Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:50:41 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một thời chiến trận Phần II  (Đọc 173569 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Trongc6
Thành viên
*
Bài viết: 495


« Trả lời #340 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2015, 03:16:58 pm »

Kính chào bác Trần Thế Thi,

Tôi đã vào đọc nhiều bài của bác trong FB của bác, trong trang Blogpost của bác và topic Một thời chiến trận của bác trên VMH. Nhưng tôi cũng chưa đọc hết đâu. Vẫn đang đọc và sẽ đọc đến hết.

Tôi cũng đã đọc bài và giao lưu với bác Bob trên VMH, đã gặp mặt bác Tomqb3 trong đám cưới con trai Luân "đen" (Nguyễn Trong Luân trong Lính Tây Nguyên.

Bác cũng đã vào trang FB của tôi rồi đó. Tôi rất thích các bài của bác viết, cũng như các bác Bob và Tomqb3, vì cùng là mặt trận B3. Quá đó, tôi biết và hình dung được thêm cả một vùng mặt trân B3 phía Bắc, cũng như cánh quân đánh BMT và theo xuống Tuy Hòa. Tôi ở 320A nên chỉ biết hướng Pleiku, và Cheo reo đương 7, Tuy Hòa thôi.

Cùng là lính chiến, cùng viết bài, nên thú thực là tôi thích các bài viết phải có đại từ "tôi" trong đó, vì nó thể hiện mình đang kể chuyện mình, và cho người đọc biết mình đang làm gì trong câu chuyện. Viết kiểu "đơn vị tôi", "chúng tôi" theo kiểu tướng tá thì tôi không thích xem, vì nhiều khi nó còn không thật.

Cũng nhân xem bài bác Bob viết kể về dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng Nha Trang, có nói đến chuyện hai ông "địa phương" cũng tham gia kể chuyện, thì quả thật thấy cũng buồn cười. Nó cũng tương tự như chuyện B tôi ở trên Nhạn tháp suốt ngày 1/4/1975, chỉ có mấy thằng du kích đeo băng đỏ, lên xin mấy cái xe máy lính địch chạy vất lại, ngoài ra có thấy ma bộ đội địa phương nào đâu, thế mà về Tuy Hòa chơi, người ta cứ giới thiệu mãi về cái ông bộ đội địa phương Phú Yên (quê Hà tây) kể chuyện lên Nhạn tháp cắm cờ trưa 1/4/1975.

Tôi nghĩ cho qua, vì địa phương họ cũng phải xây dựng truyền thống địa phương chứ, bác Bob nhỉ.

Sẽ còn vào gặp bác nhiều, nhưng lần này, cũng xin cho tôi được cảm ơn và chúc bác Thi (PK) luôn dồi dào sức khỏe, và cho bạn đọc xem tiếp các bài của bác viết, trên trang VMH này.

Thân ái
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Hai, 2015, 03:56:55 pm gửi bởi Trongc6 » Logged

phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #341 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2015, 03:49:03 pm »

Kính chào bác Trần Thế Thi,

Tôi đã vào đọc nhiều bài của bác trong FB của bác, trong trang Blogpost của bác và topic Một thời chiến trận của bác trên VMH. Nhưng tôi cũng chưa đọc hết đâu. Vẫn đang đọc và sẽ đọc đến hết.

Tôi cũng đã đọc bài và giao lưu với bác Bob trên VMH, đã gặp mặt bác Tomqb3 trong đám cưới con trai Luân "đen" (Nguyễn Trong Luân trong Lính Tây Nguyên.

Bác cũng đã vào trang FB của tôi rồi đó. Tôi rất thích các bài của bác viết, cũng như các bác Bob và Tomqb3, vì cùng là mặt trận B3. Quá đó, tôi biết và hình dung được thêm cả một vùng mặt trân B3 phía Bắc, cũng như cánh quân đánh BMT và theo xuống Tuy Hòa. Tôi ở 320A nên chỉ biết hướng Pleiku, và Cheo reo đương 7, Tuy Hòa thôi.

Cùng là lính chiến, cùng viết bài, nên thú thực là tôi thích các bài viết phải có đại từ "tôi" trong đó, vì nó thể hiện mình đang kể chuyện mình, và cho người đọc biết mình đang làm gì trong câu chuyện. Viết kiểu "đơn vị tôi", "chúng tôi" theo kiểu tướng tá thì tôi không thích xem, vì nhiều khi nó còn không thật.

Cũng nhân xem bài bác Bob viết kể về dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng Nha Trang, có nói đến chuyện hai ông "địa phương" cũng tham gia kể chuyện, thì quả thật thấy cũng buồn cười. Nó cũng tương tự như chuyện B tôi ở trên Nhạn tháp suốt ngày 1/4/1975, chỉ có mấy thằng du kích đeo băng đỏ, lên xin mấy cái xe máy lính địch chạy vất lại, ngoài ra có thấy ma bộ đội địa phương nào đâu, thế mà về Tuy Hòa chơi, người ta cứ giới thiệu mãi về cái ông bộ đội địa phương Phú Yên (quê Hà tây) kể chuyện lên Nhạn tháp cắm cờ trưa 1/4/1975.

Tôi nghĩ cho qua, vì địa phương họ cũng phải xây dựng truyền thống địa phương chứ, bác Bob nhỉ.

Sẽ còn vào gặp bác nhiều, nhưng lần này, cũng xin cho tôi được cảm ơn và chúc bác Thi (PK) luôn dồi dào sức khỏe, và cho bạn đọc xem tiếp các bài của bác viết, trên tramh VMH này.

Thân ái

Cảm ơn TrongC6. Mấy hôm có việc ít đảo qua, nay đọc được những lời nhắn gửi thật cảm động. trong C6 đã theo dõi nhiều trên tra VMH mà không biết ở đâu, nay thì rõ rồi. Xin Cảm ơn! Nhưng cứ chỉ cái tôi mãi thì cũng không thể hiện được nhiều khía cạnh của cuộc chiến mà mình tham gia, nên cũng có lúc phải có "chúng tôi" ...Đấy là theo quân điểm cua PK. Còn các ông to viết thì đúng như vậy...

Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #342 vào lúc: 15 Tháng Mười Hai, 2015, 03:50:32 pm »

GẶP NHAU SAU 40 NĂM
Cũng phải sau mấy lần hẹn hò đến ngày 8/12/2015 bốn "đồng hương" Vĩnh Bảo (theo đúng cách gọi nhau khi còn ở Trung đoàn 24,F10 QĐ 3 ở Tây Nguyên thời đánh Mỹ) mới có cuộc gặp mặt đủ 4 "tên": Trần Xuân Lê, người viết lời giới thiệu "Một thời chiến trân" ( cao nhất đứng thứ 4 từ trái sang) ; Lê Huy Tiến người ôm khẩu AK sáng 30/4 ở ngã tư Bẩy Hiền, Giao viên hóa THPT, Phó chủ tịch HĐND quận khi nghỉ hưu ( đứng thứ 5 từ trái sang); Đỗ Trung Minh, đồ bản Ban tác chiến E24 thời đánh Mỹ, Giảng viên Văn Đại Học( đứng thứ 6, cuối từ trái sang). Chúng tôi về Tứ Kỳ thăm Nguyễn Đức Ái, trung đội phó của tôi 1975, người đã mang thư và tấm ảnh chụp đầu tiên ở Sài Gòn của tôi về gia đình tôi 1975, tốt nghiệp ĐH tổng hợp Sử về công tác ở huyện (đứng thứ 2 từ trái sang). Nguyễn Đức Ái thông báo thêm hai chiến hữu của 24 nữa. Hầu hết đã 40 năm mới gặp nhau. 7 chiến hữu gần và trên 70 tuổi đến nhà vẫn tếu tào, sục sạo như thời lính trẻ. Bà xã Đức Ái đi bế cháu ở tp. Hải Dương vắng nhà, có một mình Đức Ai phải gọi cháu giúp bữa cơm đãi khách.
Trước bữa ăn chúng tôi sang nhà CCB Nguyền Văn Miện, C quân y thời Tây Nguyên, một diễn viên Chèo, đàn nhị của đội văn nghệ, bây giờ là Nghệ Nhân cây cảnh, đã có cây thế đi triểm lãm Lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long Hà Nội ( đứng thứ 3 từ trái sang).







PK và Lê Huy Tiến, Y tá ban chính trị, B trưởng đánh Tân Sơn nhất và P CTHDND Quận khi nghỉ hưu.

PK và Trần Xuân Lê, trợ lý Tuyên huấn, người viét lời giới thiệu "Một thời chiến trân" .

Đố Trung Minh đồ bản, Giảng viên Văn Đại Học khi nghỉ hưu.

Pk Và Nguyễn Văn Miện, C quân Y, cán bộ Công đoàn khi nghỉ hưu, Nghệ nhân cây cảnh, ảnh chụp trước cây thế dự triển lãm 1000 năm Thăng Long Hà Nội.

Trước nhà Nguyễn Đức Ái( thứ 2 từ trái sang), trung đội phó ở đại đội PK, Đại học Tổng hợp Sử.

Bữa cơm sau 40 năm thật đầm ấm, ai cũng nâng chén lâng lâng như đang bay!!!



« Sửa lần cuối: 15 Tháng Mười Hai, 2015, 04:19:25 pm gửi bởi phuockhanh » Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #343 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2016, 03:29:39 pm »

Bắt đầu từ hôm nay Phước Khánh sẽ giới thiệu "MỘT THỜI CHIẾN TRẬN" trên  Máu Và Hoa để các CCB và bạn đọc đọc và mong các bạn tham gia đóng góp cùng PK. Xin chân thành cẩm ơn.

Chương I       VƯỢT TRƯỜNG SƠN

   Giữa năm 1971 Trung đoàn 42 thuộc Quân khu 3 được biên chế thành một trung đoàn hoàn chỉnh, đóng quân tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh và bước vào huấn luyện giai đoạn cuối trước khi vào Nam chiến đấu (ngày đó gọi là đi B). Huấn luyện kỹ thuật bắn súng bài một, hai, chiến thuật cấp tiểu đội, trung đội đánh chiếm các mục tiêu. Tập hành quân đường dài, ba lô nhét đầy gạch, nặng khoảng 35kg, đi qua địa hình đồng bằng, đồi núi, quanh co hiểm trở. Hành quân dã ngoại lên Bến Tắm diễn tập chiến thuật đại đội tấn công kết hợp chốt, đánh địch trên đường hành tiến, đổ bộ đường không. Tổng kết giai đoạn huấn luyện bằng kiểm tra bắn đạn thật các loại súng hỏa lực ĐKZ, cối 82ly, cối 60ly, súng chống tăng B40, B41, súng máy phòng không 12ly7, đại liên, súng AK phóng lựu...
   Trước ngày suất quân, trung đoàn tập trung ở đồi bạch đàn Tràng Bạch, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh làm Lễ tuyên thệ. Thiếu tướng Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn về dự Lễ, giao nhiệm vụ cho trung đoàn lên đường vào Nam chiến đấu và cũng từ ngày đó Trung đoàn 42 đổi thành Trung đoàn 24, mang mật danh đoàn Ba Vì. Trung đoàn trưởng là anh Lê Minh, chỉnh ủy là anh Thoan, Tham mưu trưởng là anh Vũ Văn Tài, Chủ nhiệm chính trị là anh Hải. Tổng quân số toàn trung đoàn gần 2000 quân.
   Sau lễ tuyên thệ,  đúng 14h ngày 2-11-1971 Tiểu đoàn 3 của chúng tôi suất quân đầu tiên, Nam tiến. Lá cờ Giải phóng nửa xanh nửa đỏ phấp phới tung bay trên đầu hàng quân Nam tiến. Tiểu đoàn trưởng là anh Trí, quê tỉnh Nghệ An, Chính trị viên trưởng là anh Phượng . Đại đội 10 của tôi do anh Nguyễn Văn Nghĩa, quê tỉnh Nghệ An làm đại đội trưởng; anh Nguyễn Thiết Kế, quê Hà Bắc làm chính trị viên trưởng. Tiểu đoàn hành quân đến gần bến phà Bình nghỉ lạị qua đêm, chiều tối ngày hôm sau đi phà sang huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và đi miết đến 12h đêm đến ga Tiền Trung, lên tàu hỏa ở ga này. Đêm khuya khoắt, trăng vằng vặc soi rõ màu xanh áo lính, chạy lên chạy xuống nháo nhác gọi nhau í ới. Không có xô đẩy chen lấn nhưng không thiếu câu văng tục, vặc nhau, chọc tức đi trước vào nhặt đồ hộp hả?  
   Tàu chuyển bánh, dưới sân ga bỗng òa lên tiếng khóc và tiếng gọi, gào chứ không phải gọi rất to: Anh Sơn ơi!.. Anh Sơn ơi!...  Tiếng gọi tha thiết, nức nở, nghẹn lòng tan biến trong tiếng còi tàu hu..hu….cùng tiếng rít của bánh xe nghiến lên đường ray, rờn rợn, thắt lòng trong cảnh tiến đưa người vào chiến trận! Người mẹ và em của chiến sỹ chắc cũng ở gần đây đến tận ga tàu tiễn chân người con thân yêu vào Nam chiến đấu. Cuộc chia tay chẳng ai hẹn được ngày gặp lại!
   Hà Nội trời hửng sáng. Đường phố đông đúc người đi trên đường. Đoàn tàu chở bộ đội chạy bên đường Nam Bộ (bây giờ là đường Lê Duẩn và đường Giải Phóng), mọi người biết là đoàn quân vào chiến trường nên người thì đứng lại, người thì vừa đạp xe vừa vẫy chào tiễn biệt. Trong tiếng tàu chạy tôi vẫn nghe được những lời dặn dò, nhắn nhủ từ dưới vong lên:
   - Chiến đấu giỏi! Hẹn ngày… chiến thắng… trở vê…ề..!!!
   Bộ đội nhoài người ra ngoài cửa sổ tàu vẫy chào. Có đồng chí còn định tung cả mũ tai bèo vừa mới phát xuống chỗ mấy cô gái đang đứng bên đường vẫy nón, để lộ khuôn mặt xinh xắn, hồng hào và nụ cười tươi rói. Cơn bốc nổi lên kẹo bánh tung xuống như một vật kỷ niệm, cùng những bì thư như cánh bướm, chấp chới, chao nghiêng!.. Mọi người chạy lại nhặt những phong thư, gói kẹo nâng niu ôm ấp như kỷ vật yêu thương của những người sẽ không trở về và sự thật biết bao con người ấy đã vĩnh biệt họ.
   Qua câu Hàm Rồng, chiếc cầu nổi tiếng oanh liệt trong chiến tranh phá hoại của máy bay Mỹ. Tàu như con rùa bò trên cây cầu dã chiến. Nếu nhoài người qua cửa sổ chỉ thấy nước sông đục ngầu, cuộn chảy. Chiếc cầu kỳ lạ chẳng hiểu những chiến sỹ cầu đường (chiến tranh cả nước ai cũng là chiến sỹ) họ làm thế nào mà con tàu cả nghìn tấn chạy lơ lửng, trên thì trời và dưới là nước? Về chiều, mặt trời buông ánh nắng vàng nhạt xuống thành phố Vinh xơ xác vì chiến tranh phá hoại là lúc tàu vào ga. Bộ đội xuống tàu, hành quân bộ khoảng ba cây số vào một làng tôi không nhớ tên, nghỉ lại ở đó ba ngày.
   Là người khu 3 đến khu 4, nghe dân nói tiếng địa phương cứ ngơ ngơ, ngác ngác, chả hiểu họ nói gì. Đại đội trưởng Nghĩa quê ở đây, nhà anh cách có ba cây số, phải làm phiên dịch. Buổi tối chúng tôi đang ngồi chơi trên võng trong vườn thì có người đi dọc ngõ, chắc là Đội trưởng sản xuất, gọi với vào trong nhà:
   -  Cố… mai đi bứt toóc hỉ! Chúng tôi cười ồ lên vì không hiểu. Đại đội trưởng phải phiên dịch, anh thân mật gọi chiến sỹ của mình bằng “cha”:
   - Mấy cha này cứ ngây ngô như bò đội nón hả, không nghe chi hả ? Đi bứt toóc là đi cắt rạ, các cha có biết con “tru nó trần trắc” là gì không? Anh lại giảng nghĩa là con trâu nó đang húc nhau. Chúng tôi chỉ biết bò ra mà cười thôi.(còn tiêp)
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Giêng, 2016, 09:36:43 pm gửi bởi phuockhanh » Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #344 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2016, 03:39:07 pm »

   (tiếp) Nhà Đại đội trưởng cách đây có ba cây số mà anh giữ nghiêm kỷ luật, không về thăm lấy một phút nào. Cả đại đội rất nể anh.
   Chiều ngày thứ ba hành quân ra sông Lam, cả tiểu đoàn xuống xà lan rồi chạy ngược dòng. Đêm tối ngồi dưới xà lan nhìn chỉ thấy trăng sáng và bầu trới đầy sao hun hút, sâu thăm thẳm. Nửa đêm lên bờ ở địa điểm chẳng biết là đâu, ô tô chờ sẵn, bộ đội lên xe. Xe  qua ngã ba Đồng Lộc, loang lổ hố bom, xe leo Đèo Ngang vật vã ba chục tay lính trong thùng như lắc những chú ếch chồm hỗm ben trong. Sáng tinh mơ xe đổ đoàn quân phờ phạc xuống làng và lính vơ vội ba lô súng ống trang bị chiu vào vào nhà dân ở một huyện thuộc tỉnh Quảng Bình…
   Tiểu đội 9 của tôi ở gọn trong một nhà. Trưa hôm sau Thịnh, chiến sỹ ít tuổi nhất của tiểu đội nói nhỏ với tôi: Bác chủ nhà bảo vào trong đó không phải đội mũ vì toàn ở trong rừng. Bác xin một chiếc để đi làm đồng. Chắc Thịnh muốn cho nên hỏi tôi. Dĩ nhiên là tôi không đồng ý. Chuyện xin mũ khi còn ở Bắc, mấy anh chàng đã từng vào chiến trường, khi vui họ hay kể chuyện tếu về chiếc mũ cối. Nội dung câu chuyện chắc cũng na ná như chuyện Thịnh hỏi tôi thôi. Tuy nhiên, với cánh lính thì phịa ra thành chuyện hài hước, châm biếm. Họ kể: Khi đóng quân trong nhà dân, ông chủ nhà bảo: “Các chú vào trong nớ, ba chú thế nào cũng có chú chết, các chú cho bọ (bố) cái mão…” Rồi cười bò với nhau.
   Trạm Cự Nẫm là trạm cuối cùng trên đất Bắc. Dừng lại ở đây để bổ xung đầy đủ vũ khí, đạn dược, lương thực cho mười lăm ngày ăn. Thực phẩm có đường, sữa, thịt hộp, cá hộp, ruốc thịt, rốc cá, muối, mì chính… thuốc phòng chống sốt rét, rắn cắn, thuốc lọc nước, thuốc chống muỗi…Trung bình một người mang trên vai khoảng ba mươi lăm ki-lô-gam. Tiểu đội tôi trang bị hoả lực có một khẩu B40 do Hiến quê xã Đại Hợp huyện Kiến Thụy làm xạ thủ và một khẩu AK phóng lựu, súng do Ba Lan chế tạo, có nòng phụ, ngoài phóng lựu đạn còn để bắn đạn AT diệt xe cơ giới. Tôi là tiểu đội trưởng giữ khẩu phóng lựu, Điệp ở  xã An Hòa cùng huyện với tôi, bé và yếu nhất chỉ đeo hộp tiếp đạn. Tôi đã được huấn luyện kỹ thuật bắn, khi kiểm tra bắn đạn thật được xếp loại giỏi.
   Cả tiểu ở trong một ngôi nhà ba gian hai chái. Chúng tôi mắc võng ở gian chái. Sáu người của gia đình và một cô cháu gái ở trọ, đang học lớp 8, nằm ở gian ngoài. Dân ở đây nghèo và đói lắm. Ngần ấy người mà một bữa nấu có ba bò gạo, chẳng có sắn, khoai độn. Họ đi làm suốt ngày. Ai trong cũng hốc hác phờ phạc.  Trẻ em thì ham học tới khuya. Không khí gia đình vào buổi tối rất đầm ấm và vui nhộn. Cô nữ sinh đi học về chào chúng tôi rất tự nhiên, chẳng chút e dè. Đó là đặc tính của các cô gái khu bốn: Tự nhiên, gần gũi và không e thẹn. Một hôm tôi trêu cô nữ sinh xinh đẹp:
   -  Anh Thịnh đẹp trai và trẻ nhất tiểu đội của anh, Ứng - tên nữ sinh - chăm học và chờ anh ấy chiến đấu trở về được không? Chẳng chút do dự, cô học trò lớp 8 nói tự nhiên:
   -  Anh bảo anh ấy khắc tên vào cột nhà kẻo sau này em lại quyên! Câu trả lời nửa đùa nửa thật làm cho chúng tôi để ý đến những cây cột nhà.
   Đây là trạm cuối cùng trên đất Bắc. Trước khi vào Trường Sơn, hầu hết các đoàn đi B đều nghỉ lại ở đây. Trên cột nhà của gia đình không biết bao người đi trước đã khắc tên mình vào cột, dày di dít, có người khắc cả quê quán, ngày ở đây. Đọc tên họ mà tôi không khỏi súc động vì nghĩ rằng không biết giờ này họ ở đâu? Còn sống hay đã cống hiến phần xương máu hay cả cuộc đời cho Đất Nước rồi? Người ra trận chẳng biết mình có được trở về hay sẽ nằm lại vĩnh viễn ở chiến trường xa, đó là suy nghĩ chung của người lính chiến vào Nam ngày ấy. Lưu lại cái tên cũng có nghĩa là mình khẳng định mình đã từng sống ở trên đời và một lần nữa sẵn sàng hy sinh cho ngày chiến thắng! Sau này vào đến đường Trường Sơn  có rất nhiều người khắc tên mình trên thân cây. Giá mà khi kết thúc chiến tranh - tôi thầm nghĩ - Bảo tàng nào về đây lấy cái cột nhà, hay một khúc cây có tên các chiến sỹ đã khắc lại, một kỷ vật sống về trưng bày thì quý biết bao!
   Chiều hôm thứ chín, thứ mười, kể từ ngày suất phát, xe ô tô đưa đoàn quân vào đường Trường Sơn. Giã từ đất Bắc thân yêu lòng ai nấy chùng xuống, xúc động rất khó diễn tả. Không hẳn là buồn, cũng chẳng thể là vui. Nao nao điều gì đó thầm kín cho riêng mình không nói thể ra được thành lời. Không hò hát, không cười nói, cứ lặng im ỉm nhìn mông lung vào những mái nhà tranh trong xóm nhỏ khuất dần sau đồi núi, rừng cây, sương chiều. Đoàn xe dài dằng dặc chạy trên con đường thời chiến tranh xấu, gồ gề, ổ trâu, ổ voi làm chiếc xe vặn vẹo, lắc lư, văng vật cả một trung đội trong thùng. Qua một quãng đường có nhiều nam nữ thanh niên xung phong đứng dưới chân quả núi đá đang khai thác. Họ giơ tay vẫy chào đoàn quân Nam tiến rối rít. Có ai đó nói như gào to: Vĩnh biệt đồng bằng các đồng chí ơi!.. Lời chào tạm biệt của họ như nói thay nỗi lòng chúng tôi và phá tan không khí im lặng, bắt đầu cười nói, rú vang khi xe qua cua gấp. Vĩnh biệt đồng bằng có nghĩa là chẳng bao giờ quay trở lại !
   Nửa đêm xe đổ quân xuống khu rừng già. Người thì bảo là Làng Ho, tỉnh Quảng Bình, người thì bảo là Trạm 5. Làng Ho hay Trạm 5 cũng là bắt đầu vào đến Trường Sơn. Trời tối, mưa rả rích, chỉ thấy bóng người mờ mờ ở phía trước. Tiếng gọi, hỏi, gắt gỏng, quát tháo  khi ai đó bật lửa hay bấm đèn pin soi đường.
   -  Đồng chí nào…đứa nào bấn đèn đấy ? Không sợ chết hả,  Trường Sơn rồi đấy ! Máy bay nó tương bom xuống đầu bây giờ. Nghe tưởng nó đang rình rập trên đầu không bằng.
    Đoàn quân nháo nhác như đàn gà đang vào chuồng.
   Súng đạn, gạo và ba lô nặng trĩu trên vai. Trời tối như hũ nút. Dò dẫm vào con đường nhỏ hẹp trong rừng. Chẳng nhìn thấy nhau, chỉ nghe tiếng nói, tiếng cằn nhằn, tiếng kêu ca, tiếng thở mệt mỏi và tiếng lộp bộp của giọt nước từ lá cây rơi xuống ny lông đang khoác trên người. Cả tiểu đoàn đi đường xuyên rừng giữa đêm tối, như chui vào hang đá, mất hút vào bóng đêm, đi thì ít mà đứng thì nhiều.
   Không thể đi tiếp trong điều kiện như thế nên được lệnh dạt vào bên đường nghỉ lại. Chúng tôi quờ quạng trong đêm tối tìm cây mắc võng. Mắc võng xong thì Hiến kêu to : Vắt.. vắt!.. Chẳng biết thật hay đùa, tuy nhiên tất cả nhanh chóng co chân lên võng, kéo quần vuốt hai ống chân.
   Nằm xuống là ngủ như chết. Gần sáng thấy lưng lành lạnh, tôi tỉnh dậy sờ lưng áo và võng đều ướt đẫm. Thế là cả tiểu đội cùng bật dậy vì võng đứa nào cũng ướt như nhau.
Đây là kết quả ngờ ngệch, ngu ngơ của những người lính đầu tiên ở rừng mắc võng. Người ta phải dùng cọc phụ. Trước khi buộc dây võng vào cây phải quấn qua cọc phụ để nước chảy theo cọc phụ, không chảy vào võng. Bài học i tờ của những tay lính vào Trường Sơn.
   “HOAN HÔ HÙNG BINH CỦA GIA CẤP VÔ SẢN” đó là khẩu hiệu viết trên chiếc cổng chào dựng ở trạm đầu tiên của đường Trường Sơn, chào đón đoàn quân Nam tiến. Phía sau cổng chào là một khẩu hiệu chúc mừng những chiến sỹ đã hoàn thành nhiệm vụ trở về. Vì không phải là người hoàn thành nhiệm vụ, tôi có ngoái lại đọc nhưng không nhớ
     Từ đông Trường Sơn vượt sang tây Trường Sơn gian nan, vất vả núi cao, đèo dốc. Đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, khe nối khe... Có những cái dốc ngược ba lô người đi trước chạm vào đầu người đi sau. Hai tay bám vào cây bên lối mòn kéo đu người lên; ba lô, súng đạn trĩu nặng ghì người xuống. Khẩu súng hết quàng qua cổ treo trước ngực, lúc lại vắt ngang trên ba lô; quàng vai phải chán lại chuyển sang vai trái, đâu cũng thấy ê ẩm, đâu cũng thấy hai vai gánh chịu. Mang nặng, dốc nhiều, đi chậm như rùa bò, đoàn quân cứ ùn lại, thúc vào lưng nhau, đè nặng. Càng dồn càng khổ vai ê ẩm, bụng quặn thắt vì đói. Giao liên đi một thì chúng tôi đi gấp đôi thời gian như thế, cứ phải mặt trời tà tà mới đến trạm nghỉ.
   Đông Trường Sơn mưa như dội nước xuống những cánh rừng già thăm thẳm, huyền bí, u tịch như thách thức ý chí và nghị lực của người lính. Mưa sối sả, mù mịt đổ nước xuống tràn ngập trên mặt đất. Suối dềnh nước, chảy cuồn cuộn, sủi bọt đỏ ngầu, réo gào cuốn phăng cả thân cây to đùng bật gốc. Cây bồng bềnh nổi chìm ngụp lặn giữa dòng nước cuồn cuộn. Cầu vượt suối là cả cây gỗ to đến hai người ôm đốn đổ vắt qua suối làm cầu. Các chiến sỹ công binh còn làm cả tay vịn bằng dây song to bằng cổ tay. Những anh chàng yếu bóng vía đi qua cũng thấy yên tâm.      
   Đi dưới những cánh rừng già ba tầng lá che kín cả bầu trời. Rừng thăm thẳm vẳng tiếng vượn hú gọi bầy, tiếng hoẵng tác trong đêm cô tịch và chợp chờn đom đóm phát ra ánh sáng lạnh lẽo; bóng những con chồn bay xòe cánh bay lao từ bên này sang kia bờ suối, cứ như ma trơi mất hút vào bóng nhờ nhờ đêm tối.( Còn tiếp)
   
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Giêng, 2016, 09:35:47 pm gửi bởi phuockhanh » Logged
xuanv338
Thành viên
*
Bài viết: 1573


muốn xoa bài viét thừ


« Trả lời #345 vào lúc: 03 Tháng Giêng, 2016, 07:32:25 pm »

Chào anh phuockhanh. Thú thực đọc chuyện của các anh lính Tây Nguyên ai viết cũng hay. Hình như núi rừng Tây Nguyên đã cho các anh những hồn văn, thơ không cần qua trường lớp. Rất hay anh Thi ạ. Vậy là lính Tây Nguyên các anh đã nhận ra nhau nhiều rồi. Anh Trọng C6 rất gần với chúng ta trên làng fb đấy thôi anh. CB chúc anh khỏe và dẻo tay nhiều hơn.
Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #346 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2016, 08:16:29 am »

Cảm ơn Xuanv38 sang động viên cánh lính Tây Nguyên, PK cũng vẫn đọc "Mảnh ghép" trên fb. Chúc CB đều tay!
Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #347 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2016, 08:29:00 am »

   (tiếp)      Đường mòn vắt lên đỉnh núi như đi trong mây. Ngó xuống vực sâu thăm thẳm, lạnh sống lưng, tưởng vô tình mà trượt chân lăn xuống đó là cả một thế giới huyền bí rặt những loài ác thú ăn thịt rình rập. Có chỗ như đi trên những đám mây trắng xốp như bông bay là là trên màu xanh biếc của rừng. Từ bao giờ mỗi người lính đã có một cây gậy trên tay thành bạn đồng hành xuyên vào con đường hun hút giữa rừng già như nuốt chửng đoàn quân. Cây gậy mang cái tên “gậy Trường Sơn” nổi tiếng thời đánh Mỹ! Gậy là chỗ bám níu người khi lên dốc, đỡ người khi bước hẫng khỏi lăn long lóc xuống sườn dốc, là cái cọc đỡ ba lô khi dừng nghỉ bên đường, là cái que của nhạc sỹ đánh nhạc khi đi trên đường bằng và là cái điếu cày cho tất cả anh lính nào nghiện thuốc lào. Chiếc gậy là người bạn đường thân thiết giúp cho người lính vượt từ đông Trường Sơn sang tây Trường Sơn và đi suốt giải Trường Sơn hùng vĩ.
     Trên đường hành quân các trung đội tự lo nấu ăn. Mỗi tiểu đội nấu một ngày. Đến trạm khách cả tiểu đội xúm vào đào bếp Hoàng Cầm, chặt cành lá quây kín  để sáng sớm nấu cơm không lọt ánh lửa hắt ra ngoài, sợ mấy thằng giặc trời Mỹ phát hiện quăng bom thì chỉ có mà tan nát xác thịt, tao tác đoàn quân. Gặp hôm trời mưa củi ướt, cực hết cách, khói um, nhóm mãi củi chả cháy, xúm lại phùng má trợn mắt thổi phù phù.  Một cái củi cháy vừa phải đun nóng nồi cơm vừa phải hong khô củi ướt. Khói xanh lét bốc cao phải cử một thằng dùng cành lá xua cho nó tan ngay khi chưa kịp hút cao.
   Khổ nhất vẫn là hết thực phẩm. Ruốc thịt, ruốc cá, đường sữa không còn. Toàn những thằng ăn thủng nồi trôi rế đói đến méo cả mặt. Nhẹ đôi vai nhưng khổ vì cái bụng réo gào. Sau hơn mười ngày hành quân đại đội bắt đong lại gạo. Trung đội nào cũng hao hụt so với tiêu chuẩn cấp phát. Trung đội tôi chia đều chỉ còn bốn lạng rưỡi một ngày. Trung đội trưởng Đôi đã từng chiến đấu bên Lào chỉ biết lắc đầu và yêu cầu, biết đói đấy nhưng phải chấp hành nghiêm. Bữa cơm một lạng rưỡi gạo, ăn xong như chưa ăn, cả trung đội tiu ngỉu như mèo ốm lên võng nằm.
   Gần chiều một tin đưa đến, gần đây có nương sắn của trạm. Không chần chừ, tôi kéo luôn Hiến, Điệp và Dũng cùng đi. Dũng và Điệp tuy nhỏ người nhưng rất cần cù chịu khó. Đồ đạc, tư trang cho hết vào túi bơi, mang ba lô đi để đựng sắn.
   Theo con đường mòn hơn một tiếng đồng hồ chúng tôi tới nương sắn liền xông vào túm gốc nhổ lấy nhổ để, được những củ sắn bằng bắp tay, nhét đầy ba ba lô, bụng vui như vớ được của, kéo nhau về. Được nửa đường thì trời tối. Ở rừng trời tối nhanh lắm, thoắt cái đã như hũ nút, thế là xiên sang đường khác, xô vào một chiếc lán bên trong có ngọn đèn dầu leo lét. Biết mình đi vào trạm, lính trạm phát hiện có sắn họ lột hết ngay. Lặng lẽ lùi lại tìm con đường chính, quay lại hỏi Dũng thì chẳng thấy đâu. Tôi hoảng vì sợ nó lạc thì gay go to. Quay ra đường chính lại gặp nó, nó đi sau lại đúng đường. Nó bảo lúc không thấy ai em sợ quá, em định trèo lên cây ngồi chờ đến sáng để không bị hổ vồ.
    Trung đội có sắn ăn độn nên cũng đỡ đói bụng. Cũng từ hôm đó, nếu nghỉ trạm nào mà phát hiện có sắn là tung quân đi kiếm ngay. Có lần tìm được nương của trạm, như đàn hổ đói, chúng tôi xông vào túm gốc lay lấy lay để thì đột nhiên đoàng…đoàng…đoàng ba tiếng súng nổ vang. Lính trạm coi nương phát hiện cây sắn rung biết là lính đang hành quân vào lấy trộm nên bắn dọa. Túm vội ba lô, co cẳng chạy thục mạng, đành về không. Rõ là nhát như cáy ngày.  Về chỗ ở mới nghĩ ra cách mang xẻng đào moi lấy củ thì không làm rung cây. Có sáng kiến thì trời quá muộn không đi được nữa.
    Đi cải thiện, chính là đi kiếm ăn ở rừng, bất kể thứ cây lá gì miễm là ăn không chết người; không say, không đắng, không cay, không hắc, không độc... Khi hành quân đến trạm khách, vất ba lô, xách khẩu AK kéo nhau đi lùng sục theo hai bên bờ suối.  Khi thì nắm rau môn thục, rau tai voi, sung, vả và nhất là rau dớn là thứ cây hoang dại mọc ven bờ suối được cho là thứ rau cao cấp, mang sào hay luộc đều rất ngon. Lá bứa hay thứ lá chua khác chê vì ăn vào chỉ thêm cồn cào ruột. Cây chuối rừng thái nhỏ bóp muối là tốt nhất, tha hồ ấn cho đầy bụng, nhưng đâu phải chỗ nào cũng có chuối rừng cho mà lấy.
   Bên tây Trường Sơn gặp “chợ” của dân tộc Lào. Chợ cóc. Dân bày ra bên đường mòn mớ rau cải, nắm lá bí đỏ, quả bí đao; loại thực phẩm “cao cấp” có gà, vịt thậm chí có cả chú lợn con… Hàng đổi là quần áo, vỏ chăn, thuốc chưa bệnh và ảnh các cô diễn viên. Có thằng đưa ảnh người yêu bảo là diễn viên, ảnh của bố bảo ảnh vị cán bộ cao cấp. Tất tần tật, hỏi có thứ gì mà cần cho lính trận hơn là thứ nhét vào mồm, để được hưởng khoái cảm của ngon vật lạ. Mà đang hành quân thằng nào giám ệch ra để lôi quân tư trang dể đổi. Cán bộ quát ngay, thậm chí túm cổ áo loi dạy. Gì thì gì vẫn con kỷ luật quân đội, còn lòng tự trọng cá nhân.  Vậy cũng có tay luồn giỏi, lẩn tài, chui sâu vào rừng mang quần áo, vỏ chăn ra đổi gà, gọi mấy thằng nối khố ra góc rừng nấu vụng, sì sụp ăn giấu diếm sợ cán bộ phát hiện lại khiểm điểm, hoặc “biêu dương” trước đại đội, rơ ruốc.
   Một hôm tôi cùng tiểu đội phó Thản, quê huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh và Thịnh, quê huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng theo con đường mòn vào một bản dân tộc Lào. Thịnh láu cá đã thủ sẵn cái vỏ chăn để đổi gà. Các ngôi nhà sàn đều đóng cửa, tìm mãi mới thấy một nhà có hai đứa trẻ độ mươi mười hai tuổi, trắng trẻo, trông rất khôi ngô, thông minh. Thằng anh nói sõi tiếng Việt, nó bảo bố nó đi làm cán bộ còn chị nó đi học Văn công ở Hà Nội. Sau này được biết đây là vùng cơ sở Cách mạng của bạn. Hôm đó đi không đổi được thứ gì mà cũng chẳng kiếm được nắm rau rừng nào.
   Trong trung đội tôi vẫn là thằng hăng đi kiếm ăn nhất. Một phần có được thứ cải thiện, một phần là do tính tò mò muốn xem ở rừng có cái gì hay hay, là lạ cứ như khám phá một cái gì huyền bí . Từ một ngọn cây nẩy lộc mơn mởn vào đầu đông, trông cứ quen quen, gần gũi như ở vườn nhà mình. Một cây lá vàng rực, từ xa tưởng như cây chết đứng, úa vàng, khi đến gần thì cây đang sống mơn mởn. Có cây thân rỗng tưởng nó chết từ ruột chết ra mà lại không phải thế. Sau này mới biết đó là một thứ cây khác, cây đa chẳng hạn, do chim ăn quả để rơi hạt ở ngọn cây. Hạt bám vào thân cây, nẩy mầm thành cây con. Rễ bám vào cây chủ ăn bám mà lớn lên.  Qua hàng trăm năm, rễ phát triển bọc kín cây chủ, làm cây chủ phải chết đứng. Nó trở thành một cây cổ thụ rỗng giữa. Chúng tôi gọi loại cây ấy là kẻ ăn bám nguy hiểm nhất trong tất cả những kẻ ăn bám trên đời. Lại có những cây, dây thì đúng hơn, to bằng bắp chân, chẳng có cành lá, thân xoắn như lò so, thả từ tít ngọn cây cổ thụ chót vót xuống mà gốc của nó lại rất xa gốc cây chủ. Chẳng ai giải thích nổi nó leo lên bằng cách nào?    
   Một lần tôi dẫn Bạo, quê ở xã Vĩnh Tiến cùng huyện và Thịnh đi cải thiện. Lội dọc theo con suối, qua một khu rừng cây xăng lẻ thân mốc trắng, cao vút. Qua một khu nhà mồ trên mộ có nhiều bát, đĩa, nồi, hũ và nhiều thứ dụng cụ làm nương…Người sống chia của cho người chết. Trên lối đi chôn những bức tượng người bằng gỗ, cao gấp rưỡi người bình thường, còn nguyên những nhát đẽo thô kệnh. Thời gian, nắng mưa, sương gió rừng núi đã bào nhẵn những khuôn mặt tưởng như vô hồn nhưng lại nói lên điều gì đó bí ẩn không thể  hiểu nổi. Những bức tượng lặng lẽ nhìn chúng tôi, vô cảm. Đặt chân đến như có cảm giác đi vào chốn huyền bí, linh thiêng, rờn rợn. Trong buôn có những ngôi nhà sàn thưa thớt, sơ sài núp dưới cây rừng. Cảm thấy không khí âm ấm hơi người.
   Đàn ông cũng như đàn bà miệng gậm tẩu thuốc, đứng nhìn chúng tôi, với cái nhìn không có vẻ gì tò mò, xa lạ, chắc họ gặp bộ đội đã nhiều. Ngôn ngữ trao đổi của chúng là những tiếng a…a…này…này và động tác chỉ vào vỏ chăn và những con gà. Cái giá của vỏ chăn phải là chú gà giò mới xứng. Họ lắc đầu từ chối. Chẳng biết họ từ chối kiểu gì, ít qúa hay không cần? Chịu ! Khi họ cái bỏ tẩu thuốc ra để lộ hàm răng cửa bằng chằn chặn gần sát lợi. Đàn bà, ngoài hàm răng như thế, ở hai dái tai đeo hai cái vòng bằng tre. Cái vòng có chạm trổ nét hoa văn đen như bằng mực tàu, to bằng cái chén mắt trâu. Khi họ quay đầu thì nó văng bên này, lắc bên kia trông ngồ ngộ. Tôi chợt nhớ lại ngày học ở phổ thông, nghe thày giáo Văn học nói đến dân tộc “Cà-răng-căng-tai”. Thày nói mà chẳng ai biết cà-răng-căng-tai là gì? Hôm nay trở thành chiến sỹ Trường Sơn tôi mới tận mắt nhìn thấy dân Cà-Răng-Căng-Tai là như thế này đây! Tuy nhiên, họ làm như thế nhằm mục đích gì? có ý nghĩa thế nào? hay là một tín ngưỡng của dân tộc họ vẫn là điều bí ẩn với chúng tôi. Sau này tôi có đọc bài báo nói về cách cà-răng-căng-tai. Từ khi còn ở tuổi thiếu niên họ phải dùng đá mài sáu cái răng cửa đến gần sát lợi, việc mài phải chịu đau đớn và máu me chảy đầm đìa đầy mồm. Đọc mà rờn rợn về cái phong tục lạ kỳ. Hôm đó chúng tôi ra khỏi buôn không đổi được thứ gì. Còn nữa)
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Giêng, 2016, 10:57:50 am gửi bởi phuockhanh » Logged
xuanv338
Thành viên
*
Bài viết: 1573


muốn xoa bài viét thừ


« Trả lời #348 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2016, 07:03:54 pm »

 Đoạn trích thật hay. Hihi... Anh Phuockhanh kể thật chi tiết. Người phía bên Tây Trường Sơn cũng thật đáng yêu. Mà anh phuockhanh có cô gái hàm răng bằng chặn nào mang lòng mến anh bộ đội miền Bắc mác Hải Phòng không đấy ạ? Chỉ có một thời chiến trận mà hay thế giá có hai thời thì người đọc tha hồ nghiến chữ của anh lính Tây Nguyên. Tiếp đi anh. Hôm nay em có cả cuốn đọc không phải chờ đợi nữa rồi.
Logged
phuockhanh
Thành viên
*
Bài viết: 658


« Trả lời #349 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2016, 07:39:43 pm »

Xuanv38 những bài viết cảm nhận của CB thật hóm hỉnh, văn rất mượt mà cuốn hút...Anh thì không có cô nào nhưng cũng có anh linh cưới cô gái đấy. Anh đã đọc bài viết kể người 38 năm chưa lần vè quê nhà... Grin... Angry
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM