quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 26 Tháng Tư, 2021, 01:43:45 pm » |
|
Lẽ ra xe tôi cứ thẳng đường vào Tân Sơn Nhất, nhưng thoáng nghĩ đến dinh Độc Lập, sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn, nơi tổng thống Dương Văn Minh vừa tuyên bố đầu hàng quân cách mạng, tôi liền bảo lái xe rẽ sang cầu Thị Nghè, qua đường Hồng Thập Tự1 (Nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai). Gặp đường Đinh Tiên Hoàng, xe ngoặt trái, rồi rẽ sang đại lộ Thống Nhất (đại lộ Lê Duẩn ngày nay). Đầu óc tôi bỗng bừng bừng khó tả khi trước mắt tôi hiện ra một tòa nhà đồ sộ. Tôi đoán đó là dinh Độc Lập. Trên đỉnh cột cao, lá cờ giải phóng đang tung bay theo chiều gió. Đẹp đẽ làm sao! Tôi hình dung giữa lá cờ như có hình bóng Bác thân yêu đang giơ tay vẫy vẫy. Nhớ đến Bác, tôi lại nhớ đến hai câu thơ của Tố Hữu:
"Miền Nam đang thắng mơ ngày hội. Rước Bác vào thăm thấy Bác cười".
Bây giờ không còn là mơ nữa, cả miền Nam đang trong ngày hội lớn. Cả Sài Gòn như đang đón Bác trở về sau hơn sáu chục năm trời xa cách. Bến Nhà Rồng năm xưa tiễn Bác ra đi, hôm nay như đang được đón Bác trở về, giữa lòng mọi người và trên đài vinh quang chói lọi. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài 30 năm đã kết thúc. Hẳn Bác rất vui lòng.
Hai bên đại lộ và trong sân dinh Độc Lập, xe tăng, xe pháo đậu san sát. Bộ đội ta tràn ngập các vườn cây, bãi cỏ bên ngoài và bên trong dinh. Rải rác có những bếp cơm của anh nuôi đang đỏ lửa. Thấy một đại đội bốn khẩu pháo cao xạ 57mm đang ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, tôi đến bên thăm hỏi tình hình. Anh pháo thủ cho tôi biết đây là pháo của Tiểu đoàn 7, thuộc Trung đoàn 284, tôi mừng quá, nói lớn:
- Các cậu giỏi thật! Tiểu đoàn 7 cao xạ anh hùng của đường Trường Sơn, giờ đây đã có mặt giữa Sài Gòn.
Các pháo thủ nhao nhao hỏi:
- Sao thủ trưởng biết đơn vị bọn em? - Đúng lúc đó, một cán bộ chỉ huy vừa đến. Nhìn thấy tôi, anh đưa tay chào rồi đến bắt tay rối rít:
- Thủ trưởng Lân! Em là Nguyễn Văn Minh, lính cũ của thủ trưởng hồi chiến dịch Điện Biên đây mà!
- Ôi! Minh đấy à. Không ngờ chúng mình lại gặp nhau tại dinh Độc Lập này.
Minh kể cho tôi nghe chiến công của trung đoàn anh trong những ngày chiến dịch:
- Trung đoàn 284 có nhiệm vụ bảo vệ đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2. Dọc đường tiến quân, bọn em đánh tan tác máy bay địch đến ném bom, hạ thấp nòng pháo nã vào những lô cốt, những ụ súng ngầm hai bên đường, để yểm hộ bộ binh hành tiến. Có tiểu đoàn còn chĩa súng bắn bị thương tàu chiến trên sông Đồng Nai nữa. Cũng ác liệt, nhưng thích lắm anh ạ!
Tôi nắm chặt đôi bàn tay rắn chắc của Minh khổng muốn rời.
- Thôi! Mình phải đi gấp. Hẹn ngày gặp lại!
Tôi chào Minh và anh em pháo thủ, rồi lên xe hướng về Tân Sơn Nhất theo đương Lê Văn Duyệt1 (Nay là đường Cách mạng tháng Tám) .
Đường Lê Văn Duyệt quá hẹp, người lại đông. Xe cứ nổ máy, nhích lên từng bước, chậm rì. Mỗi khi xe đứng, tôi tranh thủ nói chuyện với những người ở gần. Ai cũng thích tiếp chuyện với chúng tôi. Một ý nghĩ bỗng thoáng qua trong óc: phải báo tin cho mẹ biết mình đã về. Tôi liền lấy sổ tay xé một mảnh giấy, ghi nhanh mấy chữ: “Thưa mạ2 (Mạ: Tiếng địa phương nghĩa là mẹ), con đã vào Sài Gòn. Sẽ về thăm mạ và các em một ngày gần đây. Con: Lưu Trọng Lân”. Gấp thư lại, tôi nghiêng đầu ra ngoài xe, nói với anh thanh niên đang ngồi trên một chiếc Honda:
- Anh có thể chuyển giúp lá thư này đến gia đình tôi được không?
- Được thôi chú à! - Người thanh niên sốt sắng đáp. Vậy nhà chú ở đâu?
- Số nhà 212/92 hẻm xóm Chùa, đường Trần Quang Khải, quận Một3 (Tôi biết được địa chỉ của gia đình là nhờ một người bà con ở Pháp viết bức thư báo tin, lúc tôi ở Hà Nội).
- Ôi! Thế thì con sẽ đưa cho chú ngay chiều nay thôi.
- Cám ơn cháu nhiều. Chào cháu!
Tân Sơn Nhất trước mặt rồi, nhưng vào cổng nào đây? Sau một lúc hỏi thăm đường, chúng tôi rời ngã tư Bảy Hiển rẽ về Lăng Cha Cả, để vào sân bay bằng cổng số 5 mà bà con gọi là cổng Phi Long. Nhìn sang hai bên đường tôi thấy mấy chiếc xe tăng T.54 của quân ta bị bắn cháy.
Tôi lặng người, chạnh nghĩ: cho đến những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tranh, trước giờ toàn thắng, vẫn còn những đồng đội của tôi tiếp tục ngã xuống cho nền độc lập của Tổ quốc!
Trình giấy, qua ba-ri-e do các chiến sĩ ta đứng gác, chúng tôi đi thẳng vào căn cứ sư đoàn 5 không quân ngụy nghiên cứu vị trí đặt sở chỉ huy tiền phương Quân chủng. Sau khi đến xem xét, các anh Quang Hùng, Ngọc Diêu đã quyết định cho đặt Sở chỉ huy tạm thời của Tiền phương Quân chủng tại đây.
Mấy hôm sau, tôi xin phép thủ trưởng Bộ Tham mưu cho về thăm gia đình. Chiếc xe con cắm cờ Mặt trận, chầm chậm đi vào con hẻm nhỏ, dừng lại trước căn nhà số 212/92. Bà con lối xóm ùa ra.
- Bà Lai ơi! Có chú giải phóng hỏi nhà bà đây nè.
Cửa mở. Hai em gái tôi chạy ra trước tiên, ngỡ ngàng. Ngày xa nhau cách đây 27 năm, khi mẹ tôi dắt díu hai em vào vùng tạm chiếm, theo một số đồng bào tìm đường vào Nam gặp cha tôi, thì hai em gái tôi còn quá nhỏ, còn tôi đã ở tuổi 18. Giờ đây, tôi đã ngoài ba mươi, các em khó nhận ra tôi là phải. Tôi vội vàng lên tiếng:
- Diệu Liên, Diệu Minh hả? Anh Lân đây!
Cô em út miệng cười tươi như hoa:
- Thư anh gửi, mạ và bọn em đã nhận được ngay chiều mồng 1 tháng 5. Ngày nào mạ và chúng em cũng mong anh về.
Cô chị thì rối rít gọi vào trong:
- Mạ ơi! Anh Lân về. Mạ ơi! Anh Lân về. - Sau đó không quên chạy ra đường mời chú lái xe vào nhà chơi.
Tôi bước vào nhà, ôm chầm lấy mẹ tôi. Mẹ tôi đã quá già. Gần ba mươi năm rồi còn gì. Ngước mặt nhìn con, mẹ tôi nghẹn ngào:
- Con ơi! Ba con đã ra đi từ năm ngoái. Ba đi quá sớm, không đợi được ngày về của con. - Lời nói của mẹ làm tim tôi thắt lại.
- Thưa mạ! Con đã được tin ba con mất, do một cán bộ làm việc ở phòng lưu trữ của Thư viện Quốc gia - Hà Nội, tình cờ đọc được lời cáo phó trong một tờ báo từ miền Nam gửi ra, báo lại cho con.
Mẹ tôi lau nước mắt rồi hỏi han tình hình bà con mình ngoài Bắc, tình hình con gái, con rể, con dâu, nhất là các cháu nội, ngoại của bà. Tôi rút ví, lấy tấm ảnh hai vợ chồng tôi chụp với hai con, đưa cho bà xem. Nét mặt mẹ tôi hiện lên niểm vui rạng rõ:
- Ôi! Hai cháu Quang và Lan Phương của bà dễ thương quá!
Chuyện trò đã lâu, tôi xin phép mẹ cho trở về đơn vị, hẹn hôm nào thư thả công việc, sẽ ở nhà với mẹ được lâu hơn.
Tối hôm ấy, một mình tôi leo lên lầu thượng của tòa nhà Sở chỉ huy. Đứng trên tầm cao, tôi phóng mắt nhìn quang cảnh Sài Gòn về đêm, ngập tràn ánh điện. Lòng tôi lâng lâng tự hào, với vinh dự được có mặt trong đoàn quân tiến vào giải phóng thành phố.
Hướng về phía tây bắc, xuyên qua màn đêm, tôi hình dung lại chặng đường hành quân vừa qua, dọc theo chiều dài đất nước, trên dãy Trường Sơn hùng vĩ.
Đường Trường Sơn, con đường mang tên Bác kính yêu, đưa chúng con vào trận đánh cuối cùng của cuộc trường chinh ba mươi năm, sẽ mãi mãi đi vào lịch sử quang vinh của dân tộc, mãi mãi là niềm tự hào của Tổ quốc Việt Nam.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:28:46 am » |
|
PHI ĐỘI QUYẾT THẮNG VỚI ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN Theo lời kể của Thiếu tướng NGUYỄN HỒNG NHỊ Anh hùng LLVTND Trong cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, Không quân nhân dân là lực lượng luôn luôn sẵn sàng chi viện cho chiến trường bất cứ tình huống nào, kể cả những thời điểm mà không quân Mỹ đánh phá thủ đô Hà Nội dã man nhất. Bộ đội không quân vẫn dành một phần lực lượng tinh nhuệ nhất để tham gia chiến đấu bảo vệ hành lang vận chuyển tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Đặc biệt đầu năm 1975, khi chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột mở màn thì sân bay Đồng Hới trở thành sân bay đầu cầu quan trọng nhất của không quân ta. Ngày cũng như đêm máy bay vận tải tấp nập vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men và bộ đội vào chiến trường. Song vì lý do đảm bảo kỹ thuật và một số lý do khác, không quân chiến đấu vẫn làm nhiệm vụ bảo vệ hậu phương là chính, chưa có lệnh cơ động vào chiến trường, mặc dù lúc này quân ta đã chiếm được một số căn cứ không quân lớn của địch. Tôi được Bộ Tư lệnh Binh chủng giao nhiệm vụ tổ chức chỉ huy ở Sở chỉ huy tiền phương của không quân ta ở sân bay Đồng Hới, vừa tổ chức hiệp đồng chỉ huy tác chiến với quân binh chủng bạn bảo vệ hậu phương, vừa đồng thời sẵn sàng cơ động theo các mũi tiến công của quân ta khi có lệnh. Mãi đến ngày 19 tháng 4 năm 1975, mới có lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân là: “Chuẩn bị cho không quân tham gia chiến dịch: phi công ta sẽ sử dụng máy bay A-37 lấy được của dịch ở sân bay Đà Nẵng và sân bay Phù Cát để đánh địch...”. Lập tức một số phi công được chọn thuộc Phi đội 4 Trung đoàn 923 cấp tốc điều từ Thọ Xuân vào Đà Nẵng. Các đồng chí Trần Mạnh, Phạm Ngọc Lan xây dựng kế hoạch huấn luyện và chỉ đạo các phi công chuyển loại. Trực tiếp phụ trách các đồng chí phi công này là đại úy Nguyễn Văn Thọ phụ trách về quân sự và Phạm Bổn phụ trách về chính trị. Đồng thời trên cũng giao cho đồng chí thiếu tá Hồ Thanh Minh tổ chức một đoàn cán bộ kỹ thuật vào khai thác máy bay A-37 để phục vụ chuyển loại cho phi công ta vào làm nhiệm vụ. Thời gian quá gấp rút, máy bay lại khác hệ, trên máy bay sử dụng toàn tiếng Anh, phi công ta quen sử dụng tiếng Nga nên gặp không ít khó khăn trong quá trình chuyển loại. Nhưng anh em lúc này khí thế chiến đấu rất cao, mong sớm được tham gia chiến dịch lịch sử giải phóng miền Nam, hơn nữa lực lượng Không quân được Đảng, Bác Hồ rất quan tâm, chăm sóc, nên mọi người mong mỏi lập công để xứng đáng với niềm tin yêu ấy. Ngày 21 tháng 4, quân ta giải phóng Xuân Lộc; các quân đoàn đã áp sát Sài Gòn trên các hướng. Tình hình diễn biến rất nhanh, nếu không khẩn trương sẽ không kịp tham gia chiến đấu. Ngày 24 tháng 4, chỉ sau hai ngày học tập, phi công Từ Đễ bay chuyến đầu tiên, ngày hôm sau các phi công Nguyễn Văn Lục, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng, Trần Cao Thăng lần lượt bay tập thành công. Phi công Nguyễn Thành Trung sau khi ném bom dinh Độc lập đã bay về sân bay Phước Long an toàn và trở thành phi công Quân giải phóng. Ngày 26 tháng 4, anh được Bộ Tư lệnh chiến dịch điều ra Đà Nẵng bổ sung cho Phi đội Quyết Thắng và làm giáo viên huấn luyện cho Phi đội. Sáng ngày 26 tháng 4, tôi cùng kíp chỉ huy sở tiền phương lên trực thăng Mi-8 bay từ sân bay Phù Cát vào Phan Rang. Trên đường bay qua Nha Trang, bộ đội ta tưởng máy bay địch, thế là các loại súng tập trung bắn lên. Máy bay bốc cháy rơi xuống cạnh sân bay Nha Trang, chúng tôi kịp nhảy ra ngoài. May không ai bị thương, nhưng máy bay bị hỏng, phải bỏ lại. Chúng tôi vội vào thành phố Nha Trang kiếm một chiếc xe ô tô của quân ngụy bỏ lại và bắt một lính ngụy lái về sân bay Phan Rang cho kịp ngày để tổ chức tiếp thu máy bay ta vào tham gia chiến dịch. Trên xe, cảnh vệ gí súng vào lưng tên lính lái xe để dọa nó đi cho nhanh vào sân bay Phan Rang. Chiều tối đến sân bay Thành Sơn, tất cả vội lao vào công việc chuẩn bị tiếp đón máy bay ta. Ngày hôm sau chúng tôi tổ chức quét dọn sân bay, sửa chữa máy thông tin đối không, củng cố sở Chỉ huy và tiếp thu máy bay An-26 chở Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri và các đồng chí Hoàng Ngọc Diêu, Trần Mạnh, Trần Hanh... cùng vào. Cũng trong ngày hôm ấy Phi đội Quyết Thắng được thành lập ở sân bay Phù Cát, gồm các phi công Nguyễn Văn Lục - chỉ huy Phi đội, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Thành Trung, Mai Xuân Vượng và một phi công ngụy đã được giáo dục cải tạo. 9 giờ 30 phút ngày 28 tháng 4, Phi đội Quyết Thắng được lệnh cất cánh rời sân bay Phù Cát và một giờ sau hạ cánh xuống sân bay Thành Sơn an toàn. Các thợ máy khẩn trương kiểm tra kỹ thuật, lắp cho mỗi máy bay bốn quả bom và bốn thùng dầu phụ. Tư lệnh Lê Văn Tri trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phi đội. Mục tiêu oanh tạc là khu vực để máy bay chiến đấu lực lượng không quân ngụy trên sân bay Tân Sơn Nhất. Đánh trúng mục tiêu này là một đòn rất hiểm, nhất là Mỹ, ngụy chỉ còn một đường hàng không duy nhất để di tản. 16 giờ 25 phút ngày 28 tháng 4, Phi đội Quyết Thắng gồm năm chiếc A-37 xuất kích theo thứ tự: Nguyễn Thành Trung - số 1, Từ Đễ - số 2, Nguyễn Văn Lục - số 3, Mai Xuân Vượng - số 4, Hán Văn Quảng - số 5. Trong quá trình bay, để bảo đảm bí mật, các phi công không sử dụng máy vô tuyến đối không. Các phi công đã thống nhất phương án: trên đường đến mục tiêu, nếu máy bay hỏng nhẹ vẫn bám đội hình chiến đấu, nếu hỏng nặng thì tự quay về hoặc hạ cánh bắt buộc. Nếu lạc đội hình thì quay ra hướng đông, bay dọc bờ biển trở về căn cứ... Chúng tôi ngồi trong sở chỉ huy hồi hộp theo dõi. Lúc này hệ thống ra đa chưa có, nên chỉ còn tin tưởng vào tinh thần dũng cảm mưu trí của các phi công trên bầu trời. Thật là thần tốc, chỉ hơn một tuần chuyển loại, phi công ta đã nhanh chóng sử dụng thành thạo máy bay địch để đánh địch. Địch hoàn toàn bất ngờ, không quân và pháo cao xạ bảo vệ sân bay của chúng không kịp phản ứng. Từng loạt bom chính xác đã đánh trúng các máy bay địch làm chúng kinh hoàng khiếp sợ. 24 máy bay địch bị phá hủy, hàng trăm sĩ quan binh lính của lực lượng không quân địch bị tiêu diệt. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ oanh tạc mục tiêu, Phi đội Quyết Thắng trở về sân bay Phan Rang hạ cánh an toàn. Lúc đó là 18 giờ 15 phút ngày 28 tháng 4 năm 1975. Trời đã nhập nhoạng tối. Trận đánh của không quân ta dùng máy bay địch đánh thẳng vào căn cứ quân sự lớn có vị trí rất quan trọng của địch là sân bay Tân Sơn Nhất đã gây chấn động lớn. Lúc này năm cánh quân của ta đang tiến vào thành phố. Chiến thắng của không quân là đòn phối hợp rất nhịp nhàng, có hiệu quả, góp phần vào thắng lợi nhanh chóng của chiến dịch, góp phần làm cho ngụy quân, ngụy quyền hoang mang, suy sụp về tinh thần, thúc đẩy quá trình tan rã hoàn toàn của chúng. Về mục tiêu trận đánh của không quân ta vào Tân Sơn Nhất đã chọn đúng khu vực có vị trí rất quan trọng, góp phần cùng bộ đội pháo binh làm tê liệt cầu hàng không bằng máy bay có cánh cố định của địch. Ngày 29 tháng 4, Mỹ buộc phải tổ chức chiến dịch di tản mang tên “Người liều mạng” bằng máy bay lên thang để đưa những người Mỹ cuối cùng và một số tay sai ra khỏi Sài Gòn. Sau chiến thắng 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết Thắng tiếp tục phát huy truyền thống luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, vùng biên, biên giới Tây Nam Tổ quốc. Sau này cứ đến dịp 28 tháng 4. Tư lệnh Lê Văn Tri thường tổ chức cuộc gặp anh em phi công phi đội Quyết Thắng và những người tham gia trận đánh để ôn lại kỷ niệm hào hùng có một không hai của Không quân ta. Người thể hiện ĐOÀN HOÀI TRUNG
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:30:01 am » |
|
PHÍA SAU MỘT CHIẾN CÔNG Theo lời kể của Thiếu tướng HỒ THANH MINH Nguyên Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Tháng Tư về! Cây bằng lăng trước cổng Quân chủng Phòng không - Không quân nở hoa tím ngắt một góc trời; cây ngọc lan tỏa hương thơm ngát. Tiếng chim hót hòa cùng tiếng ve râm ran gọi hè. Tháng tư thật nhiều cảm xúc, tháng tư cũng thật nhiều kỷ niệm với bộ đội không quân. 38 năm trước Không quân đánh thắng trận đầu vào tháng tư và 10 năm sau đó vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết Thắng đánh trận cuối cùng vào sân bay Tân Sơn Nhất góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi đã tìm đến Thiếu tướng, Phó giáo sư, tiến sĩ kỹ thuật hàng không Hồ Thanh Minh - nguyên là Phó trưởng phòng máy bay Cục Kỹ thuật Phòng không - Không quân, tổ trưởng tổ đặc nhiệm để thực hiện nhiệm vụ “Lấy máy bay địch đánh địch” những ngày ấy. Qua bao năm trận mạc xông pha và qua tìm tòi nghiên cứu về các trận đánh của cha ông ta, Thiếu tướng đã đúc rút ra được những điều tâm đắc: “Không có một chiến thắng nào mà không có sự dày công chuẩn bị. Không có một chiến công nào mà không có tổn thất và thương vong. Không có một toàn thắng nào không để lại sự kinh ngạc cho quân thù". Riêng với trận Phi đội Quyết Thắng ném bom sân bay Tân Sơn Nhất thì Thiếu tướng cho rằng là một trận đánh nằm ngoài đúc kết đã nêu. Đó là một chiến công lịch sử mà không có một thương vong và tổn thất nào. Chiến công xuất sắc của Phi đội Quyết Thắng góp phần cùng bộ đội pháo binh chặt đứt cầu hàng không cuối cùng của Mỹ - ngụy, mà chỉ 6 tiếng đồng hồ sau trận đánh, tổng thống Mỹ phải lập tức ra lệnh cho không quân Mỹ tổ chức chiến dịch di tản mang tên “Người liều mạng” bằng hàng trăm máy bay trực thăng để đưa những người Mỹ cuối cùng ra khỏi Sài Gòn. Với chất giọng miền Trung đầm ấm, nhẹ nhàng, Thiếu tướng Hồ Thanh Minh kể lại: Ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, tôi đã được cử đi nghiên cứu sinh về động cơ máy bay, trong đó có cả các loại động cơ máy bay quân sự của Mỹ đang sử dụng ở miền Nam. Sau này phi công Hồ Duy Hùng được cài trong hàng ngũ của không quân ngụy Sài Gòn đã lấy được máy bay trực thăng UH-1 ra miền Bắc. Chúng tôi đã lắp ráp lại, rồi phi công ta nghiên cứu cách sử dụng máy bay do Mỹ sản xuất. Sau thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên và Huê - Đà Nẵng cuối tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã khẳng định thời cơ chiến lược để tổng tiến công, nổi dậy giải phóng miền Nam đã đến và phải huy động hết khả năng đã có. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, phi công Nguyễn Thành Trung của ta cài trong hàng ngũ địch đã lái chiếc F-5E cất cánh từ sân bay Biên Hòa ném bom dinh Độc Lập và hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long tạo thuận lợi cho Không quân ta sau này tổ chức đánh vào Tân Sơn Nhất. Đầu tháng 4, ở Quân chủng đã có chuẩn bị phương án dùng máy bay địch đánh địch. Ngày 19 tháng 4, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lệnh cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân chuẩn bị sẵn sàng tham gia chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bộ Tư lệnh Không quân quyết định sử dụng máy bay địch đánh địch. Đây là một quyết định hết sức táo bạo, mạo hiểm, thần tốc nhưng hoàn toàn chính xác. Bơi vì nếu sử dụng MIG-17, hoặc MIG-21 thì bất lợi về nhiều mặt. Các phương tiện bảo đảm như xăng dầu, máy điện khí, xe tra nạp bom đạn... vận chuyển vào sẽ không kịp. Máy bay ta lại mang ít bom và không thể bay xa được... Bộ Tư lệnh giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Mạnh - Tham mưu phó Quân chủng chịu trách nhiệm về cách đánh; đồng chí Phạm Ngọc Lan lo việc chuyển loại máy bay cho người lái; tôi chịu trách nhiệm khôi phục, sửa chữa máy bay vừa thu được của địch. Cùng tổ đặc nhiệm với tôi có các đồng chí: Kỹ sư đặc thiết Nguyễn Văn Soạn, kỹ sư vũ khí hàng không Nguyễn Đình Thủy, kỹ sư động cơ máy bay Nguyễn Anh Tuấn và 12 thượng sĩ của sư đoàn 1 không quân ngụy Sài Gòn. Lúc này ở sân bay Đà Nẵng có 15 chiếc A-37, nhưng 13 chiếc bị hỏng, chỉ có hai chiếc chưa kịp cất cánh đã bị ta bắn chết phi công, máy bay xịt lốp nằm chình ình ở bên đường băng. Chúng tôi bắt tay vào khôi phục được hai chiếc máy bay này để cho anh em phi công đã lái MIG-17 do Liên Xô sản xuất, luyện tập chuyển sang bay loại máy bay A-37 do Mỹ sản xuất. Sáng ngày 21 tháng 4, máy bay trực thăng đưa chúng tôi cùng 12 nhân viên kỹ thuật chế độ cũ vào vùng mới giải phóng sân bay Phù Cát. Ở đây quân ngụy rút chạy không kịp di tản máy bay. Trước yêu cầu nhiệm vụ phải khẩn trương khôi phục máy bay, chúng tôi quên cả nguy hiểm rình rập bởi đám tàn quân ngụy còn lẩn khuất trong các công sự, hầm ngầm trong khu vực sân bay, lao vào chuẩn bị máy bay. Một điều đặc biệt là các nhân viên kỹ thuật của chế độ cũ được cải huấn hết sức tích cực làm việc. Ban đầu họ còn chưa tin anh em chúng tôi, nhưng sau một thời gian làm việc với các kỹ sư ta, họ nể phục, bởi trình độ nhanh nhậy, thông minh, sự hiểu biết kỹ thuật hàng không của các anh em ta. Chúng tôi tự phân công nhau canh gác, tự nấu ăn, đồng thời nhanh chóng triển khai kiểm tra sửa chữa những chiếc A-37 có trên sân bay. Chiều ngày 25 tháng 4 năm 1975, chúng tôi được gặp Thượng tướng Chu Huy Mân và được thông báo: “Bộ Chính trị đã đồng ý cho Không quân ta ném bom vào sào huyệt địch ở Sài Gòn, nhưng chỉ dùng máy bay địch đánh địch. Thời gian phải đúng ngày 28 tháng 4 năm 1975”. Nhận được lệnh, ai cũng nức lòng, nhưng cũng rất lo lắng. Nhiệm vụ đã rõ ràng, nhưng quá nặng nề, vì thời gian quá gấp gáp. Chúng tôi chỉ còn làm việc quên ngày quên đêm... Trong quá trình làm việc với các nhân viên kỹ thuật, chúng tôi hiểu do điều kiện sống trong chế độ ngụy quyền, họ bắt buộc phải bị đi lính. Họ cũng hiểu được sự phi nghĩa của cuộc chiến tranh, nhận ra lẽ phải, nhưng không biết phải làm thế nào để thoát ra khỏi cuộc sông hàng ngày. Thêm nữa, những chiếc loa tâm lý chiến ngụy quyền Sài Gòn luôn vẽ méo mó hình ảnh những người cộng sản, nên họ hoang mang lo sợ sự trả thù... Chúng tôi gần gũi, giải thích và tin tưởng họ. Anh em kỹ thuật viên chế độ cũ như tìm được niềm tin cuộc sông, mong muốn lập công chuộc tội nên họ tích cực làm công việc được phân công bằng chính lòng yêu nước được khơi dậy. Họ cũng mong muốn được góp phần tham gia trận đánh lịch sử. Như vậy là ta không những chỉ dùng máy bay địch đánh địch, mà còn cảm hóa được người lầm đường quay trở lại đánh địch. Suốt ngày đêm ngày 25, 26 tháng 4 chúng tôi tổng kiểm tra được chín chiếc A-37 đủ tiêu chuẩn kỹ thuật bay thử. Sáng ngày 27 tháng 4, các phi công của ta từ Đà Nẵng vào Phù Cát, Phi đội Quyết Thắng được thành lập. Chỉ có mấy ngày mà phi công MIG-21 ta đã chuyển loại bay A-37 và chỉ có mấy ngày các thành phần kỹ thuật đã lo bảo đảm máy bay tốt, kiểm tra chất lượng xăng dầu, chuẩn bị vũ khí, các phương tiện thoát hiểm đảm bảo cho chuyến bay, điều đó thật là phi thường, thần tốc. Gặp nhau phi công và thợ máy tay bắt mặt mừng tưởng như xa nhau lâu ngày mới gặp lại. Nhìn những máy bay A-37 đang nổ máy trong tư thế sẵn sàng, các phi công xiết chặt tay chúng tôi: “Cảm ơn tất cả các đồng chí đã chuẩn bị đầy đủ cho phi đội”. Chúng tôi cũng sung sướng trào nước mắt khi thấy những chiếc máy bay cường kích A-37 bay thử tốt và được Phi đội Quyết Thắng tiếp nhận, nhưng lòng đầy hồi hộp lo âu về chuyến bay chiến đấu có một không hai sắp tới. Gần trữa ngày 28 tháng 4, Phi đội Quyết Thắng gồm các phi công: Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Thành Trung, Mai Xuân Vượng và một phi công đã có giáo dục cải tạo cất cánh từ sân bay Phù Cát đến sân bay Thành Sơn - Phan Rang. Tổ đặc nhiệm chúng tôi cũng lên trực thăng Mi-6 vào sân bay phục vụ cho phi đội... 16 giờ 25 phút ngày 28 tháng 4, Phi đội Quyết Thắng gồm năm chiếc A-37 xuất kích từ Thành Sơn tiến về Sài Gòn. Địch hoàn toàn bất ngờ, không quân và pháo cao xạ bảo vệ sân bay của chúng không kịp phản ứng. Từng loạt bom chính xác dội xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đã phá hủy 24 máy bay địch. Kẻ thù hoang mang khiếp sợ, cả đô thành Sài Gòn rung chuyển... Đã 28 năm trôi qua, các thành viên của tổ đặc nhiệm chưa lần nào được gặp nhau đầy đủ vì mỗi người một ngả, nhưng những kỷ niệm về bảy ngày xoay trần, miệt mài, gan lỳ và hồi hộp đầy lo âu với những chiếc máy bay A-37 lấy được của địch trên sân bay Đà Nẵng, Phù Cát, Phan Rang như chỉ vừa xảy ra hôm qua. Trận đánh, chiến công ngày 28 tháng 4 năm 1975 của Không quân nhân dân Việt Nam đã đi vào lịch sử. Phía sau chiến công ấy, lịch sử cũng mãi khắc ghi thêm chiến công thầm lặng của những người lính kỹ thuật không quân trong Đại thắng mùa Xuân năm 1975 của toàn dân tộc. Người thể hiện ĐOÀN HOÀI TRUNG
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:34:31 am » |
|
KỶ NIỆM MIỀN ĐÔNG Theo lời kể của Đồng chí ĐỖ VĂN NINH Anh hùng LLVTND Nguyên Trung đoàn trưởng 113 - Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công ... Chiến thắng Phước Long như tiếp thêm sức mạnh cho chúng tôi vươn tới, hoàn thành xuất sắc kế hoạch hoạt động quân sự quý I năm 1975 với hai nhiệm vụ: đánh phá bình định phải được coi là trọng tâm nhưng không quên tổ chức tốt lực lượng đánh vào ba mục tiêu: Hốc Bà Thức, kho bom Bình Ý và sân bay Biên Hòa. ... Trong những ngày tháng 3 năm 1975, đất nước đang ở vào thời điểm sôi động, thì Trung đoàn 113 chúng tôi cũng đang tìm cách để trả lời câu hỏi: phải làm gì để hỗ trợ cho các mặt trận; bằng cách nào để phối hợp có hiệu quả với các chiến thắng liên tiếp xảy ra ở Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; ở Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Tuyên Đức, Lâm Đồng... Ngày 5 tháng 4 năm 1975, một cuộc họp cán bộ toàn Trung đoàn được triệu tập để quán triệt nhiệm vụ trên giao: 1. Đánh và chiếm giữ cho được cầu Ghềnh (tức cầu Biên Hòa) và cầu Mới (tức cầu Hóa An). 2. Đánh phá căn cứ của thiết đoàn 15 ngụy ở Hốc Bà Thức. 3. Đánh chiếm một đoạn xa lộ từ Xóm Chợ đến ấp Xuân Thôn không để địch biến đoạn xa lộ này thành sân bay dã chiến để phản kích ngăn chặn lực lượng ta tiến công từ phía bắc xuống, phía đông sang áp sát Sài Gòn. 4. Đánh phá từ hướng tây và sân bay Biên Hòa, khống chế các trận địa pháo địch quanh khu vực đứng chân của Trung đoàn. 5. Hướng đánh địch của Trung đoàn phát triển về phía Thủ Đức. Tuy không được giải thích cụ thể, nhưng qua nhiệm vụ được giao, chúng tôi đã thấy rõ tình thế đang phát triển có lợi cho ta, vùng giải phóng của ta được mở rộng từ Quảng Trị qua Tây Nguyên vào gần tới Long Khánh, Bà Rịa. Lực ta mạnh, thế ta vững, đủ điều kiện đánh chiếm, chốt giữ chứ không đánh rồi rút như trước nữa. Một không khí hào hứng, phấn khởi lan tỏa khắp cuộc họp. Những nước da vàng, môi thâm vì sốt rét khiến cho người ta già trước tuổi, nay hồng lên, nom hoạt bát như trẻ lại. Nét mặt mọi người hớn hở, nói cười râm ran... Không một ai “cò kè” gì về nhiệm vụ, mặc dầu so sánh khả năng thực tế về quân số, vũ khí hiện có của Trung đoàn với nhiệm vụ được giao là một quãng cách khá xa. Nếu là ngày thường, có thể có ý kiến thêm bớt mũi này, hướng kia, còn hôm nay thì trái lại, chúng tôi chụm đầu vào nhau, hăng say bàn bạc tìm cách khắc phục. Không ngại khó khăn gian khổ là bản chất của quân đội cách mạng, nhưng không nêu khó khăn đó là gì, biện pháp khắc phục khó khăn đó ra sao thì cũng là sai lầm, sẽ dẫn tới bị động và lúng túng. Phàm trong quân sự, cái gì đã không chủ động được thì sẽ dẫn tới khó khăn càng nhiều hơn, và như thế khó giành được thắng lợi, nếu không nói là thất bại. Càng gần thắng lợi càng nhiều khó khăn, khó khăn trong thế đi lên. Câu nói xem ra có vẻ công thức lại rất đúng với hoàn cảnh của chúng tôi hiện nay. Cái khó trước đây là làm thế nào tạo ra bàn đạp, bám trụ ở giữa vòng vây quân thù để từ đó tổ chức những trận tiến công bằng “pháo lủi”, bằng kỹ thuật đặc công vào các căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng nhằm phá hủy các phương tiện chiến tranh mà địch tồn chứa ở đấy. Còn bây giờ, tình thế mới, đòi hỏi phải bung ra, đạp bằng các căn cứ, các đồn bót địch mà tiến về phía trước, sáp vô Sài Gòn, tiêu diệt tận gốc sào huyệt quân thù, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, vì vậy đòi hỏi phải có phương thức mà chúng tôi chưa quen làm bao giờ: - Từ phá cầu nay phải giữ cầu. Mà phá bao giờ cũng dễ hơn xây, hơn giữ. - Từ dùng mật tập mà tiến công căn cứ địch, găm lượng nổ ở đó rồi rút ra chờ giờ hẹn nổ, là xem như có thể tính sổ chiến thắng, nay phải đánh vận động, phải chốt, phải giữ, phải dàn quân ra mà đối đầu với địch một cách công khai để góp phần cản địch, tạo thế cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Thế có nghĩa là từ đánh các mục tiêu tự do lựa chọn, nay đánh các mục tiêu bắt buộc do trên giao. Rõ ràng thật là khó! Nhưng cái khó phải vượt qua hôm nay để ngày mai là chiến công. Như thế là chúng tôi đã thắng keo đầu, đánh bật cái khó ra khỏi đầu óc mình. Thắng trong nhận thức khiến chúng tôi sống trong thanh thản mặc dầu trước mắt biết bao nhiêu công việc phải làm, việc nào cũng đòi hỏi phải có quyết tâm cao, kèm theo là những biện pháp cụ thể. Cũng chính vì thế nên chúng tôi không bị lúng túng, trái lại, vẫn minh mẫn, biết chọn ra những cái gì là quan trọng nhất, chủ yếu nhất cần phải tập trung công suất mà giải quyết; việc chính làm trước, việc phụ làm sau, có khi song song cùng tiến hành. Năm tháng quần nhau với quân thù ở cửa ngõ phía bắc Sài Gòn này, chúng tôi đã hiểu nơi đâu là hiểm yếu cần phải ém quân, “lót ổ” sẵn lực lượng của mình, để có thể phát huy tác dụng uy hiếp địch, kéo căng, dàn mỏng thế trận phòng ngự của địch, để đại quân ta có điều kiện nâng cao tốc độ tiến công; cũng chính năm tháng đối mặt với quân thù đó đã là trường học thực tế sinh động, dạy cho chúng tôi biết cách sử dụng lực lượng, biết dùng phương thức đánh địch như thế nào là lợi nhất để thắng chúng. Chúng tôi đã nhanh chóng tìm ra cho mình một phương án tác chiến phù hợp: - Tiểu đoàn 23 có nhiệm vụ đánh chiếm, chốt giữ cầu Ghềnh và cầu Mới; bằng bất cứ giá nào cũng không thể để cho địch chiếm lại cầu và phá cầu. Đồng thời tổ chức một lực lượng mạnh đánh mở rộng về hướng cầu Xa Lộ, chiếm và giữ hai ấp sát cầu Ghềnh để làm bàn đạp tiến công khi địch phản kích, tạo điều kiện vững chắc giữ cầu không cho địch phá, để đảm bảo cho các binh đoàn chủ lực của ta vượt sông Đồng Nai bằng cơ giới, nhanh chóng tiến vào hợp vây Sài Gòn. - Tiểu đoàn 9 có nhiệm vụ bao vây tiêu diệt căn cứ thiết giáp Hốc Bà Thức, không cho địch dùng căn cứ này làm bàn đạp phản kích, đánh vào đội hình tiến công của các binh đoàn chủ lực ta ở hướng đông bắc theo đường 1A phát triển vào các mục tiêu trong nội đô thành phố Sài Gòn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Tiểu đoàn 9 phái một lực lượng sang phối hợp với một bộ phận lực lượng của Tiểu đoàn 23 đánh chiếm và giữ cầu Xa Lộ, đoạn từ Xóm Chợ đến ấp Xuân Thôn, không cho địch lợi dụng đoạn đường này làm sân bay dã chiến, chốt chặn không cho địch từ Thủ Đức lên chi viện cho chi khu quân sự Dĩ An, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 23 giữ cầu. - Tiểu đoàn 174 chia làm hai bộ phận: một đại đội dùng “pháo lủi” từ hướng tây đánh vào sân bay Biên Hoà, các chi khu quân sự Dĩ An, Tân Uyên, điểm cao Châu Thới, kiềm chế hỏa lực pháo địch từ nhiều hướng bắn tạt sườn vào đội hình tiến công của quân ta; hai đại đội còn lại, phối hợp với Tiểu đoàn 23 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giữ cầu. - Đại đội 53 trinh sát tiếp tục đánh kho bom Bình Ý, đồng thời có lực lượng phối hợp với Tiểu đoàn 9 đánh Hốc Bà Thức. Như thế là chúng tôi đã tìm đúng chỗ để đánh, buộc địch phải phân tán, tạo thế sơ hở lớn của chúng ở vùng bắc Sài Gòn, bởi vì những nơi chúng tôi chọn đánh này địch không thể rút lực lượng đi chi viện nơi khác, trái lại một khi bị tiến công, buộc chúng phải đưa quân đến ứng cứu. Thời cơ lớn tạo ra sự nhạy cảm cho người chiến sĩ! Đang trăm công nghìn việc, vậy mà chúng tôi đã gỡ rối rất nhanh, hình thành thế bố trí hiểm, giao nhiệm vụ cho các đơn vị vừa cụ thể vừa thể hiện tính liên hoàn kín với các quy định hiệp đồng chiến đấu khi tình huống nổ ra. Bài học mà chúng tôi rút ra cũng chính là đây. Trong chiến đấu, công việc quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định đến mọi diễn biến tiếp sau, đến thắng lợi của trận đánh là việc hình thành cho được thế trận hiểm, thì quân ít mà hóa đông, rộng mà vẫn kín; địch nhiều mà hóa ít, không phát huy được hiệu lực chiến đấu, đành chấp nhận sự thất bại. Đó là ý định của chúng tôi. Nhưng mong muốn chủ quan đó trở thành hiện thực không phải đi trên con đường thẳng, thênh thang. Kẻ địch càng đến ngày tận số, chúng càng điên cuồng chống trả quyết liệt. Mất Huế, địch hy vọng còn Đà Nẵng! Mất Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, địch lấy Bình Thuận, Ninh Thuận làm vành đai phòng thủ tuyến ngoài và lập sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 ở đây để điều hành công việc “tử thủ” bảo vệ đất còn lại của cái gọi là Việt Nam cộng hòa. Khi tuyến “tử thủ” này bị chọc thủng, tên trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh bộ chỉ huy tiền phương bị bắt tại sân bay Thành Sơn (thị xã Phan Rang) thì Mỹ lại ra lệnh cho quân ngụy Sài Gòn: - Bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ cho được ba tỉnh Long Khánh - Biên Hoà - Bà Rịa! Thực hiện lệnh này, Phạm Quốc Thuần - tư lệnh quân đoàn 3 ngụy, như một cái máy, lệnh tiếp cho các đơn vị dưới quyền: - Bằng mọi giá, các ông phải chặn đứng các mũi tiến công của Cộng quân từ Ninh Thuận vào, từ Phước Long xuống!
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:35:10 am » |
|
Đúng là đã đến bước đường cùng. Điều an ủi chúng đã hết. Không giữ cho được ba tỉnh miền Đông này thì Sài Gòn bị uy hiếp, ngụy quân và ngụy quyền trung ương của Mỹ hết nơi ẩn náu.
Đông Nam Bộ bởi thể mà trở nên ngột ngạt vì mật độ binh lính địch quá dày. Đi bất cứ đâu cũng đụng phải lính là lính: lính thất trận từ Đà Nằng vào, từ Tây Nguyên xuống, từ Sài Gòn bị đẩy ra để làm nhiệm vụ “tử thủ”. Đông Nam Bộ vào thời điểm này như một cái túi khổng lồ đựng đủ loại lính thất trận từ các nơi kéo về, càng gây ra cảnh hỗn loạn: lính bắn lính, lính bắn sĩ quan, lính bắn dân để cướp của kiếm cái sống...
Không khí chiến tranh càng trở nên ngột ngạt.
Chiến sự cũng trở nên sôi động.
Điểm nóng của tình hình tập trung tại Xuân Lộc - nơi đầu mối của đường 1A và đường 20 - Sài Gòn - Đà Lạt.
Sư đoàn 18 do tên chuẩn tướng Lê Minh Đảo (được xem là người hùng của quân lực Việt Nam cộng hòa, được Ma-tin, đại sứ Mỹ ở Việt Nam lúc đó tin dùng) chỉ huy, làm nhiệm vụ biến nơi đây thành vành đai phòng thủ cuối cùng của Sài Gòn. Vì thế Xuân Lộc suốt ngày đêm ầm ầm, bầu trời lúc nào cũng một màu vẩn đục bởi khói bom và đạn đại bác cày xới.
Ngày 21 tháng 4 năm 1975, thị xã Xuân Lộc được giải phóng, vòng vây của quân ta càng áp sát vào sào huyệt cuối cùng của Mỹ - ngụy. Âm thanh chiến tranh càng bị dồn nén rất căng, đụng vào đâu, dù chỉ là lực lượng nhỏ cũng có thể gây ra nhũng tiếng nổ lớn.
Giữa lúc chúng tôi đang triển khai thực hiện kế hoạch đã vạch, thì điện của Sư đoàn lệnh cho toàn Trung đoàn 113 bàn giao địa bàn cho đơn vị bạn, hành quân cấp tốc sang hướng tây, hướng Tân Uyên (thuộc tỉnh Bình Dương) để nhận nhiệm vụ mới.
Quãng đường bình thường phải đi mất bốn, năm ngày đến nay rút ngắn, chỉ hai ngày đêm đã có mặt ở nơi quy định. Phía trước - thành phố Sài Gòn giục giã chúng tôi nâng cao tốc độ hành quân.
Trong hai ngày 22 và 23 tháng 4, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nắm địch, đợi lệnh là thực hành tiến công vào các mục tiêu vừa được giao, thì ngày 24, Sư đoàn lại điện xuống lệnh cho Trung đoàn phải nhanh chóng đưa một lực lượng về lại hướng đông đánh chiếm Hốc Bà Thức...
Ngay sau khi nhận điện, Đảng ủy Trung đoàn họp quán triệt và quyết nghị cử tôi phụ trách Tiểu đoàn 9 trở lại hướng đông vì chúng tôi rất quen thuộc địa bàn này. Ở đó chúng tôi thuộc đường đi lối lại như chính nhân dân địa phương vậy. Nhưng đường trở lại hướng đông không dễ dàng như trước nữa, vì địch tăng cường lực lượng, ngăn chặn hoạt động chuyển quân của ta.
Đi theo con đường nào ? Đó là câu hỏi được nêu ra.
Hồi những người dự họp cũng trả lời rất nhanh: Không có đâu là an toàn tuyệt đối, nêu cầu toàn thì lỡ thời cơ. Tất nhiên cần tránh những tổn thất không cần thiết. Nhưng khi cần, nếu phải đổ máu vì chiến thắng chung thì sẵn sàng chấp nhận. Không thể tính toán thiệt hơn với Tổ quốc lúc này!
Ngày 26 tháng 4, đội hình hành quân của Tiểu đoàn 9 đã về tới Bùng Binh, vượt thời gian quy định là hai ngày. Đành rằng bất cứ nơi nào của vùng đất miền Đông này đều có những gắn bó, những kỷ niệm khó quên, nhưng với chúng tôi Bùng Binh vẫn được xem như nơi chôn nhau cắt rốn trong cuộc đời bám trụ chiến đấu của mình. Trở lại Bùng Binh chúng tôi thấy tình cảm mình ấm hẳn lên, thanh thản hẳn lên, nỗi nhớ mong da diết coi như được giải quyết. Bộ phận ở lại trụ bám Bùng Binh thấy chúng tôi trở về thì reo vui, tay bắt mặt mừng ùa ra đón chúng tôi, ôm nhau, bắt tay nhau, dành cho nhau những nụ cười hết cỡ và kèm theo cả giọt nước mắt vì quá xúc động, như gặp lại người thân đi xa lâu ngày, nay mới trở về. Tất cả chủ và “khách” chuyện trò râm ran, vang động cả khu rừng:
- Ngày nào chúng tôi cũng nhắc cũng mong Tiểu đoàn 9 chóng xong nhiệm vụ về lại quê hương!
- Biết mà, nhất định các ông dù thế nào rồi cũng phải về lại ngôi nhà này, chớ đi sao đặng?
Tôi cũng hòa theo cái vui của anh em:
- Các cậu làm như vợ chồng Ngâu không bằng, mới có mấy ngày mà cứ như xa nhau hàng năm!
Cái vui gặp gỡ nhau lắng xuống, nhường chỗ cho công việc chuẩn bị chiến đấu tuy diễn ra thật khẩn trương mà cũng thật là vui. Công việc ra trận hôm nay sao thiêng liêng đến thế! Tất cả như chất men say, thôi thúc lòng người vượt lên mọi gian lao và vất vả, quên cả ăn, ngủ để lao vào công việc.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:36:33 am » |
|
Đánh chiếm Hốc Bà Thức
Đây là căn cứ của thiết đoàn 15 ngụy có diện tích trên 24 ki-lô-mét vuông, nằm án ngữ giữa đường 1A và đường 24.
Nhổ được căn cứ này là chọc thủng một mắt xích rất quan trọng trong dải phòng ngự bắc Sài Gòn của địch, và cũng là làm sạch địa bàn cho chủ lực ta tiến vào tập kết, xốc lại đội hình trước khi tiến vào sào huyệt cuối cùng của xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai.
Thắng lợi của trận đánh sẽ gây nên phản ứng dây chuyền, hệ thống đồn bốt địch quanh vùng bị lung lay, các trận địa pháo phía sau của địch bị uy hiếp, và sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy đặt ở Biên Hòa bị đe dọa nghiêm trọng...
Mãi sau này khi tổng kết Chiến dịch Hồ Chí Minh, mọi người mới thấy tiến công vào Hốc Bà Thức là trận chiến đấu có ý nghĩa tạo thế, còn lúc ấy bằng vốn sống thực tế chiến đấu của mình, thấy rằng nếu thắng địch ở đây sẽ gây cho chúng nhiều xáo động, vì vậy mà ai nấy đã dồn công sức của mình vào làm tốt công việc phục vụ cho trận đánh.
Ngoài yêu cầu chung của chiến dịch thôi thúc, đối với Trung đoàn 113 đặc công còn có cái “hậu” riêng bức xúc nữa. Chính cái căn cứ này đã gây cho chúng tôi không biết bao nhiêu khó khăn, thậm chí cả đổ máu nữa trong những năm tháng đứng chân ở đây. Đặt căn cứ ở Hốc Bà Thức, địch có thể thường xuyên uy hiếp vùng giải phóng của ta, đồng thời là hàng rào vững chắc ngăn chặn không cho ta thâm nhập vào vùng chúng tạm thời kiểm soát. Đặc biệt, về mùa mùa căn cứ này rất lợi thế, chung quanh là trảng trống, sình lầy, ta đột nhập vào cũng khó, ngược lại chúng có thể từ đây quan sát khống chế ta trong phạm vi xa, ngăn cản không cho ta di chuyển từ trong ra, từ ngoài vào.
Với vị trí có tầm lợi hại như thế, nên sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, địch càng chú ý tăng cường sức mạnh cho nó. Ngoài thiết đoàn 15 thường xuyên có mặt, địch còn điều thêm về đây liên đoàn 374 biệt động quân, hai đại đội biệt kích thuộc lữ đoàn 81 Biên Hòa.
Vì vậy khi nhận nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ này, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 9 ai nấy đều phấn khởi, thở phào nhẹ nhõm; thế là thời cơ rửa hận đã đến!
Đánh như thế nào và đánh bằng cách nào? Đó là một câu hỏi chung mà tất cả chúng tôi đều có nhiệm vụ phải trả lời đúng và nhanh, không cho phép kéo dài trong việc tranh luận. Mọi người đều có quyền hiến kế nhưng phải ngắn gọn, rõ, cụ thể, không được hô hào chung chung, không được lấy tư tưởng, nhận thức thay cho biện pháp.
Với tinh thần ấy, chúng tôi tìm được cách đánh phù hợp dưới đây:
Một, lực lượng đánh chia thành bốn mũi, theo bốn hướng, dùng kỹ thuật binh chủng mà đột nhập (mật tập chứ không cường tập), giải quyết gọn trong đêm.
Hai, tổ chức một số tổ hỏa lực tiến công “lai rai” về mọi hướng khác, nhằm đánh lạc sự phán đoán của địch về hướng đột nhập của ta, gây cho địch những ngộ nhận, cho rằng lực lượng đối phương đông, đâu đâu cũng tiến công, uy hiếp chúng.
Ba, tổ chức một lực lượng đánh địch phản kích định chiếm lại mục tiêu đã mất.
Bốn, trong khi đại bộ phận Tiểu đoàn 9 tiến công Hốc Bà Thức, thì đội vũ trang tuyên truyền của Trung đoán và một bộ phận của đại đội 53 trinh sát cùng phối hợp nổ súng, đánh chiếm ấp Bình Trị, mở rộng địa bàn ra phía sau, bảo vệ sở chỉ huy trung đoàn.
Lễ xuất phát bước vào trận đánh được tổ chức đơn giản nhưng rất trang nghiêm tại bìa rừng Bùng Binh.
Đồng chí Hai Thoạn - Chính ủy sư đoàn trao cờ Quyết thắng cho đơn vị vào cắm trên nóc căn cứ Hốc Bà Thức.
Mỗi chúng tôi trào dâng lên một cảm xúc khó nói nên lời. Ai cũng phấn khởi nhưng rất nghẹn ngào vì được biết chiến dịch cuối cùng này là chiến dịch mang tên Bác.
Thế là mỗi chúng tôi lại nghĩ về Bác với một tình cảm trân trọng thiêng liêng bội phần.
Trong đội ngũ những người vào trận đêm nay tuổi đời còn rất trẻ, gần như không ai có vinh dự được gặp Bác, mà chỉ được biết cuộc đời của Bác, những mẩu chuyện về đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Bác qua những ngươi anh, người cha kể lại, qua đọc sách, báo, qua nghe đài truyền thanh. Mỗi người bằng trí tưởng tượng của mình, đều hình dung hình ảnh Bác về dự lễ thành lập Binh chủng (19 tháng 3 năm 1967) và chính mình như được nghe Bác huấn thị:
“Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải có cố gắng đặc biệt”.
Giờ đây chúng tôi mang theo lời Bác dạy đi vào trận đánh hiệp đồng chính thức với đại quân ta trong chiến dịch mang tên Người với một tình cảm bồi hồi nhớ Bác, nhưng cũng rất lạc quan, rất vững tin vì vẫn có Bác - “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”.
Đêm nay, 28 tháng 4, chúng tôi hành quân dưới làn pháo cỡ lớn của quân ta đang bắn dữ dội vào sân bay Biên Hoà, vào sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy. Mặt đất rung lên từng hồi và bầu trời chao đảo. Sau những tiếng nổ dữ dội là những ánh chớp xanh, đỏ tung toé, đan vào nhau, tất cả đều chụp xuống các đồn bốt địch.
Đêm 28 tháng 4 là “Đêm chiến tranh”! Đúng là như thế! Không gian của miền Đông Nam Bộ, ở vùng cửa ngõ bắc Sài Gòn này đan dày những tiếng nổ! Vậy mà chúng tôi không hề có cảm giác là ác liệt! Ngược lại thấy mình đang sống trong tâm trạng phấn chấn và náo nức.
Đội hình hành quân đến cách mục tiêu chưa đầy một ki-lô-mét thì dừng lại triển khai sở chỉ huy và dồn lực lượng làm công tác chuẩn bị lần cuối trước khi các mũi thực hành đột nhập. Vừa lúc ấy đội vũ trang tuyên truyền cũng hoàn thành nhiệm vụ kịp thời trở về phối thuộc với Tiểu đoàn 9 đảm nhận công việc bảo vệ sở chỉ huy.
Đồng chí Nguyễn Văn Tuyến - Tiểu đoàn phó chỉ huy trận đánh.
Ở Sở chỉ huy, chúng tôi theo dõi đến từng phút về phía mục tiêu, nghe ngóng động tĩnh.
Kim đồng hồ chỉ 24 giờ. Lúc này tiếng súng chung quanh im hẳn, chỉ thoáng nghe tiếng đại bác cầm canh từ xa vọng lại. Địch thầm đoán có thể sắp qua một đêm hãi hùng. Chúng mong trời sáng đến từng giây. Nhưng chính lúc không gian có vẻ yên ắng là lúc các binh đoàn chủ lực của ta đang ầm ầm chuyển động, báo hiệu một ngày căng thẳng mới bắt đầu. Số phận bi thảm của đội quân đánh thuê cho Mỹ đã bị rút ngắn, chờ giờ cáo chung.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:38:10 am » |
|
Đúng vào lúc 2 giờ sáng, từ đầu dây bên kia, đồng chí Phùng Truyền - Chính trị viên gọi điện báo cáo:
- Các mũi đã lọt vào trong căn cứ.
- Động viên các đơn vị bí mật khẩn trương triển khai đến từng mục tiêu đã được phân công cho kịp giờ nổ súng! - Tôi ra lệnh tiếp.
Bỗng có tiếng súng nổ!
Súng nổ trước giờ quy định một tiếng. Rõ ràng là bị lộ!
Rồi tiếng nổ dồn dập hơn!
Sở chỉ huy chuyển động, ai cũng đổ dồn vào câu hỏi: Tại sao súng nổ sớm? Nếu lộ thì đối phó thế nào? Có dùng mật tập nữa hay phải dùng cường tập, và như vậy thì lấy đâu ra lực lượng?
Hàng loạt câu hỏi cứ đặt ra trước mắt chúng tôi...
Riêng tôi đứng ngồi không yên. Mặc dầu đồng chí Tuyến và Truyền chưa có báo cáo cụ thể, nhưng tôi trở nên hơi lúng túng. Đánh trước giờ quy định đối với bộ đội đặc công là tối kỵ. Như vậy sẽ có thương vong! Thế có nghĩa là người chỉ huy đã không làm tròn trách nhiệm vì không dự kiến trước tình huống này có thể xảy ra để có kế hoạch chủ động đối phó...!
Tôi như đang lên cơn sốt, đầu nóng ran, trán lấm tấm mồ hôi, ngực như có vật gì đè nặng; tôi chộp lấy máy điện thoại định gọi xuống Tiểu đoàn 9 xem sự thể ra sao thì vừa lúc chuông réo đổ hồi, nghe inh cả tai.
Không chờ tiếng nói từ đầu dây bên kia, tôi nói như thét trong máy mặc dầu biết rằng có thét to thì máy điện thoại cũng vẫn giữ âm lượng đủ nghe:
- Làm sao! Làm sao lại có súng nổ trước giờ quy định?
- Báo cáo thủ trưởng! Cánh quân đột nhập vào hướng nam bị lộ.
- Bị lộ? - Tôi hỏi lại như sợ mình nghe nhầm.
- Rõ! - Tiếng đồng chí Truyền khẳng định.
Tôi như gắt lên:
- Phải vượt khó khăn, xốc lên mà đánh! Chần chừ lúc này là chết! Rõ chưa! Rõ chư...a!...
Rồi chợt nghĩ thấy mình gắt là vô lý. Dù sao thì việc đã rồi, lúc này đừng làm cái gì gây rối cho cấp dưới, như thế càng rối thêm, sẽ mất bình tĩnh, mất sáng suốt đối phó... Thế là tôi vội hạ giọng, cổ trấn tĩnh lại, ôn tồn nói:
- Đồng chí Phùng Truyền đâu? Nghe rõ tôi nói không? -Rõ!
- Cố gắng động viên anh em đánh thật tốt. Bằng giá nào cũng phải chiếm cho được Hốc Bà Thức! Đây là trận đánh có quan hệ đến diễn biến chung của chiến dịch.
Tôi nghe rõ tiếng nói chậm rãi, tự tin của đồng chí Phùng Truyền từ đầu dây bên kia:
- Thủ trưởng cứ yên tâm! Bộ đội đang bám chắc từng góc chiến hào để triển khai đội hình chiến đấu.
Tôi ngồi xuống cạnh máy điện thoại một cách nặng nề, tay vẫn không rời máy nghe. Toàn thân vẫn nóng ran như đang lên cơn sốt. Đầu óc tôi lúc này như sợi dây đàn đang căng lên hết cỡ. Tiếng anh Thịnh - Chính ủy Trung đoàn như văng vẳng đâu đây, nghe sao mỉa mai chứ không phải là lời chúc mừng chân thành trong buổi chia tay nhau trước khi đi vào trận đánh: “Ráng lên Ninh nhé! Bọn mình tin tưởng ở Ninh đấy. Cả Trung đoàn hiện nay số người có kinh nghiệm tổ chức đánh đặc công như Ninh không còn nhiều đâu. Ninh gắng hoàn thành nốt những công việc cuối cùng của trận đánh...”.
Nghĩ đến đây, người tôi tự nhiên run lên bần bật. Chả nhẽ thần sốt rét lại lợi dụng lúc này để hoành hành cơ thể mình hay sao? Rồi tôi tự trách sự thiếu bình tĩnh của chính mình.
Trong lúc ở căn cứ Hốc Bà Thức tiếng súng mỗi lúc một rộ lên, thì ở sở chỉ huy lại lắng xuống. Ai cũng lộ rõ trên khuôn mặt vẻ lo lắng, đứng ngồi không yên. Riêng tôi buồn đến mức không đánh diêm hút thuốc nữa! Miệng tôi đắng ngắt, cổ như tắc nghẹn lại.
Tất cả mọi người hồi hộp mong tin kết quả chiến đấu.
Tôi lại quay một vòng điện thoại, gọi:
- Phùng Truyền đâu! Tình hình thế nào rồi, mũi hướng nam đã vào được bên trong căn cứ chưa?
- Báo cáo! Các mũi đánh tốt, có nhiều triển vọng kết thúc thắng lợi trước lúc trời sáng.
- Nhưng tôi muốn biết mũi hướng nam hiện nay ra sao?
Khoảng 30 phút sau, tiếng súng thưa dần, rồi lặng đi, không gian gần như trở lại yên tĩnh. Hồi chuông điện thoại réo lên bất ngờ. Tôi cầm vội ống nghe:
- Ba Ninh đâu! Anh Ninh đâu! Báo cáo anh, quân ta đã hoàn toàn làm chủ căn cứ! ị
Tôi đặt ống nghe xuống máy và thở phào nhẹ nhõm, như trút được một gánh nặng, người thanh thản, lâng lâng. Sau này khi nhắc lại, anh Phùng Truyền đã làm mấy câu thơ nhạo tôi:
Trăm trận dư bình tĩnh Trận cuối cùng bỗng "run" Tiếng "thở phào" bên ấy Bên này tưởng là "bom”!
Gọi điện giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 9 xong, chúng tôi tranh thủ xuống tổ chức lại lực lượng làm nhiệm vụ chiếm giữ căn cứ. Đây cũng là nhiệm vụ rất quan trọng của người chỉ huy lúc này, cần phải tập trung mọi cố gắng tối đa để làm cho tốt. Bởi vì đánh đã khó, giữ càng khó hơn. Trong giữ có đánh, đánh quân địch phản kích lấy lại, chống lại phi pháo địch với âm mưu "không ăn thì đạp đổ", dùng bom đạn tới mức cao nhất để hủy diệt căn cứ và hủy diệt cả lực lượng đối phương đánh chiếm giữ căn cứ đó. Thành ra chỉ huy chiếm giữ là rất phức tạp, phải lo chống đỡ với mọi tình huống ác liệt có thể xảy ra.
Trước hết chúng tôi quyết định di chuyển sở chỉ huy vào trong căn cứ để nắm tình hình nhanh và cụ thể hơn; để kịp thời chỉ huy các mũi, các hướng đối phó với mọi diễn 1 biến mà kẻ địch ngoan cố gây ra.
Sở chỉ huy vào đến địa điểm mới thì trời đã tang tảng sáng, chưa rõ mặt người. Phía chân trời xa ở hướng đông, một vầng hồng nhạt đã dâng lên, báo hiệu một ngày nắng đẹp, nhưng như thế đối với chúng tôi lại chẳng hay ho gì, vì địch dễ quan sát hơn, các phi vụ bắn phá vào nơi chúng tôi dừng chân, đang trụ bám này sẽ chính xác hơn, bơi vì không có mây mù che khuất.
Tôi hội ý với các đồng chí cán bộ chỉ huy tiểu đoàn và chỉ huy các mũi để nhận định, phán đoán âm mưu thủ đoạn địch sẽ dùng trong ngày, biện pháp đối phó của ta.
- Địch nhất định sẽ phản kích.
- Điều đó khỏi bàn, nhưng địch phản kích như thế nào, bằng lực lượng gì? - Tôi hỏi lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:39:40 am » |
|
Đúng là trong quân sự, nhất là lĩnh vực chiến đấu, ở vào tình huống như hiện nay, không thể cho phép tác phong làm việc đại khái, không thể chỉ đưa ra những nhận định chung với những biện pháp cũng rất chung với lời lẽ hô hào phải quyết tâm, phải anh dũng tiến lên... Nhất nhất tất cả các vấn đề phải cụ thể. Chiến đấu là một trạng thái thiên biến vạn hoá, tưởng như không có quy luật, vì vậy muốn điều khiển được nó, muốn bắt nó diễn biến theo chiều hướng có lợi cho ta, thì phải có biện pháp xử trí cụ thể. Không thể lấy ý chí thay cho biện pháp được!
Chúng tôi thống nhất nhận định: địch sẽ dùng xe tăng cùng với tàn quân biệt kích còn sống sót từ hướng đông tiến ra phản kích chiếm lại căn cứ. Biện pháp đối phó của ta là:
- Các mũi nhanh chóng ổn định lại tổ chức, bố trí lực lượng ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, có khả năng đánh địch phản kích từ mọi hướng; tranh thủ cải tạo công sự, làm mới một số hầm hào phục vụ chiến đấu bảo vệ căn cứ.
- Đội vũ trang tuyên truyền và một đại đội của Tiểu đoàn 9 làm nhiệm vụ chốt giữ ở hướng chính theo trục đường từ sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy vào Hốc Bà Thức.
Mặt khác chúng tôi tập hợp kết quả trận đánh rồi thông báo kịp thời xuống các mũi, để động viên khí thế bộ đội, phát huy tinh thần dũng cảm chiến đấu, đánh thắng mọi đợt phản kích của địch, giữ vững căn cứ, không cho địch chiếm lại. Theo con số tập hợp bước đầu, trận đánh đêm qua, ta diệt tại chỗ 60 tên; bắt 7 tên, trong đó có tên đại tá thiết đoàn trưởng...
Để tạo điều kiện thuận lợi hoàn thành nhiệm vụ, tôi điện đề nghị lực lượng pháo Quân đoàn 1 của ta bắn chế áp trận địa pháo ở dốc Ông Hoàng, đảm bảo cho Tiểu đoàn 9 làm nhiệm vụ chốt giữ căn cứ, tạo thế cho chủ lực của ta nâng cao tốc độ tiến công, trước mắt là đánh chiếm sân bay Biên Hoà và thị xã Biên Hoà, làm bàn đạp triển khai lực lượng hoàn thành nhiệm vụ tiếp sau.
Sở chỉ huy của chúng tôi đặt ở căn hầm nằm phía đông nam căn cứ. Hầm hình chữ nhật, khá rộng, có lỗ châu mai quan sát ra chung quanh rất tốt, tiện cho việc chỉ huy bộ đội. Bằng thắng lợi này, Tiểu đoàn 9 đã góp phần nhỏ bé của mình tạo thế cho chiến dịch, ngược lại các cánh quân của chiến dịch cũng đang tạo thế cho các chiến sĩ Trung đoàn 113 đặc công hoàn thành nhiệm vụ được giao. Làm nhiệm vụ chốt giữ căn cứ Hốc Bà Thức, chúng tôi có điều kiện được biết các cánh quân của chiến dịch đang hiệp đồng ăn ý qua âm thanh của các loại súng vọng về mà chúng tôi nghe được. Phía bên trái, Quân đoàn 2 đang vượt qua căn cứ Nước Trong; bên phải, chúng tôi nghe rất rõ pháo 130mm của Quân đoàn 1 đang nổ, chi viện cho bộ binh đang tiến quân trên đường 16 về hướng Tân Uyên, Lái Thiêu... Trời càng nắng, không khí chiến đấu càng khẩn trương. Tiếng súng hiệp đồng của các Quân đoàn 1, 2, 3, 4 trên vùng đất miền Đông phát ra một âm thanh hài hoà nghe náo nức lòng người, có sức thôi thúc những bàn chân người chiến sĩ đi nhanh, thật nhanh về phía trước.
Tranh thủ giữa hai trận đánh, chúng tôi ngắm lại quang cảnh nơi đơn vị đang dừng chân. Cái căn cứ mà địch vẫn cho là “bất khả xâm phạm” này đã hết thiêng. Giờ đây chúng tôi đã đi vào trong lòng nó, trước mắt mọi người nó không còn gì là oai phong lẫm liệt nữa. Nó như con thú mang thương tích đầy mình; lác đác vài chiếc nhà cháy dở hoặc sập hẳn xuống, mấy chiếc xe 113 bị trúng đạn hôm qua vẫn âm ỉ cháy, thỉnh thoảng một tràng đạn nhỏ ở trong xe nổ lẹt đẹt nghe đến lạc lõng.
Không gian yên tĩnh xảy ra không lâu. Biết như thế nên chúng tôi đã ở tư thế sẵn sàng. Phấn khởi với thắng lợi nhưng không quá say sưa mà quên nhiệm vụ tiếp sau của mình. Đúng 6 giờ 15 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, địch mở đầu cuộc phản kích bằng một loạt pháo dồn dập vào đội hình Tiểu đoàn 9, kéo dài hai giờ đồng hồ. Đạn pháo các cỡ 100, 105 và 155mm trùm lên căn cứ, tạo thành những cột khói bay lên toả ra vẩn đục bầu trời. Nhà cửa lại đổ thêm, những vạt cỏ hiếm hoi bị cháy và trốc luôn cả gốc bay vật vờ trước khói bụi.
Sau đợt pháo bắn dọn đường là bộ binh địch có xe tăng yểm trợ chia làm ba mũi tiến vào căn cứ. Không gian càng bị dồn nén bởi có thêm tiếng xe tăng địch gầm rú, địch muốn bằng tiếng gầm rú đó uy hiếp đối phương trước giờ giãy chết của chúng.
Về phía ta, vẫn im ắng, cái im ắng khiến địch cũng phải sợ. Chúng vừa tiến vừa rụt rè nghe ngóng. Bởi đây không phải là trận địa không người. Các mũi của ta đã ở trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh.
Tôi cầm ống nói, gọi trực tiếp xuống các hướng nhắc lại nhiệm vụ đã giao, và nhấn mạnh:
- Chờ địch đến thật gần mới nổ súng! Phải tiết kiệm đạn và nước uống để đánh địch được lâu hơn.
Như trên đã kể, căn cứ Hốc Bà Thức dài và rộng, trong khi lực lượng của chúng tôi chỉ có một tiểu đoàn, không đủ quân mà rải khắp được. Vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến mất còn của địa bàn mà chúng tôi vừa mới giành được là phán đoán chính xác hướng tiến công chủ yếu của địch để tập trung lực lượng bảo vệ; phải tỉnh táo và cảnh giác không để địch nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của ta.
Chúng tôi đã thành công trong việc này, đồng thời cũng thành công cả việc đánh lạc hướng địch, nghi binh khéo, làm cho chúng không biết lực lượng cụ thể của ta. Ta ít địch tưởng nhiều, vì vậy chúng tiến quân rất dè dặt.
Trên tất cả các hướng, chúng tôi chờ địch vào cách 10 mét mới nổ súng.
Bị đánh bất ngờ, xác địch nằm ngổn ngang ngay trước mặt các chiến sĩ; số sống sót lùi ra xa gọi pháo bắn vào trận địa ta. Tiếp sau, bộ binh địch lại bị những tên ác ôn hò hét, thúc lưng buộc phải tiến lên.
Trận đánh cứ giằng co rất ác liệt trước mép trận địa của các chiến sĩ ta. Mãi cho đến 9 giờ 15 phút mới kết thúc.
Thế là những chiến sĩ đặc công chúng tôi từ chỉ quen tiến công địch bằng phương thức mật tập với lực lượng nhỏ lẻ nay lần đầu tiên đánh địch đi theo lối dàn trận giữa ban ngày với nhiệm vụ chốt giữ không phá hủy rồi rút như trước đây.
Khí thế cán bộ chiến sĩ lên rất cao sau khi đã đánh lùi đợt phản kích thứ nhất của địch định chiếm lại căn cứ Hốc Bà Thức.
Chúng tôi củng cố trận địa, sửa chữa lại hầm hào và xốc lại đội hình chuẩn bị đánh địch phản kích tiếp theo. Một giờ sau đó địch lại bắt đầu tiến công.
Thoạt đầu địch bắn cối 81mm vào cổng chính của căn cứ. Cối chuyển làn, hai tiểu đoàn địch xông lên. Xe tăng địch từ hướng sở chỉ huy quân đoàn 3 nguỵ vận động ra vừa gầm rú vừa bắn xối xả đạn vào đội hình quân ta trợ oai cho bộ binh địch chiếm lại mục tiêu đã mất. Kho đạn của địch trong căn cứ trúng đạn pháo của địch nổ theo...
Đầu óc chúng tôi ong ong lên vì tiếng đạn pháo của ta và của địch nổ liên hồi.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:43:33 am » |
|
Căn cứ Hốc Bà Thức phút chốc lại chìm trong đạn khói.
Đúng như phán đoán của chúng tôi, lần phản kích thứ hai, địch vẫn tập trung lực lượng đánh vào hướng cổng chính. Vì vậy ở đây đã diễn ra cuộc đọ sức giữa một bên là địch ngoan cố theo kiểu “chó cùng cắn dậu”, còn ta thì với tư thế chiến thắng, đánh địch rất đàng hoàng, mưu trí và cũng rất anh dũng.
Tôi nhắc đồng chí Khuê phụ trách chốt giữ hướng cổng chính luôn luôn liên lạc bằng điện thoại về sở chỉ huy, báo cáo mọi diễn biến phức tạp xảy ra để kịp thời xử trí.
Đường dây liên lạc giữa sở chỉ huy và mũi do đồng chí Khuê chỉ huy vẫn thông suốt, nhờ đó mà chúng tôi nắm được đầy đủ những gì đã diễn ra ở đây:
Trận đánh bắt đầu và mức độ ác liệt cũng xảy ra ngay từ đầu. Đồng chí Nguyễn Đức Hoà, y tá đại đội liên tục bắn bảy quả đạn B40 vào đội hình quân địch đang uy hiếp sườn trái đại đội đồng chí Xuân. Hết đạn, đồng chí Hòa nhảy lên đỉnh lô cốt dùng đại liên của địch đặt sẵn ở đây bắn lại địch. Bị đòn bất ngờ, đội hình phản kích của địch bị xáo trộn và buộc chúng phải rút ra xa, gọi pháo tiếp tục bắn chế áp vào trận địa của ta. Nhưng ở hướng khác, địch đã cùng một lúc bắn 15 quả đạn M72 vào khu vực đồng chí Hòa chốt giữ để cứu nguy cho đồng bọn đang bị quân ta uy hiếp. Một mảnh đạn bay vào mắt trái Hòa; đồng chí Khuê lao lên bế Hòa xuống và nói như ra lệnh:
- Hòa lui về phía sau!
Mắt phải Hòa vẫn mở to nhìn về phía trước - phía có địch. Mặt Hòa đen sạm vì khói đạn địch, nhưng vẫn rạng rỡ niềm phấn khởi, lạc quan, trả lời:
- Không việc gì đâu anh Khuê ạ! Còn một mắt vẫn nhìn thấy địch...
Bộ binh địch được xe tăng dẫn đường nhưng vẫn không nhích thêm được bước nào. Chúng lùi ra và lại gọi pháo bắn thị oai vào phía cổng chính.
Một chiến sĩ có mặt ở khoảng không gian đầy ác liệt này đã nhận xét hóm hỉnh sau mỗi lần pháo địch bắn thị oai: “Sức lực của địch như một cơn mưa rào ào ào trút nước rồi tạnh hẳn, không đủ nước để làm thấm rễ cây”!
Trời về trưa. Tiếng súng thưa dần và tắt hẳn. Các mũi tranh thủ củng cố hầm hào và rút kinh nghiệm trận đánh.
Mũi ở hướng cổng chính theo đồng chí Khuê và đồng chí Xuân báo cáo: đạn đã hết!
Chúng tôi hội ý chớp nhoáng và thống nhất xử trí: điêu lực lượng và dồn đạn ở hướng khác, hướng nam sang chi viện cho hướng cổng chính, chỉ để lại ở đây một lượng đạn rất ít, đủ để làm nhiệm vụ phân tán địch.
Xong việc, tôi tranh thủ xuống thăm đại đội đồng chí Xuân đang làm nhiệm vụ chốt giữ ở hướng này.
Trời nóng. Không khí oi bức. Đạn nổ. Lửa cháy. Đủ các thứ mùi bốc lên nồng nặc. Nước uống cạn dần, nhiều đồng chí yêu cầu chi viện nước. Đầu óc mọi người căng thẳng vì phải dồn trí lực vào việc đối phó với quân thù.
Địch lại tập trung dội pháo vào căn cứ. Pháo dứt, một chiến sĩ liển chửi đổng:
- Đ. mẹ! Không còn gì chịu chơi hơn là pháo à. Thử làm trò khác đi cho đỡ buồn nghen!
Câu nói vui ấy trở nên có duyên, nhiều tiếng cười hưởng ứng rộ lên, kéo không khí chùng xuống, bớt căng thẳng.
Một đồng chí mặt đen nhẻm, vừa lắp băng đạn mới vào khẩu AK, vừa cười để lộ hàm răng cải mả nhem nhuốc như người nghiện trầu, đọc liền bốn câu thơ rất trôi chảy, vần điệu như bài thơ “con kiến mà leo cành đa”:
Bọn địch muốn zô Hốc Bà Thức Chúng zô không được nên đành phải ra Chúng ra rồi chúng lại zô Chúng zô không được chúng thời lại ra.
Liền đó là một trận cười thỏa thích. Mấy chiến sĩ vừa đấm vào lưng đồng chí đọc thơ vừa nói chọc:
- Thơ con cóc!
- Thơ thẩn.
Xuân - Đại đội trương lúc này cũng đang ở cùng hầm với nhóm chiến sĩ trẻ đang làm nhiệm vụ, nhìn tôi, cười: rồi quay ra nói với mọi người:
- Cậu Lân dám múa rìu qua mắt thợ! Cậu không thấy “cụ Đỗ Phủ” Ninh - nhà thơ lớn của trung đoàn xuống thăm chúng ta à? - Bỗng Xuân hạ thấp giọng, nghiêm chỉnh giới thiệu - Báo cáo anh, đây là đồng chí Lân quê ở Lạng Sơn mới từ bộ binh chuyển sang.
Lân quay lại nhìn tôi, cười nói rất thân mật và tự nhiên:
- Đã nghe tiếng từ lâu, nay em mới biết thủ trưởng là thủ trưởng Ninh - Ngừng một lát như quên một điều gì, Lân lấy giọng nói tiếp - À quên, nhà thơ "Đỗ Phủ" Ninh ạ í Thê mà em lại dám bạo phổi...
Mọi người lại cười rộ lên, quên hết mệt nhọc.
Chuyến đi thăm ngắn ngủi ấy đã để lại trong tôi ấn tượng thật sâu sắc. Khi trở lại sở chỉ huy làm nhiệm vụ, đợt phản kích tiếp theo của quân địch lại bắt đầu, không khí chiến trường căng trở lại, nhưng hình ảnh các chiến sĩ vui chơi, ngâm thơ xen giữa hai trận chiến đấu cứ hiện ra trước mắt tôi, cổ vũ, động viên tôi.
Lúc này đạn dự trữ cạn dần. Nước uống cũng thiếu!
Phải làm gì để khắc phục khó khăn này? Tôi đang suy nghĩ và tìm lời giải thì một luồng hơi nóng phả vào mặt tôi, tai ù đi, thì ra một viên đạn cỡ lớn rơi vào sở chỉ huy. Đồng chí Rảnh - liên lạc của tiểu đoàn bị thương nặng.
Sau khi chuyển Rảnh cho đồng chí y sĩ băng bó, tất cả nhanh chóng rời khỏi nơi này lập sở chỉ huy mới.
Về chiều, hơi nóng của mặt trời từ mặt đất bốc lên, của những đám cháy toả ra, hòa với mùi thuốc súng và khói bom cay nồng, gây nên cảm giác ngột ngạt khó chịu. Đạn pháo địch vẫn rít vèo vèo, nổ choáng tai nhức óc. Cổ họng chúng tôi khô rát và kèm theo cả đói nữa!
Tiểu đoàn 9 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiến công tiêu diệt địch ở căn cứ Hốc Bà Thức và đã một ngày chiến đấu liên tục, đánh lui tất cả các đợt phản kích của địch định chiếm lại căn cứ này.
Với tình hình cụ thể lúc đó, chúng tôi có thể rút khỏi Hốc Bà Thức vì đạn dược, lương thực đã cạn. Vả lại nhiệm vụ tiêu diệt địch thì đã hoàn thành. Nếu địch có chiếm lại, chúng cũng không còn hơi sức đâu cản ngăn được bước tiến công của các binh đoàn chủ lực của ta.
Nhưng ý nghĩ trên chỉ thoáng qua giây lát trong đầu chúng tôi rồi tan biến vào không gian đầy khí thế xốc tới từ các nơi dội về. Hơn lúc nào hết, làm bất cứ việc gì, dù là nhỏ bé góp vào chiến thắng lớn thì ta cần làm, tự giác mà làm. Kiên trì chốt giữ căn cứ Hốc Bà Thức lúc này là chiếm giữ cửa mở, tạo cho các mũi thọc sâu của chiến dịch rảnh tay, không phải dừng lại giải quyết "sự cố dọc đường”, để tiếp tục phát triển nhanh vào đánh chiếm các mục tiêu then chốt. Nhanh, chậm trong lúc này có ý nghĩa rất quan trọng, có tác dụng làm chuyển biến lớn tình hình hoặc ngược lại.
Với mong muốn “góp gió thành bão” đó, chúng tôi đã xác định quyết tâm chốt giữ Hốc Bà Thức và khẩn trương tổ chức thực hiện quyết tâm đó. Tất cả các mũi, các hướng nhanh chóng củng cố lại trận địa, lau lại súng, kiểm lại đạn, nước uống,... Nhưng kiếm được nước cũng không phải dễ dàng, vì kẻ địch tìm mọi cách phong tỏa các đường đi tới nguồn nước. Hai đồng chí liên lạc thay nhau hành tiến, người nọ yểm hộ cho người kia, vượt qua làn đạn địch mỗi đưa được về một bi đông và một túi nilông nước chỉ đủ cho nhu cầu tối thiểu ở sở chỉ huy.
Súng đạn, lương thực, nước uống rất thiếu, nếu đánh sang ngày thứ hai là gặp nhiều khó khăn!
Biết là như thế nhưng chẳng ai bận tâm về những thứ đó. Tất cả chúng tôi lúc này đều có chung một ý nghĩ, một mong muốn - giữ tốt cửa mở để đón đại quân tiến vào!
Thời gian đã chiều lòng người ra trận. Giữa lúc chúng tôi mới chỉ bắt đầu mong mỏi thì cũng là lúc các binh đoàn chủ lực của ta nổ súng tiến công. Tàn quân địch từ Xuân Lộc rút về để cùng với lực lượng tại chỗ ở Hố Nai chưa kịp triển khai tuyến “tử thủ” mới đã bị xe tăng và bộ binh ta tràn qua. Pháo ta ở hướng Đồng Nai bắn cấp tập vào sân bay Biên Hoà và sở chỉ huy quân đoàn 3 ngụy.
Chúng tôi - những người chốt giữ Hốc Bà Thức reo lên, tay này giơ súng, tay kia giơ mũ cố nâng thật cao vẫy chào đoàn quân trùng điệp tiến về hướng Biên Hoà... Bọn địch nằm ngoài hàng rào căn cứ đang chuẩn bị đợt phản kích mới, hoảng loạn tháo chạy, quan bỏ lính, lính xô đẩy nhau chửi quan loạn xị.
Lúc đó là 16 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975.
Tôi cho treo cờ lên đỉnh nóc căn cứ để đón đại quân!
Lá cờ cách mạng phần phật tung bay trước gió, như vẫy chào, như thúc giục đoàn quân tiến nhanh về phía trước!
Đoàn quân lần lượt đi qua trước mặt chúng tôi, đã dành cho chúng tôi nụ cười và cái nhìn trìu mến, giơ tay chào với một lời chúc ngắn gọn:
- Cám ơn các đồng chí đi trước!
Chúng tôi đón nhận lời chúc đó với một tình cảm xúc động và tự hào, nhưng vẫn thấy còn phải vươn lên nữa, tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ trong đánh ra, ngoài đánh vào, đánh chiếm và chốt giữ các cầu trên những trục lộ chính đi tới Sài Gòn...
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
quansuvn
Moderator

Bài viết: 7922
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Tư, 2021, 09:45:23 am » |
|
Đánh kho bom Bình Ý
Trong điện giao nhiệm vụ, Sư đoàn nhấn mạnh: Trung đoàn 113 phải khẩn trương tổ chức lực lượng pháo kích vào sân bay Biên Hoà, đồng thời dùng hai tiểu đoàn tiến công phá hủy kho bom Bình Ý.
Như thế là phá hủy phương tiện chiến tranh của địch vẫn là một trong những nhiệm vụ chính của bộ đội đặc công trong chiến dịch này. Thái độ ngoan cố của địch, sự đối phó điên cuồng của chúng, tức là mức độ ác liệt của chiến sự diễn ra như thế nào, một phần phụ thuộc vào số lượng các phương tiện chiến tranh mà địch còn tàng trữ được. Một khi máy bay và bom đạn bị phá hủy, xăng dầu bị thiêu cháy... thì địch có muốn kéo dài và đẩy mạnh chiến tranh cũng đành chịu.
Chúng tôi đã hiểu như thế qua đọc bức điện giao nhiệm vụ của Sư đoàn.
Nhưng khi triển khai thực hiện thì cũng lắm vấn đề phải bàn. Pháo kích vào sân bay Biên Hòa tuy khó nhưng có nhiều thuận lợi, vì mục tiêu đã đánh nhiều lần, các trận địa đặt pháo ta đã tính toán đo đạc từ trước, tất nhiên là địch sẽ đối phó, những ta vẫn có cách khắc phục để hoàn thành nhiệm vụ.
Đánh kho bom Bình Ý ai cũng thấy là cần, một khi kho bom nàv bị phá, chắc chắn các phi vụ ném bom để cản phá đội hình quân ta sẽ giảm đi rất nhiều. Nghĩa là không có vấn đề gì thuộc về quyết tâm cả. Nhưng lại có vấn đề thuộc về cách đánh - đánh như thế nào chắc thắng mà ta ít tổn thất nhất?
Trong cuộc họp cán bộ chỉ huy hạ quyết tâm tiến công, có ý kiến nêu ra:
- Có nên dùng cả hai tiểu đoàn cùng một lúc đánh kho Bình Ý không?
Ý kiến chưa khẳng định, nhưng tôi cũng thấy là không nên. Dùng như thế là lãng phí, có thể chính vì vậy mà gây thương vong không cần thiết.
Ngày 22 tháng 4 tại suối Ông Đông, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn họp để thông qua quyết tâm lần cuối. Qua ý kiến của quần chúng, căn cứ vào thực tiễn lúc đó, thường vụ quyết định: bằng bất cứ giá nào ta cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của sư đoàn, tiến công phá hủy kho bom Bình Ý. Nhưng lực lượng sử dụng không cần nhiều.
Trong cuộc họp này, tôi không ngờ được gặp lại anh Hai Thịnh. Theo quyết định của trên, anh Hai Thịnh được ra Bắc an dưỡng vì sức khỏe của anh sút giảm trông thấy. Tôi rất tiếc vì công việc quá bận rộn nên không được về tạm biệt anh trước lúc lên đường. Tưởng rằng khó có điều kiện gặp lại nào ngờ anh vẫn nặng tình nặng nghĩa với đơn vị.
Thoạt thấy, từ xa tôi chạy lại ôm chầm lấy anh rồi đẩy anh ra xa; nhìn thẳng vào mắt anh, tôi xúc động nói:
- Tưởng anh đang trên đường ra Bắc rồi, nào ngờ lại được gặp anh Hai ở đây?
Đưa hai tay bóp mạnh vào hai bả vai tôi, anh Hai Thịnh với một giọng đầy thân mật, tình cảm:
- Thì thằng Hai này không gặp được thằng Ba thì đi sao đặng!
Giữa hai đợt tiến công vẫn có một khoảng không gian yên tĩnh, vẫn có chút thời gian gọi là nhàn rỗi. Hai chúng tôi tranh thủ dạo chơi dưới tán lá rừng thoáng mát, rồi dừng lại ngồi đối diện dưới lòng con suối đã dốc hết nước, chỉ còn trơ lại những hòn sỏi nhẵn thín với đủ màu sắc và kích thước nằm lổn nhổn.
Mãi năm phút sau anh Hai Thịnh mới tâm sự:
- Thế là mình phải xa Ba Ninh rồi. Cũng đành phải thế thôi! Với khung xương và một dúm thịt này mình biết không đủ sức để theo chiến dịch nữa... - Nói đến đây hai đây mắt anh ngấn nước, cố chớp để không cho nó thành giọt, rồi anh tâm sự tiếp, giọng ngắt quãng - Mình tiếc quá Ba Ninh ạ! Chiến đấu cả đời người, đến giờ phút thiêng liêng nhất thì lại vắng mặt... Ninh ráng lên nhé! Mình tin ở Ninh đấy...
Hai Thịnh nắm tay tôi kéo dậy, rồi gục đầu vào vai tôi nức nở. Những giọt nước mắt nóng hổi nặng tình đồng chí anh em ấy thấm trên vai áo tôi. Tôi xúc động không nói được lời nào để động viên, an ủi anh.
Suốt cuộc đời chiến đấu, cho đến hôm nay, tôi đã có không ít các cuộc chia tay với bao đồng đội, đồng chí mình, nhưng đây là lần chia tay mang nhiều kỷ niệm sâu đậm.
Tôi và anh Hai Thịnh đến với nhau trong một hoàn cảnh có nhiều khó khăn. Đó là thời gian hơn nửa năm địch đánh phá ác liệt, bao vây rất nghiệt ngã, các đơn vị của Trung đoàn không đánh được một trận nào; cán bộ chiến sĩ phát sinh tư tưởng bi quan, kém phấn khởi vì không hoàn thành được nhiệm vụ trên giao.
Giữa lúc ấy, anh Hai Thịnh có quyết định về thay anh Mai Văn Thoạn làm Chính ủy, tôi từ Trường Quân chính Miền về, nhận nhiệm vụ Trung đoàn phó. Tuy mới biết nhau nhưng chúng tôi nhanh chóng thông cảm trong cá tính, rất “ăn ý” trong việc lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Việc đầu tiên là chúng tôi bàn biện pháp đưa Trung đoàn tiến lên cho xứng với những lời khen: Trung đoàn 113 đặc công đã làm quân địch ở vùng Long Khánh - Biên Hoà phải khiếp vía kinh hồn!
Càng gần nhau chúng tôi càng thông hiểu và thương nhau. Với trên 50 tuổi đời, có hơn 30 năm đi suốt chiều dài hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hầu như anh Hai Thịnh chưa một lần kịp nghĩ đến đời tư bao giờ, bởi lẽ công việc chiến đấu đã lôi cuốn anh, và cũng bởi chính anh đã say mê với công việc đó. Trong những năm dài hoạt động ở gần quê hương nhưng anh không một lần nghĩ đến việc tranh thủ gặp vợ, mặc dầu vợ anh chưa có một mụn con nào. Không phải vì tính anh cứng nhắc, khô khan, mà trái lại anh sống rất tình cảm với đồng đội, với bà con cô bác. Những lúc rỗi rãi giữa hai trận đánh, mắc võng nằm châu đầu vào nhau, anh thường kể rất nhiều về chuyện quê hương, những ngày thơ ấu, đến tuổi trưởng thành và chuyện yêu chị Ba, khi tình yêu chín muồi là tổ chức cưới liền, với những tuần trăng mật thật đẹp đã để lại trong anh những dấu ấn không thể phai mò.
Đã có chiến đấu là có hy sinh. Không như thế thì không có thắng lợi, không như thế thì không có độc lập tự do. Cái hy sinh dễ thấy là hy sinh tính mạng và tài sản. Nhưng trong cuộc chiến đấu vĩ đại này, cái hy sinh khó thấy là hy sinh về tình cảm - một sự hy sinh cũng rất to lớn, khó có một dân tộc nào như dân tộc chúng ta đã chịu đựng suốt 30 năm ròng cảnh con xa bố mẹ, anh xa em, vợ xa chồng... Anh Hai Thịnh là một trong số hàng vạn, hàng triệu người đã tham gia vào cái hy sinh rất đáng ngợi ca này. Sự hy sinh của anh khiến tôi xúc động.
Tạm biệt anh Hai Thịnh, tôi gặp ngay Sinh, Quỳnh, Lương là những tay trinh sát có kinh nghiệm để giao nhiệm vụ đánh kho bom Bình Ý.
|
|
|
|
|
Logged
|
Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
|
|
|
|