Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:08:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam không thể nào quên - Quyển 2  (Đọc 21832 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2023, 08:41:02 pm »

Bảo vệ Hà Nội

Vào hạ tuần tháng 7 năm 1965, Tiểu đoàn 61 của chúng tôi đã chiếm lĩnh trận địa dọc theo con đường số 32, ngoại ô thị xã Sơn Tây, cách trung tâm Hà Nội 35 km về phía Tây. Không quân Mỹ đã tạo ra đầy đủ cường độ cho “quá trình học tập” và chúng tôi cũng không cần tiến hành báo động giả vì có rất nhiều lần báo động chiến đấu. Trạm trinh sát và chỉ định mục tiêu (cán bộ chiến sĩ bộ đội tên lửa thường gọi là ra đa P-12 - ND) đã làm việc 24/24. Khi dạy các chiến sĩ bộ đội tên lửa Việt Nam, chúng tôi đã học được rất nhiều điều: chúng tôi nghiên cứu chiến thuật bay của không quân Mỹ, nghiên cứu bản đồ tuyến đường bay, các loại nhiễu mà không quân Mỹ sử dụng.

Vì khi cử chúng tôi sang Việt Nam, rõ ràng là chưa có ý định là chúng tôi sẽ tham gia chiến đấu. Do đó chúng tôi sang với số lượng không đầy đủ theo biên chế, trong mỗi đơn vị cũng thiếu trắc thủ. Trong nhóm chuyên gia của Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không 61 chỉ có 28 người, mà theo biên chế của thời bình thì phải có 70 người.

Chỉ huy của Tiểu đoàn là Thiếu tá Ivan Konstantinovich Proskumin,

Trong xe “U” (xe điều khiển tên lửa - ND), có 16 người, gồm có:

- Sĩ quan điều khiển

- Trắc thủ bám sát mục tiêu bằng tay theo góc tà

- Trắc thủ bám sát theo cự ly

- Trắc thủ bám sát theo phương vị

- Trắc thủ ra đa

- Tiêu đồ viên

- Chỉ huy khẩu đội kỹ thuật vô tuyến

- Kỹ thuật viên cabin “PA”

- Trắc thủ cabin “PA”

- Kỹ thuật viên cabin “K”

- Kỹ thuật viên cabin “SVK”

- Kỹ thuật viên cabin “RPK”

- Trắc thủ cabin “RM”

- Trắc thủ cabin “C”

Khẩu đội bệ phóng, gồm có 3 trung đội:

- Trung đội 1, phụ trách 2 bệ phóng, có 4 người

- Trung đội 2, phụ trách 2 bệ phóng, có 4 người:

- Trung đội 3, phụ trách 2 bệ phóng, có 4 người.

Thực tế là trong thời gian chỉ có 1 tháng, không thể đào tạo được 1 chiến sĩ tên lửa hoàn chỉnh. Do đó, nếu triển khai chiến đấu, thì trong tất cả các vị trí phải có các chuyên gia Liên Xô. Việc thiếu quân số trong đoàn chuyên gia là một khó khăn lớn trong việc đảm bảo hiệu quả chiến đấu của tiểu đoàn và trung đoàn. Nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ trong đoàn chuyên gia Liên Xô phải thực hiện chức năng của hai người, và đôi khi của ba người. Theo biên chế trong thời bình, một khẩu đội bệ phóng gồm có 4 người - chỉ huy và 3 trắc thủ. Để hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, Trung đội bệ phóng Liên Xô của tôi mặc dù thiếu 3 người nhưng vẫn phải tách ra làm 2 để phục vụ 2 bệ phóng của trung đội 3 và một bệ phóng của trung đội 2. Tất nhiên, chúng tôi cùng với các đồng chí Việt Nam thực hiện nhiệm vụ chiến đấu này.

Ngoài ra, tôi như một chỉ huy trung đội (thực tế, những người này cũng chưa có), đã phải giúp chỉ huy đại đội, và đôi khi làm việc thay cho cả trắc thủ cabin “C”. Tình hình thiếu biên chế như thế đã xảy ra trong tất cả các khẩu đội và các tiểu đoàn của Trung đoàn Tên lửa Phòng không đầu tiên (E 236 - NCK). Do đó, mỗi người chúng tôi đã làm mọi việc để đảm bảo sẵn sàng chiến đấu.

Các trắc thủ bám sát bằng tay và toàn thể CBCS Đại đội kỹ thuật vô tuyến đôi khi phải làm việc liên tục trong 12-14 giờ, không ra khỏi cabin, mặc dù nhiệt độ trong các xe cabin lên tới + 70°C. Các chiến sĩ trẻ phải mặc quần cộc, ngồi trong cabin làm việc. Tuy thế, vẫn không giảm được cái nóng bức và ngột ngạt ở trong xe. Trên mặt ghế quay của trắc thủ luôn luôn ướt đẫm mồ hôi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2023, 08:42:40 pm »

Nạp nhiên liệu cho đạn tên lửa

Sau khi đã thu hồi khí tài bệ phóng để hành quân đến trận địa mới, một khó khăn nhất cho kíp chiến đấu là nạp nhiên liệu ô xy vào tên lửa. Để nạp nhiên liệu ô xy vào tên lửa, trắc thủ phải mặc bộ quần áo bảo hộ làm bằng vải cao su, đi ủng cao su, đeo mặt nạ phòng độc, đeo găng tay cao su. Trong điều kiện nhiệt độ ngoài trời là 35 độ, trắc thủ phải làm việc trong gần một giờ, mồ hôi chảy ra như tắm.

Sau 20 phút, bạn đã cảm thấy trong đôi ủng cao su và trong đôi găng tay cao su có hơi nước. Nhìn qua kính mặt nạ, trắc thủ có thể nhìn thấy hơi của chất ôxy có màu nâu nâu đang bay quanh người.

Đây là một công việc làm cho trắc thủ tiêu hao nhiều công sức nhất.

Trận đánh xảy ra vào chiều ngày 24 tháng 7 năm 1965 tại trận địa cách Hà Nội 60 km. Tham gia trận đánh có Tiểu đoàn 63 và tiểu đoàn 64 Trung đoàn Tên lửa Phòng không 236 Quân chủng PKKQ. Chỉ huy Tiểu đoàn 63 là Thiếu tá Boris Mozhayev và Đại úy Nguyễn Văn Thân; Chỉ huy Tiểu đoàn 64 là Thiếu tá Fedor Ilyin và Đại úy Nguyễn Văn Ninh. Sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 63 là Thượng úy Vladislav Konstantinov và Trung úy Lã Đình Chi; Sĩ quan điều khiển của Tiểu đoàn 64 là Thượng úy Oleg Bondarev và Trung úy Phạm Trương Uy. 3 máy bay ném bom chiến đấu của Mỹ bay ở độ cao hơn 2000 mét từ phía Tây dãy núi Trường Sơn về Hà Nội đã bị bắn rơi. Đây là những chiếc máy bay thứ 399, 400 và 401 của không quân Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam tính từ ngày 05 tháng 8 năm 1964.

Sau này, đồng chí Phạm Trương Uy được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, còn các chuyên gia quân sự Liên Xô nói trên đều được Nhà nước Liên Xô trao tặng Huân chương Cờ Đỏ, Huân chương Sao Đỏ và Huy chương “Hữu nghị” của Việt Nam.

Các bạn Việt Nam đã dùng mảnh máy bay Mỹ thứ 400 bị bắn rơi để làm huy hiệu chiến thắng trận đầu, trên nền của huy hiệu có chữ 24-7-65. Những người đã tham gia trong các trận bắn máy bay Mỹ đều được tặng tấm huy hiệu này. Tấm huy hiệu này của tôi (tác giả Kolesnik) được giữ ở Bảo tàng Trung ương các Lực lượng Vũ trang Nga).

Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra quân trận đầu. Chúng tôi cùng với những người bạn Việt Nam đã vui mừng chào đón chiến thắng đầu tiên của vũ khí tên lửa Liên Xô. Sau chiến thắng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định lấy ngày 24 tháng 7 năm 1965 là ngày truyền thống Bộ đội Tên lửa Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau trận chiến này, trừ máy bay không người lái, còn các loại máy bay Mỹ trong hai tuần hoàn toàn không dám bay vào Hà Nội. Nhưng họ tiếp tục đánh bom một cách dã man xuống các tỉnh phía Nam thành phố Hà Nội

Trong giai đoạn “nhàn rỗi này”, chúng tôi đã tranh thủ dạy các bạn Việt Nam về lý thuyết và thực hành nhằm nâng cao sức chiến đấu. Thí dụ: như cách nạp đạn vào bệ phóng, thu hồi đạn ra khỏi bệ phóng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2023, 08:43:44 pm »

Những buổi tối ở Việt Nam

Vào các buổi tối, khi cái nóng bức đã giảm xuống một chút, chúng tôi đã dùng ghi-ta để thu hút mọi người cùng hát. Bạn Sasha Kurakin của chúng tôi là một tay chơi guitar sành điệu. Bài hát “chiếc accordion cô đơn” được hát thường xuyên hơn những bài hát khác. Các bạn hãy tưởng tượng: một đêm nhiệt đới oi bức, từng tốp đom đóm nhấp nháy trong tiếng kêu của những con ve sầu, trên bầu trời tối đen lấp lóe những ngôi sao, và ... “các bạn sẽ thấy thế nào???”.

Đôi khi chúng tôi tổ chức thi bóng chuyền giữa các đội Liên Xô và Việt Nam. Mọi người chơi bóng cũng “cay cú” được - thua, chẳng khác gì “đánh bạc”. Mỗi sân của từng đội được kèm theo một dấu chấm than thân thiện “Cố lên!”. Trên sân bóng chuyền, những người bạn chiến đấu trở thành “đối thủ” của nhau, thực sự nuối tiếc vì đội mình đã bị thua. Những người chơi bóng chuyền của cả 2 đội đều rất tuyệt vời, và những trận đấu đã diễn ra quyết liệt, nhưng tình bạn luôn luôn thắng.

Những ngày, đúng hơn là những buổi tối trở thành ngày hội thực sự của chúng tôi là khi chúng tôi được xem những bộ phim Liên Xô trình chiếu ngay tại nơi chúng tôi đang ở. Cư dân của tất cả các làng xung quanh đã đến xem phim cùng chúng tôi. Tôi nhớ bộ phim “Người lính của đội quân Malakhov Kurgan” là một trong số những bộ phim nói về chiến tranh, có tác động mạnh nhất đối với chúng tôi và các bạn Việt Nam. Bộ phim này đã được chiếu lại nhiều lần và mỗi lần chiếu đến cảnh các thủy thủ Biển Đen ném từng loạt lựu đạn vào các xe tăng địch đã gợi lên một cảm giác không thể tả được về tinh thần quả cảm, sự quyết tâm và lòng yêu nước của các thủy thủ Xô Viết.

Những bộ phim về cuộc sống yên bình, chẳng hạn như bộ phim âm nhạc “Người lính thủy thủ nhảy từ “tàu du lịch”, cũng được trình chiếu nhiều lần.

Các bạn Việt Nam vừa ngạc nhiên, vừa ngưỡng mộ những gì đang diễn ra trên màn hình với một loại ngôn ngữ thân thiện. Nhiều nhất là khi trên màn hình xuất hiện những cô gái Liên Xô xinh đẹp, đặc biệt là khi các đôi tình nhân hôn nhau. Tại thời điểm này, ở Việt Nam, một nụ hôn, như một cách thể hiện cảm xúc của những người đang yêu, mới bắt đầu được công nhận trong giới trẻ Việt Nam, và nụ hôn đó không được chấp nhận khi hôn một cách công khai.

Cần phải nói đến các nữ diễn viên trẻ trên phim đã gây được sự ngưỡng mộ đặc biệt trong khán giả.

Bộ phim “Cuộc chạy việt dã không có thưởng” đã được khán giả quá đam mê. Bộ phim này đã được chiếu nhiều lần, và mỗi lần chiếu, khán giả cười một cách thoải mái. Đây là bộ phim duy nhất, dễ hiểu mà không cần dịch.

Tôi rất tiếc trong suốt thời gian chúng tôi tham gia chiến đấu ở Việt Nam, chúng tôi chưa bao giờ được các nghệ sĩ Liên Xô đến thăm. Tôi nghĩ rằng đây không phải là lỗi của họ, mà là do chế độ “bảo mật nghiêm ngặt” của quân đội Liên Xô và Quân đội Việt Nam.

Món tráng miệng bằng mía

Thỉnh thoảng trước bữa ăn tối, Lai biến mất hút đi đâu, và sau một lúc anh xuất hiện với một bó cây giống thân cây ngô có màu xanh đậm. Đó là cây mía mọc gần trận địa chúng tôi. Lai quyết định gây bất ngờ và thiết đãi chúng tôi một cốc nước ép mía tự nhiên. Nước mía ép thực sự là một loại nước giải khát ngon và bổ dưỡng. Để ép được nước mía sạch, Lai đã tìm được một dụng cụ trong nhân dân, mà các bạn Việt Nam gọi là máy ép mía. Vì vậy, ở Việt Nam, nước mía được coi là một món ăn dành cho trẻ em và ở một mức độ nào đó, nó có thể thay thế bánh ngọt ở Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2023, 08:45:46 pm »

Hành quân bí mật. Trận địa phục kích

Bất cứ ai chưa từng nhìn thấy những con đường của Việt Nam trong thời chiến đều không thể hiểu hết tất cả những khó khăn trên đường hành quân của chúng ta phải băng qua cánh đồng lúa, rừng rậm và cuối cùng là những ngọn núi. Thiết bị phải chuyển qua những đầm lầy trên cánh đồng lúa, mà thực tế chúng là những vùng trũng nhân tạo. Chỉ có “trâu nước” của Việt Nam mới có khả năng di chuyển qua những khu vực đầy bùn và nước như thế này. Các bệ phóng được cố định chặt vào gầm khung xe. Phải dùng xe xích để kéo xe chở bệ phóng vượt qua những quãng đường như đã mô tả ở trên.

Trên những ngọn đồi bán sơn địa là những dãy cây, bụi rậm, cảnh quan thật là đẹp. Song, bất chợt trên đường hành quân, lại đập vào mắt chúng tôi vài ba lô cốt bê tông cốt thép. Nghe nói đó là những “chiến lũy” của quân đội viễn chinh Pháp. Họ hy vọng nhờ có những “chiến lũy” này, các lực lượng viễn chinh của Pháp khi đó có thể cố gắng duy trì được chế độ thuộc địa ở Việt Nam, nhưng họ đã bị thất bại.

Hành quân trong rừng già dễ dàng hơn một chút. Nhưng ở một số nơi, để chuyển các bệ phóng qua được, cần phải chặt các cành cây rà sát mặt đất ở 2 bên đường, vì các cành cây đan xen chặt chẽ với dây leo và tạo thành một cái lều liên tục trên một con đường hẹp. Nhờ sự ngụy trang tự nhiên này, chúng tôi di chuyển qua khu rừng ngay cả vào buổi chiều, mà không sợ máy bay địch từ trên cao phát hiện ra chúng tôi.

Trong rừng Việt Nam có rất nhiều loài chim và động vật. Chúng được coi là cư dân bản địa của rừng Việt Nam. Sự xuất hiện của chúng tôi đã làm mất đi sự bình an của chúng. Vì thế, chúng tôi bị “đáp lại” và chúng tôi cũng có những phản ứng, song chúng tôi lại sợ tiếp xúc với chúng. Những con ve rừng là loại động vật vô lễ nhất. Tương tự là những con vắt màu đỏ thẫm nhỏ xíu, chúng từ trên cành cây rơi xuống chúng tôi, bám chắc vào quần áo và... với tốc độ đáng kinh ngạc, chúng cắn qua quần áo chúng tôi vào tận da thịt. Đặc biệt là khi hành động, loại đỉa này không gây đau cho bạn, hình như chúng tiết ra chất giảm đau? Khi bạn đã phát hiện đang bị đỉa cắn, bạn muốn giải thoát - đó là một việc hết sức “vất vả”. Vì nó đã chui sâu vào cơ thể bạn đến 2 cm, phải cố gắng tìm cách kéo nó ra. Tốt nhất là nhờ bác sĩ của chúng tôi dùng nhíp để kéo từng con vắt ra khỏi lóp da cơ thể của bạn.

Mặc dù cuộc hành quân của chúng tôi hoàn toàn được giữ bí mật, song ở mọi địa phương chúng tôi đi qua, bất cứ lúc nào, ban ngày hay ban đêm, chúng tôi đều được nhân dân địa phương đón tiếp, chủ yếu là các ông bà luống tuổi và trẻ em.

Những người lớn chăm chú nhìn vào các đường nét bất thường của các bệ phóng được phủ bạt kín và rì rầm trao đổi với nhau những ấn tượng của mình về những gì mà họ được nhìn thấy. Những đứa trẻ với cặp mắt tinh nhanh và đứng thành tốp nhỏ, rồi đun đẩy những bạn được coi là “dũng cảm nhất” lên phía trước, về phía các bác “Liên Xô” tuy quá cao lớn nhưng không đáng sợ chút nào. Các cháu nói bằng tiếng Nga phát âm chưa chuẩn: (được dịch như sau: NCK)

- “Liên Xô! Liên Xô! Tốt! Xin chào! Đi đầu! Tạm biệt! Cám ơn! Liên Xô!”.

Một cuộc trò chuyện sôi nổi, thú vị giữa chúng tôi và người dân địa phương đã diễn ra trong các câu hỏi truyền thống: “Tên của bạn là gì?”, “Bạn bao nhiêu tuổi?”, “Bạn có vợ, con không?”, v.v... chúng tôi đã cố gắng trả lời bằng tiếng Việt, và nó tạo ấn tượng không thể diễn tả được đối với những người đối thoại của chúng tôi. Họ càng ngạc nhiên khi chúng tôi nói tiếng Việt “Liên Xô”, mặc dù chúng tôi phát âm chưa chuẩn!

Nghe khẩu lệnh “Tất cả lên xe!” Chúng tôi nói lời tạm biệt với dân làng, ngồi vào chỗ của mình trong xe và tiếp tục lên đường.

Hơi nóng đã giảm xuống một chút, không khí trở nên mát dịu. Ánh sáng yếu ớt của bầu trời giúp chúng tôi thấy được trước mặt chúng tôi đang xuất hiện các đường nét mềm mại của những ngọn đồi thấp đang chìm trong bóng tối. Phía dưới, ngay trên mặt đất, những tia sáng đom đóm màu xanh lục. Những đàn đom đóm đang bị quấy rầy bởi tiếng ồn của một đoàn người đang di chuyển, vội vã. Đứng đằng sau hàng rào dày đặc bằng những cây tre tươi là một người lính trẻ. Anh giật mình bởi những tia sáng hẹp của đèn pha xe ô tô. Những đường nét không vững chắc của các tòa nhà trong làng xuất hiện. Tại barie lối vào, được làm bằng một cây tre dài, người lính canh gác khoan thai đi lại với một khẩu súng trường cũ trong tay. Trả lời câu hỏi của người chỉ huy ngồi ở xe đầu:

- Đây là làng nào, đồng chí?

- Đây là xã Gia Sơn! Chúng tôi đã chờ đợi các đồng chí suốt cả đêm và mọi người vừa mới về nhà. Tôi được giao nhiệm vụ thông báo cho tất cả mọi người biết các đồng chí đã đến.

- Không cần phải thông báo. Để mọi người nghỉ ngơi - Người chỉ huy mệt mỏi nói.

Sau khi phân tán và ngụy trang khí tài, chúng tôi tranh thủ rửa mặt, chân tay cho hết mồ hôi và bụi rồi dùng một bữa ăn nhanh. Sau đó nằm nghỉ dưới một lán lớn được dựng bằng những tấm chắn làm bằng tre.

Khi hoàng hôn đã buông xuống, quan sát thấy trời đã nhá nhem tối, đảm bảo an toàn nếu có máy bay địch bay qua, chúng tôi bắt đầu bắt tay vào công việc chuẩn bị trận địa. Trận địa triển khai trên vùng đồi núi, do đó đất ở đây là loại đất có lẫn sỏi đá. Muốn san mặt bằng khu vực này phải dùng tới cuốc chim và xẻng và mất rất nhiều thời gian và công sức.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Huyện ủy huyện Gia Viễn, mọi tầng lớp nhân dân địa phương, chủ yếu là cụ già, phụ nữ và trẻ em đã đến giúp chúng tôi chuẩn bị trận địa. Chỉ trong đêm đó, không dưới 300 người dân địa phương đã san lấp gần như nửa quả đồi đất sỏi để chúng tôi có trận địa, chuẩn bị bước vào cuộc chiến. Mặc dù sau một đêm không ngủ và mệt mỏi, song nhân dân địa phương không muốn rời trận địa. Mọi người thích thú quan sát hiện trường, ngắm nhìn tên lửa, xe ô tô đặc chủng, máy kéo, các bệ phóng và ngắm cả chúng tôi nữa!!!

Đã gần 5 giờ sáng, mọi người phải rời trận địa trở về nhà. Trước khi ra về, họ yêu cầu chúng tôi bắn rơi ít nhất một máy bay và phải để cho họ nhìn thấy những mảnh vỡ của máy bay. Chị Liên nói: “Vì máy bay Mỹ mà chúng tôi không có nhà ở. Chúng ném bom cả ngày và đêm. Chúng thật đáng nguyền rủa...

Chúng tôi hứa nhất định sẽ thực hiện yêu cầu đó. Khi chia tay, tôi đã tặng cháu Đông huy hiệu có hình nhà du hành vũ trụ Gagarin. Cháu Đông rất vui mừng. Nắm chặt chiếc huy hiệu trong bàn tay bé xíu, Đông vẫy tay tạm biệt chúng tôi và hét lên: “Liên Xô! Gagarin! Tên lửa! Tốt! Tạm biệt!”
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2023, 08:48:05 pm »

Chiến đấu và chiến thắng

Mặc dù bị mệt mỏi toàn thân, đồng hồ đã chỉ 5 giờ 30 phút sáng, song cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 61 chúng tôi vẫn sẵn sàng, nghiêm chỉnh thực hiện các mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên.

Trong ngày hôm đó, 18 lần báo động, 18 lần chúng tôi đều ở vị trí chiến đấu của mình và nín thở chờ lệnh “Phóng”. Mười tám lần dây thần kinh của chúng tôi căng thẳng đến tột cùng, và 18 lần thay lệnh “Phóng” bằng lệnh “Hết báo động”.

Gần tối, máy bay Mỹ ít xuất hiện và chúng cũng chỉ bay cách trận địa chúng tôi hơn 70 cây số. Chúng tôi có bữa ăn tối nhiều hơn và yên bình hơn.

Ăn tối xong, chúng tôi phân công người trực và bắt tay nhau, chúc nhau ngủ ngon và đi đến chỗ nghỉ của mình.

Tôi ngủ thiếp đi ngay lập tức... Trong mơ, tôi nghe thấy tiếng còi báo động và tôi không thể lý giải: Tôi mơ hay có còi báo động thực? Và... tôi hiểu đây không phải là một giấc mơ. Tôi nhảy lên, lay các bạn Liên Xô của tôi: “Dậy! Vào cấp một!”.

Lấy quần áo, mũ bảo hiểm và vừa đi vừa mặc. Tôi chạy nhanh đến bệ phóng. Trong bóng tối, tôi bắt đầu tháo các khuy cài bạt. Hai tay tôi hành động như máy và sau 15 giây tất cả các khuy cài bạt đều đã được tháo. Cần phải cuộn bạt, nhưng không thấy khẩu đội trưởng Thanh và đồng đội của Thanh?

Tôi chạy đến lán tìm Thanh. Trong lều chuông điện thoại vang lên rất dữ, còn lều thì lắc lư. Tôi đoán rằng, các bạn Việt Nam chưa tỉnh ngủ, lại ở trong bóng tối, nên không tìm được lối ra. Tôi nhổ một cọc lều ở góc và vén lều lên. Trong ánh sáng mờ mờ, chúng tôi đã nhìn thấy nhau, các bạn nhảy ra, tôi la:

- Chạy ngay đến bệ phóng! Nhanh lên! Nhanh lên nào!

Thanh cùng đồng đội cảm thấy có lỗi vì sự chậm trễ, vội vàng chạy bán thốc, bán tháo. Chúng tôi chạy đến bệ phóng, dùng sào cùng lúc hất bạt xuống đất. Các vị trí của Khẩu đội đều báo cáo “xong”. Thời gian chỉ tính bằng giây.

Tôi kết nối phích cắm ở thân tên lửa với bệ phóng. Tôi báo cáo với đài chỉ huy:

- Khẩu đội 5 đã sẵn sàng chiến đấu!

- Được!.

Qua hệ thống liên lạc bằng loa, mọi người có thể nghe được cuộc đàm thoại:

- Phương vị 120, cự ly 32.

- Chuyển sang chế độ bám sát tự động!

- Rõ!

Tôi ra lệnh:

- Toàn khẩu đội vào hầm!

Chúng tôi ngã lộn nhào xuống dưới khe. Tôi báo cáo qua điện thoại:

- Trung đội 3 đã vào hầm trú ẩn!

- Được! Tiêu diệt tốp mục tiêu! Ba quả, lần lượt, cách nhau 6 giây! Phóng quả thứ nhất! (Giọng của Thiếu tá chỉ huy Proskumin).

- Rõ, phóng quả thứ nhất! (Sĩ quan điều khiển, Trung uý Karetnikov báo cáo).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2023, 08:49:38 pm »

Một tiếng nổ choáng tai, gập người chúng tôi xuống mặt đất. Tiếp theo là quả thứ 2, thứ 3... Ba khối lửa khổng lồ nối tiếp nhau lao lên trời, nhanh chóng bay về hướng Nam và nổ trong vòng sát thương mục tiêu.

Khi đã bị nổ tung, máy bay Mỹ đã tạo thành những đống lửa trên mặt đất, vệt khói tạo thành quĩ đạo máy bay rơi. Toàn bầu trời chìm trong biển lửa.

Chúng tôi được kíp chiến đấu trong xe điều khiển kể lại, một hình ảnh rất ấn tượng khi nhìn vào màn hình trong ca bin: 4 máy bay Mỹ xếp thành đội hình sát cạnh nhau, ở độ cao 3000 mét, bay vào khu vực chúng tôi, bị 3 tên lửa hạ gục. Đó là ngày 21 tháng 8 năm 1965 vào lúc 23 giờ 50 tại xã Gia Sơn, giáo xứ Xích Thổ, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Chúng tôi nắm chặt tay nhau, ôm nhau chúc mừng chiến công đầu.

Song, một khẩu lệnh từ chỉ huy sở vang lên:

- Tất cả vào vị trí chiến đấu!

Chúng tôi lại lao đến bệ phóng. Chúng tôi đưa xe chở tên lửa vào cầu trên bệ phóng. Tôi lệnh cho Khẩu đội:

- Nạp đạn!

Chúng tôi nhanh chóng nạp đạn, kết nối thân tên lửa với bệ phóng.

- Khẩu đội 5 đã sẵn sàng! - Tôi báo cáo đài chỉ huy

- Được... Mọi người ở lại vị tri!

Nhưng không có lệnh “Phóng!”. Sau nửa giờ chờ đợi, chỉ huy quyết định rút quân khỏi trận địa. Chúng tôi đã dốc hết sức còn lại để thu hồi khí tài. Từ mọi phía, trong bóng tối vang lên những tiếng hô bằng tiếng Nga “Đa vai! Đa vai!” và tiếng Việt “hai... ba này! cố lên này!”.

Chúng tôi đang thu hồi khí tài, nhân dân các làng lân cận đã kéo đến trận địa cũng náo nhiệt như đêm hôm trước. Họ chào đón chúng tôi đã đánh thắng và chân thành cảm ơn chúng tôi.

Nhiều người đã đem quà tặng chúng tôi: cam, chuối, mít. Chúng tôi rất xúc động bởi sự quan tâm như vậy. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ đến cái nhìn biết ơn, chứa đầy nỗi buồn của một người phụ nữ tên Loan. Tôi luôn nhớ đến cái bắt tay ấm áp của chị và câu chuyện xúc động mà chị đã kể:

“Cảm ơn các bạn! Các bạn đã trả thù cho hai con trai tôi. Mùa thu năm ngoái, máy bay Mỹ đã ném bom xuống làng chúng tôi. Quả bom đầu tiên rơi ngay xuống trường học... Không ai kịp chạy vào hầm trú ẩn. Tất cả đều chết... hai con trai của tôi cũng chết. Hai con tôi đều 11 tuổi. Cha của các cháu là Diện - Liệt sĩ năm 1954 trên chiến trường Điện Biên chống thực dân Pháp. Chồng tôi không biết tôi đã sinh đôi... Và bây giờ hai con trai thân yêu của tôi cũng không còn nữa... Người Mỹ đáng nguyền rủa! - Chị nói với sự giận dữ và giọng run run. - Bạn hãy vui lòng cầm lấy mấy quả quýt. Quýt rất ngon. Tình và Nam của chúng tôi rất thích ăn quýt...”.

Sau 40 phút kể từ khi có lệnh “Thu hồi khí tài - hành quân!”, Tiểu đoàn đã lên xe và hành quân vào rừng và trở lại Hà Nội.

Khi đã về đến trận địa ở ngoại thành Hà Nội, chúng tôi vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam đến thăm và động viên.

Tôi không bao giờ quên những kỷ niệm về trận đầu ra quân của Tiểu đoàn 61, Trung đoàn Tên lửa phòng không 236 Anh hùng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Moskva, năm 2010
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:10:09 pm »

CHUYẾN CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT ĐẾN VIỆT NAM

Kolesnikov Anatoly Ivanovich


Vài nét về tác giả

Đại tá Kolesnikov Anatoly Ivanovich sinh ngày 6 tháng năm 1936.

Năm 1944, khi đang có chiến tranh, ông mới đi học tiểu học. Sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, năm 1954, ông vào học tại Trường Cao đẳng Thông tin lạc Hàng không Quân sự tại thành phố Kharkov và tốt nghiệp khóa học vào năm 1957. Sau khi tốt nghiệp, ông được cử đi công tác ở Rumani trong một đơn vị độc lập số 1 của Lực lượng Vũ trang Xô.

Năm 1977, ông tốt nghiệp Đại học Quốc gia Kirghizsk mang tên 50 năm Liên Xô.

Ông đã giữ các chức vụ: Trung đội trưởng, Chỉ huy Tình báo Phòng không, Phó Chỉ huy Đại đội phó cơ giới - Phụ trách công tác chính trị; Tiểu đoàn phó - Phụ trách công tác chính trị; Huấn luyện viên cao cấp về công tác tổ chức Đảng của Phòng Chính trị Lữ đoàn cận vệ Phòng không 145.

Ông phục vụ tại Belarus, Turkmenistan, Kazakhstan và Kyrgyzstan.

Từ tháng 9 năm 1966 đến tháng 7 năm 1967, ông tham gia chiến đấu tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tức miền Bắc Việt Nam - ND) với tư cách là giảng viên cao cấp trong việc đào tạo Bộ đội trinh sát làm việc trên trạm ra đa phát hiện và xác định cự ly các mục tiêu trên không.

Sau khi từ Việt Nam về nước, ông tiếp tục giữ chức vụ là Chỉ huy đơn vị Trinh sát Tiểu đoàn Tên lửa Phòng không 41.

Do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, nên ông đã được Nhà nước Liên Xô tặng thưởng Huân chương “Sao Đỏ”, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Rumani tặng thưởng Huy chương “Hữu nghị” , ngoài ra, ông còn được tặng thưởng 11 huy chương khác.

Năm 1975, ông được bầu đi dự Hội nghị Bí thư Đảng toàn quân lần thứ 5 tại Moskva.

Dưới đây là bài hồi ức của ông.


Ban Biên soạn
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:12:26 pm »

Chuyến công tác đặc biệt đến Việt Nam

Tháng 7 năm 1966, Tiểu đoàn cận vệ của chúng tôi đã thực hiện bắn đạn thật tại trường bắn Ashuluk. Sau đợt bắn đạn thật đó, chúng tôi được thông báo sẽ có một số cán bộ, chiến sĩ được cử sang Việt Nam công tác. Chúng tôi được đưa đến nhà ga Pishpek ở Frunze và những người vợ đã tiễn chồng đi trong nước mắt và lo lắng.

Tình hình trong Tiểu đoàn khá căng thẳng, mọi người đang chờ đợi - ai sẽ được cử đi công tác?

Theo chỉ thị của Đại tá Pavluschenko, Lữ đoàn trưởng, tôi, Trung úy Albul, Trung úy Zakomozhny, Thiếu tá L và Thượng úy B được gọi đến Ban Tham mưu Lữ đoàn. Tại đây, chúng tôi được thông báo rằng, chúng tôi được cử đi một chuyến công tác đặc biệt ra nước ngoài, đến một đất nước có khí hậu rất ẩm ướt và nóng. Ngoài 5 anh em chúng tôi cùng một tiểu đoàn, còn có 2 sĩ quan thuộc tiểu đoàn khác. Hai sĩ quan này đã ngay lập tức từ chối nhiệm vụ nói trên. Họ lập luận rằng, họ sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự ở trên lãnh thổ Liên Xô.

Khi kiểm tra sức khỏe, mỗi người chúng tôi được cấp một quyển y bạ mới. Tại thời điểm này, hai sĩ quan L. và B. đã sử dụng các mối quan hệ để có lý do không đi công tác: Vợ của Thiếu tá L. làm việc tại Viện Y tế - và anh ta được chẩn đoán bị suy tim (sau đó anh ta phục vụ 28 năm). Còn vợ của Thượng úy B. là Bí thư Đảng ủy thành phố - anh ta được chẩn đoán bị loét dạ dày (với chẩn đoán này, ông phục vụ cho đến năm 1988). Vì vậy, nó trở nên rõ ràng ai là người thế nào?

Trong các sổ y bạ, căn cứ vào các chỉ số khám và xét nghiệm, Hội đồng giám định đã ghi kết luận: “Sức khỏe phù hợp để công tác trên lãnh thổ có khí hậu nóng và ẩm”.

Sau này mới biết, khi đó tôi là một người dự bị. Có một sĩ quan trong diện được chọn đi chuyến công tác đặc biệt này, nhưng khi ở Dushanbe, trong tiệm ăn, những đại diện từ Moskva đã nhìn thấy người sĩ quan này uống nhiều rượu. Vì thế, ông đã bị loại khỏi vòng đội ngũ sĩ quan thực hiện nhiệm vụ quốc tế do Chính phủ giao.

Cuối tháng 7, tôi được gọi đến Ban Tham mưu Lữ đoàn và được trao quyết định đi công tác. Thế là tôi được ghi danh vào một trung tâm đào tạo ở Dushanbe, chuẩn bị cho chuyến đi công tác đến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chỉ huy Trung tâm Dushanbe là Đại tá Yaroslavsev A.D., Tham mưu trưởng của Trung tâm là Trung tá Katyshev I.I.

Ở Dushanbe, tôi được bổ nhiệm làm giảng viên cao cấp đào tạo các khẩu đội trinh sát trên trạm ra đa. Còn giáo viên là Thượng úy Semechkin - đồng nghiệp với tôi từ Lữ đoàn 145 của chúng tôi.

Công tác đào tạo được bắt đầu từ việc lập kế hoạch và soạn giáo án để dạy các khẩu đội trinh sát Việt Nam tương lai. Các bài trong giáo án được biên soạn theo cách để làm cho các học viên Việt Nam dễ dàng hiểu và ghi chép được, vì họ phải nghe chúng tôi giảng thông qua phiên dịch.

Tiếp đó, một ủy ban từ Moskva đến kiểm tra công tác chuẩn bị của các giáo viên chúng tôi. ủy ban yêu cầu chúng tôi tiến hành giảng bài cho các khẩu đội trinh sát trên các trạm ra đa và các chuyên gia khác.

Đại tá, Trưởng khoa trường Đại học quân sự, (tôi không nhớ họ, tên của ông) đã trao đổi, trò chuyện với chúng tôi. Sau khi trò chuyện, ông có nhận xét về kiến thức của chúng tôi. Ông nói rằng, khi ông là giáo viên, thì ông không biết những gì mà nay chúng tôi biết. Ông đánh giá rất cao trình độ đào tạo và kiến thức của chúng tôi.

Không cần giữ bí mật, mọi người dân ở Dushanbe đều biết rằng chúng tôi là những người lính Hồng quân đang được chuẩn bị sang Việt Nam công tác.

Sau khi đã hoàn thành các thủ tục hành chính và tiêm chủng, (một số thủ tục tôi không kịp làm vì tôi trong diện gọi bổ sung, đến muộn so với mọi người), chúng tôi nhận quần áo dân sự. Thế là, tất cả chúng tôi nhìn bề ngoài đều giống nhau. Nhân dịp này, tôi muốn kể cho bạn đọc một số trường hợp xúi quẩy của tôi:

Thứ nhất: là trường hợp cán bộ quân lực đã dán nhầm ảnh trong hộ chiếu giữa tôi và một đồng chí trong đoàn, buộc hai chúng tôi phải làm lại hộ chiếu. Chính vì thế mà thời gian lên đường của chúng tôi bị chậm lại. Hộ chiếu của chúng tôi được mang từ Moskva về đơn vị là thời điểm các đồng chí của chúng tôi đã được mời lên máy bay.

Thứ hai: là năm 1970, sau khi từ Việt Nam về, tôi đã dự kỳ thi tuyển vào Học viện Chính trị về Đảng, điểm trúng tuyển là 8, mà tôi chỉ đạt điểm 7. Hội đồng tuyển sinh không tính điểm ưu tiên của tôi đã hoàn thành chuyến công tác đặc biệt và được trao tặng Huân chương “Sao Đỏ”, về phần tôi, tôi cũng không biết cung cấp cho Hội đồng tuyển sinh những tài liệu để chứng minh những thành tích trên. Vì thế tôi phải học khóa tại chức.

Thứ ba: là năm 1977, khi thi vào Học viện Giáo dục Đại học Kiev, không biết là cố tình hay thực sự là do quên, các hồ sơ ưu tiên của tôi cũng không được gửi tới trường. Sau này, tôi mới được Thiếu tá Andrianov - Trường phòng cán bộ giải thích với tôi. Điều xúi quẩy lại đến với tôi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:16:27 pm »

Trở lại chuyến công tác đặc biệt:

Ngày 14 tháng 9 năm 1966 chúng tôi bay trên máy bay IL-18 đến Irkutsk, và ngày hôm sau, máy bay của chúng tôi hướng đến Bắc Kinh. Trên máy bay, khi vượt qua biên giới, phi hành đoàn bay thông báo rằng chúng tôi đã vượt qua biên giới và đang bay trên lãnh thổ nước ngoài. Tất cả chúng tôi bám vào cửa sổ, nhưng tất nhiên mọi người đều nghĩ về chính mình, về đất nước mà chúng tôi sẽ đến và về những gì đang chờ đợi chúng tôi ở phía trước.

Tại sân bay Bắc Kinh, chúng tôi được đại diện các cơ quan ngoại giao, thanh thiếu niên Trung Quốc đón tiếp khá long trọng.

Chúng tôi được mời đến nhà hàng của sân bay. Tại đây, chúng tôi nhìn thấy trên những chiếc bàn được phủ khăn trắng la liệt đồ ăn nhẹ và rượu mạnh. Đây là một cuộc đón tiếp cao cấp. Liên tiếp vang lên những lời phát biểu thân thiện, đề nghị cùng nhau nâng cốc chúc mừng.

Chúng tôi đã trồng cây hữu nghị sau Restauran tại sân bay. Mọi thứ diễn ra đều rất thân thiện và dường như sẽ không có điều gì xấu xảy ra trong tương lai. Nhưng khi đoàn thứ hai của trung tâm chúng tôi bay qua Bắc Kinh sang Việt Nam vào tháng 1 năm 1967, khi quá cảnh qua Bắc Kinh, họ thậm chí còn không được ra khỏi máy bay.

Sau bữa trưa thịnh soạn và đồ uống mạnh, (mọi người chúng tôi đều trong tình trạng tốt), máy bay của chúng tôi hướng về Hà Nội. Chúng tôi bay đến sân bay Gia Lâm vào khoảng 22 giờ 30. Chúng tôi đều mặc com lê, thắt cà vạt trước khi ra khỏi máy bay. Nhưng vừa mới ra khỏi máy bay, chúng tôi đã gặp thời tiết ngoài trời quả nóng, và chúng tôi đã xin phép cởi áo khoác ngoài, bỏ cà vạt và đề nghị được uống gì đó cho đỡ nóng bức.

Sau khi hoàn thành một số thủ tục theo qui định, chúng tôi được đưa lên xe khách và đi trong đêm đến một nơi nào đó. Trên xe cấm hút thuốc lá và sử dụng bật lửa hoặc diêm. Một số đồng chí, đôi khi đã vi phạm quy định này. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy những tiếng nổ của pháo cao xạ từ xa, xe chở chúng tôi dừng lại, yêu cầu mọi người xuống xe và nấp xuống một con hào. Trong hào trú ẩn không còn tính chủ nghĩa lãng mạn, mọi người im lặng, không ai muốn hút thuốc nữa. Lúc này, mọi người chúng tôi mới hiểu rằng, chúng tôi đến đây không phải để đi dạo chơi, mà chúng tôi đã đến một đất nước đang chiến đấu.

Xe đưa chúng tôi đi trong đêm tối, đi trên những con đường có nhiều ổ gà. Xe đã chạy được khá lâu và đến một nơi mà chúng tôi nhìn qua cửa xe thấy hai bên đều là cánh rừng khô cằn. Lúc này, trời đã hừng sáng. Chúng tôi được các đồng chí Việt Nam trong tay cầm chiếc đèn dầu, đứng thành hai hàng dọc, tạo thành một hành lang và mời chúng tôi đi theo hành lang đó. Chúng tôi vừa đi vừa đáp lại lời chào của các bạn Việt Nam.

Chúng tôi được xem một chương trình nghệ thuật múa miêu tả cuộc chiến tiêu diệt con rồng mang tính tượng trưng. Đây là một loại hình nghệ thuật đầy màu sắc, mô tả cuộc đấu tranh bất diệt giữa thiện và ác, tất nhiên, kết thúc bằng chiến thắng của thiện - con rồng đã bị đánh bại. Mọi người đều rất hài lòng và hoan nghênh các nghệ sĩ.

Sau đó chúng tôi được đưa đến nơi nghỉ ngơi trong một ngôi nhà gỗ. Đây là những tòa nhà rất khác thường, cửa sổ và cửa ra vào đều không có cánh, song lại có thảm trải trên sàn nhà. Giường có chăn, gối và nệm được nhồi bằng rơm. Mọi thứ đều ẩm ướt, chúng tôi nghĩ rằng, tất cả các thứ ở trên giường đều đã được giặt sạch. Sau khi nghỉ ngơi, chúng tôi được mời đến ăn một bữa sáng nhẹ, và ở đây, chúng tôi thấy khu rừng có những cây cao, gió thổi tạo ra những tiếng đàn xen lẫn tiếng chim hót và tiếng ve sầu trở thành bản hợp xướng không bao giờ tắt.

Sau vài ngày chuẩn bị, chúng tôi được đưa về Trung tâm đào tạo ở Hà Đông (cách Hà Nội 8 km).

Tôi muốn lưu ý rằng, khi chúng tôi đến Trung tâm huấn luyện, xuống xe buýt và đi bộ trên khuôn viên của Trung tâm, chúng tôi thấy hai cabin P bị trúng tên lửa (Sorai) (Shrike). Ca bin 1 lúc này trông giống như một bông hoa đang nở. Còn cabin thứ hai giống như một cái lưới sắt. Bạn có thể hình dung được tâm trạng của mọi người như thế nào? Một kỹ thuật viên của cabin P, sau những gì anh ta nhìn thấy, ngay lập tức nói rằng, anh sẽ không tham gia chiến đấu trong cabin P. Anh ta ngay lập tức được gửi trở lại Liên Xô. Đây chỉ là một trường hợp cá biệt trong đội ngũ chuyên gia chúng tôi.

Chúng tôi được bố trí ở trong những ngôi nhà xây tường gạch và lợp ngói. Cửa sổ và cửa ra vào chưa có cánh gỗ, phải dùng các tấm chiếu cói để che. Trong nhà có nhiều chuột, chúng chạy dọc theo dây điện. Ban đêm, chúng cắn nhau chí chóe làm chúng tôi rất khó ngủ trong hoàn cảnh chưa quen với môi trường chiến tranh. Vài ngày sau, trong chúng tôi đã có đồng chí bị những triệu chứng bệnh lý về khí hậu, như bị mụn trứng cá có mủ, bác sĩ của chúng tôi đã dùng dao chích và lấy băng bịt kín.

Tất nhiên, bạn không thể hình dung được tất cả những gì đã đến với chúng tôi trong thời gian đó: từ việc ăn ở đến việc vệ sinh cá nhân hàng ngày.

Hoạt động “gian khổ” của chúng tôi đã bắt đầu ở Việt Nam như thế đó.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2023, 10:17:59 pm »

Các lớp học được thành lập, đội ngũ giảng viên được phân công đến giảng dạy từng khẩu đội theo hệ thống khí tài. Thời lượng học từ 4 giờ đến 6 giờ trong ngày. Các đồng chí Việt Nam rất cẩn thận trong học tập, ghi chép rõ ràng, những nội dung chính đều dùng bút chì màu đánh dấu.

Tôi dạy môn ra đa với các cán bộ chỉ huy của trung đoàn. Tại đây, các đồng chí đã nêu rất nhiều câu hỏi về bề mặt phản chiếu của mục tiêu; về những yêu cầu đối với trận địa triển khai trạm ra đa? Tại sao trạm ra đa nhìn vòng (trạm ra đa phát hiện và xác định mục tiêu P-12) lại không phát hiện được mục tiêu khi bị núi che khuất, hay trạm đó đã bị hỏng?! Đặc biệt là những câu hỏi mang tính thăm dò đã được đồng chí Chính ủy của Trung đoàn nêu ra. Khi tôi chia sẻ điều này với kỹ sư Osipov, đồng chí ấy nói rằng: “Lúc đầu, các bạn Việt Nam đều nêu các câu hỏi như thế với tất cả các giáo viên chúng ta”. Thời gian đầu, hình như các bạn Việt Nam muốn hiểu rõ về các chuyên gia Liên Xô và kiểm tra trình độ đào tạo của giáo viên. Họ nêu một câu hỏi với nhiều giáo viên, và cẩn thận lắng nghe câu trả lời của từng giáo viên để so sánh.

Những buổi lên lớp vẫn được tiến hành theo thời khóa biểu và chỉ bị gián đoạn khi máy bay Mỹ xâm phạm bầu trời Hà Nội. Chúng tôi thường xuyên được theo dõi máy bay Mỹ bay vòng quanh Hà Nội và thả bom như thế nào. Khi bom nổ, đất đã rung chuyển dưới chân chúng tôi giống như trận động đất. Pháo phòng không 75 ly được các xạ thủ Việt Nam điều khiển bằng thiết bị SON-9. Nhưng không hiểu tại sao, đạn pháo lại nổ ở phía sau mục tiêu. Tất cả chúng tôi đều bực bội, không hiểu tại sao lại xảy ra như vậy.

Chúng tôi được lệnh phải đội mũ bảo hiểm, nhưng không phải ai cũng làm điều này: đôi khi họ quên đem theo mũ bảo hiểm, hoặc bị bỏ lại trong phòng ăn, trong lớp học, v.v... Nhưng sau lần máy bay bắn phá tiếp theo, một mảnh đạn xuyên qua mái nhà làm trần nhà bị vỡ thành từng mảng và rơi xuống gần chỗ người trực ban. Từ đó, không ai bỏ quên mũ bảo hiểm ở bất cứ nơi nào.

Trong những ngày học, chúng tôi không có thời gian rảnh rỗi, vì chương trình học rất khép kín. Công việc chính là học tập, chuẩn bị bài, ăn tối và đi ngủ. Đôi khi, đơn vị chiếu phim cơ động hoặc đoàn văn công của Quân đội nhân dân Việt Nam đã đến phục vụ đơn vị chúng tôi.

Một lần vào lúc 5 giờ sáng, chúng tôi được gọi dậy và mời lên xe buýt, đưa đi vài cây số và xuống xe, ở lại trong một khu đồi có cây bao phủ. Mọi người chỉ biết làm theo lệnh, không được giải thích bất cứ điều gì. Đôi khi, ở cấp trên có những điều kỳ lạ như vậy. Bữa sáng, bữa trưa, chúng tôi được đưa đến khu đồi này, và vào lúc 17:00, khi máy bay Mỹ ngừng bay, chúng tôi lại được đưa về Hà Đông. Điều này diễn ra trong ba ngày. Sau đó, các bạn Việt Nam nói với chúng tôi rằng, chúng tôi sẽ chuyển đến ở trong ký túc xá của một trường Đại học Hà Nội. Nhưng vì một số lý do nào đó, chúng tôi lại lên xe và trở lại địa điểm ban đầu trong rừng rậm. Sau khi đã trở về địa điểm cũ, các đồng chí phiên dịch mới thì thầm với chúng tôi rằng, có tin báo địch chuẩn bị ném bom Trung tâm của chúng tôi, và ký túc xá mà chúng tôi chuyển đến, trước sau vẫn bị đánh bom. Điều này cho thấy các đồng chí Việt Nam là “những người đặc biệt”.

Các buổi lên lớp vẫn tiếp tục trong rừng với thời gian biểu như trước, các buổi thực hành được thực hiện ngay trên khí tài. Trong các giờ học, chúng tôi mới thấy được tính kiên trì, tìm tòi cái mới và khao khát kiến thức của các bạn Việt Nam. Mặc đù lớp học là một ngôi nhà được xây dựng bằng tre, nứa và không có tường bao bọc kín, mùa đông phải đốt củi ở giữa phòng để sưởi ấm. Chúng tôi mặc áo khoác, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy lạnh. Còn các học viên của chúng tôi đang ngồi trong chiếc áo phông và đôi dép cao su làm từ lốp xe ô tô, song họ vẫn chăm chú lắng nghe những gì thày giáo đang giảng. Thầy giáo giải thích một tài liệu nào đó, có vẻ như mọi người đều hiểu, nhưng rồi có bàn tay giơ lên và người lính nói: “Thầy giáo đã kể cho chúng tôi rất tốt, nhưng xin đề nghị thày làm ơn, nhắc lại một lần nữa. Và như vậy, gần như cả nhóm, cho đến khi họ học thuộc lòng

Các bữa ăn được chuẩn bị tốt: súp từ lõi của thân chuối, có cơm, xúc xích, thịt lợn, thịt trâu, thịt gà và cả “nước suối” chính hãng của Liên Xô.

Chúng tôi được trân trọng mời tới dự lễ kỷ niệm 49 năm Cách mạng Tháng Mười và năm mới 1967. Nhân dịp năm mới, chúng tôi đã nhận được quà của Bộ Quốc phòng Liên Xô, của Bộ trưởng Malinovsky. Trong gói quà có rượu, các loại xúc xích và đặc biệt là một chiếc bánh mì đen chính hãng.

Một ngày nọ, vào sáng sớm, chúng tôi bị đánh thức bởi một tiếng nổ tương tự như một tràng súng liên thanh, chúng tôi lập tức nhảy ra khỏi ngôi nhà ở và thấy rằng phòng ăn của chúng tôi đang bị cháy. Âm thanh nổ lách tách của các cây tre và nứa ở trên mái và ở các bức tường của phòng ăn. Ngày hôm đó, bữa sáng muộn hơn bình thường và không có ca cao. Trong lúc dập lửa và hoảng sợ, đồng chí Trung tá Krupnov - Phó chỉ huy phụ trách chính trị của Trung tâm, cùng với một đồng chí trong Đoàn nhìn thấy một thùng chứa 40 lít chất lỏng và hai người đã bê thùng nước đó đổ vào đám cháy (thời điểm này trời chưa sáng). Sau đó, mới phát hiện ra đó là thùng ca cao nấu cho bữa sáng. Đầu bếp người Việt Nam chỉ kịp hét lên: “Ôi! Kaka! Kaka! đấy...”. Nhưng đã quá muộn - ca cao đã ở trên mái nhà.

Trong giờ giải lao, một số đồng chí của chúng tôi đã đánh đu trên những cây leo ở khắp nơi, điều này làm cho các bạn Việt Nam lo lắng và khi Đại úy Duzhkov bị ngã và bị thương ở tay, thì ngay ngày hôm sau, tất cả các cây leo ở gần nhà ở của chúng tôi đều bị chặt đứt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM