Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:31:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhiệm vụ đặc biệt  (Đọc 54038 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2016, 08:54:27 pm »

        Đêm thứ hai thì gọn việc, làm xong nhanh, tổ trinh sát trở về Suối Mỏ còn sớm, chưa đến mười hai giờ đêm. Công việc chuẩn bị ở nhà nói chung đã xong. Biết tôi về, anh em đều thức dậy hỏi chuyện, người nào trông cũng tỉnh như sáo, tất cả đều đã sẵn sàng, có thể đi ngay trong đêm.

        Hôm sau là ngày 6 tháng 5. Sao chúng tôi thấy cái ngày hôm đó thật là dài, mặt trời lặn như chậm hơn mọi ngày. Đến khi mặt trời vừa nhá nhem tối là chúng tôi xuất quân và dừng lại tại chân núi phía tây của Hòn Hèo hùng vĩ để làm động tác khắc phục “vật cản” đặc biệt. Tất cả đều ở trần, mặc xi-líp, chân đất, nằm ngay xuống vệ cỏ, chân tay mỗi thẳng thoải mái để phoi sương, để tẩy hết các mùi tự nhiên của thân thể, hấp thụ các chất hữu cơ tự nhiên khác như cây cỏ khiến chó hết đường đánh hơi, nếu để chúng sủa càn gây động, địch dễ phát hiện. Phơi sương xong lại tập chống tiêng động bằng cách đi bằng mười đầu ngón chân, cũng là để chống chó nữa, vì chó phát hiện hơi lạ bằng mũi, tiếng động bằng tai, tai chó nghe tiếng động rất thính, nhất là về đêm, chỉ tiếng bàn chân nện xuống đất, chó có thể nghe rõ và sủa càn, rất dễ lộ.

        Đúng 19 giờ (tức là sau gần một tiếng luyện phơi sương và đi bằng mười đầu ngón chân), chúng tôi chuyển thành đội hình hàng dọc cắt qua các đồng lúa lác đác chín, men theo rìa các thôn ấp tiến vào phía Ninh Hòa, đến địa điểm triển khai tiềm nhập lúc 21 giờ 15 phút. Chúng tôi vận động vào hướng tiến công chủ yếu nói chung không gặp khó khăn trở ngại gì. Đúng là hướng này địch chủ quan, cho ta chỉ có thể từ phía tây đánh xuống. Phía này có sông Dinh là vật cản lợi hại, nên việc bố phòng của địch có phần Sơ sài. Còn ta thì nơi nào địch sơ hở đều là hướng điểm tiến công. Ta xem sông Dinh như là một địa hình che khuất lý tưởng, bảo đảm an toàn vận động tiếp cận, chỉ cần tổ chức vượt sông cho tốt là mọi việc đều ổn.

        Tôi đi với tổ đánh vào hướng cổng chính. Vì đèn điện quá sáng từ khu nhà lao hắt ra, nên khi toàn tổ vừa vượt qua ngõ hẻm đến mép đường nhìn sang cổng chính thì bị lính gác trên tầng cao lô cốt mẹ phát hiện, chúng liền bắn xối xả đạn các cỡ về phía chúng tôi. Thế là có sự trục trặc ngay từ đầu, kế hoạch mật tập coi như đã hết điều kiện thực hiện. Phan Đăng Rơi không nản chí, vẫn ôm chắc quả bộc phá hai cân, chỉ đợi cho súng ngớt chừng khoảng một giây là đủ thời gian đưa khối thuốc nổ vào chân ụ súng nằm ở phía cổng chính. Nhưng không sang được vì đạn địch bắn nỗi lúc càng rát thêm; lại nữa, cái ánh sáng điện, nhất là ngọn điện mắc ở giữa cổng kia hắt ra ánh sáng tai ác càng làm đậm thêm khó khăn cho chúng tôi.

        Như một phản xạ tự nhiên, tức thì tôi giương súng ngắn bắn trúng ngọn điện treo giữa cổng, bóng tối trùm nhanh, súng trong đồn cũng im luôn. Tôi hô liền: Tiến! Phan Đăng Rơi nhạy bén hiểu ý, bật dậy vượt đường, đặt được bộc phá vào đúng mục tiêu được giao. Tiếp theo đó là một tiếng nổ to và căng. Trong đêm vắng tiếng nổ như trái bom ấy có sức vang xa gây náo động vùng quanh thị trấn. Phan Đăng Roi hoàn thành nhiệm vụ mở cửa, ngay tiếp sau Mai Xuân Lầu dùng bộc phá sáu cân lao vào đánh mục tiêu lô cốt mẹ, nơi địch đặc đài quan sát và súng trung liên. Hai mục tiêu cần đánh đã hoàn thành, toàn đội hình tiến công tiến vào nội lao theo các nhiệm vụ được phân công trước. Tôi chuyển sang đi với tổ phá nhà lao. Toàn bộ đã xông lên với một tinh thần vì tính mạng đồng chí, đồng bào mình. Các động tác diễn ra ân khớp, khẩn trương. Cửa các nhà lao đã nhanh chóng mở nhưng nhìn vào vẫn chỉ thấy bóng tối và im lặng, khiến chính lúc ấy chúng tôi phân vân, lo ngại. Thì ra sự việc diễn biến quá nhanh chưa được báo trước nên anh chị em tù thấy cửa bật mở rộng mà vẫn chưa hết sững sờ, không hiểu sự tình thực hư ra sao, lành hay dữ. Tất cả đều ôm nhau kết thành một khối để chuẩn bị đối phó với bất trắc mà họ cũng không chủ động phán đoán do nguyên nhân gì nữa.

        Mai Xuân Lầu nhanh trí từ ngoài gọi vào:

-           Ta đây! - Giọng anh to dần - Quân ta vào phá lao để đón anh chị em đây...

        Trong các phòng tối có tiếng gọi nhau, rồi phút chốc vang động, náo nhiệt, mọi người ùa nhanh ra cửa. Tất cả đều muốn khóc vì sung sướng quá bất ngờ. Chúng tôi nắm tay từng người và giục anh em ra khỏi nơi đây theo hướng dẫn của các đồng chí làm nhiệm vụ. Mươi phút sau các nhà lao trống trơn, hơn bảy trăm con người đã bị giam giữ cực hình ở đây nay được giải phóng như chim sổ lồng, bay nhanh khỏi khu nhà lao, về nơi an toàn. Cái vốn quý của phong trào kháng chiến Khánh Hòa là đây, một thắng lợi không gì so sánh của trận đánh mà chúng tôi giành được.

        Trong khi bộ đội đặc công làm nhiệm vụ phá nhà lao, thì một đại đội của liên đội Bắc Khánh tổ chức trận tập kích thắng lợi vào khu hành chính huyện chỉ tiếc để sổng tên quận trưởng. Nhưng chính tên này đã là cái loa sống tuyên truyền cho thanh thế của ta, khiến bọn địch trong thị xã Nha Trang càng hoang mang bối rối. Chúng vội vã đưa quân ra tổ chức trận tuyến phòng thủ ở đèo Rù Rì kề sát với thị xã Nha Trang về phía bắc. Hai trận tiến công vào hai mục tiêu chính trị ở thị trấn Ninh Hòa đã gây ảnh hưởng lớn về quân sự, làm rung chuyển cả thế trận phòng thủ còn lại của địch ở Khánh Hòa lúc đó.

        Chỉ trong vòng sáu tháng liên tục tiến công, quân dân Khánh Hòa đã tiêu diệt, bức hàng và bức rút hai mươi bốn đồn và hai mươi chín tháp canh. Một thế trận mới thực sự đã hình thành, ta đã chuyển lên làm chủ nhiều vùng trong tỉnh... Giữa lúc quân và dân Khánh Hòa đang chiến thắng giòn giã, giữa lúc đội Đặc công chúng tội được lệnh chuẩn bị tham gia tiến công vào Nha Trang thì có lệnh ngừng bắn. Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đã có hiệu lực. Ai nấy đều phấn khởi trước thắng lợi chung của cuộc kháng chiến và liền ngay đó khẩn trương chuẩn bị bước sang một giai đoạn mới của cách mạng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #31 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2016, 09:01:58 pm »

     
NHIỆM VỤ TRỞ LẠI

I

        Chúng tôi rời thị xã Quy Nhơn trên chiếc tàu viễn dương của nước bạn Liên Xô mang tên Xta-rô-pôn vào một buổi sáng mà cảnh vật không thật đẹp. Trời vần vũ đầy mây và gió thổi mạnh, biển động. Không nhớ rõ con tàu đưa những người con kháng chiến của tỉnh Khánh Hòa ra Bắc tập kết hôm ấy là chuyến thứ mấy? Chắc không phải chuyến đầu, càng không phải là chuyến chót. Hình ảnh buổi tiễn đưa đã lùi vào dĩ vãng xa nhưng nó vẫn còn đọng lại trong tôi sự bùi ngùi, lưu luyến lẫn niềm tin ánh lên ừong khóe mắt mọi người - ráng đợi hai năm. Từ đó suốt chặng đường bồng bềnh ngoài khơi xa đến lúc tàu cập bến Cửa Hội, tôi lại sống trong tâm trạng xáo trộn giữa cái háo hức mong đợi được ra Bắc thật nhanh, nơi chúng tôi hằng ngưỡng mộ: ở đó có thủ đô Hà Nội, có căn cứ địa Việt Bắc, có Trung ương Đảng, có Bác Hồ đã ngày đêm sáng suốt chỉ đạo cuộc chiến tranh; nơi có Điện Biên Phủ - trận đánh lịch sử, chấn động địa cầu... Nhưng cũng thật hối tiếc vì chỉ có mười lăm ngày chuẩn bị với bao công việc phải làm trước khi chuyển quân ra Quy Nhơn, nên chưa làm hết những dự định gặp gỡ, dặn dò, khuyên nhủ người thân ở lại trong đó - trong vùng cai quản tạm thời của đối phương.

        Sau một tuần nghỉ ngoi, 500 cán bộ, chiến sĩ đặc công của các tỉnh thuộc Liên khu V được lệnh tập trung biên chế thành tiểu đoàn đặc công mang số hiệu 232 do anh Châu Khải Địch (nay là thiếu tướng, tư lệnh phó Quân khu V) làm tiểu đoàn trưởng, tôi giữ chức tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn được lệnh về đứng chân ở Xã Hương Dũng, Nghi Lộc, Nghệ An làm nhiệm vụ huấn luyện theo yếu cầu mới. Những danh từ chính quy, hiện đại, điều lệnh, điều lệ nghe rất mới mẻ đã thực sự hấp dẫn, cuốn hút chúng tôi phải tìm hiểu, thúc đẩy chúng tôi mau đến với công việc cần làm và phải làm lúc đó.

        Lúc ấy là giữa năm 1955, tôi đang cùng anh em học tập ngoài thao trường thì nhận được điện: về ngay cơ quan Quân khu có việc cần. Tuy hồi hộp băn khoăn không biết việc gì nhưng tôi vẫn nhanh chóng sửa soạn đầy đủ hành lý lên đường ngay. Đến nhà khách Quân khu, tôi hăm hở bước vào thì sự bất ngờ đầu tiên là nhìn thấy anh Nguyễn Xuân Hữu ngồi đó như đang chờ ai. Tôi sững lại và ngạc nhiên tự hỏi: sao anh Hữu giờ này lại ngồi đây? Tôi biết sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, anh không đi tập kết mà nhận nhiệm vụ ở lại cơ mà. Hôm ở Quy Nhơn khu vực tập kết 300 ngày, tình cờ tôi và một số anh em nhìn thấy anh đội nón lá, mang gương đen, mặc áo bà ba ngồi sau chiếc xe goòng ở ga Diêu Trì để xuôi về Phú Yên, trở lại Khánh Hòa. Anh cũng thoáng nhìn chúng tôi. Nhưng không ai hỏi ai, chỉ đưa mắt thông cảm như lời chào tạm biệt, vì biết anh đang nhận lãnh một công việc quan trọng cần phải bí mật và tế nhị, không nên và không thể có tiễn đưa công khai với những lời hứa hẹn, động viên. Vậy mà giờ này anh ở đây. Anh đi bằng cách nào ra và đến đây có việc gì. Vừa lúc đó, anh Hữu quay ra, thấy tôi anh mừng rở reo lên và đứng dậy đưa tay nắm chặt tay tôi, lắc mạnh:

        - Được tin cậu ở đây, mình vào thăm.

        Tôi cũng lắc mạnh tay anh, giọng vẫn chưa hết hồi hộp:

        - Tôi toát hết cả mồ hôi hột khi nhận điện của Quân khu báo về gấp! Không hiểu có chuyện gì, lành hay dữ. Nhưng khi về đây nhìn thấy anh, tôi hết lo...

        Phòng khách Quân khu là một căn nhà lá đơn sơ, nhưng thoáng mát, giống các lán ở căn cứ Đá Bàn mà bồi tôi và anh Hữu đã ngồi, nghe anh phổ biến nhiệm vụ. Ngoài kia con đường số 1 ra Bến Thủy, xe chạy xuôi ngược như mắc cửi, cùng với người đi bộ, đi xe đạp nối đuôi nhau tấp nập đông vui. Còn phòng khách mà hai chúng tôi đang ngồi thì vắng vẻ, yên tĩnh. Hình như các đồng chí phụ trách trạm khách Quân khu có ý định sắp xếp trước cho buổi gặp mặt này, tạo cho chúng tôi những giờ phút thật thoải mái để hàn huyên thả sức. Vẫn dáng vẻ trầm tĩnh mà lạc quan nhưng dấu ấn xanh gầy còn in hằn trên khuôn mặt kiên nghị chứng tỏ anh vừa đi xa trở về với một quãng đường dài đầy vất vả, gian truân. Anh tâm sự: Đầu tháng 10 năm 1954 từ Quy Nhơn mình nhận nhiệm vụ trở lại Khánh Hòa, giữa năm 1955 được cử ra miền Bắc để báo cáo tình hình và xin chỉ thị của Trung ương. Làm xong việc đó mình đến thăm cậu liền. Tôi thực sự cảm động và linh cảm thấy rằng việc anh đến đây không chỉ đơn thuần thăm hỏi, mà có cái gì đó xa hơn thế nữa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:18:27 am »

        Quan hệ trên dưới, tình đồng chí, tình anh em (anh hơn tuổi tôi) đan quyện vào nhau, trùm lên buổi gặp. Anh nói thả sức, tôi nghe chăm chú.

        - Chịu được rét miền Bắc không? - Anh mở đầu buổi gặp.

        - Rét dữ quá anh! Nhưng đã quen dần - tôi trả lời thật lòng, hoàn toàn không cường điệu.

        Rồi anh hỏi tôi về sức khỏe, học tập và cả chuyện riêng yêu đương (sau này tổi mới biết sở dĩ anh hỏi đã định ở đâu chưa là có ý thăm dò nếu tôi nhận nhiệm vụ trở lại miền Nam thì có khó khăn gì). Thực sự lúc này tôi chưa có ý định xây dựng gia đình. Bởi lẽ một kỷ niệm gặp gỡ thoáng qua với một cô gái quê ở vùng ven thị xã Tuy Hòa trong đoàn dân công phục vụ hỏa tuyến đã để lại trong tôi một cái gì đó như là gắn bó. Trên đường ra Bắc tập kết tuy không được gặp lại nhau, nhưng tôi tin tưởng nếu hai năm trở lại, cô gái vẫn dành cho tôi trọn vẹn một tình cảm thủy chung.

        Nhìn tôi khỏe mạnh, lạc quan, da dẻ săm sắn hồng hào, như hết đắn đo, câu chuyện anh trao đổi càng rôm rả, cởi mở, nhưng vẫn xoay quanh tình hình đất nước hồi đó... Khi nói về địch, giọng anh nghiêm túc hẳn lên: kẻ địch không tuân theo hai năm đâu. Ta phải chuẩn bị sẵn sàng có thời cơ là đấu tranh vũ trang...

        Hai năm sẽ có hiệp thương, tổng tuyển cử, thực hiện thống nhất nước nhà, điều này đã gieo vào nhận thức trong tôi ngay khi tạm biệt thị xã Quy Nhơn ra Bắc tập kết; và cả những ngày đầu đặt chân lên miền Bắc mỗi khi anh em miền Nam gặp nhau hàn huyên đủ chuyện, có cả những dự định tương lai nhưng cuối cùng ai nấy đều có chung một an ủi: chờ hai năm sau sẽ hay. Khi gặp nhau và lúc chia tay cũng vậy đều giơ hai ngón tay - tượng trưng hai năm sẽ có thắng lợi. Nhưng rồi những ngày gần đây qua nghe báo chí, phát thanh, qua các buổi sinh hoạt thời sự của cán bộ, chúng tôi được biết tình hình đang xấu đi; Mỹ đã thay pháp dựng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, tên tướng Cô-lin đại sứ Mỹ ở Nam Việt Nam đến Sài Gòn mang theo kế hoạch sáu điểm của Mỹ, trong đó đáng chú ý là Mỹ sẽ thành lập một quân đội “quốc gia” cho Diệm (15 vạn tên) để chuẩn bị lấp sông Bến Hải, Bắc tiến (?).

        Hôm nay cũng vẫn là quanh chuyện đó, do anh Hữu nói, lại có sức lôi cuốn đặc biệt sự chú ý của tôi đến thế. Anh nói về bản chất hiếu chiến xâm lược của kẻ thù đã bộc lộ rất rõ qua những thực tế anh được chứng kiến. Anh chứng minh sự nhận định của Đảng bằng những vụ việc mà kẻ địch đa gây ra ngay trên quê hương Khánh Hòa của tôi. Anh kể những chi tiết về vùng Bắc Khánh, Ninh Hòa sau khi bàn giao cho đối phương quản lý, chúng đã mở các chiến dịch “chống Cộng” đẫm máu như “Chiến dịch Phan Chu Trinh” (3-1955), “Chiến dịch Trịnh Minh Thế” (5-1955); hàng loạt những người kháng chiến cũ bị chúng trả thù; hàng loạt những đồn bót mới, nhà tù mới được dựng lên để đàn áp, bắt giam những ai nói đến hòa bình, hiệp thương chính trị, tổng tuyển cử, v.v... Cứ thế, cứ thế như một phản ứng tự nhiên hình thành trong tôi một tình cảm thương xót, một ý thức căm thù, một trách nhiệm mới đáp lại - Không thể khoanh tay ngồi yên cho kẻ thù ngang nhiên gây tội ác.

        Không gian căn phòng vẫn chỉ có hai chúng tôi, bỗng anh Hữu hạ thấp giọng để chỉ đủ hai người nghe, rồi đi thẳng vào vấn đề:

        - Theo chủ trương của Đảng, ta phải tổ chức chuẩn bị lực lượng ém sẵn, chờ thời cơ.

        Tôi chưa kịp hỏi cụ thể về thực hiện ý định này, thì anh dằn từng tiếng có ý khẳng định vừa rất nghiêm túc lại vừa rất thân mật theo khẩu khí của anh em trong gia đình.
        - Cậu sẽ chọn một số anh em tốt để cùng cậu nhận nhiệm vụ trở lại trong đó. Có đồng ý không?

        Như bị nén chặt, được dịp bung ra, tôi đáp lại ngay:

        - Tôi tuyệt đối chấp hành ý của tổ chức. Xin anh cho biết bao giờ thì lên đường.

        - Có thể đi ngay bây giờ nếu như chỉ có tao và mày. Nhưng đây là công việc chung, cần có nhiều người, cần có thời gian chuẩn bị; - ngừng một lát, anh lại tiếp - mày cần tìm thêm mười hai người nữa, nhưng phải là những người kiên trung, gian khổ không ngại, địch bắt đánh tra không khai...

        Tôi cắt ngang ý anh đang nói, một cách khẳng định tự tin:

        - Trong tiểu đoàn tôi không hiếm những người đủ tiêu chuẩn để nhận nhiệm vụ trở lại.

        - Được - như thế là tốt. Vào trong đó một số anh em này ta tìm cách cho ra hoạt động công khai, họp pháp để gây cơ sở, tích lũy lực lượng...

        Giọng anh đầm ấm, vừa say sưa sôi nổi vừa thủ thỉ tâm tình, không phải đắn đo suy nghĩ mà như trút hết tâm sự truyền lại cho tôi tất cả những gì mà anh tích lũy, những điều mà Trung ương đã chỉ thị trong chuyến ra Bắc lần này, kể cả những điều hệ trọng mà anh có thể cho biết. Rồi anh thân mật nói: Vô trong đó, tao với mày hoạt động bất hợp pháp là chính nhưng cũng phải lo chạy giấy tờ (căn cước) để khi có điều kiện đi lại hoạt động hợp pháp đề chuyển báo cáo trong này ra Trung ương và nhận chỉ thị của Trung ương qua địa chỉ hòm thư “chết” chứ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:21:26 am »

        Từ lúc gặp đến lúc chia tay, anh Hữu làm việc liên tục hết thăm hỏi sức khỏe, thông báo tình hình đến giao nhiệm vụ, trao đổi biện pháp thực hiện. Còn tôi cũng vậy, phải tập trung cao độ để nhập tâm những điều anh chỉ thị, những ý anh dặn dò. Vì thế mà ấm trà chế sẵn, bao Bông Lúa còn mới nguyên mà các đồng chí phụ trách trạm khách dành cho chúng tôi vẫn còn đó, chẳng ai uống và hút cả. Chúng tôi làm việc quên cả thời gian.

        Trước khi trở ra Hà Nội, anh siết chặt tay tôi chúc sức khỏe, nhưng cũng phải bí mật. Tôi cũng từ nhà khách Quân khu về thẳng đơn vị, không ngang tạt đâu hết, với nỗi vui mừng khôn xiết nhưng lại không được chia sẻ cùng ai. Tôi thấy có cái gì đó thoải mái, lâng lâng. Đêm đó vì vui mà không ngủ được, những kỷ niệm đã qua và những sự kiến sắp tới phải làm cứ hiện về đan chéo nhau trong nếp nghĩ. Hình ảnh quê hương, bóng dáng người thân, không khí buổi tiễn đưa đầy lưu luyến ở bến cảng Quy Nhơn với lời hứa hẹn - hai năm sẽ về, cứ chập chờn khiến tôi chong mắt. Tôi mong trời chóng sáng để bắt đầu thực hiện kế hoạch chọn người. Chọn ai thì ngay khi anh Hữu chỉ thị, tôi đã có một danh sách đầy đủ đưa anh cầm trước rồi. Vấn đề lúc này là gặp từng người vào lúc nào, nói những gì để anh em thông suốt nhanh mà lại không mất nhiều thời gian, không lộ bí mật. Vì lúc này còn nhiều lý do tế nhị - việc vào Nam chiến đấu là hoàn toàn chính đáng, đây là sự nghiệp vì độc lập, thống nhất Tổ quốc nhưng không thể công khai trong lúc này. Còn phải giữ kín kể cả nếu ai đó được lựa chọn, được phổ biến nhiệm vụ, rồi vì một lý do gì đấy không đi được thì công việc vẫn không được tiết lộ, kẻ địch không từ đó mà khám phá được ý đồ lớn của ta.

        Người đầu tiên tôi chọn và gặp sáng hôm ấy là chú Ba (chú ruột tôi). Chú không biết chữ, nhưng tháo vát trong công việc hàng ngày, khi chiến đấu thì binh tĩnh, gan dạ. Chú là một trong số các chiến sĩ đầu tiên của đội Danh dự, đã có nhiều thành tích chiến đấu và công tác. Tôi vừa chỉ mới ướm, chú đã nói như trách móc tôi:

        - Ủa, sao mày lại phải hỏi? Mày không còn tin tao nữa hở Tư?

        - Dạ tin chớ; - tôi hơi bối rối về lời trách của chú Ba, tìm cách chống chế - cháu không tin chú thì tin ai, nhưng vì đây là công việc hệ trọng, cháu cũng phải hỏi trước chú chứ.

        Không cố chấp, chú hết giận, nét mặt rạng rỡ niềm vui. Thấy vậy tôi hỏi tiếp:

        - Trong tiểu đoàn ta, theo chú những ai có thể trở lại quê hương đợt này?

        - Tất cả! - chú Ba nói với nét mặt quả quyết, tự tin, nhấn mạnh

        - Tao tin là mày chỉ cần hô lên một tiếng vào Nam chiến đấu là cả tiểu đoàn này sẽ theo lệnh của mày. Hàng ngày tao sống với tụi nó, tao hiểu lắm chứ.

        Như tiếp thêm lòng tin cho tôi, vì thế công việc gặp gỡ trao đổi làm công tác chuẩn bị tiến hành rất suôn sẻ. Sau chú Ba, tôi gặp tiếp các đồng chí: Nguyễn Sách, Phạm Đình Ỷ v.v... nói chung ai cũng có tâm tư như tôi, khi biết sẽ được vô lại trong đó, thì tất cả như cái lò xo bị ép nay có dịp bung ra trút hết bầu tâm sự về nỗi nhớ về trách nhiệm với quê hương, với người thân, đều muốn nhận nhiệm vụ trở lại dù có phải xả thân cũng sẵn sàng chấp nhận.

        Như vậy là tôi đã lựa đủ mười hai người theo danh sách đưa trước cho anh Hữu. Tất cả đều mong ngày lên đường. Tôi đả thông anh em (tất nhiên là vẫn theo phương thức gặp riêng từng người) cứ bình tĩnh, sẵn sàng, còn ngày nào đi, đi như thế nào, chờ lệnh cấp trên. Ngay tôi cũng vậy, củng chỉ biết chọn người và chuẩn bị kỹ về tư tưởng cho anh em. Chỉ được anh Hữu cho biết thêm là ta sẽ đi theo hình thức vừa công khai vừa bất hợp pháp. Nghĩa là ta giả dạng một đơn vị quân đội đối phương đi theo bìa rừng Trường Son, có đoạn phải đi sâu hơn vào giáp núi cao, rừng già, vì thế cần phải trang bị từ súng đạn, giày dép, thắt lưng, bi đông mang theo của mỗi người, đều phải là đồ của Pháp. Kiếm những thứ này lúc ấy không khó, nhất là chúng tôi vừa qua đợt hoạt động Đông Xuân 1953 - 1954, nên ít nhiều ai cũng mang trong mình một vài thứ trang bị của Pháp. Vấn đề là làm thế nào thu được đồng bộ các thứ đó để trang bị hoàn chỉnh cho một tiểu đội mười hai người mà vẫn không lộ bí mật. Nghĩ tới nghĩ lui, tôi bàn với anh Châu Khải Địch là tập hợp đơn vị tuyên bố thu tất cả các trang bị cũ đang nằm rải rác trong đơn vị, thay bằng trang bị của ta cho thống nhất, thực hiện chính quy hóa quân đội mà.

        Đang lúc hào hứng chuẩn bị như thế, thì tôi nhận điện của cấp trên thu xếp đi học. Tôi hơi hoang mang: Hay là trên không tin mình nữa hoặc nhiệm vụ thay đổi chăng?

        Nhưng khi đến lóp học mới vỡ lẽ - là học những vấn đề cần thiết cho chuyến đi. Lớp học do Cục Quân báo Bộ Tổng Tham mưu phụ trách với các nội dung chụp ảnh, cách làm con dấu và làm căn cước; đóng các vai sĩ quan ngụy và tư sản... Được giải thích đây là những nội dung cần thiết cho hoạt động hợp pháp (mà thật, khi đến Khánh Hòa những điều tôi học được ở lóp bồi dưỡng ngắn ngày này đã phát huy tác dụng. Tác dụng như thế nào, tôi sẽ kể tiếp dưới đây cùng bạn đọc).

        Từ lóp học trở về, tôi được lệnh cùng anh em chuẩn bị gấp cho ngày lên đường. Tuy nhiên ngày giờ cụ thể trên vẫn chưa cho biết.

        Trong cuộc đời hoạt động, chúng tôi chưa có buổi lên đường nào vừa háo hức lại vừa hồi hộp như buổi lên đường này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:23:23 am »

       
II

        Đầu tháng 8 năm 1955, từ một địa điểm thuộc Quân khu IV, chúng tôi lên đường bằng một chiếc xe tải phủ bạt kín, vẫn còn sơn bóng màu rêu.

        Đúng là một tiểu đội lính “ngụy” thực thụ, súng Pháp thắt lưng, bi đông Pháp. Còn anh Nguyễn Xuân Hữu trong bộ đồ bà ba đen vời cây súng ngắn bên hông, giống như một nhân viên cao cấp của cơ quan tình báo cùng vời một tiểu đội có trang bị máy truyền tin 15 oát trên đường thực thi một công vụ đặc biệt gì đó. Cách cải trang này đã thực sự giúp chúng tôi thoát nhiều trường họp gay cấn. Phải giữ bí mật ngay cả với anh em, nên anh Hữu chỉ góp ý kiến qua tôi, mọi việc điều hành trên dọc đường do tôi trực tiếp với đon vị.

        Xe đưa chúng tôi đến thị trấn Hồ Xá, rẽ quặt hướng tây lên thượng nguồn sông Bến Hải vào lúc mặt trời vừa lặn. Trời nhà nhem tối, chủng tôi xuống ô tô, tạm biệt miền Bắc thân yêu, lội qua khúc cạn, nước chưa đến đầu gối, sang đến bờ Nam là trời đã tối hẳn. Từ đây cứ cắt rừng mà đi theo hướng nam. Không lạc hướng nhưng đầy khó khăn vất vả.

        Kế hoạch hành trình định từng ngày. Tùy theo tình hình cụ thể mỗi cung đoạn mà quyết định đêm nghỉ ngày đi hay ngược lai có khi ngày nghỉ đêm đi. Vào thời điểm này bắt đầu có mưa rừng Trường Sơn nên nhiều lúc phải nghỉ cả ngày chờ nước rút mới vượt sông được. Từ giới tuyến đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định nói chung là trót lọt, ít gặp địch. Nhưng chui lủi, cắt rừng cũng phải mất gần hai tháng chúng tôi mới tới địa phận tỉnh Phú Yên. Từ đây tình hình phức tạp, căng thẳng cả thiên tai và địch họa, nhất là trên các vùng giáp ranh giữa núi và đồng bằng, địch gia tăng lục soát, tuần phòng.

        Khi đoàn vượt qua đường số 7 thuộc địa phận Thanh Hội, xã Sơn Hà thì gặp sự cố. Chúng tôi đến đây khoảng lối tám giờ tối. Ở đây vừa có mưa to, nước đồng đầy ắp lội đến thắt lưng. Toàn đội chúng tôi dừng lại kiểm tra súng đạn, hành lý, sẵn sàng tranh thủ băng qua, chậm là không có lợi, nếu trời đổ mưa tiếp thì khó mà vượt qua đường 7 và sông Đà Rằng nội trong đêm, mặc dầu khoảng cách đoạn đường không đầy mười cây số.

        Điểm phải vượt trước là dãy quán ở hai bên đường chỉ dùng bán bánh kẹo và nước mát cho khách qua lại lúc ban ngày. Theo tin tức nắm đước, địch thường hay càn phục ở đoạn này, cho nên trước khi vượt, toàn đội chúng tôi dừng lại, và tôi cử N.T và chú Ba lên trước thăm dò, sau đó đứng gác ở hai đầu đoạn đường cách dãy quán năm mươi mét. Đêm tối trời lại vừa mưa, đi rất khó, đường trơn và rất dễ lạc nhau. Vận động đến cách dãy quán năm mươi mét, ngửi thấy có mùi khét của quần áo lính, sau khi ra hiệu cho toàn đội dừng lại tôi vượt lên quan sát, nghe ngóng. Càng tới gần mùi khét càng rõ. Tôi nhẹ nhàng bò tới. Đến mép đường thì phát hiện có địch đang nằm ngủ ngổn ngang trong quán. Đúng là bọn này vừa đi tuần phục về mệt mỏi, nằm vật vã ngủ liền.

        Tình thế thật hiểm nghèo! Vòng tránh ư? Đêm tối đen như mực này biết hướng nào mà đi. Tôi bò quay lại báo cáo với anh Hữu. Lúc này đa quá gần địch, nên khi trao đổi phải ghé sát vào tai nhau mới nghe rõ. Tôi đề nghị với anh Hữu cứ tranh thủ cho vượt ngay, vì địch đang ngủ như chết.

        - Đi đường nào? - Anh Hữu hỏi.

        - Đi giữa khoảng cách hai tốp địch đang ngủ, tuy mạo hiểm nhưng chắc chắn không gặp lính gác.

        Đúng là cái khoảng vượt đầy mạo hiểm, nhưng nếu tranh thủ thời cơ lúc này và động tác đi của mỗi người thật lẹ làng thì phần thắng lợi có thể tính trước. Vì lý do gì đó, chẳng hạn chậm không quyết đoán, đến lúc địch tạm no giấc, chúng tỉnh dậy, như vậy là lỡ thời cơ, tiến lui đều không được nữa.

        Sau khi thống nhất quyết tâm với anh Bảy Hữu, tôi ra hiệu cho toàn đội tiếp tục tiến!

        Màn đêm tiếp tục dăng dày vì có thêm lớp sương đêm. Hơn chục con người với đầy đủ súng đạn, tư trang và thuốc men đeo lủng lẳng quanh người, có cả máy truyền tin 15 oát, phải qua một lối đi ngắn thôi nhưng hẹp, hai bên là địch đang nằm la liệt ngủ. Đúng là kỹ thuật đi lẹ của đặc công lúc này đã phát huy tác dụng. Chúng tôi lần lượt đi qua một cửa tử mà chưa biết gọi gì trong thuật ngữ quân sự. Tôi đi sau cùng càng thấy rõ tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”! Mùi khét của quần áo lính có dính nước mưa trở thành một thứ mùi khăn khẳn khó chịu. Tiếng ngáy của bon địch cứ thi nhau phát ra hòa thành một âm thanh gầm gừ kéo dài và ngắt quãng.

        Trót lọt! Tôi tự nhủ thầm với mình. Tất cả đã qua đường.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:24:41 am »

        Trước mắt là một cánh đồng lúa ngập nước và một xóm nhỏ kề bên mà chúng tôi phải vượt qua trước khi đến mép sông Đà Rằng - một con sông dài, rộng và hung dữ nhất của miền Trung. Đầu óc lúc này bớt căng, thần kinh chùng xuống, người cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái. Nào ngờ ngay lúc đó, khi một đồng chí đi đầu vừa lội xuống ruộng sâu, mới bước được một bước, gây động, chó sủa liền, rất dữ, hướng về phía chúng tôi đang lội. Có động, địch vùng dậy, phản ứng đầu tiên là chúng bắn loạn xạ như vãi đạn về hướng chó cắn, sau đó là tiếng hò đuổi bắt. Tôi rất lo, hay là đã có ai bị địch bắt? Vừa lúc ấy thì N.T hớt hải chạy đến, vừa nói vừa thở như thanh minh: mãi lúc có tiếng súng nổ tôi mới biết là có địch nằm ngay ở cạnh mình vì trời quá tối không nhìn thấy gì. Tôi thấy nhẹ nhõm. Ta không bị sa vào tay địch là quý rồi. Nhưng còn chú Ba chưa thấy về, như vậy là thế nào. Chú bị lạc hay bị địch bắt. Đã đến lúc không cho phép trù trừ. Lộ rồi, phải nhanh chóng vượt khỏi nơi đây. Chậm phứt nào nguy phút ấy, địch sẽ chặn đầu, khóa đuôi thì gay go, có muốn gỡ ra cũng khó. Vả lại, cung đường phải đi trong đêm nay còn qua sông Đà Rằng, chậm nữa, trời sáng thì khó lòng ra khỏi vòng vây của quân thù. Đang lúc rất căng thẳng như thế thì nghe tiếng chú Ba tôi la to, rất gần. Thôi thế là nguy rồi! Chú Ba đã bị địch bắt. Buồn lo lại đến với tôi cùng một lúc. Sao lại để xảy ra nông nỗi này. Tôi ân hận và tự trách mình như thế!

        Chúng tôi băng thật nhanh qua cánh đồng. Lợi dụng tiếng chó sủa, tiếng súng địch bắn dọa mà vận động. Bỗng trời đổ mưa, mưa rất to! Chúng tôi đi càng nhanh. Tiếng chó không còn và tiếng sủng địch cũng thôi bắn. Chỉ có mưa rơi và sấm chóp lóe sáng bầu trời, soi rõ con đường cho đoàn quân đi. Nỗi lo đối phó địch rượt đuổi bổ vây có vợi đi nhưng tôi vẫn nghĩ về chú Ba.

        Khoảng gần chín giờ tới chúng tôi đến bờ sông Đà Rằng, đứng ở đoạn dự định vượt qua thì một khó khăn mới lại xuất hiện. Lũ trên nguồn đổ về ngập cả bãi ven sông và nước chảy xiết. Nhìn dòng nước cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về với tiếng gầm réo dữ tợn, mỗi lúc một dâng cao, lan rộng mà thấy ngán. Điểm đứng này thuộc thôn Thanh Hội, xã Sơn Hà, cách thị xã Tuy Hòa không xa lắm.

        Bằng bất cứ giá nào cũng phải vượt sông trong đêm nay. Tôi trình bày quyết tâm này với anh Hữu. Được anh Hữu chấp thuận, một cuộc họp bàn quân sự dân chủ diễn ra ngay trên bờ sông nước lũ vẫn đang đổ về. Quần áo mọi người vẫn còn ướt sũng. Trong đêm tối chỉ nghe giọng nói run run, cũng đủ biết anh em đang thấm lạnh. Một lần nữa tôi càng tự hào về những người đồng đội của mình khi đưa vào danh sách đề nghị lên cấp trên cho được nhận nhiệm vụ trở lại đợt này. Cuộc trao đổi diễn ra rất nhanh - phải qua sông. Chúng tôi tập trung tất cả dây dù lại để nối bện thật chắc, cột chặt một đầu ở bên này sông, đầu kia giao cho N.T cầm, bơi sang bờ nam, tim chỗ cột chắc tạo thành tay vịn cho đoàn quân bám vào đó lần bơi sang. Chỉ sau hai mưoi phút là N.T đã có một đầu dây để lần bơi sang bờ bên kia. Nhìn dáng điệu gọn gàng nhanh nhẹn như người quen nghề sông nước của N.T tôi yên tâm. Đoạn đầu nước mới ngập trên đầu gối, N.T vẫn vượt lên dòng xiết mà đi. Chúng tôi đứng trên bờ vì trời tôi không nhìn rõ sự thể sau đó ra sao, vẫn cứ tin N.T qua được, hy vọng chiếc dây sẽ nối được đôi bờ, đưa đoàn quân vượt qua một khúc hiểm nghèo.

        Một tiếng chờ đợi đã qua. Từ rất tin và ngóng mong tin tức, dán mắt theo dõi ánh lửa ám hiệu từ bờ nam của N.T đến nghi ngờ là anh đã gặp điều không may, có thể bị nước cuốn trôi khi ra đến chỗ sâu.

        Đang lúc phân vân, lo lắng chưa biết gỡ bí cách nào thì thật may có một ông già trên 50 tuổi, người cao to vác chiếc ghe câu (thuyền câu cá cỡ nhỏ) từ phía hạ lưu đi ngược lên.

        Tôi đành liều đến gần, vừa như muốn chặn ngang, rồi ôn tồn thưa chuyện:

        - Bác có thể cho tụi tôi mượn tạm chiếc ghe câu để đưa anh em qua sông, xong xin hoàn lại.

        Đưa mắt nhìn chúng tôi một lượt rất nhanh, ông nói to:

        - Bọn các ông ở gần đây nè, ra đó nhập bọn mà qua.

        Thế là nghĩa làm sao? Thật khó hiểu, tôi ôn tồn nói khó, biểu lộ một cách thực tình là người đằng mình nhờ ông giúp đỡ, thì ông lại nói to, chứ không hẳn khước từ. Cũng may là lúc này tuy đã ngớt mưa nhưng sấm chớp vẫn liên hồi ầm ì cả một không gian rộng nên không sợ địch nghe thấy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #36 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:26:28 am »

        Tôi vẫn vừa ôn tồn, vừa một tay cầm nhẹ vào thành thuyền, cố ỷ giữ ông lại để tiếp tục thuyết phục. Mà phải giữ lại thật, vì nếu ông đi, sự việc sẽ phiền phức, khó lường. Nhưng vừa kéo lại, tôi vân kiên trì năn nỉ nhờ ông giúp đỡ. Hình như trước sự ôn tồn và kiên quyết của tôi, sự giằng đi của ông đã bớt kiên quyết.

        Tôi tranh thủ thuyết phục trực diện hơn nhưng vẫn là để người nghe hiểu cách nào cũng được:

        - Bác thông cảm cho, chúng tôi là người tốt, đang thực sự gặp khó khăn...

        Trầm tĩnh, thận trọng và kín đáo có phải là tư chất của ông hay không, chỉ biết rằng từ phút này, tuy không nói rõ là cho mượn nhưng ông cũng khồng giằng lại nữa, cái ghe câu vì vậy mà cứ từ từ ngả sang tay tôi.

        Được thuyền, tôi khẩn trương tổ chức cho anh em lần lượt vượt sông. Vì thuyền bé nên phải đi nhiều chuyến. Sau anh Hữu, là đến máy thông tin 15 oát để kịp giờ liên lạc với ngoài Hà Nội...

        Tôi ngồi cạnh ông già, để điều hành cuộc vượt sông, cũng là để theo dõi thái độ của ông, vì dù sao vẫn phải thận trọng và cảnh giác. Ông già vẫn ngồi, im lặng nhìn anh em vượt sông nhưng trong đầu óc ông hình như đang có sự suy nghĩ gì đó.

        Đến lượt tôi là người đi sau cùng. Tôi sửa soạn lại trang bị cho gọn chặt và đưa tay ra nắm lấy tay ông tạm biệt, ông hơi lúng túng, rồi cũng đưa tay nắm lấy tay tôi lắc mạnh theo nhịp lắc của tôi. Tôi siết chặt tay ông và nói:

        - Thay mặt anh em. xin chân thành cám ơn bác. Nhưng cũng mong được bác giúp chúng tôi đến đoạn chót, bác vui lòng sang bên đó với tôi để nhận thuyền về.

        Tôi vẫn nắm chặt tay ông và chờ đợi sự quyết định của ông. Rất có thể ông không chấp nhận yêu cầu theo chúng tôi sang bên kia sông nếu ông không biết chúng tôi là người như thế nào. Nhưng ông già không trả lời mà kéo tay tôi đi xuống con thuyền đang chờ. Tôi vui sướng bước theo ông. Chúng tôi ngồi thuyền vượt sông. Ông vẫn không nói mà chỉ tập trung điều khiển con thuyền qua sông một cách rất thành thạo của những người đã có bề dày của nghề sông nước.

        Thuyền cặp bờ nam, tôi siết chặt tay ông lần cuối:

        - Một lần nữa xin chân thành cám ơn bác. - Tôi xúc động thực sự nói tiếp như để nhấn mạnh - Tất cả anh em chúng tôi không bao giờ quên ơn bác...

        Ông già vẫn lầm lì khó hiểu. Lúc đầu thế nào bây giờ cũng thế, gần như không nói, bây giờ cũng vậy. ông chỉ trân trân nhìn thẳng vào mặt tôi - một cái nhìn kín đáo, thăm dò và trả lời bằng một từ gọn lỏn quen thuộc: “Dạ”.

        Vừa lúc đó thì N.T từ phía hạ lưu điểm vượt cũng tìm được về. Đúng là nước chảy xiết đã cuốn anh, may mà anh giạt được vào một bụi tre ngập nước và thoát được lên bờ. Cuộc vượt sông thắng lợi. Xốc lại đội hình, chúng tôi lại đi tiếp trong đêm, vì ở đây vẫn còn là vùng nguy hiểm, thuộc phạm vi kiểm soát nghiêm ngặt của địch. Đêm hôm ấy và cả ngày hôm sau, tôi sống trong một tâm trạng vui buồn lẫn lộn! Vui là đã cùng anh em vượt qua hai lần nguy hiểm, giờ đây có thể tự tin mà nói trước rằng toàn đội đã thoát ra khỏi vòng vây của quân thù, con đường trở lại quê hương đã được rút ngắn. Cái đích của cuộc hành quân đang ở trong tầm với. Buồn - một nỗi buồn day dứt là chú Ba tôi không còn cùng đồng đội đi tiếp cuộc hành trình, để được chiến đấu trên chính quê hương mình.

        Và một nỗi lo dai dẳng không kém là nếu chú Ba tôi vì sức yếu không chịu được đòn thù thì ảnh hưởng thế nào với công việc cấp trên giao cho? Và như vậy địch sẽ hiểu được chiều sâu của chuyến đi, chúng sẽ đánh phá ta trước khi ta triển khai thực hiện nhiệm vụ.

        Cả ngày hôm sau đội công tác chúng tôi nằm lại trên một ngọn đồi, cây mọc lúp xúp và thưa quang. Suốt ngày đội nắng - cái nắng cũng thật gay gắt chói chang. Sớm mai quần áo mọi người còn sũng nước, gần trưa đã khô rang, khát nước đến cháy họng. Nhưng đâu chỉ có ráng chịu cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà còn phải lo đối phó với quân thù bất thần ập tới. Bất cứ địch đến theo cung cách nào thì chúng tôi vẫn ở trong cái thế lọt giữa vòng vây.

        Chiều về, mặt trời lặn nhanh, khuất sau dãy múi Trường Sơn xa mờ. Gió từ biển thổi vào làm tan nhanh cái nóng, mọi người thấy dễ chịu, oi nồng đã nhường chỗ cho mát dịu. Tất cả đều thở phào khoan khoái. Không có hiện tượng hoạt động khác lạ gì của địch. Tôi thầm phán đoán: như vậy là chú Ba tôi tuy sa vào tay địch nhưng chúng vẫn không khai thác được gì; ông già làm nghề chài lưới trên sông Đà Rằng chắc chắn là người tốt, nên địch có mắt vẫn như mù. Chúng không hề hay biết gì về hoạt động của chúng tôi. Và niềm vui trong tôi cũng có nét riêng, nó nảy sinh từ trong nỗi lo nên tôi càng xúc động mạnh, khi về tới Khánh Hòa thì cũng là lúc chú Ba tôi thoát khỏi địch ngay trong đêm hôm ấy rồi tự mình cắt rừng theo hướng Đá Bàn mà tìm về với đội ngũ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #37 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:27:48 am »

        Chú cháu gặp nhau mừng tủi xen lẫn. Tôi tần ngần ngắm chú một lúc rồi mới hỏi luôn:

        - Sao lúc đó chú la dữ vậy?

        - Tao la to cốt báo cho tụi bay biết là tao đã bị địch bắt, liệu mà tìm đường thoát, chứ đứng có vô đây là nó quây liền.

        Lúc đó tôi cũng thoáng nghĩ như vậy. Quả là một hành động thông minh, một ám hiệu đáng quý của người chiến sĩ đặc công. Chú Ba - một người ra đời trong áp bức bất công, không biết trường học là gì, mù chữ cho đến lúc ấy, nói ít nhưng khi hữu sự thi lại rất sáng suốt, lo toan đủ điều, khi được Đảng giáo dục thì luôn luôn hành động vì tập thể, vì đồng đội không quản gian khổ, hy sinh. Trong tình cảm của tôi, chú Ba vừa là người chú kính yêu người cha thân thương, người đồng chí, đồng đội tin cậy.

        Đoàn quân lại lầm lũi đi trong đêm, chếch hướng tây - nam đi về Dốc Nón - điểm tiếp giáp giữa Phú Yên và Khánh Hòa thì cũng vừa đúng một cung đường cần nghỉ lấy sức tiếp tục cuộc hành trình. Mảnh đất quê hương đây rồi! Ai cũng muốn reo lên một tiếng với nỗi xúc động bồn chồn. Dốc Nón là đỉnh mút của con đường hành lang mà tỉnh đã mở hồi cuối 1951 đầu 1952 nối thông Khánh Hòa - Phú Yên. Đi trên con đường yên vắng hôm nay tôi lại nhớ về anh Khuê, anh Chi, anh Tư trong ban chỉ huy mở đường, nhớ về anh Ma Cao, người Ê-đê, đã góp sức đáng kể trong nhiệm vụ tạo dựng lên con đường này. Anh người thôn Xuân Sơn chuyên nghề săn bắn con dộc (loại khỉ đen cổ trắng) và làm rẫy, nhưng anh lại là người hiểu địa thế vùng này, hiểu từng gành đá, suối sâu, dốc thẳm. Anh đã vạch cắt con đường hành lang không phải trên bản đồ mà bằng trí nhớ, thông thuộc của anh. Con đường mới tạo dựng với hai mưoi chiếc cầu bắc qua các suối sâu bằng thân những cây dầu rái rất vững chắc. Từ khi có con đường này cho đến khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, không một cán bộ nào của chúng ta bị địch giết hại như hồi còn dùng đường Dốc Mỏ. Cũng phải mất hai ngày nữa mới về tới đích cuối cùng của cuộc hành quân. Qua khỏi Dốc Chanh là chúng tôi tụt xuống thung lũng Đá Bàn. Chỉ mới hơn một năm thối mà cảnh vật đã thay đổi nhiều, nhất là sau trận mưa lũ lớn. Ở các rẫy cũ chuối chín, đu đủ chín không có ai ăn. Các căn nhà tranh, nơi các cơ quan của tỉnh ở trước, bắt đầu xiêu vẹo, lá khô roi đầy ắp các sân và lối đi, bốn bề tĩnh mịch. Ở trại sản xuất của tỉnh cảnh trí có khá hơn, vì khi ta rút đi có kế hoạch để một số người ở lại hoạt động bất hợp pháp, hàng ngày tăng gia sinh sống nhưng là để củng cố giữ vững địa bàn, tích trữ lương thực chờ đón cán bộ, bộ đội ta trở lại hoạt dộng, lấy nơi đây làm điểm tựa bung ra các nơi. Người đầu tiên chúng tôi gặp là Tư, cũng là một cơ sở nằm vùng do ta để ỉại. Tư khoảng 45 tuổi, khi thấy chúng tôi trở lại, thái độ anh ta tỏ ra không vồ vập nhưng cũng không lạnh nhạt. Thấy thế tôi đoán ngay, anh chàng này chắc có chuyện bất bình gì đây, nếu không thì trong tư tưởng Tư ắt có vấn đề đang đấu tranh.

        Tư không nói, mà tự mình đi bắt lợn giết thịt chiêu đãi đoàn.

        Đã gần ba tháng hành quân, lương thực dự trữ mang theo cạn dần, đã phải ăn cầm hơi và nhịn đói, người mỏi mệt, mệt cả lúc được ăn cơm no. Được bữa lợn luộc chấm muối người tỉnh hẳn, các khớp xương bỗng chặt trơn như được vô dầu, dạ dày đầy êm gây cảm giác no rõ rệt, cơ thể thêm thoải mái.

        Như có cái gì ngờ ngợ ngay từ phút đầu, nên khi tan cuộc liên hoan hội ngộ, tranh thủ thu xếp xong xuôi chỗ ngủ cho anh em, tôi, Ỷ và N.T sang chỗ Tư ở để trò chuyện tâm sự và cũng là để dò tìm cái thái độ khó hiểu của cậu ta. Chuyện trò cũng không nhiều bởi Tư vẫn rụt rè, lơ đãng, chỉ ừ hữ cho qua mỗi khi nghe chúng tôi kể chuyện miền Bắc, thỉnh thoảng đảo mắt nhìn chúng tôi một cách xét nét. Còn chúng tôi, trước thái độ thờ ơ của Tư, cộng với cái mệt mỏi của cuộc hành quân đường dài bắt dầu ngấm mệt tạm cắt đứt câu chuyện, khi về giường vừa ngả lưng đã ngủ lúc nào không hay. Nhưng linh tính báo có chuyện chẳng lành sẽ xảy ra, nên giấc ngủ của tôi cứ chập chờn thế nào ấy, đến khoảng ba giờ sáng thì tôi choàng dậy, ngó quanh. Không gian rất yên tĩnh, Ý và Sách đang say giấc với tiếng ngáy đều đều thoải mái. Nhìn sang giường Tư, màn vẫn buông nhưng người không thấy, nghe ngóng bốn phía của ngôi nhà cũng chỉ có cây rừng lao xao trong gió nhẹ vào buổi ban đêm đang chuyển dần về sáng. Tôi suy nghĩ và trở dậy, sang ngay nhà anh Hữu đang ngủ để báo cáo hiện tượng bất thường này.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:29:32 am »

        Tổi khẽ đập cửa, từ trong nhà có tiếng hỏi vọng ra với giọng khô đanh, cảnh giác:

        - Ai?

        - Dạ tôi đây, Cụ đây mà.

        Từ trong nhà vọng ra, giọng mềm và thân mật:

        - Tư hả? - Có tiếng xỏ dép đi ra phía cửa rồi tiếng anh Hữu thân mật hỏi tiếp - Có chuyện gì thế?

        Cửa vừa mở, tôi tranh thủ báo cáo là Tư bỏ đi đâu, tìm hoài không thấy... Tôi chưa kịp nói hết, anh Hữu ra khỏi phòng ngủ, hỏi xen vào:

        - Ý kiến cậu thế nào?

        - Chưa thể kết luận cụ thể nhưng theo tôi thì ta phải cảnh giác là hơn - Cứ thế đứng dưới sương đêm, hai chúng tôi bàn kế hoạch đối phó, phải hành động ngay trước lúc trời sáng.

        Được anh Hữu chấp nhận, tôi báo động đánh thức toàn đội dậy ngay trong đêm. Khi phổ biến với mọi người tôi chỉ nói chung là - theo tin tức cho biết địch đã đánh hơi thấy có lực lượng ta xuất hiện ở vùng Đá Bàn, vì vậy ta phải chuẩn bị rời khỏi nơi đây một cách bí mật. Trừ tôi, Ý và Sách ở lại, còn tất cả hành quân vào sâu hơn nữa, tận chân núi Mẹ Bồng Con, cách đây chừng mười cây số. Trên đường đi, đến đâu phải xóa dấu vết đến đấy, tuyệt đối không để địch phát hiện được tung tích. Anh Nguyễn Xuân Hữu cũng tạm thời đi với anh em lên đó. Chỉ chưa đầy mười phút sau, tất cả lặng lẽ lên đường không để lại một dấu vết gì chứng tỏ có đông người lạ mới qua đây. Sau khi đại bộ phận anh em đã di chuyển, tôi, Ý, Sách ở lại tiếp tục rà soát lại một lần nữa, xóa dấu vết của bữa liên hoan khi chiều: dọn sạch bếp, đổ tro, chôn các thanh củi cháy dở, phi tang cả các lá đựng thịt, ống bương đựng canh, noi cạo lông lợn, nghĩa là giữ nguyên cảnh tượng hoang vắng tiêu điều không người ở như vốn có, để một là, bịt “đầu mối” dò tìm của địch, giảm đến mức tối đa các cớ đẩy chúng phải nghi vấn, như thế sẽ không có lợi cho ta, ít nhất là lúc này; hai là, nếu Tư làm phản, đi báo địch lên vây càn, nhưng nếu không thấy dấu vết gì khả nghi, ắt chúng phải quay sang nghi ngờ chính người đã đi báo - tức là nghi ngờ Tư, thế là ta bước đầu vô hiệu hóa y.

        Trời sáng dần, khu trại sản xuất vẫn yên tĩnh, chỉ có tiếng chim rừng hót líu lo, khiến cảnh vật bớt hoang vắng, chúng tôi đỡ trống trải. Đến giờ này mà không thấy Tư, thì rõ ràng là y đã làm phản, nên ba chúng tôi vừa tiếp tục đi xung quanh phát hiện để xóa dấu vết, vừa bố trí canh gác theo dõi hành động của địch. Khoảng lối mười giờ, mặt trời cao dần, Ỷ từ trên một ngọn cây cao làm nhiệm vụ cảnh giới giật giọng gọi xuống:

        - Có người vô! - Giọng ý gấp gáp, phân vân - Không biết lính hay dân, đi rất đông.

        - Ở phía nào tới? - Tôi hỏi vọng lên.

        - Ngay kề chân núi trước mặt, họ đang đi về hướng mình.

        Tôi vọt nhanh như sóc lên ngọn cây cao, nơi Ý đang ngồi quan sát, nhìn xuống: Đúng rồi! Đúng địch đang đi về phía ta, càng gần rõ cả súng. Chúng chia thành ba ngả, y hệt như Pháp ngày trước mỗi khi chúng đánh lên căn cứ. Tôi bảo Ý tiếp tục quan sát, theo dõi, rồi tụt xuống đi kiểm tra lại lần cuối xem có còn sót dấu vết gì nữa không. Tốt, không có gì đáng lo ngại cả. Cảnh giác chủ động đề phòng vẫn hơn. Nếu để đến giờ mới chuẩn bị thì chậm rồi, rất có thể phải chạm trán với địch. Mà chạm trán với chúng giờ này ta đâu có lợi. Tôi khoan khoái thở phào, kêu Ỷ xuống vì địch đã đến gần. Ba chúng tôi ung dung rút vào nơi kín, bám sát và theo dõi địch, xem chúng giở những trò gì?

        Lực lượng địch khoảng hai đại đội. Đông như vậy nhưng đến đây chúng rất rụt rè hoảng hốt, bởi cái uy danh căn cứ Đá Bàn vẫn còn vang vọng đối với chúng. Chúng đóng quân ở lại một tuần nhưng không dám đi xa, chỉ quanh quẩn khu trại sản xuất. Đi tới đi lui, nhìn ra bốn phía, địch chỉ thấy cảnh vật lạnh vắng đang đi vào hoang tàn đổ nát, không có dấu hiệu gì khả nghi rằng nơi đây vừa xảy ra cảnh mổ heo liên hoan như Tư báo cáo (sau này chúng tôi được biết ngoài Tư còn có Ch. cũng làm phản, đi báo địch là tôi và anh Nguyễn Xuân Hữu đã vô trong này. Địch liền tung truyền đơn đi khắp nơi treo thưởng: Ai bắt được Bảy Hữu và Tư Cụ nộp nhà chức trách sẽ được lãnh thưởng năm mươi ngàn đồng). Lùng sục một tuần không thấy gì, địch đành âm thầm rút.

        Từ miền Bắc vào đến đây phải qua gần ba tháng hành quân với bao vất vả, gian lao. Nếu không cảnh giác, nhạy bén, tháo vát và bằng tác phong cụ thể, tỉ mỉ của người chiến sĩ đặc công thì tình hình đã khác. Bước đầu, chúng tôi đã giành thắng lợi, bịt được đầu mối sinh nghi đối với địch khi chúng càn lên căn cứ Đá Bàn, đinh ninh là có cộng sản vừa đến; bước đầu ly gián, vô hiệu hóa những tên phản động, khoét mâu thuẫn trong nội bộ bọn chúng với nhau, tạo được thế chủ động chính trị ngay khi mới đặt chân lên mảnh đất quê hương.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2016, 01:32:22 am »

       
III

        Địch rút khỏi Đá Bàn vào buổi sáng, thì sẩm tối hôm đó, bộ phận tiền trạm chúng tôi cũng “hạ sơn” làm nhiệm vụ chuẩn bị địa bàn cho toàn đội trở lại hoạt động theo phương thức họp pháp.

        Trong hoàn cảnh hoạt động mới, một sơ suất nào đó - dù là nhỏ nhất trong việc chấp hành nguyên tắc giữ bí mật cũng đều bất lợi, gây bao nhiêu hậu quả làm ảnh hưởng đến hoạt động của ta cả trước mắt và lâu dài trên con đường đi tiếp để hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc...

        Như kế hoạch đã bàn, vượt qua mép đông đường số 1, thì Ý và Sách về thẳng gia đình tạm sống bất họp pháp chờ thời cơ. Còn tôi lần theo bìa làng đến nhà người cô họ là bà Phạm Thị Hường ở thôn Hà Thanh nắm tình hình. Là gia đình kháng chiến lại kề với đường đi của thôn nhất định địch gài điệp ngầm theo dõi (phán đoán này của tôi hoàn toàn chính xác) nên tôi phải đứng ngoài nghe ngóng quan sát động tĩnh. Thấy không có gì khả nghi, tôi vọt nhanh ép người vào cửa nhà ngang. Tôi không gọi (vi sợ lộ) mà khẽ cậy cửa lách vô. Lần qua cửa ngách nhà trên, tim tôi đâp mạnh, hồi hộp khẽ gọi: Cô! Một phút trôi qua không có tiếng trả lời. Nhưng tự nhiên tôi thấy mình trấn tĩnh trở lại và tiếp tục gọi một cách tự tin hơn: Cô! Cô ơi! - Tiếng gọi dồn dập và to dần. Tôi định gọi thêm lần nữa thì có tiếng người cựa mình và sau đó một bóng người, đúng là cô tôi, nhẹ nhàng đi về phía tôi, hỏi khẽ: Tư Cụ hả? - Vừa hỏi bà vừa quờ tay tìm kiếm và tay bà chạm vào vai tôi nắm chặt như sợ tôi chạy. Giọng bà run run như muốn khóc, hỏi dồn: Co...n ở đâu v...ề?

        Phút chốc cả nhà đều thức bên ngọn đèn dầu vặn nhỏ vừa đủ để nhận diện nhau. Tất cả đều mừng vui nhưng ai cũng ý thức được cái vui kiềm chế, vui để trong lòng, nói với nhau qua cái nhìn thương cảm, chứ không bằng lời, vì đêm khuya chỉ một tiếng động nhỏ cũng có thể tự mình tạo thành mục tiêu cho kẻ địch theo dõi.

        Bữa cơm đạm bạc đã được cô tôi sửa soạn thật nhanh. Và tôi cũng vậy, ăn xong chỉ kịp uống ly nước nguội là phải tạm biệt gia đinh để tiếp tục công việc đã vạch. Thấy tôi ra đi quá vội vã, cả nhà cầm tay níu lại. Nhất là cô tôi, trông bà lúc này xịu buồn đứng sát trước mặt tôi nói với giọng trách móc: Mày đi thật à, khuya rồi, hay là mày không tin tao hả, Tư?

        Bà nhìn tôi như giận dỗi. Còn tôi thì lặng người đi vì xúc động. Mãi phút sau tôi mới nghẹn ngào thưa lại: Không tin cô sao con lại vô đây trước tiên...
       
        Thấy tôi vừa nói vừa rơm rớm nước mắt, bà như hối hận, không nói mà chỉ đồng ý ngầm trên khóe mắt: ừ con đi!

        Từ trong nhà bước ra, bóng đêm ập đến đột ngột, khiến tôi phải ngồi lại ngoài bờ tre một lúc để định hướng rồi mới đi tiếp. Đêm khuya thanh vắng, làng xóm chìm trong yên tĩnh, cả chó lúc này cũng không thấy sủa. Lần theo các vạt ruộng ngoài bìa làng tôi đến nhà người cô thứ hai, là bà Nguyễn Thị Lới ở cùng thôn Phước Sơn với gia đinh tôi. Vì được tin tức qua cô Hường nên khi lậy cửa vô nhà là tôi cất tiếng gọi liền, khỏi phải vừa gọi vừa nghe ngóng động tĩnh như vô nhà cô Hường trước đó. Nhận ra giọng quen thuộc của tôi, cô Lới dậy liền và đàng hoàng thắp đèn để nhìn tôi được rõ. Qua ánh đèn cô ngỡ ngàng kèm theo cả lo lắng khi nhìn thấy tôi:

        - Ủa! tao tưởng tụi bay ra Bắc rồi? - Rồi bà bảo tôi ngồi xuống, hạ thấp giọng bà lại tiếp - Mấy bữa rồi tao lo lắm, vì tụi nó trao thưởng bắt mày; - bà cầm tay tôi nắm chặt, hít một hơi nhẹ, giọng to dần nhấn mạnh - bây giờ thì hết lo, mày đã về đây.

        Cứ thế hai cô cháu ngồi bên ngọn đèn để trả lời bao nhiêu câu hỏi của cô, nghe bao nhiêu chuyện ngang tai trái mắt kể từ khi chúng tôi ra Bắc tập kết. Bỗng nhiên bà quay lại hỏi:

        - Có Bảy Hữu về không?

        - Dạ! Cháu không biết nữa - như để đánh lạc hướng và giữ bí mật cho anh, tôi noi lảng - anh Hữu là cán bộ dân chính chắc không về đâu.

        Qua cô Lới được biết thêm một số tình hình khiến tôi càng vững tin trong nhiệm vụ sắp tới, mặc dầu khi bắt tay vào việc chắc không dễ dàng gì.

        Nhà thứ ba tôi đến trong đêm đầu trở lại quê hương là người chú họ Phạm Văn Oanh. Lúc này ông làm chức dịch cho địch nhưng vẫn là người có cảm tình với kháng chiến. Thấy tôi đột ngột vô nhà, ông sững sờ nhưng phút đó qua nhanh, nhường chỗ cho nỗi mừng khôn xiết và định đánh thức cả nhà dậy cùng chia vui cái giờ phút hội ngộ đột ngột này. Tôi gàn lại, vì nhà ông kề ngay đường đi, cần phải giữ bí mật về cuộc gặp gỡ này. Thấy tôi mạnh khỏe, ăn nói có phần hoạt bát, khúc chiết hơn xưa, ông tỏ vẻ mến phục cách mạng có tài dạy dỗ con người. Đang ngắm nhìn tôi, ông bỗng đứng lên đi về phía bàn rút ngăn kéo lấy ra một tờ gấp nhỏ, bảo tôi đọc coi. Tôi lướt nhanh hàng chữ đậm in mực đen ở giữa tờ giấy: Nhà chức trách sẽ hậu thưởng 50.000 đồng cho ai bắt được Bảy Hữu và Tư Cụ là hai tên cộng sản. Đọc xong tôi vừa lạnh gáy vừa thở phào tự nhủ: may là không có hình mình trên tờ truyền đơn, điều kiện hoạt động hợp pháp vẫn còn. Tôi gấp tờ truyền đơn bỏ túi làm kỷ niệm rồi nói vui như thách đố:

        - Cháu có phép tàng hình mà chú!
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM