Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:11:52 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Quân sự  (Đọc 21609 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2021, 06:55:46 am »

2. Những quy luật phổ biến của chiến tranh

a) Khái niệm quy luật chiến tranh và đặc điểm của nó

Chiến tranh, cũng như các hiện tượng khác của xã hội vận động theo những quy luật nhất định. Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định quy luật của chiến tranh tồn tại một cách khách quan vốn có. Quy luật của chiến tranh là những mối liên hệ và quan hệ bản chất, tất yếu, lặp đi lặp lại bền vững giữa các mặt, các yếu tố, quy định sự phát sinh, phát triển và kết thúc của chiến tranh.


Quy luật của chiến tranh mang đầy đủ những đặc trưng chung của các quy luật xã hội (như: sự vận động và phát huy tác dụng phải thông qua hoạt động có ý thức của con người; tính xu hướng; hoạt động gắn với những điều kiện lich sử cụ thể, trong không gian và thời gian cụ thể...). Khi những điều kiện cụ thể thay đổi thì một số quy luật không phát huy tác dụng nữa mà nhường chỗ cho những quy luật mới. Đồng thời, những quy luật của chiến tranh lại có những đặc điểm riêng. Nó phản ánh bản chất của quá trình tiếp tục chính trị từ đầu đến cuối của chiến tranh; phản ánh quá trình nảy sinh chiến tranh, tức là sự chuyển biến xã hội từ trạng thái hoà bình sang trạng thái không hoà bình (chiến tranh); phản ánh đặc thù của đấu tranh vũ trang với tính cách là công cụ chủ yếu của chiến tranh.


Các quy luật nảy sinh chiến tranh phản ánh sự chuyển bịến xã hội từ trạng thái hoà bình sang trạng thái không hoà bình. Chúng biểu hiện trực tiếp bản chất của các hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp và biểu hiện các quan hệ kinh tế, chính trị - xã hội, tư tưởng của xã hội bóc lột sinh ra chiến tranh. Các quy luật phát sinh chiến tranh hoạt động và phát huy tác dụng phụ thuộc vào các yếu tố như: cơ chế tác động của các nguyên nhân, các nhân tố, điều kiện cụ thể, tính chất và mục đích của các lực lượng xã hội, sự chín muồi của các mâu thuẫn, so sánh lực lượng chính trị - xã hội và các yếu tố ngẫu nhiên có thể trở thành nguyên cớ bùng nổ chiến tranh.


Các quy luật quyết định tiến trình và kết thúc chiến tranh xuất hiện và phát huy tác dụng khi chiến tranh đã nổ ra. Lúc này, các quy luật nảy sinh chiến tranh không còn phát huy tác dụng, thậm chí không còn tồn tại.


b) Các quy luật cơ bản chi phối tiến trình và kết cục chiến tranh

- Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào đường lối, mục tiêu chính trị.

Đây là quy luật cơ bản, quan trọng nhất, chi phối toàn bộ quá trình phát triển và kết cục của chiến tranh. Chiến tranh là sự kế tục chính trị bằng thủ đoạn bạo lực, chiến tranh do chính trị quyết định. Đường lối chính trị, mục tiêu chính trị có vai trò quyết định, chi phối đến mức độ sử dụng bạo lực quân sự, tính chất và mối quan hệ liên minh, đồng minh, việc bảo đảm về kinh tế, sự phối hợp đấu tranh về chính trị, ngoại giao, tư tưởng... và việc giải quyết các nhiệm vụ khác nhằm thực hiện mục tiêu của chiến tranh... Do vậy, sự phụ thuộc vào đường lối, mục tiêu chính trị của quá trình tiến hành và kết cục chiến tranh là quy luật khách quan.

- Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào so sánh tương quan lực lượng quân sự giữa các bên tham chiến.

Lực lượng quân sự là tổng hợp các yếu tố: quân số, trang bị, vũ khí kỹ thuật, chất lượng huấn luyện, trình độ chỉ huy, chất lượng vũ khí, quy mô, hình thức tác chiến, điều kiện vật chất bảo đảm, nghệ thuật quân sự, hậu phương, khả năng động viên quân sự của một quốc gia, v.v... thể hiện tập trung ở sức mạnh chiến đấu của quân đội trong chiến tranh. Nó tuỳ thuộc vào khả năng kinh tế - xã hội, chính trị - tinh thần, khoa học, kỹ thuật và khả năng quân sự của mỗi nước. Chiến tranh là cuộc đấu tranh "một mất một còn" giữa hai bên tham chiến mà ở đó mạnh thắng yếu thua. Điều đó có nghĩa là tương quan so sánh lực lượng quân sự giữ vai trò chủ yếu, trực tiếp quyết định tiến trình và kết cục chiến tranh. Vì vậy, nghệ thuật chỉ đạo và tiến hành chiến tranh đòi hỏi phải tạo ra so sánh lực lượng và sức mạnh quân sự mạnh hơn đối phương, biết hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu, tìm ra cách đánh có hiệu quả nhất nhằm giành thắng lợi.


- Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham chiến.

Quy luật này phản ánh vai trò của nhân tố kinh tế đối với chiến tranh, mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế. Nhân tố kinh tế là điều kiện cơ bản, chủ yếu, là yếu tố xét đến cùng quyết định trình độ phát triển quân sự, việc tổ chức lực lượng vũ trang và phương thức tác chiến của các bên tham chiến. Sự phát triển kinh tế bảo đảm nhu cầu vật chất trong xã hội cho quân đội và toàn bộ cuộc chiến tranh; tạo ra khả năng sản xuất, cung cấp các trang bị, vũ khí, kỹ thuật quân sự. Nhân tố kinh tế còn tác động đến cả quy mô, tính chất và phương thức tiến hành chiến tranh, khả năng và trình độ của con người, đặc biệt trong chiến tranh hiện đại.


Ph.Ăng-ghen viết "Toàn bộ việc tổ chức và phương pháp tác chiến của quân đội, và do đó, thắng lợi và thất bại đều rõ ràng là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào nhân lực và vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của dân sự, của cả kỹ thuật nữa"1 (Ph.Ăng-ghen - Chống Đuyrinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.285).

Như vậy, tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bên tham chiến là một quy luật phổ biến.


- Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào tiềm lực khoa học - công nghệ của các bên tham chiến.

Tiềm lực khoa học - công nghệ là một trạng thái nhất định, là trình độ hay lực lượng, phương tiện, khả năng khoa học - công nghệ đã có hoặc có thể động viên sử dụng trong chiến tranh.


Tiềm lực khoa học - công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến sức mạnh quân sự và chiến tranh của mỗi nước, đến sức mạnh của lực lượng vũ trang của các bên tham chiến. Thước đo để đánh giá tiềm lực khoa học của mỗi bên là trình độ phát triển, những thành tựu khoa học - công nghệ; quy mô, mức độ ứng dụng khoa học - công nghệ vào quân sự...


Các thành tựu khoa học - công nghệ là đặc trưng của tiềm lực khoa học - công nghệ của một quốc gia. Những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ luôn được ứng dụng nhanh nhất vào lĩnh vực quân sự. Ngày nay những vũ khí công nghệ cao, kể cả vũ khí hạt nhân, các trang thiết bị quân sự, các phương tiện chiến tranh ngày càng hiện đại đã và đang có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến tiến trình và kết cục chiến tranh.


- Tiến trình và kết cục chiến tranh phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội, tiềm lực chính trị - tinh thần, văn hoá của các bên tham chiến.

Sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của nhân dân và quân đội của một quốc gia, một liên minh trong chiến tranh gắn chặt với chế độ kinh tế - xã hội nhất định, tiềm lực chính trị - tinh thần, văn hoá tức là những phẩm chất chính trị, trạng thái tinh thần, tâm lý, tư tưởng của nhân dân và quân đội. Nó phụ thuộc vào tính chất của các quan hệ kinh tế, của chế độ chính trị - xã hội và nhà nước. Do vậy chế độ xã hội ưu việt, tốt đẹp, lợi ích căn bản của toàn xã hội thống nhất sẽ tạo khả năng tối đa huy động mọi lực lượng vật chất, tinh thần văn hoá, sức người, sức của cho chiến tranh và để chiến thắng. Ph.Ăng-ghen khẳng định: Con người chứ không phải súng hoả thạch sẽ thắng trong trận đánh. V.I.Lênin cũng viết: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1977, tr.147).


Trên đây là các quy luật cơ bản chi phối tiến trình và kết cục chiến tranh. Những quy luật này luôn vận động và tác động biện chứng với nhau. Nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành chiến tranh đòi hỏi phải nhận thức và vận dụng nhuần nhuyễn các quy luật nhằm giành thắng lợi trong chiến tranh (nếu xảy ra), bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2021, 06:56:29 am »

3. Về chiến tranh trong thời đại ngày nay

Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới. Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.76).


Ngày nay, tình hình thế giới đã có nhiều đổi thay. Đặc biệt, từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới tạm thời lâm vào thoái trào. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đang phát triển như vũ bão tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực xã hội, làm cho lực lượng sản xuất tăng vọt, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, tạo ra xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế và đời sống. Nhân loại đang đứng trước những thời cơ và thách thức mới trong quá trình phát triển.


Xu hướng hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng mạnh mẽ, ngày càng trở thành nhu cầu tất yếu của các quốc gia trên thế giới, đồng thời cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau đang vừa hợp tác, vừa đấu tranh quyết liệt.


Trong bối cảnh mới của thế giới, Đảng ta nhận định: "Nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra..."2 (Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1996, tr.76).


Ngày nay, trong khi chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp vẫn chưa bị xoá bỏ tận gốc, do đó, nguy cơ chiến tranh vẫn còn tồn tại. Bản chất của chiến tranh vẫn là sự kế tục của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực vũ trang.


Chiến tranh hiện đại (nếu xảy ra), dự báo có một số đặc điểm chủ yếu sau:

Một là, chiến tranh hiện đại là công cụ, phương tiện thực hiện đường lối, mục tiêu chính trị của giai cấp, nhà nước tiến hành chiến tranh;

Hai là, chiến tranh hiện đại sử dụng vũ khí, kỹ thuật, phương tiện công nghệ cao;

Ba là, chiến tranh hiện đại diễn ra trong không gian, thời gian, quy mô rộng lớn, rất linh hoạt;

Bốn là, chiến tranh hiện đại đòi hỏi rất cao về mọi mặt, tính chất hết sức quyết liệt;

Năm là, nghệ thuật chỉ đạo, tiến hành chiến tranh phát triển cao và độc đáo;


Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (nếu xảy ra trong tương lai) sẽ là chiến tranh nhân dân hiện đại phát triển đến đỉnh cao với sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quân sự của Đảng và khoa học, nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 06:55:17 am »

II- HỌC THUYẾT MÁC - LÊNIN VỀ QUÂN ĐỘI

Học thuyết Mác - Lênin về quân đội là một nội dung lý luận hết sức quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, có giá trị to lớn đối với nhận thức và thực tiễn hiện nay.


1. Nguồn gốc, bản chất giai cấp, chức năng của quân đội   

a) Quân đội và nguồn gốc của quân đội

Ph.Ăng-ghen chỉ rõ: "Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức do Nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hay phòng ngự"1 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 2, Nxb QĐND, Hà Nội, 1976, tr.9).


Quân đội, về thực chất, là tổ chức vũ trang chuyên nghiệp do nhà nước (hoặc tổ chức, tập đoàn, phong trào chính trị đại diện cho giai cấp nhất định làm chức năng như nhà nước) lập ra để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, giai cấp.

Quân đội khác biệt với các tổ chức xã hội khác ở những đặc trưng chủ yếu của nó:

Trước hết, quân đội là một hiện tượng chính trị - xã hội, lịch sử, ra đời, tồn tại ở giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người, gắn với các hình thái kinh tế - xã hội có chế độ tư hữu vể tư liệu sản xuất, có đối kháng giai cấp và nhà nước với tư cách là công cụ của giai cấp thống trị.

Thứ hai, quân đội là một tổ chức vũ trang chuyên nghiệp do nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng, xây dựng. Quân đội gắn chặt với nhà nước tổ chức ra nó.

Thứ ba, quân đội là một tổ chức xã hội đặc biệt với hệ thống tổ chức hết sức chặt chẽ, cơ cấu, biên chế, trang bị, phương tiện đặc thù phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nó.

Thứ tư, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang của một nhà nước, của một giai cấp nhất định, bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó.

Các đặc trưng của quân đội là một thể thống nhất. Bất kỳ quân đội nào đều mang đầy đủ những đặc trưng trên.


Cùng với quan niệm đúng đắn về quân đội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải và chứng minh một cách khoa học về nguồn gốc sinh ra quân đội đi từ cơ sở kinh tế của xã hội và khẳng định: quân đội xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện, tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp. Chính chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp đã làm xuất hiện nhà nước. Và để bảo vệ lợi ích của mình, thống trị, đàn áp quần chúng lao động và các dân tộc khác, nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã thiết lập ra tổ chức vũ trang chuyên nghiệp, tức quân đội làm công cụ bạo lực vũ trang của mình. Sự ra đời, tồn tại của quân đội mang tính tất yếu lịch sử dựa trên cơ sở kinh tế - xã hội nhất định.


Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, tổ chức vũ trang chuyên nghiệp - quân đội, không phải sinh ra, tồn tại ở mọi hình thái kinh tế - xã hội. Quân đội chỉ xuất hiện và tồn tại khi trong xã hội có chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp xuất hiện và tồn tại.


Như vậy, chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp là nguồn gốc ra đời của quân đội và chừng nào còn chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, còn giai cấp bóc lột thì quân đội còn tồn tại. Sự ra đời, tồn tại của quân đội gắn liền với giai cấp và nhà nước. Quân đội chỉ mất đi khi chế độ tư hữu, đối kháng giai cấp và nhà nước không còn.


b) Bản chất giai cấp của quân đội

Là một hiện tượng chính trị - xã hội, quân đội mang bản chất giai cấp sâu sắc. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp, nhà nước đó. Vì vậy, quân đội luôn mang bản chất giai cấp của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có quân đội phi giai cấp.


Bản chất giai cấp của quân đội thể hiện tập trung ở mục tiêu chiến đấu, phương hướng tổ chức, xây dựng quân đội, cũng như việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nó. Mục tiêu chiến đấu của quân đội bao giờ cũng vì lợi ích của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó. Quân đội được xây dựng theo đường lối, quan điểm chính trị, quân sự, hệ tư tưởng của giai cấp. Giai cấp và nhà nước quyết định phương hướng, nguyên tắc tổ chức, xây dựng quân đội, chế độ lãnh đạo, chỉ huy, chế độ tuyển dụng và sử dụng sĩ quan, binh sĩ. Đồng thời, giai cấp, nhà nước cũng chỉ đạo, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động của quân đội.


Quân đội mang bản chất giai cấp sâu sắc, luôn gắn chặt với giai cấp, nhà nước đã sinh ra nó. Song quân đội cũng có tính độc lập tương đối trong quá trình phát triển. Là một tổ chức quân sự chuyên nghiệp, quân đội có những quy luật phát triển với tính đặc thù của nó. Quân đội có vai trò chính trị - xã hội to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích giai cấp, bảo vệ đảng cầm quyền và nhà nước.


Bản chất giai cấp của quân đội có tính ổn định, bền vững nhưng không phải "nhất thành bất biến". Bản chất đó có thể vận động, biến đổi theo hướng ngày càng được tăng cường hoặc phai nhạt, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố và điều kiện. Do đó, các giai cấp, nhà nước luôn chú trọng củng cố, tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội của mình.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 06:56:05 am »

c) Chức năng của quân đội

Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, là công cụ bạo lực của một giai cấp và nhà nước nên quân đội có chức năng: dùng bạo lực vũ trang, kể cả việc tiến hành chiến tranh để bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Quân đội của bất kỳ nhà nước nào đều có hai chức năng: đối nội và đối ngoại. Song do mục đích, nhiệm vụ chính trị, lợi ích của các giai cấp và nhà nước khác nhau nên biểu hiện và việc thực hiện hai chức năng này của quân đội ở mỗi nhà nước cũng khác nhau.


Quân đội của nhà nước thống trị, bóc lột luôn trung thành và phục vụ cho lợi ích của giai cấp bóc lột. Về đối nội, nó là công cụ để đàn áp mọi phong trào của quần chúng lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ, đấu tranh chống lại giai cấp thống trị, bóc lột. Trái lại, quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa là công cụ vũ trang, kể cả việc tiến hành chiến tranh, để đập tan mọi sự phản kháng chống lại Nhà nước vô sản và mọi âm mưu, hành động phá hoại, xâm lược của các thế lực thù địch để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chức năng, nhiệm vụ của từng quân đội của Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, truyền thống của quân đội.


Về chức năng đối ngoại: quân đội của các nhà nước bóc lột là công cụ xâm lược và cướp bóc các dân tộc khác, chống lại các dân tộc và phong trào cách mạng trên thế giới. Quân đội của nhà nước xã hội chủ nghĩa, trái lại sẵn sàng ủng hộ và giúp đỡ phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước. Như vậy, chức năng đối nội và đối ngoại của quân đội gắn bó hữu cơ chặt chẽ với nhau và đều nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của giai cấp.


d) Các loại hình quân đội:

Loại hình quân đội là phạm trù phản ánh tổng thể các đặc trưng cơ bản xác định quân đội là công cụ của nhà nước, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng chính trị trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Cơ sở để xác định các loại hình quân đội chủ yếu dựa vào những đặc trưng chính trị - xã hội vốn có của nó. Xét theo hình thái kinh tế - xã hội, có các loại hình quân đội chủ yếu sau:


Quân đội của Nhà nước chiếm hữu nô lệ là loại hình quân đội đầu tiên trong lịch sử loài người, ra đời cùng với sự xuất hiện chế độ tư hữu vể tư liệu sản xuất và giai cấp thống trị, bóc lột đầu tiên trong lịch sử xã hội. Nhà nước chiếm hữu nô lệ tổ chức quân đội dựa vào giới quý tộc và lực lượng thân nhân của Hoàng đế làm hạt nhân, hoặc theo chế độ cảnh sát và tuyển binh sĩ từ những người trong giai cấp bóc lột hoặc công dân tự do.


Quân đội của Nhà nước phong kiến có bước phát triển về cơ cấu tổ chức, trang bị vũ khí kỹ thuật, chức năng... so với quân đội của Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Quân đội không những là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến, đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp nông dân, tiến hành chiến tranh xâm lược các nước khác, mà còn là công cụ bảo vệ nhà thờ và giáo hội.


Quân đội của Nhà nước tư sản là quân đội phát triển ở trình độ cao, có trang bị vũ khí và các phương tiện quân sự hiện đại nhằm tiến hành chiến tranh xâm lược và đàn áp phong trào cách mạng. Ngày nay, Nhà nước tư bản đế quốc không ngừng tập trung xây dựng những đội quân thường trực quân đội nhà nghề khổng lồ nhằm thực hiện những mưu đồ chính trị của chúng.


Quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản - Quân đội của nhà nước xã hội chủ nghĩa, ra đời từ sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga. Đó là quân đội khác hẳn về bản chất so với các quân đội của các nhà nước trước đó. Nó là công cụ bạo lực vũ trang của giai cấp vô sản nhằm đè bẹp mọi sự phản kháng của kẻ thù để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ mới, bảo vệ quyền lợi của giai cấp và quần chúng nhân dân lao động; đồng thời sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù bên ngoài, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và làm nhiệm vụ quốc tế vô sản. V.I.Lênin đã viết: "Trong mỗi bước đi đến hoà bình, chúng ta đều phải dốc toàn lực ra để hoàn toàn sẵn sàng chiến đấu, tuyệt đối không được giải giáp quân đội chúng ta. Quân đội của chúng ta là một bảo đảm thực sự khiến cho các cường quốc đế quốc không dám có chút mưu toan hành động gì, mưu toan xâm phạm gì đối với chúng ta được..."1 (V.I.Lênin, Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.1977, tr.288).


Ngoài chức năng đối nội và đối ngoại, quân đội xã hội chủ nghĩa còn tham gia vào việc giải quyết các nhiệm vụ văn hoá - giáo dục, kinh tế - xã hội... góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân cách mạng - quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc, luôn: "Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.35). Quân đội ta là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, là trụ cột vững chắc của chế độ xã hội chủ nghĩa, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vì hạnh phúc của nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thực hiện các chức năng chủ yếu: đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân sản xuất. Các chức năng này phản ánh các mặt hoạt động chủ yếu: chiến đấu, công tác, sản xuất, bao hàm cả đối nội và đối ngoại của quân đội ta.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 06:57:56 am »

2. Các quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của quân đội:

Quân đội là một bộ phận của xã hội nên chịu sự chi phối của các quy luật của sự vận động xã hội nói chung, đồng thời quân đội là một tổ chức quân sự, có tính độc lập tương đối, do đó, có các quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của nó.

a) Quy luật về sự phụ thuộc của quân đội vào chế độ chính trị - xã hội và tính giai cấp của nhà nước tổ chức ra nó

Bất cứ một quân đội nào cũng tồn tại, phát triển phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội, giai cấp và nhà nước nhất định. Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Nhà nước, đại diện cho quyền lực chính trị của giai cấp tổ chức ra quân đội làm công cụ bạo lực vũ trang để thực hiện đường lối chính trị, bảo vệ lợi ích của giai cấp, nhà nước - suy cho cùng là lợi ích kinh tế. Chế độ chính trị - xã hội, tính giai cấp của nhà nước quy định và chi phối bản chất giai cấp, đường lối tổ chức, hệ tư tưởng, mục tiêu chiến đấu và các mặt hoạt động của quân đội.


Tuy nhiên, sự phụ thuộc của quân đội vào chế độ chính trị - xã hội, vào giai cấp và nhà nước trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau biểu hiện khác nhau.


b) Quy luật sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế của xã hội.

Sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng hợp các yếu tố vật chất, tinh thần, trạng thái và khả năng hoàn thành các nhiệm vụ. Các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân đội bao gồm:

Quân số, tổ chức, biên chế, cơ cấu quân đội phù hợp;

Nhân tố chính trị - tinh thần, kỷ luật của quân đội, trong đó, sự lãnh đạo của chính Đảng, của giai cấp và nhà nước đối với quân đội giữ vai trò quan trọng hàng đầu, quyết định sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

Số lượng, chất lượng, trình độ trang bị, vũ khí, kỹ thuật, hậu cần;

Trình độ huấn luyện và thể lực;

Trình độ phát triển khoa học và nghệ thuật quân sự;

Trình độ lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy quân đội;

Yếu tố truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc;

Mối quan hệ quân đội - nhân dân;
...


Các yếu tố trên thường xuyên có quan hệ và tác động biện chứng lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất. Trong thể thống nhất ấy, mỗi yếu tố đều có vai trò, vị trí nhất định, do đó không thể coi nhẹ một yếu tố nào. Song sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn luôn phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế của xã hội, Ph.Ăng-ghen viết: "Toàn bộ tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội và do đó, thắng lợi và thất bại đều tỏ ra phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế..."1 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1982, tr.27).


Điều kiện kinh tế cần được hiểu đầy đủ, toàn diện bao gồm cả sức mạnh kinh tế, tiềm lực và trình độ phát triển kinh tế của một nước trên tất cả các mặt, là tổng thể lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, các mối quan hệ kinh tế... Điều kiện kinh tế là nền tảng vật chất của sự phát triển quân đội, có tác động to lớn đến phương thức, hình thức đấu tranh vũ trang, đến sự phát triển vũ khí, trang bị và trình độ huấn luyện bộ đội, cơ cấu tổ chức, sự phát triển khoa học nghệ thuật quân sự, sản xuất quân sự, việc bảo đảm đời sống vật chất - tinh thần cho quân đội... "Không có gì lại phụ thuộc vào tiền đề kinh tế hơn là chính ngay quân đội và hạm đội"2 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1982, tr.20). Và: "Thắng lợi của bạo lực là dựa vào việc sản xuất vũ khí và việc sản xuất vũ khí lại dựa vào sản xuất nói chung, do đó... dựa vào "lực lượng kinh tế", vào "tình hình kinh tế" và những phương tiện vật chất mà bạo lực chi phối được"1 (Ph.Ăng-ghen - Tuyển tập Luận văn quân sự, tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, 1982, tr.20).


Trình độ phát triển của sản xuất và tính chất của các quan hệ kinh tế chi phối quy mô, hiệu quả và khả năng huy động nhanh chóng và đầy đủ nguồn dự trữ cho quân đội, bảo đảm cung cấp vũ khí, đạn dược, xăng dầu, lương thực, v.v... Đặc biệt hiện nay, khoa học công nghệ càng phát triển càng tạo thuận lợi để nâng cao sức mạnh chiến đấu cho quân đội. Điều kiện kinh tế tác động đến sức mạnh chiến đấu của quân đội gắn liền với chính trị của giai cấp và nhà nước. Chính trị định hướng sử dụng khả năng kinh tế, khoa học, kỹ thuật... cho quân đội phù hợp với mục đích chính trị, lợi ích của giai cấp trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Như vậy, sự phụ thuộc của sức mạnh chiến đấu của quân đội vào điều kiện kinh tế của xã hội là một quy luật chung, phổ biến của mọi quân đội.


c) Quy luật nhân tố chính trị - tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội

Lịch sử chiến tranh đã chứng minh, tiềm lực chính trị - tinh thần là một nhân tố tạo nên sức mạnh quân sự của một quốc gia. Tiềm lực chính trị - tinh thần là tổng thể những nhân tố chính trị, tư tưởng, niềm tin và những phẩm chất chính trị - tinh thần của nhân dân và quân đội. Trong tiềm lực chính trị - tinh thần, hệ tư tưởng chính trị và đường lối chính trị của giai cấp giữ vai trò hạt nhân. Tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội luôn tác động và ảnh hưởng đến trạng thái chính trị - tinh thần, đến sức mạnh chiến đấu của quân đội. Trong lĩnh vực quân sự, khi tiềm lực chính trị - tinh thần được phát huy trong hành động sẽ trở thành nhân tố chính trị - tinh thần có sức mạnh to lớn. Điều này được thể hiện trước hết ở khả năng của quân đội và nhân dân chịu đựng những thử thách của chiến tranh, ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, sáng tạo...


Quân đội là một bộ phận của xã hội nên các quan điểm chính trị, đạo đức, tư tưởng, tâm lý, văn hoá... của giai cấp, nhà nước, nhân dân đều tác động và ảnh hưởng đến quân đội, có thể làm tăng thêm hoặc giảm sút tinh thần và khả năng chiến đấu, chi phối các hoạt động huấn luyện, giáo dục, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu của quân đội. Hệ tư tưởng chính trị giữ vai trò chủ đạo về chính trị - tinh thần cho quân đội. Nó góp phần hết sức quan trọng trong việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố lập trường giai cấp, xây dựng niềm tin và định hướng chính trị đúng đắn cho quân đội, củng cố sự thống nhất về chính trị - tinh thần của quân đội và xã hội.


Như vậy, chính trị - tinh thần và khả năng chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội cũng là một quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của mọi loại hình quân đội. Muốn nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, tất yếu phải phát huy tiềm lực chính trị - tinh thần của xã hội.


Những quy luật cơ bản nêu trên tác động tổng hợp đến sư phát triển của quân đội. Trong xây dựng quân đội ta cần nhận thức đầy đủ, biết phát huy cao độ tác dụng của những quy luật đó.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 06:59:07 am »

3. Một số vấn đề phương pháp luận đối với xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm bảo vệ độc lập tự do của dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.


Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất của giai cấp công nhân, đồng thời có tính dân tộc, tính nhân dân sâu sắc. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quân đội ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Nhiệm vụ của quân đội hiện nay là phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội, sẵn sàng đập tan mọi cuộc bạo loạn lật đổ và chiến tranh xâm lược (nếu xảy ra), bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (cả vùng đất, vùng trời và vùng biển). Đồng thời quân đội ta còn thực hiện chức năng đội quân công tác, sản xuất.


Để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, cần nắm vững những vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc phương pháp luận sau:


Một là, không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dãn tộc, tình thần quốc tế vô sản trong sáng cho quân đội.

Đó là sự chăm lo đến các thuộc tính rất cơ bản, đặc trưng của quân đội ta - quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dân tộc, tinh thần quốc tế vô sản chân chính, trong sáng là vấn đề có tính quy luật quyết định sự trưỏng thành và chiến thắng của quân đội. Điều đó được thực tiễn lịch sử hơn 50 năm xây dựng, chiến đấu của quân đội khẳng định. Đây cũng là vấn đề Đảng, Bác Hồ luôn hết sức quan tâm và đặt lên hàng đầu, coi đó là vấn đề sống còn của quân đội. Đặc biệt, trong điều kiện nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, ngày nay đang phát triển nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự biến đổi phức tạp nên thành phần tham gia vào quân đội không thuần nhất. Nền kinh tế thị trường cùng sự biến đổi cơ cấu giai cấp - xã hội đã và đang tác động to lớn, nhiều mặt, nhất là đối với bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng, tính nhân dân, tính dân tộc, tinh thần quốc tế vô sản cao cả của quân đội. Vì vậy, phải không ngừng củng cố và tăng cường bản chất giai cấp, bản chất cách mạng và những thuộc tính cơ bản khác của quân đội. Để thực hiện được mục tiêu đó cần tập trung vào các vấn đề then chốt sau:

- Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội;

- Tiến hành thường xuyên, có chất lượng công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục bản chất, truyền thống quân đội;

- Thực hiện tích cực và đồng bộ nhiều mặt hoạt động, phát huy sức mạnh tổng hợp, làm tốt công tác dân vận, củng cố mối quan hệ quân - dân, thực hiện "quân với dân một ý chí".


Hai là, chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở xây dựng vững mạnh toàn diện.

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng cho quân đội. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị chính là cái "gốc", là cơ sở cho xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, có sức chiến đấu cao, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị, quân sự trong mọi tình huống.


Để xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, trước hết đòi hỏi phải tăng cường công tác chính trị - tư tưởng trong quân đội nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá - xã hội, đối ngoại... của Đảng; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Công tác chính trị - tư tưởng phải làm cho toàn quân có giác ngộ chính trị cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, sự định hướng chính trị đúng, do đó, hành động đúng, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của quân đội.


Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị phải tiến hành có hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Công tác đảng, công tác chính trị là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, là công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác vận động quần chúng của Đảng trong quân đội, có nhiệm vụ xây dựng đảng bộ quân đội trong sạch, vững mạnh; xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, vượt qua mọi thử thách, phát huy hiệu lực của cả tổ chức lãnh đạo, tổ chức chỉ huy và sức mạnh của quần chúng, tạo ra các phong trào hành động cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, công tác, sản xuất và nghĩa vụ quốc tế mà Đảng và nhà nước giao cho.


Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị gắn liền với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước, nhân dân và dân tộc ta. Vì vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn đân trong xây dựng quân đội về chính trị.


Chính trị trong quân đội là chính trị của Đảng Cộng sản được quán triệt phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của tổ chức quân sự. Chính trị định hướng đúng đắn cho mọi hoạt động của quân đội, cho các mặt xây dựng khác. Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, do đó, phải nhằm thúc đẩy các mặt khác, nâng cao sức mạnh chiến đấu toàn diện của quân đội. Xây dựng quân đội về chính trị là quán triệt, xây dựng quân đội theo quan điểm, nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới - xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, vì vậy, phải kiên quyết đấu tranh chống sự tấn công phá hoại của các thế lực thù địch về chính trị - tư tưởng.


Ba là, xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Đây là yêu cầu tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xả hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là quy luật phát triển của quân đội ta. Phải xây dựng quân đội toàn diện theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằm tạo sức chiến đấu cao, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong điều kiện hiện đại. Trên cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, phải thực hiện có kế hoạch, tích cực, chủ động, toàn diện và đồng bộ các mặt xây dựng quân đội trong giai đoạn hiện nay.


Ngày nay, xây dựng quân đội chính quy không những là yêu cầu khách quan, đồng thời là một thuộc tính cơ bản không thế thiếu, một nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao. Vì vậy, cần đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy trên tất cả các phương diện, các hoạt động của quân đội, xây dựng kỷ luật quân đội tự giác, nghiêm minh.


Xây dựng quân đội tinh nhuệ - "quân cốt tinh, không cốt đông" cũng là quy luật phát triển tất yếu của quân đội ta. Một quân đội tinh nhuệ mới có sức chiến đấu cao và sắc bén, sẵn sàng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Ngày nay, để xây dựng quân đội tinh nhuệ đòi hỏi phải không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng công tác huấn luyện - giáo dục toàn diện; nâng cao bản lĩnh chiến đấu, trình độ làm chủ vũ khí, phương tiện chiến đấu, làm chủ kỷ - chiến thuật, vận dụng và phát triển sáng tạo khoa học, nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam; nâng cao khả năng chiến đấu trong mọi điều kiện, mọi không gian, thời gian...


Quân đội ta là công cụ bạo lực vũ trang sắc bén, đồng thời là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân để chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù giai cấp và dân tộc. Vì vậy, cùng với xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tất yếu phải từng bước xây dựng quân đội hiện đại. Đây cũng là yêu cầu khách quan, một nhân tố hết sức quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu cao của quân đội. Điều đó đòi hỏi sự phấn đấu tích cực để từng bước đưa quân đội đạt trình độ hiện đại trên các mặt, trong đó từng bước trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại tạo nên sức mạnh tổng hợp đủ sức ngăn chặn và sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.


Những yêu cầu có tính phương pháp luận trên đây đối với xây dựng quân đội ta hiện nay là một chỉnh thế thống nhất biện chứng. Giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi tất yếu phải tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Học thuyết Mác - Lênin về quân đội là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho nghiên cứu về quân đội nói chung; vận dụng và phát triển sáng tạo trong quá trình xây dựng quân đội ta hiện nay.

Học thuyết Mác-Lênin về chiến tranh và quân đội là lý luận cách mạng, khoa học về chiến tranh và quân đội, trang bị thế giới quan - phương pháp luận cách mạng, khoa học cho chúng ta để xem xét và có thái độ đúng đắn về chiến tranh, quân đội trong điều kiện hiện đại.


Ngày naỵ học thuyết này vẫn giữ nguyên giá trị khoa học và có ý nghĩa to lớn đối với nhận thức và thực tiễn, đặc biệt trong nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #76 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 06:59:58 am »

TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH


Tư tưởng Hồ Chí Minh "là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr.83). Đó là một hệ thống quan điểm lý luận chính trị toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, bao gồm tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về sức mạnh của nhân dân, lấy dân làm gốc; về đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh; về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về văn hoá và về đạo đức cách mạng...


Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là bộ phận hữu cơ của tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng là bộ phận rất trọng yếu. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dồn toàn bộ tâm trí và sức lực vào việc lãnh đạo công cuộc giải phóng một dân tộc đang bị thực dân đế quốc thống trị bằng ách nô dịch tàn bạo. Ở đó, sự nghiệp giải phóng giai cấp giải phóng xã hội, giải phóng con người nhất thiết phải kinh qua quá trình giải phóng dân tộc bằng vũ trang khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng, lấy sức mạnh của dân tộc mà đánh bại kẻ thống trị và xâm lược, giành lại và giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc mình.


Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đề cập tới mọi vấn đề thuộc về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng ở Việt Nam, về phong trào toàn dân cứu nước và giữ nước làm nền tảng cho bạo lực cách mạng chống đế quốc, về tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang, về khoa học và nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam, về xây dựng căn cứ địa, hậu phương chiến lược của chiến tranh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân khi đất nước đã được giải phóng nhằm đẩy lùi, ngăn chặn chiến tranh và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ các thành quả cách mạng, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Một cách tổng quát, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm xem xét và giải quyết mối quan hệ giữa chiến tranh và hoà bình, giữa bảo vệ và xây dựng đất nước, giữa các hoạt động về quân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng với nền kinh tế của đất nước, nền văn hoá của dân tộc, về vị trí của lực lượng vũ trang trong đời sống xã hội.


Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là nền tảng của đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam qua từng giai đoạn, từng chiến lược cách mạng: giữ vai trò chủ đạo trong việc vận dụng và phát triển lý luận quân sự Mác - Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thế của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đó kế thừa và phát triển lên một trình độ mới truyền thống và kinh nghiệm đấu tranh kiên cường bất khuất giành và giữ nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm lịch sử. Lý luận quân sự Mác - Lênin được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng gắn với truyền thống và kinh nghiệm đấu tranh giành lại và giữ vững nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam làm cho tư tưởng quân sự của Người khắc phục được tính hạn chế của quan điểm dân tộc, quan điểm giai cấp của các bậc tiền bối - những người trông chờ vào tầng lớp sĩ phu, hào kiệt chứ chưa dựa hẳn vào các tầng lớp nhân dân lao động rộng rãi là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất trong xã hội.


Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Người đã, đang và sẽ mãi giữ vai trò trọng yếu vì "dựng nước phải đi đôi với giữ nước", xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn chặt với bảo vệ chủ nghĩa xã hội là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam, của cách mạng Việt Nam và cũng là quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong suốt thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Đó là vũ khí tư tưởng và lý luận để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng, vừa bảo vệ chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #77 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 07:01:43 am »

I- NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ HỒ CHÍ MINH

1. Bối cảnh ra đời tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh ra đời từ những năm hai mươi của thế kỷ XX. Sau khi Nguyễn Ái Quốc từng bước tiếp thu quan điểm bạo lực cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người nhận rõ muốn chống lại bạo lực của chủ nghĩa thực dân đế quốc - vốn là một thế lực xâm lược và thống trị có quy mô thế giới, bạo lực cách mạng phải có nền tảng chính trị - xã hội rộng lớn mới giành được thắng lợi.


Cơ sở để Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa yêu nước vốn đã hình thành vững chắc trong ý thức của Người. Từ khi người thiếu niên làng Sen có nhận thức rõ ràng vể thực trạng đen tối của quê hương, đất nước và thông qua những hiểu biết và tình cảm được truyền đạt trong một gia đình nhà nho yêu nước, lòng yêu nước đã sớm hình thành và ngày càng được bồi đắp trong tâm khảm của Người. Tới tuổi trưởng thành, lòng yêu nước sớm biểu thị thành thái độ chính trị độc lập trong việc lựa chọn đường đi:

- Năm 1905, Người chủ động từ chối việc tuyển chọn mình vào danh sách sang Nhật du học của cụ Phan Bội Châu1 (Năm 1905 cụ Phan Bội Châu từ Nhật qua Trung Quốc về Việt Nam đã trực tiếp tìm đến nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vào lúc cụ Phó bảng đi vắng, ngỏ ý tuyển hai con trai cụ Phó bảng sang Nhật du học) với ý nghĩa không tán thành việc dựa vào nước Nhật, theo lối "đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau".

- Năm 1911, Người tự quyết định chọn hướng sang Pháp có sự đồng tình của người cha yêu nước và mấy người bạn cùng chí hướng với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. Chính sự lựa chọn độc lập và chủ động đó đã đánh dấu bước ngoặt trong việc quyết định đường đi của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, đã là một đảm bảo của sự gắn bó chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, tạo ra bước ngoặt của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.


a) Bối cảnh thế giới

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hệ thống đế quốc chủ nghĩa đã chia nhau tới mảnh đất cuối cùng trên trái đất, đang độc quyền thống trị loài người. Trong 9 nước đế quốc có thuộc địa thì nước Anh đứng hàng đầu, rồi đến Hà Lan, Bồ Đào Nha, Bỉ, Italia, Mỹ, Nhật, Tây Ban Nha. Các đế quốc Đức, Áo "sinh sau đẻ muộn”, tìm cách mở rộng ảnh hưởng sang châu Phi, châu Đại Dương và đã kiếm cớ gây chiến tranh nhằm chia lại thế giới, kéo 12 nước Âu Mỹ vào cuộc chiến, làm cho loài người tổn thất gần 9 triệu sinh mạng.


Tận dụng mâu thuẫn giữa các nước tư bản đế quốc lúc bấy giờ càng trở nên gay gắt trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất mà nước Nga Sa hoàng là một bên tham chiến, Đảng Cộng sản Nga do Lênin lãnh đạo đã nêu khẩu hiệu "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng", phát động vũ trang khởi nghĩa, phát triển cuộc đấu tranh chống Nga hoàng năm 1905 thành cuộc Cách mạng tháng Mười, giành chính quyền về tay các Xô-viết công - nông - binh, ký hoà ước Brét-Litôp với Đức vào năm 1918, đánh bại các thế lực phản cách mạng và các đế quốc can thiệp, xây dựng nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra kỷ nguyên mới cho loài người.


Sự ra đời của Liên bang Xô-viết và liền sau đó là sự ra đời của Quốc tế Cộng sản thứ ba, với "Đề cương về các vàn đề dân tộc và thuộc địa" của Lênin đã tạo chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc có bước phát triển ngày càng vững chắc, làm sâu sắc thêm mối mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa vốn đã sâu sắc từ khi các đế quốc thi nhau chiếm đất, tàn sát các dân tộc nhỏ yếu, biến họ thành nô lệ ngay trên quê hương họ.


Các mối mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản ở các nước phương Tây, giữa đế quốc với đế quốc, giữa các đế quốc già nua với các đế quốc còn non trẻ... không vì cuộc Đại chiến lần thứ nhất chia lại thế giới mà giảm bớt; trái lại, nó càng kích động tâm lý phục thù của những đế quốc bại trận, nuôi dưỡng chủ nghĩa phát xít, dẫn tới cuộc Đại chiến thế giới thứ hai, lôi kéo gần hai chục nước vào vòng chiến.


Chiến thắng của Liên Xô đánh bại bọn Bạch vệ và sự can thiệp của 14 nước đế quốc đã chấm dứt địa vị độc tôn thống trị loài người của hệ thống tư bản đế quốc, xác lập quyền làm chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động với một phương thức sản xuất kiểu mới, khác hẳn phương thức sản xuất của thế giới tư bản trên diện tích 1/6 địa cầu, cổ vũ mạnh mẽ các tầng lớp nhân dân ở các dân tộc bị áp bức sôi sục đứng lên đấu tranh giành độc lập, giải phóng khỏi ách áp bức, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ, mở ra cục diện mới chưa từng có trong lịch sử phát triển loài người.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #78 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 07:02:16 am »

b) Bối cảnh trong nước

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, quân Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ làm thuộc địa đã vấp phải cuộc chống trả quyết liệt của nghĩa quân Trương Định (1861-1864), của Nguyễn Trung Trực (1861-1868), của Võ Duy Dương (1865-1866).


Sau thất bại của các danh tướng Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, triều đình Huế ngả theo phái chủ hoà phải ký hiệp ưóc Patơnôt (6-6-1884) thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc, Trung Kỳ, làm lễ tiêu huỷ ấn phong vương cho nhà Nguyễn của vua Thanh. Phái chủ chiến trong Triều đình do Tôn Thất Thuyết đứng đầu đã kịp thời hạ Chiếu Cần Vương. Vua Hàm Nghi tự nguyện rút lên miền tây Quảng Trị điều hành kháng chiến. Phong trào hưởng ứng Chiếu Cần Vương lập tức nổi lên ở khắp các tỉnh miền Trung và miền Bắc. Bền bỉ và có tổ chức nhất là cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo, kéo dài tới 10 năm (1885-1895), với xưởng sản xuất vũ khí của tướng Cao Thắng biểu hiện trí tuệ và óc sáng tạo của dân tộc ta không thua kém bất cứ dân tộc nào trong thời phong kiến.


Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Tống Duy Tân và Cao Điền lãnh đạo cùng thời với khởi nghĩa Ba Đình của Đinh Công Tráng, Trần Xuân Soạn (1886-1887), cũng kéo dài tới 6 năm (1886-1892). Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật lan rộng ra nhiều tỉnh đồng bằng đã đứng vững 4 năm (1885-1889). Những cuộc nổi dậy trong khoảng vài ba năm nổ ra khắp nơi như khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn (1885-1887) ở Nghệ An, khởi nghĩa của Lê Ninh (1885T1887) ở Hà Tĩnh, của Nguyễn Văn Giáp (1885-1887) ở vùng Tây Bắc.


Điển hình về tính bền vững và sự kiên cường là cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Cuộc khởi nghĩa kéo dài suốt 29 năm (1884-1913), gây cho thực dân Pháp và bọn tay sai những tổn thất nặng nề, buộc chúng nhiều phen phải thương lượng, giảng hoà.


Nhược điểm lớn nhất của các cuộc nổi dậy đó là tính cục bộ địa phương, không thống nhất được trong cả nước do thiếu một đường lối phát động toàn dân nên chỉ mở ra được trong phạm vi mấy tỉnh. Cơ sở chính trị xã hội của bạo lực không đủ mạnh, dễ bị địch bao vây, chia cắt, đẩy vào thế cô lập. Nó phản ánh rõ nét tính tản mạn của phương thức lãnh đạo và nghệ thuật quân sự thời phong kiến khi đã mất chính quyền, không thể đương đầu nổi với một bộ máy thống trị và trấn áp của đế quốc thực dân có nền công nghiệp hiện đại.


Trong suốt thời gian từ 1911 đến 1919, trước khi Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp, ở trong nước, ngoài cuộc khởi nghĩa Nơ Trang Lơng của đồng bào Mơ Nông dựa vào địa hình rừng núi vùng tiếp giáp biên giới Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia đã đứng vững được suốt 23 năm (từ 1912 tới 1935), chỉ còn lại những phản ứng cuối cùng của nghĩa quân Yên Thế và một cuộc binh biến phát triển thành khởi nghĩa của binh lính người Việt ở Thái Nguyên do Đội Cấn lãnh đạo, kéo dài được hơn 4 tháng (từ 31-8-1917 đến 10-1-1918).


Những lời tự sự và bài nói, bài viết từ khi trở thành đảng viên cộng sản của Nguyễn Ái Quốc chứng minh rằng cái mà Người đi tìm không dừng lại ở một "quyết tâm tiến hành cách mạng để giải phóng dân tộc". Cái Người quyết đi tìm còn là và trước hết là một con đường, một phương thức tiến hành giải phóng dân tộc sao cho có hiệu quả, trong cuộc đọ sức quyết liệt với những thế lực chưa từng bị đánh bại ở bất cứ nơi nào bị chúng biến thành thuộc địa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #79 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2021, 07:03:49 am »

2. Nguồn gốc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh

Một hệ thống tư tưởng quân sự đã hình thành hoàn chỉnh đến mức đã chỉ đạo thành công cuộc vũ trang khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng, liên tục đánh thắng "hai đế quốc to" trong điều kiện ta luôn yếu kém so với đối phương trên nhiều phương diện, tất phải quy tụ và gạn lọc được từ rất nhiều nguồn gốc của dân tộc và của nhân loại, kim cổ, Đông Tây không bỏ qua tinh hoa trí tuệ từ bất cứ nguồn nào. Có thể khái quát thành 4 nguồn gốc chính.


a) Cơ sở để tiếp thu học thuyết chủ nghĩa Mác - Lênin về khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng, tiếp thu các tinh hoa quân sự trên thế giới là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

"Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước đã đưa tôi tới chủ nghĩa Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”. Chủ nghĩa yêu nước mà Nguyễn Ái Quốc mang theo trên hành trình tìm đường cứu nước là chủ nghĩa yêu nước, là sự chứa chất đầy uất hận của cả một dân tộc bị giày xéo, chà đạp đến không còn đường sống, sẵn có trong ý thức của nhà yêu nước trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc chính là truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất của dân tộc Việt Nam; là niềm tự hào sâu sắc về những truyền thống vẻ vang đó. Sau này nhiều lần Người khẳng định: "Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v... Chúng ta phải ghi nhó công lao của các vị anh hùng dân tộc vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập 6, H.1995, tr.171-172).


Chính tinh thần tự tôn dân tộc, tự hào với truyền thống quật cường bất khuất của ông cha đã thúc đẩy người thanh niên yêu nước đi tìm đường cứu nước, cũng đồng thời là cái vốn có sẵn làm cơ sở để tiếp nhận và hấp thụ lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm lý luận quân sự.


b) Bản chất tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh được xác định từ học thuyết Mác-Lênin về khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng

Nguyễn Ái Quốc tiếp cận rất nhanh với quan điểm bạo lực cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo, vận dụng vào hoàn cảnh ở thuộc địa: "Người Đông Dương không được học... Đau khổ, nghèo đói và sự đàn áp tàn bạo là những người thầy duy nhất của họ... Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi. Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, sđd, tr.28).


Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin thông qua thực tiễn chiến đấu và công tác, từ cương vị "thành viên Ban nghiên cứu thuộc địa trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp" tới cương vị là "Ủy viên ban thư ký Viễn Đông của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản", cộng tác viên đắc lực của Manuinxki - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản. Trong những năm ở Mátxcơva, Người đã để thời gian tìm hiểu về cuộc Cách mạng tháng Mười Nga, về Hồng quân công nông và cuộc chiến tranh yêu nước đánh bại bọn Bạch vệ và sự can thiệp của 14 nước đế quốc, về công cuộc khôi phục kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc chính quyền Xô-viết. Người cũng chăm chú tìm hiểu những hoạt động đầy trách nhiệm của Quốc tế Cộng sản để thúc đẩy phong trào cách mạng giải phóng xã hội, giải phóng con người ở khắp nơi trên thế giới.


Nhiều năm tiến hành công tác của Quốc tế Cộng sản trên đất Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã cùng Bôrôđin - bấy giờ đang là Trưởng đoàn cố vấn Liên Xô ở Quảng Châu, trực tiếp chứng kiến sự thành công của Công xã Quảng Châu, sự ra đời của các lực lượng vũ trang cách mạng của Công xã; trực tiếp tổ chức và huấn luyện nhiều khoá đào tạo cán bộ Việt Nam tại Quảng Châu; trực tiếp cử nhiều cán bộ Việt Nam đi học trường Hoàng Phố và trường Đại học Cộng sản Phương Đông... Ngoài ra, trong thời gian đó, Người cũng đã cùng Bôrôđin chứng kiến cuộc đảo chính phản cách mạng của phái hữu Quốc dân Đảng diễn ra ngày 12-4-1927, cuộc tàn sát những người Cộng sản hoạt động trong công xã.


Về Mátxcơva lần thứ hai để tìm đường trở lại Thái Lan, qua Đức, Ý, Singapo, Nguyễn Ái Quốc đã dành thời gian giảng dạy về công tác quân sự của Đảng trong nông dân "tại trường quân sự của những người Cộng sản Đức" ở Mátxcơva1 (Bài giảng này đã được A.Neuberg tuyển chọn và xuất bản ở Luân Đôn, được coi là tài liệu quân sự đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc giảng dạy năm 1927). Kinh qua công tác thực tiễn trong các tổ chức chỉ đạo của Đảng Cộng sản Pháp, của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã sớm trở thành người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, cả về lý luận và thực tiễn, là giảng viên lý luận quân sự Mác-Lênin tại trường quân sự quốc tế.


Sau lần bị bắt tại Hồng Kông, trở lại Liên Xô lần thứ ba, ngày 11-9-1934, Nguyễn Ái Quốc vào học trường Quốc tế Lênin. Tại đây, Người trang bị cho bản thân kiến thức về các môn Triết học (Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử), Kinh tế chính trị, Lịch sử đất nước và Công tác xây dựng Đảng1 (Xưởng bánh kẹo Mátxcơva còn giữ kỷ niệm về những ngày Nguyễn Ái Quốc (Lin) đi nghiên cứu "công tác xây dựng Đảng tại xí nghiệp" ở xưởng mình) một cách hệ thống, cơ bản. Người đã chọn đề tài "Vấn đề ruộng đất ở vùng Đông Nam Á" để làm luận án tốt nghiệp. Năm 1935, Ban lãnh đạo Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa phân công Nguyễn Ái Quốc giảng lịch sử Đảng và những nguyên lý của công tác tổ chức Đảng cho nhóm học sinh Việt Nam học ở Mátxcơva. Sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ bảy (tháng 7-1935), Nguyễn Ái Quốc tiếp tục về công tác tại "Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa” cùng Manuinski và trở lại Trung Quốc vào giữa năm 1938.


Trong suốt thời gian từ 1938 tới cuối năm 1940, với danh nghĩa "phái viên toàn quyển của Ban thư ký Viễn Đông của Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản", có lúc, Người là thượng khách của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Diên An; có lúc, Người đóng vai thiếu tá Hồ Quang của Bát lộ quân Trung Quốc, nhiều năm làm bí thư chi bộ các giáo viên cộng sản tại trường cán bộ du kích Nam Nhạc do Tưởng Giới Thạch mở ở Hoành Sơn trong thời kỳ Quốc Cộng hợp tác.


Dưới danh nghĩa một cán bộ cấp tá của Bát lộ quân, Nguyễn Ái Quốc có nhiều điều kiện tìm hiểu sâu về cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, về lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Trung Quốc, về chiến lược, sách lược của Đảng trong thời kỳ Quốc Cộng hợp tác và cả thời kỳ Tưởng Giới Thạch phá vỡ khối hợp tác đó.


Nguyễn Ái Quốc tiếp thu học thuyết quân sự Mác-Lênin không thông qua một chương trình đào tạo người cán bộ chỉ huy, nhưng tiếp thu ở một cấp độ cao hơn là cấp độ chỉ đạo chiến lược cách mạng, chiến lược quân sự. Hầu như tất cả các nội dung thuộc về lý luận quân sự, Người chẳng những nắm vững mà còn trải qua trong thực tiễn sinh động và chính điều đó là những nhân tố cơ bản góp phần tạo nên một hệ thống tri thức phong phú cho phép Người ứng dụng một cách hoàn toàn độc lập, chủ động và sáng tạo.


Cùng với truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc Việt Nam, lý luận gắn chặt với thực tiễn quân sự Mác - Lênin mà Người tiếp thu được trong suốt hai thập kỷ công tác trên đất Liên Xô và Trung Quốc (trong bối cảnh cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng giải phóng dân tộc đang diễn ra sôi sục) đã trở thành nguồn gốc quy định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự, nâng quan điểm bạo lực chống đế quốc sẵn có của dân tộc Việt Nam lên một chất lượng hoàn toàn mới, đủ sức làm đối trọng với bạo lực tàn bạo của thực dân đế quốc trên mọi lĩnh vực, cả lý luận và thực tiễn.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM