CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG MÙA MƯA NĂM 1972 KINH NGHIỆM VỀ HIỆP ĐỒNG CHIẾN ĐẤU GIỮA QUÂN TÌNH NGUYỆN VIỆT NAM VÀ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG LÀO
Trung tá, TS LÊ VĂN CỨU
Phó Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng
Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của hai dân tộc Việt Nam - Lào, Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 là dấu ấn đậm nét. Đó không chỉ là kết quả của cả một quá trình đoàn kết chiến đấu bền chặt được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử, mà điểm cần nhấn mạnh, thắng lợi này đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về hiệp đồng chiến đấu giữa Quân tình nguyện Việt Nam với lực lượng vũ trang cách mạng Lào, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với xây dựng mối quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai quân đội và nhân dân hai nước thời kỳ mới.
Một là, luôn quán triệt đường lối, chủ trưovg đoàn kết quốc tế của Đảng và phương châm chiến lược "Giúp bạn là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để phối hợp chiến đấu hiệu quả
Tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, về phía Việt Nam, gồm 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335, và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh; 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không; 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh
1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam. Quyển 1: Lịch sử quân sự Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 246-247), về phía Lào có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và dân quân du kích
2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 593). Đây là những đơn vị mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng hai nước, bảo đảm cho việc tổ chức chiến dịch phòng ngự giành thắng lợi.
Kể từ khi được thành lập và được cử sang hoạt động tại Lào, bộ đội tình nguyện Việt Nam luôn quán triệt chủ trương, đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng và phương châm chiến lược "Giúp bạn là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để phối hợp chiến đấu hiệu quả với lực lượng vũ trang cách mạng Lào. về vấn đề này, tháng 10 năm 1967, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong Nghị quyết về tăng cường công tác giúp Lào đã đề ra phương châm giúp Lào phải "Cơ bản, toàn diện, liên tục, lâu dài"
3 (Nghị quyết của Bộ Chính trị tăng cường giúp đở cách mạng Lào, ngày 10 tháng 10 năm 1967, lưu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số ký hiệu TV//453, tr.3) và sau đó đầu năm 1968, vận dụng phương châm này trong công tác giúp Lào về quân sự, Quân ủy Trung ương (Việt Nam) nhấn mạnh giúp Lào phải "Cơ bản, toàn diện, có hiệu lực"
4 (Dự thảo báo cáo tổng kết công tác chuyên gia quân sự - Phần thứ hai, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số ký hiệu TK753). Tiếp đó, từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 2 năm 1970, Quân ủy Trung ương (Việt Nam) họp hội nghị, khẳng định: "Giúp đỡ cách mạng Lào là nhiệm vụ quốc tế, đồng thời là nhiệm vụ chiến lược quan trọng của nhân dân ta và các lực lượng vũ trang ta, chúng ta phải làm cho tốt..."
5 (Biên niên sự kiện tổng kết Lào trong chống Mỹ năm 1969 -1970, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số ký hiệu TK935, tr. 19). Nghị quyết Quân ủy Trung ương về viẹc kiện toàn tổ chức giúp bạn Lào (1.12.1971) tiếp tục nhấn mạnh: Tất cả các lực lượng vũ trang Việt Nam giúp Lào đều phải nghiêm chỉnh thực hiện những nguyên tắc và quan hệ quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam. Trong quan hệ Việt Nam - Lào phải thực hiện tốt quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đoàn kết, ủng hộ nhau trên nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản và trên tinh thần đồng cam cộng khổ, sống chết có nhau, gắn bó bên nhau, cùng nhau chống kẻ thù chung, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng của hai Đảng, hai dân tộc và của phong trào cách mạng thế giới
1 (Nghị quyết Quân ủy Trung ương về việc kiện toàn tổ chức giúp bạn Lào, ngày 1 tháng 12 năm 1971, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, số ký hiệu TW 458, tr. 5).
Bên cạnh chủ trương, đường lối của Đảng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến vị trí, ý nghĩa của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào và Người có nhiều chỉ dẫn quý báu đối với các lực lượng quân sự Việt Nam giúp Lào. Trong "Thư gửi các đơn vị bộ đội ta có nhiệm vụ tác chiến ở Thượng Lào" (13.4.1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình"
2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 105).
Trước và trong suốt quá trình diễn ra Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, các đơn vị đã tổ chức giáo dục, quán triệt quan điểm liên minh chiến đấu, đoàn kết chặt chẽ giữa ta và bạn; tập trung làm cho bộ đội nhận thức sâu sắc đường lối, chủ trương đoàn kết với cách mạng Lào của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm sâu sắc hơn quan điểm "Đông Dương là một chiến trường", liên minh chiến đấu giữa ta và bạn là tất yếu khách quan của sự nghiệp cách mạng hai nước. Từ đó, thống nhất nhận thức, tư tưởng và hành động thực tế của bộ đội, đưa đến thắng lợi của chiến dịch.
Có thể nói, chủ trương, đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng và phương châm chiến lược "Giúp bạn là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, luôn được Quân tình nguyện Việt Nam thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào quán triệt và liên minh chiến đấu hiệu quả với lực lượng vũ trang cách mạng Lào, được thể hiện sinh động trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972. Do quán triệt tốt chủ trương, đường lối đỏ, dù còn nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng Quân tình nguyện Việt Nam luôn nỗ lực phấn đấu vươn lên phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang cách mạng Lào tác chiến hiệu quả, qua đó kết thúc thắng lợi chiến dịch quan trọng này. Đây cũng là kinh nghiệm quý về sự hiệp đồng chiến đấu giữa Quân tình nguyện Việt Nam với lực lượng vũ trang cách mạng Lào, có ý nghĩa sâu sắc đối với xây dựng liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam thời kỳ mới.
Hai là, phối hợp chiến đấu chặt chẽ, phù hợp với loại hình tác chiến chiến dịch, giành thắng lợi quyết định giữa bộ đội tình nguyện Việt Nam với lực lượng vũ trang cách mạng Lào
Theo đánh giá của các nhà quân sự Mỹ, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là "chìa khóa của nước Lào", còn những lãnh tụ của Đảng Nhân dân cách mạng Lào thống nhất khẳng định rằng: "Nếu coi nước Lào là một con voi thì Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là cái đầu"
1 (Viện Khoa học xã hội quốc gia Lào - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 203). Với vị trí chiến lược quan trọng về nhiều mặt đó, trong suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Lào, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến trường nóng bỏng, nơi diễn ra những trận quyết chiến quan trọng của cả hai bên. Hơn nữa, đã thành quy luật, ở đây, trong mùa khô, liên quân Việt - Lào phối hợp tổ chức nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch lớn để làm chủ những khu vực quan trọng, nhưng đến mùa mưa, đường sá đi lại khó khăn, tiếp tế hậu cần không thuận lợi, đế quốc Mỹ với công thức quân phái hữu Lào, quân Thái Lan cùng sự hỗ trợ của không quân, hậu cần và cố vấn Mỹ đã đánh chiếm lại khu vực này. Vì vậy, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã trở thành một địa điểm tập trung sức mạnh quân sự, đồng thời là nơi tiêu tốn một số lượng lớn sinh lực và vật lực của cả đôi bên.
Chủ động khắc phục tình trạng trên và cũng là để bảo vệ thành quả giành được, giữ chắc "chiếc chìa khóa" của chiến trường Lào, trên cơ sở sự thống nhất giữa Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào
1 (Đảng Nhân dân Lào thành lập năm 1955, đến năm 1972 đổi tên là Đảng Nhân dân cách mạng Lào) cũng như của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng hai nước, từ tháng 5 đến tháng 11 năm 1972, lực lượng vũ trang hai nước quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với mục đích: "Đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho hai chiến dịch tiến công Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược 1972"
2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 592) trên chiến trường miền Nam Việt Nam.
Quán triệt mục đích đó, thực hiện nhiệm vụ được giao, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp hiệu quả với lực lượng vũ trang cách mạng Lào trong toàn bộ chiến dịch, qua đó góp phần làm nên chiến thắng cuối cùng của chiến dịch. Cùng thực hiện nhiệm vụ, giữa Quân tình nguyện Việt Nam và các lực lượng vũ trang Lào luôn có sự nhất trí cao trong chủ trương cũng như trong thực hành chiến dịch. Trong thành phần Bộ Tư lệnh Chiến dịch, có cả đại diện Bộ chỉ huy của Lào để có thể kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng cách mạng Lào thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả cao nhất. Trong toàn chiến dịch, liên quân Lào - Việt đánh tổng cộng 244 trận (Việt Nam đánh 170 trận, Lào đánh 74 trận), loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch (trong đó bắt 179 tên), đánh thiệt hại nặng 3 binh đoàn cơ động là 21, 23 và 26, 3 tiểu đoàn quân Thái Lan, đánh thiệt hại 5 binh đoàn cơ động khác; bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng các loại, đánh bại hoàn toàn cuộc tấn công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng
1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Sdd, tr. 604). Tuy nhiên, điều cần lưu ý, với thắng lợi này, liên quân Việt - Lào đã vĩnh viễn xóa đi quy luật giành kiểm soát địa bàn chiến lược này trong mùa khô và mùa mưa giữa ta và địch từng kéo dài nhiều năm trước đó; đồng thời, giữ chắc được "Chiếc chìa khóa" cho cách mạng Lào, mở ra một thời kỳ mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào; kịp thời phối hợp hiệu quả với hoạt động tác chiến trên toàn chiến trường Đông Dương, nhất là với cuộc tiến công chiến lược 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Thêm vào đó, chưa xét đến hình thức là chiến dịch tiến công hay phòng ngự, mà chỉ qua số lượng đơn vị địch từ chỗ chỉ với 40 tiểu đoàn ở Chiến dịch "Toàn thắng"
2 (Còn gọi là "Chiến dịch 139" hay Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng do Liên quân Việt - Lào phối hợp tiến hành từ ngày 25 tháng 10 năm 1969 đến ngày 25 tháng 4 năm 1970), 30 tiểu đoàn ở mùa khô 1971 - 1972, rồi tăng vọt lên 76 tiểu đoàn, trong khi lực lượng của liên quân giữa bộ đội tình nguyện Việt Nam với lực lượng vũ trang cách mạng Lào cơ bản không thay đổi, thậm chí là giảm đi về số lượng đơn vị, mà rút cuộc vẫn toàn thắng. Đó là biểu tượng sinh động về tình đoàn kết chiến đấu thủy chung, son sắt, có hiệu quả cao giữa Quân tình nguyện Việt Nam với lực lượng vũ trang cách mạng Lào.
Về nghệ thuật tác chiến chiến dịch, tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, từ chỗ nhiều năm chỉ chuyên thực hành tác chiến tiến công, tác chiến phòng ngự mới chỉ xuất hiện ờ một số ít trận đánh quy mô nhỏ, quy mô chiến dịch hầu như chưa từng có, do đó thành quả giành được không được bảo đảm vững chắc, thì đây là lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, liên quân Việt - Lào đã tổ chức thành công loại hình chiến dịch phòng ngự một cách hoàn chỉnh, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của đối phương. Đó không chỉ là bước nhảy vọt về nghệ thuật tiến hành chiến tranh, mà điều quan trọng là đã góp phần khẳng định rằng: Dù trong chiến tranh giải phóng đẩt nước, bên cạnh việc tiến hành chiến dịch tiến công là chủ yếu vẫn phải tổ chức các chiến dịch phòng ngự. Chỉ có như vậy mới bảo vệ vững chắc thành quả chiến đấu giành được, giữ vững được những địa bàn trọng yếu. Kinh nghiệm quý giá được đúc kết từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972 giữa Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang cách mạng Lào về nghệ thuật tác chiến chiến dịch vẫn có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Lào và Việt Nam trong giai đoạn cách mạng hiện nay.