tư sản dân tộc trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc, nhưng sau năm 1971 vì muốn thành lập một liên minh ở miền Nam nên Đảng lại càng nhấn mạnh đến chức năng có thể có của giai cấp đó hơn nữa. Sự mỉa mai của cán cân lực lượng mới giữa Mỹ và Việt Nam cộng hòa một bên với Cách mạng bên kia là cả hai bên đều yếu đi về mặt chính trị cuối năm 1971 so với năm 1969. Vấn đề duy nhất là tính chất và mức độ cơn bệnh của mỗi bên và khả năng của mỗi bên cứu chữa cơn bệnh đó. Các vấn đề của Việt Nam cộng hòa có nguồn gốc trong các sự kiện tại nước Mỹ và tại các nơi khác, và nhiều vấn đề là những cơn bệnh xã hội vốn có trong chế độ xã hội đặc biệt của Việt Nam cộng hòa. Các điểm yếu của Cách mạng một phần là vì mặt tổ chức, và chính là hậu quả của tiến công Tết, nhưng chủ yếu là về mặt quân sự. Những điểm yếu đó trước hết là tạm thời. Về mặt chính trị, Cách mạng không phải bị yếu đi vì cố gắng cải cách ruộng đất của Việt Nam cộng hòa mà là do Cách mạng không đủ khả năng bảo vệ những cán bộ của mình trong chương trình phượng hoàng. Cho đến cuộc tiến công mùa xuân 1972, làm đảo ngược toàn bộ quá trình này trong cuộc đấu tranh chính trị, những thành tựu chính mà Cách mạng giành được là do biết lợi dụng tình trạng sa sút của các lực lượng quân sự, của nền kinh tế và của vai trò lãnh đạo của Việt Nam cộng hòa, một tình trạng làm cho các chuyên gia Mỹ rất quan tâm. Tuy nhiên, trước khi những tác động đầy đủ của cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị và xã hội của chế độ Việt Nam cộng hòa được bộc lộ rõ ràng, thì những lực lượng quân sự và ngoại giao, hình thành kết quả của cuộc chiến tranh quá phức tạp và quá kéo dài, lại xuất hiện lên hàng đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #148 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:56:00 am » |
|
Chương ba mươi hai CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
TRUNG QUỐC VÀ CUỘC CHIẾN TRANH Những bất đồng trong tầng lớp trên cầm quyền của Trung Quốc cũng như những đe dọa và khích lệ của Mỹ làm cho Trung Quốc trở thành cường quốc lớn không thể đoán trước được trong cuộc chiến tranh. Sau năm 1964, sự xấu đi trong quan hệ của Trung Quốc với Liên Xô bảo đảm rằng Trung Quốc sẽ dễ thay đổi nhất trong chính sách của mình có lợi cho lợi ích quốc gia hơn là cho cam kết quốc tế lịch sử của họ. Sau năm 1950, Trung Quốc đã tỏ ra có lúc rất linh hoạt, nhưng những đáp ứng của họ với Mỹ chịu ảnh hưởng sâu sắc sự thù địch không hề sút giảm của Oa-sinh-tơn sau chiến tranh Triều Tiên. Vì sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam xuất phát từ quan điểm chủ quan cho rằng cuộc chiến tranh sẽ kiểm soát được sự bành trướng của Trung Quốc, nên những vai trò tiềm tàng của Trung Quốc ngày càng bị hạn chế không phải do ý muốn của chính Trung Quốc mà là do các cường quốc bên ngoài gây ra. Trước những cuộc tẩy chay kinh tế của Liên Xô cuối những năm 1950, Trung Quốc bắt đấu đóng một vai trò làm tăng thêm ý thức vừa tự thấy mình là một cường quốc thế giới độc lập, vừa muốn đẩy mạnh những lợi ích quốc gia của mình. Hiệp định về Lào tháng 7 năm 1962 là ngưỡng cửa của chính sách Bắc Kinh đi ngược lại với những lời tuyên bố khoa trương của mình, bởi vì nó cho thấy việc giữ cho chiến tranh nằm cách xa biên giới của mình và tránh một sự đụng đầu trực tiếp với Mỹ vẫn còn là, như hồi ở Giơ-ne-vơ năm 1954, một nguyên tắc cốt yếu của nền ngoại giao Trung Quốc, bất kể hệ tư tưởng ra sao. Các nhà phân tích Mỹ thấy sự phân biệt Trung - Xô về vấn đề Lào, phản ánh sự bất đồng sâu sắc giữa hai nước, nên họ kết luận rằng một chính sách cô lập Trung quốc sẽ làm cho Trung Quốc dễ sai khiến hơn. Trên thực tế, Trung Quốc đấu tranh không phải chỉ cho một chính sách đối ngoại độc lập mà còn cho cả sự bá quyền khu vực. Những cố gắng của Liên Xô sau năm 1957 buộc Trung Quốc phải tự lo cho mình, không phải là nguyên nhân của vai trò mới của Trung Quốc bởi vì vai trò đó đã có gốc rễ một nghìn năm trong lịch sử, nhưng sự thù địch của Liên Xô giúp cho Trung Quốc không còn do dự gì trong việc trở lại vị trí cổ truyền của mình trong bầu trời châu Á. Chính sách của Trung Quốc thể hiện nào là một lý thuyết chiến tranh giải phóng dân tộc dựa vào những đơn vị nhỏ và chiến tranh kéo dài, nào là ý muốn thành lập và lãnh đạo một quốc tế mác-xít lê-nin-nít mới, nào là tôn trọng các nguyên tắc trung lập của Băng-dung năm 1955. Tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, Trung Quốc đã nhấn mạnh địa vị của mình là một quốc gia trọng yếu cho hòa bình và ổn định trong toàn khu vực. Họ cũng tìm cách giảm bớt khả năng về một cuộc đối đầu ngẫu nhiên bằng cách nói đi nói lại với Oa-sinh-tơn trong các tuyến bố và hành động của mình cũng như qua các con đường trực tiếp bí mật, rằng Trung Quốc sẽ không tham gia cuộc chiến tranh nếu Mỹ không xâm lược Việt Nam dân chủ cộng hòa và đe dọa đưa quân của mình đến biên giới Trung Quốc. Mặc dù những tuyên bố gay gắt về sự leo thang của Mỹ sau năm 1964, nhưng các nhà phân tích Mỹ dễ dàng thấy được nhiều lỗ hổng mà Trung Quốc để lại trong các tuyên bố của mình. Mỹ rất lưỡng lự trước chứng cớ mâu thuẫn của những xu hướng trong chính sách Bắc Kinh bởi vì hàng ngũ bên trên của Trung Quốc chia rẽ sâu sắc lúc đó cũng như về sau làm cho khó có một lập trường chắc chắn nhất. Các chuyên gia Mỹ về sau kết luận rằng có ba phái đấu tranh với nhau để làm chủ chính sách. Giới quân sự sợ nhất leo thang của Mỹ vì họ chưa được sẵn sàng và tìm cách tránh một cuộc đương đầu với người Nga. Họ ủng hộ một cuộc chiến tranh kéo dài, không kết thúc ở Nam Việt Nam để làm cho Mỹ bị giam chân ở đó và không đòi hỏi loại vũ khí làm cho Liên Xô tăng cường ảnh hưởng của mình đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa. Những người cấp tiến, nổi lên từ Cách mạng văn hóa và chiếm ưu thế trong những năm 1966 - 1967 tán thành một đường lối hoàn toàn thuộc hệ tư tưởng thù địch ngang nhau đối với cả người Mỹ lẫn những người "xét lại" Xô Viết. Và những người ôn hòa, đứng đầu là Chu Ân Lai, xem Liên Xô như mối đe dọa lớn hơn cho Trung Quốc và tán thành một cố gắng bình thường hóa quan hệ với Oa-sinh-tơn với hy vọng cùng với Oa-sinh-tơn làm yếu người Nga. Cuộc tiến công Tết cho thấy Mỹ ít đáng sợ hơn, đã củng cố phái của Chu. Tất cả các phái này đều chống những cuộc thương lượng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ nhưng với những lý do rất khác nhau. Những người cấp tiến và giới quân sự bác bỏ thương lượng vì nguyên tắc, nhưng những người ôn hòa thì muốn Ban-căng hóa Đông Dương vì sợ rằng một thắng lớn hoàn toàn của Cách mạng sẽ làm cho người Xô-viết có ảnh hưởng đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa quá mức Bắc Kinh cho là tha thứ được. Những phái này tương đối cân bằng với nhau cho đến năm 1968, khi thái độ chống Xô sâu sắc của Mao Trạch Đông tăng thêm thế lực của Chu. Các chuyên gia Mỹ nhận thức rõ các cạnh khía phức tạp của vai trò Trung Quốc trong khu vực và trong chiến tranh, ý nghĩa của sự phân biệt với Liên Xô, chiến lược hai mặt nếu chưa phải là lừa đảo đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa, và những bất đồng nội bộ của họ. Về sau các quan chức Mỹ phê bình chính quyền Giôn-xơn không nắm tầm quan trọng và khả năng to lớn của những thực tế đó cũng như không hiểu đầy đủ tính chất sâu sắc của sự phân liệt Trung - Xô. Do đó không có ai đủ khả năng bỏ qua được tin tức thông thường để đi sâu nghiên cứu những khả năng lợi dụng các xu hướng đó. Đó không phải chỉ vì thiếu sáng tạo mà vì tin rằng những tuyên bố về hệ tư tưởng thực sự đã hướng dẫn các hành động của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia. Tuy nhiên, lúc này những diễn biến chính trị sôi động bên trong Trung Quốc cũng như những mục tiêu của Trung Quốc luôn luôn thay đổi rất rất khó nắm. Và chính quyền Giôn-xơn cũng không thể có nhà ngoại giao nào đủ sức làm việc đó.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
SaoVang
Đại tá

Bài viết: 8205
|
 |
« Trả lời #149 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2008, 09:56:43 am » |
|
LIÊN XÔ VÀ CUỘC CHIẾN TRANH Chính sách Liên Xô gắn liền chặt chẽ với các phe phái đã có ở Liên Xô cho đến tháng 10 năm 1964 và khi Khơ-rút-sốp bị gạt. Nhưng do Crem-li ổn định hơn Bắc Kinh nhiều nên chính sách của Mát-xcơ-va nhất quán hơn và không bị thao túng. Cho đến khi Khơ-rút-sốp ra đi, Mỹ cảm thấy rằng người Nga không thành vấn đề gì nhiều và thực vậy Mỹ tin rằng người Nga cũng lo sơ các hành động Trung - Việt. Oa-sinh-tơn xem sự ủng hộ tượng trưng và bằng lời của Nga đối với Việt Nam như là một mặt cần thiết cho việc duy trì uy tín của Nga trong phong trào cộng sản thế giới. Từ năm 1965, khi người Xô-viết tăng nhiều viện trợ kinh tế, cho đến giữa năm 1967, Mỹ có xu hướng xem người Nga là những đối tượng sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của người Việt Nam để phục vụ cho lợi ích độc lập của họ. Nhưng Oa-sinh-tơn vẫn còn tin rằng người Nga sẽ kiềm chế Việt Nam dân chủ cộng hòa khi có thể. Năm 1967, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam dân chủ cộng hòa đạt đỉnh cao của thời chiến, và trong khi những tuyên bố của Liên Xô ủng hộ Cách mạng đưa ra công khai cũng như trong nội bộ càng ngày càng mạnh mẽ thì Oa-sinh-tơn cũng không nghĩ rằng người Nga sẽ làm gì hơn là lời nói nếu có cuộc leo thang khác. Oa-sinh-tơn cũng không xem Mát-xcơ-va có thể ảnh hưởng đến chiến lược ngoại giao cơ bản của Hà Nội, bởi vì họ thấy chính sách của Liên Xô là thụ động và nhằm giữ Việt Nam dân chủ cộng hòa độc lập với Trung Quốc cũng như nhằm bảo vệ hình ảnh của Nga trong con mắt của phong trào chống chiến tranh rất to lớn của thế giới. Chính quyền Giôn-xơn tin rằng người Nga rất thận trọng, và họ cũng biết rằng người Trung Quốc rất mong muốn tránh một cuộc đụng đầu trực tiếp với Mỹ. Họ cũng không nghĩ có thể lợi dụng sự căng thẳng Trung - Xô để vận động một hoặc cả hai đồng minh của Việt Nam dân chủ cộng hòa thúc ép. Cách mạng đi vào thương lượng theo những điều kiện của Mỹ vì họ xem Cách mạng là vô cùng độc lập. Các phe phái tinh túy lớn của Trung Quốc, mặt khác, cũng không sẵn sàng đưa lại sự thúc ép cần thiết. Trước năm 1968, chính quyền cũng chưa hết khả năng dựa vào vũ khí, còn sau Tết thì họ lại không thể thương lượng trên một thế yếu. Hơn nữa, họ cũng không muốn nhượng bộ Liên Xô về những vấn đề bên ngoài chiến tranh hoặc về mối quan hệ của họ với Trung Quốc, để đổi lấy sự cộng tác về vấn đề Việt Nam. Nhìn chung lại các nhà nghiên cứu cũng như các nhà chuyên nghiệp gặp nhiều khó khăn và phức tạp để lợi dụng sự phân liệt trong thế giới cộng sản. Rõ ràng chỉ một tay tài tử cả gan mới dám bất chấp những khó khăn rắc rối để chơi trò ngoại giao như vậy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|