Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:20:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử nước Mỹ thời kỳ tái thiết 1863-1877  (Đọc 20974 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #50 vào lúc: 03 Tháng Năm, 2023, 08:50:04 am »


Ở một mức độ nhất định, hình thức lĩnh canh giúp giải quyết vấn đề thiếu lao động ở nông thôn. Luật lệ do đảng Cộng hòa đặt ra xem người lĩnh canh (tá điền) là “đồng chủ nhân” của sản phẩm làm ra, chứ không phải là “người làm công hưởng sản phẩm” và chủ điền da trắng không còn quyền buộc lao động da đen phục tùng họ. Đây chính là điểm mấu chốt trong việc quân bình quyền lực ở nông thôn giữa người da trắng và người da đen. Ở một mức độ nào đó người lao động da đen giờ đây được “làm chủ bản thân, tự quyết định công việc và thời gian lao động” là những thứ họ đã không thể có dưới thời nô lệ.

Đối với nhiều người da đen, hệ thống tín dụng đi kèm với chế độ lĩnh canh phần nào hạn chế tính tự chủ của họ. Thời kỳ này các cửa hiệu tạp hóa, bán lẻ mọc lên như nấm tại các thị trấn mới nổi. Một nhà báo ở bang Nam Carolina báo cáo: “Các tiệm tạp hóa mọc lên khắp nơi, ở hầu hết mọi giao lộ, trong các làng xóm và tại ga xe lửa”. Năm 1880, đã có trên 8.000 cửa hàng bán lẻ ở vùng trồng bông miền Nam. Nhiều chủ điền cho mở tiệm bán tạp hóa ngay trên phần đất của mình; họ nói: “Bán hàng cho tá điền còn sinh lời nhiều hơn là cho thuê đất hoặc tự mình canh tác”. Như vậy, ở thời kỳ tái thiết đã hình thành giới chủ đất - kiêm - chủ tiệm tồn tại đến cuối thế kỷ 19 trên vùng nông thôn miền Nam.

Đối với tá điền (người thuê đất) da đen, việc tìm kiếm vật phẩm để cung cấp cho khách hàng củng cố tính độc lập của họ. Các thuận lợi khác: công việc không bị nhà buôn giám sát mỗi ngày; lợi nhuận cao, có khi trên 50%. Điều này cho thấy miền Nam thiếu hụt vốn và các nhà buôn ở nông thôn không có đối thủ cạnh tranh từ địa phương. Cũng có trường hợp tá điền (da đen) vì kém hiểu biết bị con buôn gian lận. Do giá bông sụt giảm trong những năm 1870 nhiều tá điền không trả hết nợ khi thu hoạch ở năm trước phải trả tiếp ở năm sau, và để có thể vay mượn thêm vốn họ buộc phải gia tăng sản xuất. Một cư dân bang Mississippi cho biết: “Hệ thống tín dụng trói buộc nông dân (tá điền) vào việc sản xuất bông đến mức sản phẩm đã được bán ngay trước vụ mùa gieo trồng, và mọi người chỉ còn biết có cây bông, không còn nghĩ tới loại cây nào khác”. Và cũng do hệ thống tín dụng này nhiều chủ điền ở vùng sâu vùng xa đã mặc nhiên biến thành tá điền và nông dân da đen không còn có thể thuê mướn đất hoặc nhận đất lĩnh canh.

Như tất cả các hệ thống lao động hình thành trong thời kỳ tái thiết ở miền Nam, mô hình lĩnh canh, cấy rẽ thường xuyên biến thái từ những tranh chấp về lao động ở các đồn điền. Chỉ sau lần suy giảm ở những năm 1870 và công cuộc tái thiết chấm dứt, người lao động da đen mất đi thế mạnh để mặc cả thuê mướn đất. Tuy vậy, họ cũng bắt đầu “ăn nên làm ra” nhờ bông vải có giá trên thị trường. Một tờ báo của đảng Cộng hòa ở bang Mississippi cho biết “lao động da đen được trả lương cao hơn trước; nhiều người đã gửi tiết kiệm ở Ngân hàng Freedman’s Savings Bank và ngày càng có nhiều tá điền kiêm luôn chủ nợ. “người da đen đã khá giả hơn bao giờ hết. Họ có tiền để mua sắm ở các cửa tiệm”.

Năm 1872, báo chí loan tin cái chết của Maurice Jasper, người hầu nô lệ cuối cùng còn sống sót của cố Tổng thống George Washington. Cha mẹ Jasper từ châu Phi đến Mỹ hồi cuối thế kỷ 18 và Jasper đã sống và chứng kiến cuộc “Cách mạng lần 2”. Ông mất đúng lúc thời kỳ đầu của cuộc tái thiết Cộng hòa sắp chấm dứt. Đây là thời kỳ có nhiều thành tựu và thất bại về mặt chính trị, xã hội và kinh tế. So sánh với các chính quyền tiền nhiệm, chính quyền thời kỳ này đã có những thành quả đầy ấn tượng. Lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ có một chính phủ do dân bầu với đủ hai màu da trắng và đen. Tại các bang miền Nam, có những người nô lệ vừa được giải phóng nay đã đi bỏ phiếu và ngồi trên ghế bồi thẩm trong các phiên tòa; họ có quyền hành ngày càng lớn rộng ở cấp tiểu bang trong khi tập đoàn đầu sỏ bảo thủ đã từng thống trị miền Nam từ thời thuộc địa đến năm 1867 thì bị loại bỏ. Nhiều tiện nghi công cộng được xây dựng và mở rộng, trường học được thành lập, luật thuế được canh tân. Diễn ra trong thời kỳ chuyển tiếp từ chế độ nô lệ qua thể chế tự do, cuộc tái thiết ngay từ lúc khởi đầu đã tìm cách đưa một trật tự lao động mới thay thế chế độ cưỡng bách lao động thời nô lệ và cho người da đen quyền mặc cả tiền công lao động ở các đồn điền. Một luật sư da trắng ở bang Nam Carolina năm 1871 nhận định: “Chúng ta vừa trải qua một cuộc đổi thay khác thường nhất trong quan hệ giữa người và người mà cả thế giới đều biết”.

Nổi bật nhất là ảnh hưởng của sự đổi thay này đối với người nô lệ được tự do. Công cuộc tái thiết làm thay đổi đời sống và nguyện vọng của họ. Một nhà báo phương Bắc năm 1873 nhận định: “Thật khó có thể tin nhiều người da đen ở đây nguyên là nô lệ chỉ một vài năm trước thì nay đã hành xử như những cá nhân có đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân Hoa Kỳ. Họ hiểu rõ điều kiện mới và phô trương tính độc lập của mình”. Dĩ nhiên, cuộc “Cách mạng lần 2” này đã không được hoàn toàn, người da đen vẫn còn nghèo khổ, và giai cấp thống trị cũ vẫn tồn tại, tỏ ra thù nghịch với những điều gì mới. Nhưng cuộc tái thiết còn diễn tiến thì nhiều đổi thay sẽ còn xảy ra.

Không có sự kiện nào có thể làm xã hội xáo trộn bằng một cuộc cách mạng nửa vời. Chương trình tái thiết đề ra có thể không đúng với những nguyện vọng xa vời của đảng Cộng hòa nhưng những thành quả của nó khiến những kẻ đã từng nắm vận mệnh miền Nam tin rằng nó sẽ có một kết cục bạo tàn không thể tránh được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #51 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 09:23:02 am »


9

SỰ THÁCH ĐỐ CỦA VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT



❖ SỰ CHUYỂN HƯỚNG MỚI VÀ TỰ CỨU CHUỘC LẦN ĐẦU

Nếu những người Cộng hòa phương Nam phải đối đầu với những xung đột bè phái, ý thức hệ và chủng tộc thì đối thủ của họ thuộc đảng Dân chủ cũng có những vấn đề riêng. Sau khi tướng Grant toàn thắng và công cuộc tái thiết được coi là một việc đã rồi, đảng Dân chủ phía Nam gặp khủng hoảng về tính hợp pháp của họ. Họ cần phải cho phương Bắc hiểu họ đấu tranh cho một cái gì đó hơn cả việc trở lại chế độ cũ. Trong khi đó, ngày càng có nhiều lãnh tụ Dân chủ thừa nhận không thể chối bỏ thực tế là người da đen được quyền bỏ phiếu và nắm giữ những chức vụ trong chính quyền địa phương. Những đảng viên này cổ xúy cho một hướng đi mới, họ nói để đảng có thể trở lại nắm quyền hành thì cần quên đi cuộc nội chiến và công cuộc tái thiết. Như vậy, đảng Dân chủ cũng như đảng Cộng hòa đều công bố tính hiện thực và điều độ của mình và hứa làm dịu bớt sự căng thẳng giữa các chủng tộc.

Lần đầu tiên đảng Dân chủ trở lại sinh hoạt chính trị vào năm 1869 nhưng thay vì để cử ứng viên vào những chức vụ chủ chốt của tiểu bang thì họ liên kết với những người Cộng hòa “ly khai” để mở chiến dịch đòi trả lại quyền bầu cử cho các viên chức trong Liên minh miền Nam trước đây; họ không chống phá người da đen được quyền này. Ở bang Virginia, đảng Dân chủ hỗ trợ Gilbert Walker, một nhà tài phiệt và kỹ nghệ gia Cộng hòa từ miền Bắc, thắng cử thống đốc. Ở bang Tennessee, Thống đốc DeWitt Senter tái đắc cử nhờ nỗ lực hòa giải hai đảng. Tại bang Missouri, những người Dân chủ liên kết với những người Cộng hòa Tự do với cương lĩnh “Ân xá toàn bộ và phổ thông đầu phiếu”.

Tại những bang khác, đảng Dân chủ chấp nhận công cuộc tái thiết như là một “cứu cánh” nhưng không lập thành tổ chức hỗn hợp giữa hai đảng và không ủng hộ những người Cộng hòa bất mãn. Robert Lindsay, thống đốc đắc cử bang Alabama tuyên bố đảng của ông (Dân chủ) đã từ bỏ những vấn đề về màu da, chỉ tập trung về kinh tế và công khai “ve vãn” cử tri da đen. Benjamin Hill, một đảng viên Dân chủ trước năm 1867 đã từng chống đối kịch liệt việc người da đen được quyền đi bầu nay sẵn sàng thừa nhận. Thay vì chống đối người da đen hòa nhập, đảng Dân chủ nay tập trung chỉ trích đảng Cộng hòa về những vấn đề kinh tế. Ở nhiều bang miền Nam, đảng Dân chủ tổ chức các “Hội nghị người nộp thuế”; trên diễn đàn họ tố cáo sự tham nhũng và chi tiêu hoang phí của chính quyền Cộng hòa, đòi cắt giảm thuế và chi tiêu của tiểu bang.

Không những đòi chính phủ tiểu bang cắt giảm chi tiêu ngân sách, người Dân chủ còn đòi không dùng tiền thuế cho các đề án phúc lợi xã hội như xây dựng và điều hành trường học. Họ kêu gọi trao quyền hành cho những “chủ tài sản thông minh”, có nghĩa là loại bỏ nhiều người da trắng khỏi chính quyền và mặc nhiên không cho người da đen tham gia các hoạt động chính trị ngoại trừ quyền bỏ phiếu.

Ngoài mặt tỏ vẻ chấp nhận quyền chính trị và dân sự của người da đen nhưng trong thâm tâm những người theo đảng Dân chủ thỉ chỉ muốn “loại bỏ cái quyền bầu cử của bọn da đen” và dẹp tan các tổ chức chính trị độc lập. Hội nghị người nộp thuế ở bang Nam Carolina kêu gọi xóa tan những Hiệp hội Thống nhất.

Tại các cộng đồng do người Dân chủ kiểm soát, người da đen hầu như bị đối xử tàn tệ. Người da đen không được dự các phiên tòa xử, bị phạt nặng vì những tội bình thường, con cái họ buộc kéo dài thời gian học việc,... nói chung người da đen không được pháp luật bảo vệ.

Tại các bang miền Nam nằm về phía Bắc, Kentucky, Tây (West) Virginia, Maryland, Delaware, Missouri, đảng viên Dân chủ đều tỏ vẻ tuân theo các qui định của chương trình tái thiết vì ngại chính quyền Liên bang can thiệp nhưng mỗi nơi đều có cách thức áp dụng riêng, và đều thể hiện chủ trương của đảng là người da trắng làm chủ và kiểm soát vấn đề lao động. Những bang này vẫn còn phân biệt chủng tộc, tỷ như bang Delaware cho phép khách sạn, rạp hát, các phương tiện vận tải từ chối cung cấp dịch vụ cho những ai gây “khó chịu” cho khách hàng khác. Những người Dân chủ ở bang Tennessee bãi bỏ các sắc luật phạt công ty hỏa xa kỳ thị người da đen nhưng lại ban hành luật buộc phân biệt chủng tộc tại các trường học công lập. Luật này sớm bị thu hồi và được thay thế bởi một sắc luật khác cho phép các hạt, quận tự quyết định tổ chức, và không tổ chức giáo dục công cộng cho học sinh da đen ngoại trừ ở hai thành phố Memphis và Nashville. Các bang Kentucky, Maryland và Delaware cho phép các trường thu nhận học sinh da đen nhưng buộc phụ huynh nộp thuế để tài trợ cho trường.

Bất chấp việc Quốc hội thông qua Tu chính án 15 nghiêm cấm việc tước quyền bầu cử của công dân vì lý do chủng tộc, các đảng viên Dân chủ ở các bang tiếp giáp với miền Bắc luôn tìm cách hạn chế quyền bầu cử của người da đen. Năm 1873, đảng Dân chủ ở bang Delaware nói rằng tiểu bang không bị ràng buộc bởi những sửa đổi hiến pháp sau chiến tranh và ấn định một khoản thuế bầu cử, mặc nhiên không cho đại bộ phận dân da đen được phép đi bầu. Điều luật này tồn tại hơn 20 năm với đảng Dân chủ cầm quyền tại địa phương. Với hiến pháp ban hành năm 1867, bang Maryland hướng về các quận hạt có nhiều đồn điền; “Bằng cách tước quyền bầu cử của người da đen - đa số ở thành phố Baltimore và các vùng nông thôn ở phía Bắc và phía Tây - chính quyền tiểu bang Maryland là một chính quyền của một số ít người da trắng cai trị nhiều người da trắng khác”, là lời chỉ trích từ nhiều phía.

Bang Georgia là bang chống đối chương trình tái thiết mạnh mẽ nhất. Ở đây cơ quan lập pháp do đảng Dân chủ thống trị từ năm 1870, năm sau lại có một thống đốc Dân chủ. Tiểu bang đặt ra thuế bầu cử và đòi cử tri phải có giấy đăng ký nơi cư trú; hạn chế đông đảo cử tri da đen. Thêm nữa, các đại biểu Cộng hòa ở Hội đồng thành phố bị gạt ra ngoài vì các cuộc bầu cử không còn ở cấp phường lên mà là ở cấp thành phố. Cơ quan lập pháp bang cũng đã chọn một người Dân chủ để thay thế đại biểu Tunis Campbell (Cộng hòa) tại hạt McIntosh. Ngoài ra, Campbell còn bị tù khổ sai trong một năm vì khi ông còn là chánh án tòa hòa giải đã tống giam một tội phạm da trắng. Tiểu bang cũng đưa ra nhiều biện pháp kìm chế người da đen như không được phép buôn bán nông sản ban đêm nếu không được chủ điền chấp thuận; thuê mướn lao động đã có hợp đồng với chủ điền khác là tội hình sự; hạn chế săn bắn và câu cá; củng cố luật lệ về hàng rào nhằm hạn chế lao động không sở hữu đất đai.

Thêm nữa, những người chống đối chương trình tái thiết không từ bỏ những biện pháp bạo lực để đối phó với chính phủ Cộng hòa ở các bang miền Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #52 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 09:24:13 am »


❖ KU KLUX KLAN

Bạo lực đã xảy ở nhiều nơi khắp miền Nam từ năm 1865 nhưng thật sự bùng nổ kể từ khi cuộc tái thiết cấp tiến được mở rộng. Năm 1870, nhóm Ku Klux Klan và các tổ chức tương tự như “Hiệp sĩ Hoa trà trắng” và “Tình huynh đệ da trắng” tung hoành khắp các bang miền Nam. Nhóm Ku Klux Klan nguyên là một tổ chức vũ trang phục vụ lợi ích cho đảng Dân chủ, quyền lợi các chủ điền và những ai mong muốn người da trắng thống trị. Tổ chức có mục đích chính trị là phá vỡ cơ cấu của đảng Cộng hòa ở miền Nam, hủy hoại công cuộc tái thiết, tái lập quyền kiểm soát lao động da đen và phục hồi sự lệ thuộc của người da đen trong mọi vấn đề.

Bạo lực chủ yếu nhắm vào các nhà lãnh đạo cuộc tái thiết ở địa phương. Emanuel Fortune, bị lôi ra khỏi nhà ở Jackson County, bang Florida nhưng ông không bị giết, về sau ông nhận định là nhóm Klan có chủ đích tiêu diệt những thủ lĩnh trong đảng Cộng hòa. Jack Dupree, chủ tịch hội đoàn Cộng hòa ở Monroe County, bang Mississippi bị những kẻ tấn công cắt cổ và mổ bụng trước mắt người vợ vừa mới sinh đôi. Nhiều đảng viên Cộng hòa khác phải bỏ nhà chạy trốn sau khi bị đánh đập tàn bạo. Nạn nhân của các băng đảng tội ác không chỉ là những người da đen mà còn có nhiều người da trắng, thường là scalawags. Ba người scalawags bị giết ở bang Georgia và hơn 10 người khác phải bỏ nhà đi lánh nạn. Ở phía Tây bang Nam Carolina, bọn Klan tìm những người theo Liên bang trong thời chiến và đánh đập họ. Chúng đốt tòa soạn báo Star ở Rutherford và đánh đập dã man Aaron Biggerstaff, người được phong danh hiệu “Anh hùng nước Mỹ” và là nhà tổ chức của đảng Cộng hòa.

Đôi khi bạo lực không chỉ diễn ra với một vài cá nhân mà tấn công cả đảng Cộng hòa và những lãnh tụ của đảng. Tháng 10 năm 1870, sau khi đảng Cộng hòa thắng ở Laurens County trong vùng trồng bông của bang Nam Carolina, một cuộc cãi vã xảy ra ở thị trấn Laurensville sau đó bọn người da trắng đã tấn công 150 người da đen được tự do và giết chết 13 người trong đó có một người da trắng vừa trúng cử thẩm phán và một đại biểu da đen.

Mục tiêu của nhóm Ku Klux Klan nhiều khi còn đi quá lý do chính trị. Năm 1870, William Luke, một giáo viên gốc Ai-len cùng với bốn người da đen bị treo cổ ở Cross Plains, bang Alabama. Những người da đen có học thường là đối tượng khủng bố của Klan. Tại Georgia, Washington Eager bị giết chết vì "... hắn biết đọc và biết viết phát biểu suy nghĩ của mình”. Bọn Klan còn tìm đủ mọi cách xua đuổi người lao động da đen vì “không muốn thấy họ phát triển”. Tới mùa gặt hái, chúng đến các đồn điền do chủ da trắng sở hữu và xua đuổi, đánh đập những người da đen thuê đất hay canh tác ăn chia sản phẩm với chủ điền (lĩnh canh). Những lao động da đen làm cho ngành đường sắt ở Nam Carolina cũng bị bọn Klan đánh đập và buộc trở về đồn điền.

Thông thường bọn Ku Klux Klan hoạt động tập trung tại các hạt vùng Piedmont là những nơi có ít người da đen sinh sống và hai đảng có số người cảm tình tương đương. Tuy nhiên, không có quy luật nhất định về sự tập trung gây tội ác của Ku Klux Klan. Hầu như chúng không bén mảng tới những nơi có đông người da đen ở bang Nam Carolina và vùng đồng bằng bang Georgia; ngược lại, chúng hoành hành tác yêu tác quái ở miền Tây bang Alabama, nơi có nhiều đồn điền. Theo lời kể của Chánh án Albion Tourgee, một carpetbagger, trong hạt do ông quản lý ở bang Bắc Carolina đã xảy ra 12 vụ giết người, chín vụ hiếp dâm, 14 vụ đập phá tài sản (của người da đen) và trên 700 vụ đánh đập. Nhưng khủng khiếp nhất là tại hạt Jackson, bang Florida, bọn Ku Klux Klan đã giết hại trên 150 người trong đó có các lãnh tụ da đen và một nhà buôn gốc Do Thái, Samuel Fleis. Ông này bị chúng kết tội “buôn bán sòng phẳng với người da đen”.

Tháng 10 năm 1870, đảng Cộng hòa thắng thế các cuộc bầu cử hội đồng hạt ở bang Nam Carolina nhưng một loạt những vụ khủng bố nổ ra. Ở hạt York chẳng hạn, hầu như tất cả nam công dân da trắng đều theo bọn Ku Klux Klan để khủng bố: chúng giết 11 người và đánh đập hằng trăm người khác. Suốt mấy tháng sau, nhiều người da đen đã phải trốn vào rừng khi đêm xuống để tránh bị tấn công.

Một số sử gia cho rằng chiến dịch khủng bố tàn bạo của bọn Ku Klux Klan là do nỗi lo sợ và thành kiến của những người da trắng nghèo khổ. Sự thật không phải vậy. Mặc dù đa số thành viên Ku Klux Klan là những nông dân và người lao động da trắng - thường là các thanh niên hay đi bố ráp vào ban đêm - nhưng cũng có những “công dân đáng kính” giữ nhiệm vụ tham mưu và cùng tham gia tội ác. Abram Colby, một đại biểu da đen ở bang Georgia, nhận mặt trong số 65 tên Klun tấn công ông có một luật sư và một bác sĩ. Trong nhóm Hiệp sĩ Hoa trà trắng có nhiều mục sư và những “chức sắc” trong cộng đồng. Tờ Star ở Rutherford nhận định: “Ku Klux Klan không phải là băng đảng của bọn cặn bã xã hội như đảng Dân chủ thường rêu rao mà gồm nhiều ‘công dân đáng kinh’, người giàu có...”.

Ku Klux Klan thường hoạt động khủng bố ở những hạt do đảng Dân chủ cầm quyền được nhiều viên chức chính phủ địa phương ủng hộ hoặc bao che. Ngay cả những nơi đảng Cộng hòa chiếm ưu thế thì luật pháp cũng bị vi phạm nặng nề. Nếu có vị cảnh sát trưởng nào gạt bỏ nỗi sợ hãi và thực thi luật pháp, bắt giữ những kẻ tình nghi thì cũng gặp bọn đồng lõa chưng ra bằng chứng ngoại phạm. Phải nói là bọn Ku Klux Klan được hậu thuẫn của cộng đồng nơi chúng tác yêu tác quái. Nhiều phụ nữ da trắng may quần áo, mũ trùm đầu cho bọn Klan đi khủng bố. Nhiều người tuy không thuộc tổ chức nào nhưng vẫn cho rằng bạo lực chống người da đen không phải là tội ác.

Đôi lúc những tổ chức bảo vệ luật pháp hoặc của người da đen cũng thành công trong việc ngăn chặn bọn Ku Klux Klan. Ở hạt miền núi Blount, bang Alabama, nhóm cựu quân nhân da trắng trong quân đội Liên bang lập ra hội “chống bọn Ku Klux Klan”, ngăn bọn khủng bố đánh roi, đốt phá nhà thờ và trường học của người da đen. Tại Bennettsville, bang Nam Carolina, nhiều nhóm người da đen tự vũ trang và đi tuần trên các đường phố để ngăn chặn bọn Ku Klux Klan tấn công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #53 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 09:24:49 am »


Những người phương Bắc thắc mắc tại sao đảng Cộng hòa ở miền Nam lại để cho bọn khủng bố tác yêu tác quái như vậy. Câu trả lời là do tàn dư của chế độ nô lệ. Dân biểu Quốc hội Jeremiah Haralson, một nô lệ được trả tự do năm 1865, nói: “Người da màu tất cả đều sợ người da trắng. Họ lớn lên trong nỗi sợ sệt này”.

Người da đen sợ sệt là vậy mà người da trắng theo đảng Cộng hòa thì lại e ngại phạm luật pháp. Họ không dám dùng bạo lực chống lại bọn khủng bố, cũng không biểu tình bạo động chống lại người theo đảng Dân chủ ở những nơi bỏ phiếu. Một đại biểu da đen ở bang Georgia nói: “Chúng tôi có thể đốt phá nhà thờ và trường học của họ nhưng chúng tôi không làm vì không muốn vi phạm luật pháp. Chúng tôi chỉ muốn được sống yên ổn theo pháp luật”.

Những tổ chức vũ trang chống lại bọn Ku Klux Klan cũng có nhiều khó khăn. Nhiều người da đen tự do ở nông thôn tự trang bị vũ khí nhưng họ chỉ có loại súng săn bắn đạn ghém, so với loại súng trường Winchester tối tân và súng lục của bọn Klan thì kém xa. Tuy nhiều người da đen đã từng phục vụ trong quân đội Liên bang nhưng chỉ là số ít so với những người da trắng được huấn luyện sử dụng súng khá thuần thục. Một viên chức Cộng hòa ở Alabama nhận xét: “Sẽ là điều tự sát cho người da đen nếu họ vũ trang, bạo động chống lại người da trắng”. Nhận xét này đúng với sự thật, ít nhất tại bang Louisiana vào năm 1873.

Trong cuộc bầu cử thống đốc năm 1872, cả hai đảng đều ngang nhau số phiếu. Tại họ đạo Grant, những người da đen lo ngại đảng Dân chủ thắng cử nên đã bao vây tòa nhà chính phủ ở thị trấn Colfax. Họ đào hố đắp mô dưới sự chỉ huy của các cựu binh sĩ và dân quân da đen. Họ cầm cự được ba tuần lễ nhưng ngày chủ nhật lễ Phục sinh, họ bị những người da trắng vũ trang súng trường và một khẩu đại bác đánh bại. Một vụ thảm sát bừa bãi đã xảy ra; nhiều người da đen bị giết dã man kể cả 50 người đã giương cờ trắng xin đầu hàng. Phía những người da trắng tấn công có hai người thiệt mạng.

Vụ tàn sát đẫm máu ở Colfax là vụ tồi tệ nhất trong thời kỳ tái thiết miền Nam; và người da đen hiểu ra họ không thể thắng nếu dùng bạo lực chống lại bạo lực.

Tất nhiên, trách nhiệm dẹp tội ác không thuộc về các nạn nhân mà là chính quyền tiểu bang. Những người Cộng hòa phương Bắc khuyến cáo các đảng viên phương Nam: “Hãy mang bàn tay sắt!”

Ít nhất trên giấy tờ chính phủ Cộng hòa dùng biện pháp mạnh chống lại bọn khủng bố, nâng hình phạt về những tội như tấn công, giết người, âm mưu gây rối bạo động và cho phép bắt giữ những thành viên Ku Klux Klan, buộc các hạt phải đền bù thỏa đáng cho những nạn nhân các cuộc bạo động của người da trắng. Thế nhưng những viên chức Cộng hòa lại tỏ ra ngại ngùng khi thực thi các qui định luật pháp này. Họ ngại làm cho người da trắng nổi giận khi các lực lượng dân quân da đen được vũ trang và khả năng một cuộc chiến chủng tộc sẽ nổ ra. Hơn nữa, họ muốn có hậu thuẫn của người da trắng miền Nam và chứng tỏ đảng Cộng hòa ôn hòa.

Tại miền Nam, các vị thống đốc đều tìm cách ổn định trật tự qua sự hòa giải các bên. Những nơi có được sự hậu thuẫn của số đông người da trắng theo đảng Cộng hòa thì họ “mạnh tay” hơn. Thống đốc William Brownlow thành lập đội dân quân với đa số là những người theo Liên bang ở miền Đông bang Tennessee; năm 1869, ông tuyên bố tình trạng thiết quân luật ở chín hạt xảy ra bạo động nhiều nhất. Lệnh này đã ngăn chặn các hoạt động của Ku Klux Klan. Tại bang Arkansas, Thống đốc Powel Clayton đặt 10 hạt trong tình trạng thiết quân luật từ cuối năm 1868 và gửi các toán dân quân gồm cựu binh da đen và nhiều người scalawags. Những người bị tình nghi thuộc Ku Klux Klan bị bắt giữ đưa ra tòa án binh; có ba tên bị xử tử hình; nhiều tên khác phải bỏ trốn khỏi tiểu bang. Đầu năm 1869, trật tự được vãn hồi và tổ chức Ku Klux Klan tại đây bị phá vỡ. Thống đốc bang Texas, Edmund Davis, cũng rất quyết liệt. Ông cho tổ chức một đội cảnh sát tinh nhuệ gồm 200 người, 40% trong số này là người da đen. Từ 1870 đến 1872, đội cảnh sát này bắt giữ trên 6.000 người tình nghi, loại bỏ được bọn Klan ở tiểu bang này.

Thế nhưng hành động của hai vị thống đốc Clayton và Davis là vi hiến khiến cho những tên tội phạm trở thành nạn nhân đối với mọi công dân. Ở bang Bắc Carolina, Thống đốc William Holden sử dụng dân quân đã khiến chính phủ của ông bị hạ bệ. Năm 1870, Holden gửi lực lượng dân quân toàn người da trắng đến từ miền núi phía Tây tiểu bang, dưới quyền chỉ huy của một cựu sĩ quan quân đội Liên bang là tướng George Kirk, đến các hạt Caswell và Alamance để trấn áp tội phạm. Trên 100 người bị bắt giữ. Mặc dù hiến pháp tiểu bang không cho phép thống đốc ban hành lệnh thiết quân luật, Holden ra lệnh cho xử bọn tội phạm trước một ủy ban quân sự, chứ không phải là tòa án địa phương chịu ảnh hưởng của bọn Ku Klux Klan, bất chấp lệnh của vị thẩm phán tiểu bang đòi đưa ra xử trước một tòa án. Những đảng viên Dân chủ liền đưa vụ việc ra trước tòa án Liên bang, viện dẫn đạo luật buộc đưa ra tòa năm 1867 vốn được đưa ra để bảo vệ người da đen và những người da trắng theo Liên bang. Holden buộc phải trả tự do cho những người bị bắt giữ, chiến dịch chống bọn Ku Klux Klan thất bại, dẫn đến thắng lợi của đảng Dân chủ vào năm 1870.

Bạo lực thật sự đã ảnh hưởng tới chính trị của công cuộc tái thiết. Các nhóm Ku Klux Klan đã triệt hạ nhiều tổ chức Cộng hòa, giết hại hàng trăm đảng viên và cảm tình viên, tất nhiên các đảng viên da đen chịu nhiều tai họa hơn đảng viên da trắng. Ngược lại, bạo lực đã liên kết mọi thành phần trong các cộng đồng người da đen, người giàu với kẻ nghèo, người tự do với người được tự đo, tất cả đều kêu gọi chính quyền phải ra tay để tái lập trật tự. Người da trắng đã hành động trái ngược với những gì họ tự hào, là “văn minh” và “đạo đức”. Robert Elliot, một chính khách kêu lên: “Hãy nhìn xem ai thật sự là kẻ mọi rợ”.

Vì các băng đảng Ku Klux Klan hoạt động mạnh sau các cuộc bầu cử năm 1870, đảng Cộng hòa miền Nam một lần nữa kêu gọi Washington (chính phủ Liên bang) giúp đỡ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #54 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 09:25:34 am »


❖ SỨC MẠNH TỪ BÊN NGOÀI

Ulysses Grant, vị Tổng thống phải đối mặt với bạo lực ở miền Nam, là người đã từng đưa ra khẩu hiệu “Hãy vì Hòa Bình”. Tuy ông từng ủng hộ những chính sách tái thiết của đảng Cộng hòa, không ai có thể đoán ông sẽ hành động ra sao đối với miền Nam bị bạo lực hoành hành. Tháng 2 năm 1869 Quốc hội thông qua Tu chính án 15, nghiêm cấm chính phủ Liên bang và các tiểu bang cản trở quyền bầu cử của mọi công dân vì lý do chủng tộc. Khoảng một năm sau, Tu chính án này trở thành một phần của Hiến pháp Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.

Với người theo đảng Dân chủ, Tu chính án 15 là một “biện pháp cách mạng lớn nhất” từng được Quốc hội chấp thuận, một hành động của “bọn cấp tiến âm mưu đòi quyền bình đẳng cho bọn da đen và biến nước Mỹ từ một liên bang gồm nhiều tiểu bang thành một quốc gia tập quyền”. Tuy vậy, Tu chính án không đề cập đến vấn đề nắm giữ chức vụ trong chính phủ và cũng không đặt ra những điều kiện về học vấn, tài sản, có thể gạt bỏ đa số người da đen khỏi cuộc bầu cử.

Sự thất bại của nỗ lực cho phép người da đen được nắm quyền xuất phát từ nỗi lo các đại biểu phương Bắc sẽ không thông qua Tu chính án. Trong khi đó, các bang miền Bắc vẫn giữ nguyên những điều kiện đối với cử tri. Ở miền Tây, người Trung Hoa không được quyền bầu cử. Theo Cornelius Cole, Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng hòa bang California, “Đảng của chúng ta sẽ mất chỗ đứng nếu Tu chính án 15 thay đổi điều kiện này”. Bang Pennsylvania đòi nộp thuế bầu cử; bang Rhode Island đòi những công dân gốc nước ngoài phải có tài sản trị giá 134 đôla; Massa Cusetts và Connecticut buộc cử tri phải biết chữ.

Còn một vấn đề khác gây tranh cãi rất mạnh là “phụ nữ”. Đối với hai nhà tranh đấu cho phụ nữ là Elizabeth Stanton và Susan Anthony, Tu chính án là một trong nhiều sự “sỉ nhục” đảng Cộng hòa đã gây ra cho phong trào đòi quyền bình đẳng của phụ nữ.

Tuy nhiên, đối với nhiều nhà cải cách thì Tu chính án 15 là một sự kiện tiến bộ chấm dứt bốn thập kỷ xáo trộn vì vấn đề người da đen. Tháng 3 năm 1870, Hội đấu tranh chống nô lệ Hoa Kỳ tự giải tán vì họ đã hoàn thành sứ mạng. Nhưng nhiều người thận trọng thì cho rằng người da đen vẫn còn là nạn nhân của sự kỳ thị chủng tộc, cần được chính phủ quan tâm đặc biệt. Trong giới Cộng hòa có ý kiến cho rằng nên rút vấn đề người da đen khỏi chính trị. Vì người da đen nay được bình đẳng về mặt dân sự và về chính trị, họ không được đòi hỏi gì ở chính phủ Liên bang. Họ phải đối mặt với luật cạnh tranh của thị trường tự do. Một tờ báo ở bang Illinois viết: “Giờ đây người da đen là công dân và là cử tri. Hãy để cho họ tự tìm cơ hội trong cuộc sống”.

Như tất cả đổi thay chính trị xã hội, cuộc Cách mạng Hoa Kỳ lần 2 xảy ra trong thời kỳ củng cố. Dần dà dư luận miền Bắc xoay qua những vấn đề khác. Các nghị sĩ Cộng hòa thường nhận được thư nói về những vấn đề tiền tệ, thuế và phát triển nội bộ. Những người Cộng hòa miền Nam không còn được các tổ chức địa phương yểm trợ đã phải tìm nguồn tài trợ từ bên ngoài để phát hành báo chí và tung ra các chiến dịch. Họ nhận rất ít trợ cấp từ Ủy ban Quốc gia đảng Cộng hòa.

Ở thủ đô Washington, người ta như muốn nói rất ít đến cuộc tái thiết miền Nam, một Thượng Nghị Sĩ đã cho một vị dân biểu từ bang Nam Carolina biết: Tại Quốc hội, các nghị sĩ miền Nam chỉ được phụ trách những công việc kém quan trọng và họ thường gặp khó khăn khi muốn lên diễn đàn. Cũng vì các nghị sĩ miền Bắc vẫn xem miền Nam là vùng đất của bọn “phản loạn”, nên không được chính phũ Liên bang cấp ngân sách rộng rãi. Quốc hội khóa 41 chuẩn chi cho miền Nam có 15% ngân sách dành cho việc phát triển nội bộ nhưng số tiền này dùng để mở mang đường sắt do những “nhà tư bản miền Bắc” thầu, một dân biểu bang Mississippi cho biết.

Hầu như tất cả đảng viên Cộng hòa còn tin rằng cần duy trì cuộc tái thiết nhưng không đề cập nhiều tới việc thay đổi ở miền Nam. Dân biểu da đen Benjamin Turner đưa ra một dự luật thành lập ủy ban cấp phát ruộng đất cùng với một bài diễn văn đầy cảm động nói về những nô lệ cũ đang lao động cật lực mà được hưởng ít quyền lợi; dự luật này không được đưa ra thảo luận để bỏ phiếu. Nhiều dự luật khác cùng chung số phận: Cục Bảo vệ sức khỏe Liên bang, Cục đường sắt Liên bang, vai trò của chính phủ Liên bang đối với giáo dục công cộng, và dự án quốc hữu hóa ngành điện tín. Quốc hội trở nên cấp tiến từ việc Andrew Johnson và những bang miền Nam không nhượng bộ trước những yêu sách của đảng Cộng hòa hồi năm 1866 và sự khủng bố có tổ chức của Ku Klux Klan. Dân biểu John Sherman tuyên bố: “Tôi sẵn sàng kêu gọi huy động sức mạnh của quốc gia để một lần nữa đập tan cuộc nội chiến có tổ chức này”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #55 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 09:26:06 am »


Năm 1870 và 1871, Quốc hội thông qua một loạt các đạo luật thi hành để đối phó nạn khủng bố bằng bạo lực. Luật cấm các viên chức chính phủ tiểu bang đối xử kỳ thị với cử tri về màu da, cho phép Tổng thống chỉ định các giám sát viên bầu cử với quyền truy tố trước tòa án Liên bang những vụ gian lận bầu cử, hối lộ, dọa nạỉ cử tri và âm mưu cản trở công dân thực thi các quyền hiến định. Luật Ku Klux Klan tháng 4 năm 1871 cho truy tố trước tòa án Liên bang những cá nhân phạm tội ác. Nếu tiểu bang nào không dùng biện pháp thích nghi để phạt những ai âm mưu cản trở công dân đi bầu, nhận nhiệm vụ trong chính quyền, bồi thẩm đoàn, hoặc được pháp luật bảo vệ thì một tòa án Liên bang sẽ đứng ra truy tố và có thể quân đội sẽ can thiệp, không cần phải tuân thủ luật buộc đưa tội phạm ra xét xử.

Đạo luật Ku Klux Klan là một chuyển biến mới trong chính sách của đảng Cộng hòa. Đạo luật về quyền công dân và những Tu chính án ban hành sau chiến tranh nhằm bảo vệ người da đen được tự do không bị tiểu bang trù dập nhưng lại giao các viên chức địa phương truy tố và phạt những tội ác do cá nhân gây ra. Giờ đây vi phạm luật quyền công dân và chính trị là một tội ác có thể bị tòa án Liên bang xử phạt.

“Quốc hội đã tiến thêm một bước”, tờ The Nation viết, “chẳng những để gia tăng quyền lực của chính phủ trung ương mà còn cho phép xử lý nhiều loại vụ án trước giờ chưa bị đưa ra pháp luật”.

Các đạo luật thi hành đưa ra để mở rộng quyền hành quốc gia từ sau cuộc nội chiến và được củng cố bởi các Tu chính án. Benjamin Butler nêu vấn đề: “Nếu chính quyền Liên bang không thông qua các luật bảo vệ quyền lợi, sự tự do và đời sống người dân Hoa Kỳ tại các tiểu bang thì những đảm bảo về quyền căn bản nêu trong Hiến pháp còn có ý nghĩa gì?”, đảng Dân chủ lên tiếng chỉ trích các đạo luật có tính ép buộc, đe dọa quyền tự do cả nhân. Vì khủng bố leo thang ở miền Nam, các nghị sĩ da đen tỏ ra ít quan tâm về việc tranh cãi những vấn đề trừu tượng trong Hiến pháp. Joseph Rainey nói: Tôi muốn những điều khoản rộng hơn và thoáng hơn để bảo vệ mọi công dân bình thường. Đừng nói với tôi là Hiến pháp không bảo vệ được cho những người dân của nước này”.

Theo các Tu chính án, cá nhân mọi công dân có quyền truy tố những kẻ tấn công họ nhưng việc trấn áp bạo lực thì do chính quyền Liên bang. Hai người thuộc đảng Cộng hòa miền Nam được cử giám sát việc thực thi các đạo luật: Amos Akerman, một luật sư sinh ra ở bang New Hampshire đã sống lâu năm ở bang Georgia, nhận nhiệm vụ Tổng chưởng lý; và Benjamin Bristow, một cựu quân nhân quân đội Liên bang từ bang Kentucky, làm Cố vấn trưởng pháp luật. Cả hai người thúc đẩy việc thực thi những đạo luật mới với sự trợ giúp của Bộ Tư pháp vừa thành lập và nhiều cảnh sát Liên bang cùng các luật sư quận.

Vụ xử những tên Ku Klux Klan đầu tiên bắt đầu ngay từ đầu năm 1871 bất chấp ngân sách eo hẹp, khó khăn tìm bằng chứng, một số nạn nhân sợ bị trả thù nên không khai báo, và bị cáo thuê luật sư giỏi bào chữa. Mấy trăm người bị quân đội Liên bang bắt giữ ở bang Bắc Carolina và bị kết án; trong số này có tên thủ lĩnh Ku Klux Klan ở hạt Rutherford, Randolp Shotwell, lãnh án tù hai năm và bị giam ở nhà tù Albany, bang New York. Tại bang Mississippi, chính án Liên bang G. Wiley Wells kêu án đối với gần 700 tên. Riêng tại bang Nam Carolina, những điều khoản quân sự của các đạo luật thực thi được áp dụng. Năm 1871, Tổng thống Grant ban hành “tình trạng vô luật pháp” ở chín hạt thuộc vùng sâu và đình chỉ áp dụng luật buộc đưa ra tòa. Quân đội Liên bang chiếm lĩnh toàn vùng, bắt giữ hằng trăm tên tội phạm ngoại trừ khoảng 2.000 tên Ku Klux Klan trốn khỏi tiểu bang. Vị chưởng lý hứa tha, giảm tội cho những ai thành thật khai báo và tố giác các tên trùm Ku Klux Klan và cũng cho lập các phiên tòa với bồi thẩm đoàn là người da đen để xử những tên tội phạm ác ôn nhất. Nhiều tên đã nhận tội và bị án tù.

Các vụ xử án ở bang Nam Carolina đánh dấu bước tiến mới của chính quyền Grant đối với đường lối chính sách ở miền Nam trong đó Akerman giữ vai trò chủ yếu. Thêm nữa, Akerman cũng ra trước Quốc hội và nội các nói về sự bạo tàn của băng đảng Ku Klux Klan. Tuy số tội phạm bị bắt giữ và xử án tù còn quá ít so với số người bị truy tố, quyền lực quốc gia đã được thực thi nhưng đa số chính quyền tiểu bang đã tỏ ra bất tuân pháp luật Liên bang. Chính quyền địa phương tỏ ra bất lực hay không hợp tác, phải cậy đến chính quyền trung ương, và nhiều người Cộng hòa phía Nam chỉ còn biết trông đợi ở Washington để bảo vệ họ. Carpetbagger Albert Morgan nhận định: “Chỉ có quyền lực kiên định, không thay đổi từ bên ngoài mới đảm bảo công cuộc tái thiết ở miền Nam thành công”. Liệu thứ quyền lực này có được thể hiện trong tương lai hay không còn tùy thuộc không chỉ những biến cố ở miền Nam mà còn cả những phản ứng của miền Bắc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #56 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2023, 03:17:45 pm »


10

TÁI THIẾT MIỀN BẮC


Tương tự như miền Nam, miền Bắc chiến thắng sau cuộc nội chiến cũng phải trải qua những thay đổi lớn trong xã hội. Và nếu việc tái thiết miền Bắc ít mang tính “cách mạng” so với miền Nam thì tiến trình đổi thay do chiến tranh đem lại vẫn tiếp diễn trong thời bình. Nền kinh tế tư bản được củng cố: nhiều nhà máy mọc lên, nhiều hình dạng tổ chức công nghiệp, việc hoàn thành hệ thống hỏa xa, và sự khai trương đường sắt xuyên Mississppi về phía Tây (Trans-Mississippi West) để phục vụ khai thác khoáng sản, gỗ, lập nông trại chăn nuôi và trồng trọt với mục đích thương mại. Cấu trúc xã hội ở miền Bắc giống như ở miền Nam, cũng thay đổi trong những năm này. Giới công kỹ nghệ gia hùng mạnh và những nhà kinh doanh đường sắt được hình thành cùng với giới buôn bán thượng đẳng; con số các nhà chuyên môn và công nhân “cổ trắng” tăng vọt, và người công nhân tiêu biểu từ thợ thủ công độc lập chuyển sang người làm công hưởng lương. Trở về từ Anh quốc năm 1868, Charles Francis Adams và gia đình quá đỗi ngạc nhiên trước sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế công nghiệp thay thế cho nông nghiệp và thủ công. Hơn nữa, như ở miền Nam, sự thay đổi kinh tế xã hội làm nảy sinh những yêu cầu đối với tiểu bang và làm thay đổi chủ đề bàn cãi về chính trị và phương thức tổ chức chính đảng. Từ quan hệ lao động đến chính sách đảng phái và thái độ đối với miền Nam sau chiến tranh, công cuộc tái thiết miền Bắc tác động đến mọi khía cạnh của cuộc sống.


❖ MIỀN BẮC VÀ THỜI ĐẠI VỐN TƯ BẢN

Cuộc bùng nổ kinh tế từ sau chiến tranh chỉ tạm chùng xuống khi hòa bình được tái lập nhưng nó nhanh chóng vượt lên lại. Năm 1873, sản lượng công nghiệp cả nước tăng 75% so với năm 1865 có kể luôn sự đình đốn kinh tế của miền Nam. Trong tám năm vừa kể, khoảng ba triệu di dân đến nước Mỹ, hầu hết đến định cư tại miền Bắc và miền Tây, với sức lao động của mình họ đã giúp nhanh chóng thành hình các khu đô thị như thành phố New York và những thành phố công nghiệp từ Paterson đến Milwaukee. Năm 1873, Hoa Kỳ đứng thứ hai sau Anh quốc về sản xuất công nghiệp và con số công nhân phi nông nghiệp đã vượt xa số nông dân; miền Bắc đã bắt đầu bước vào kỷ nguyên công nghiệp.

Nếu nhà máy sợi tượng trưng thời kỳ đầu của cuộc cách mạng công nghiệp thì ngành hỏa xa là hình ảnh thu gọn của trật tự tư bản đang trưởng thành. Giữa năm 1865 và 1873, 35 ngàn dặm (56.000km) đường sắt được lắp đặt, nhiều hơn toàn bộ hệ thống đường sắt năm 1860. Hỏa xa mở ra những vùng rộng lớn làm nông nghiệp vì mục tiêu thương mại và nối liền các thành phố như Chicago và Kansas City với những vùng sâu vùng xa chủ yếu làm nông nghiệp. Đường sắt tiêu tốn một lượng vốn đầu tư khổng lồ, giúp phát triển hệ thống ngân hàng và thúc đẩy việc tập trung vốn trên thị trường ở Wall Street. Có ý nghĩa giống như việc hoàn thành hệ thống hỏa xa, sự phối hợp và củng cố đường sắt do các nhà tài phiệt phía Đông đã từng bước nuốt gọn những công ty nhỏ. Dưới sự chỉ huy của Thomas Scott, công ty Pennsylvania Railroad lớn nhất cả nước đã tạo nên một đế quốc xuyên suốt lục địa bao gồm nhiều hầm mỏ và các hãng tàu viễn dương. Công ty PR với 6.000 dặm (9.600km) đường sắt chỉ đứng sau hai nước là Anh và Pháp. Đường sắt đem lại sự giàu có cho những nhà kinh doanh nổi tiếng như Collis Huntington, James Hill và Jay Gould. Nó cũng là động lực quốc hữu hóa cho các nhà doanh nghiệp khác, nhờ làm giảm chi phí chuyên chở và tạo dựng một thị trường rộng lớn chỉ trong vòng một phần tư thế kỷ, và giúp cho Hoa Kỳ trở thành một quốc gia công nghiệp hàng đầu của thế giới.

Hơn bất cứ nơi nào khác, tư bản thâm nhập ồ ạt và nhanh chóng vào vùng Trans-Mississippi West. Khi cuộc nội chiến chấm dứt, biên giới về phía Tây nằm ngay trên bờ sông Mississippi. Xa hơn là cả triệu hecta đất đai màu mỡ và giàu khoáng sản, với hàng ngàn đàn bò hoang nhiều vô số kể, là nguồn cung cấp lương thực thực phẩm và vải mặc dồi dào cùng nơi trú ẩn cho khoảng 250.000 dân da đỏ. Đến khi tướng Grant rời chức vụ, đường sắt đã chạy qua vùng đồng bằng Lớn (Great Plains), nông dân và người chăn nuôi thay thế con bò hoang, đa số người da đỏ bản xứ tập trung trong các trại riêng, và mặc dù chiến tranh còn tồn tại đến khi cuộc thảm sát người Sioux xảy ra tại Wounded Knee năm 1890, thế giới của người da đỏ vùng Đồng bằng lớn đã chấm dứt. Ngay cả khi miền Nam vật lộn với việc phục hồi, một đế quốc nông nghiệp mới hình thành từ bang Minnesota, hai bang Bắc và Nam Dakota, Nebraska đến bang Kansas với dân số tăng nhanh từ 300 ngàn năm 1860 lên trên hai triệu sau 20 năm.

Miền Tây không đơn thuần về nông nghiệp. Nhiều khu mỏ và công nghiệp hỗn hợp mọc lên quanh Ngũ Đại Hồ và trong thung lũng Ohio, chế biến nông sản và đáp ứng yêu cầu về máy móc, sắt thép và than của ngành đường sắt. Phát triển nhanh nhất là tại Chicago với khối lượng lớn nhất về hạt ngũ cốc, thịt, và gỗ; thành phố này đã trở thành một trung tâm lớn về đường sắt và công nghiệp, với rất nhiều nhà máy sắt thép, nông cụ và máy móc nông nghiệp, kể cả các nhà máy đóng gói thịt. Nhiều xí nghiệp đầu tư vốn rất lớn nhanh chóng được thành lập. Nghề chế biến gỗ ở bang Wisconsin và Michigan phát triển mạnh từ các xí nghiệp nhỏ năm 1860 sang những tổ hợp công ty dưới sự kiểm soát của các công ty tài chính miền Đông khai thác gỗ từ các cánh rừng bạt ngàn và nhà máy chế biến, xưởng cưa với sản lượng lớn hơn trước chiến tranh nhiều lần, và sử dụng nhiều đạo quân thợ cưa, thợ xẻ. Kỹ thuật khai khoáng từ phương Tây được vận dụng với vốn huy động từ miền Đông và châu Âu, nhanh chóng thay thế kỹ thuật thăm dò độc lập với các hầm mỏ nằm sâu trong lòng đất.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #57 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2023, 03:18:21 pm »


Cũng như ở miền Nam, cơ cấu chính trị miền Bắc chưa đủ trang bị để đáp ứng những yêu cầu về tài nguyên của các tiểu bang và những cơ hội tham nhũng do nền kinh tế tư bản lớn nhanh. Một lãnh tụ Cộng hòa bang Illinois nói: “Hành lang và phòng khách các cơ quan lập pháp luôn có những người đến vận động cho một công ty hay xí nghiệp nào đó”. Nhưng chính ở miền Tây chính trị phát triển giống như trong tái thiết miền Nam mới lộ ra cách quyết liệt, với các công ty hỏa xa, công ty khai thác gỗ công ty hầm mỏ có ảnh hưởng lớn đến chính sách của chính phủ. Dưới thời Thống đốc Samuel Crawford, một luật sư từng gắn bó với công ty hỏa xa Union Pacific, cơ quan lập pháp bang Kansas trao hàng trăm ngàn hecta đất công cho ngành hỏa xa của tiểu bang. Tại bang Wisconsin, nhiều vị đại biểu lập hiến sở hữu chứng khoán hoặc giữ nhiệm vụ cố vấn cho các công ty khai thác gỗ và hỏa xa được tiểu bang tài trợ. Tòa nhà chính phủ bang luôn tràn ngập các nhà vận động (lobbyists). Thống đốc Cadwallader Washburn mỉa mai: “Bọn này (lobbyists) cho thấy những cái xấu xa nhất của bản tính con người,... Và thử nhìn xem đa số các nhà lập pháp của chúng ta đang vật lộn để xí phần. Thật là nhục nhã!”.

Mối liên hệ gia tăng giữa những lãnh tụ đảng Cộng hòa và các công ty kinh doanh có lẽ rõ nét nhất ở ngay Thủ đô Washington. Ngay cả những chính khách nổi tiếng trong sạch nhất cũng dính dáng đến các phi vụ làm ăn. Thượng Nghị Sĩ Lyman Trumbull mỗi năm đều nhận một khoản tiền từ công ty hỏa xa trung ương bang Illinois. Những nhà làm luật ít thận trọng hơn thì phục vụ những công ty liên kết với đảng của họ. Công ty Central Pacific tặng cho Thượng Nghị Sĩ William Stewart bang Nevada 50.000 acres (20.000ha) đất vì ông đã phục vụ cho Ủy ban của Pacific Railroad. Jay Cooke, chủ ngân hàng là “nhà tài phiệt trong nội chiến” và người ủng hộ chiến dịch tranh cử của Tổng thống Ulysses Grant, đã bảo lãnh cho căn nhà của chủ tịch Hạ viện, James Blaine, tại Washington. Cooke cũng nhường lại một khu đất rất giá trị cho Thống đốc bang Ohio, Rutherford Hayes với giá rất “hữu nghị”. Ngoài ra, ông còn dùng những nhà vận động hành lang nguyên là những con buôn chính trị như Benjamin Wade và Ignatius Donnelly.

Tương tự như các tiểu bang, chính quyền Liên bang cũng quan tâm đến những nguồn lợi của ngành hỏa xa và các công ty khác. Đạo luật Khoáng sản quốc gia năm 1866 trao hàng triệu hecta đất công cho các công ty khoáng sản để khai thác. Từ 1862 đến 1872, chính phủ cấp trên 100 triệu acres đất tương đương 1 triệu ha và nhiều triệu đôla cho các công ty xây dựng đường sắt, chủ yếu là đường sắt xuyên lục địa chính phủ đã thuê trong và sau chiến tranh. Người ta nhất là dân da đen thấy có điều trái ngược giữa sự rộng rãi này với việc từ chối không cấp phát ruộng đất cho người da đen được giải phóng.

Như trong cuộc tái thiết miền Nam, sự tham nhũng dưới thời Tổng thống Grant bắt nguồn từ việc xúc tiến phát triển ngành đường sắt. Vụ tham nhũng nổi tiếng nhất là với Công ty Credit Mobilier, một công ty “làm vì” của những cổ đông trong Union Pacific xây dựng đường sắt đã đem lại lợi nhuận kếch xù. Credit Mobilier đã chia các cổ phần cho những nghị sĩ có thế lực. Sau khi một tờ báo tố giác vụ tham nhũng, Quốc hội cho mở cuộc điều tra và kết quả là hai nghị sĩ bị sa thải và nhiều viên chức chính phủ mang tai tiếng, có cả chủ tịch Hạ viện Blaine và hai phó Tổng thống của Tướng Grant: Schuyler Colfax và Henry Wilson.

Tuy nhiên sẽ là một sai lầm nếu buộc tội các nhà lập pháp về tội tham nhũng hoặc cho rằng việc “lobby” và hối lộ chính trị đưa đến sự ban cho rộng rãi của chính phủ. Niềm tin phổ biến về những lợi ích xã hội và những thuận lợi chính trị là điều có ý nghĩa nhiều nhất. Những tổ hợp công ty mới luôn liên kết với những nhóm khác để được hưởng những thuận lợi từ phía các tiểu bang. Tiểu bang trở thành chiến trường chẳng những cho các nhà thầu tìm kiếm lợi nhuận mà còn cho các chính khách cấp tiến, người da đen, và phụ nữ luôn trông đợi mở lên phía Bắc cuộc tái thiết xã hội và chủng tộc, cho các nông dân và công nhân muốn xóa bỏ sự không công bằng do sự phát triển nhanh chóng của chủ nghĩa tư bản, và cho giới trí thức muốn định nghĩa lại sự “cải cách”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #58 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2023, 03:18:59 pm »


❖ THAY ĐỔI CHÍNH TRỊ

Về một số mặt nhất định, quyền lực chính quyền ở miền Bắc cũng biến đổi giống như ở miền Nam. Chính quyền tiểu bang chăm lo y tế, phúc lợi và giáo dục cho công dân, các thành phố lập nhiều công viên, cải thiện cung cấp nước và khí đốt. Chính phủ hoạt động tích cực ở những nơi đảng Cộng hòa chiếm đa số hoặc những người cấp tiến lãnh đạo đảng. Bang Massachusetts nhờ có những người cấp tiến chi phối chính trị đảng Cộng hòa suốt thập kỷ 1860 đã lập ra các cơ quan phúc lợi xã hội, y tế công cộng và cảnh sát. Bang Michigan mở nhà nuôi trẻ mồ côi, người bệnh tâm thần, kẻ khuyết tật, người mù và câm điếc, cưỡng bách giáo dục, nghiêm cấm hành động tàn ác đối với thú vật, và lập cục cảnh sát tại thành phố Detroit do đảng Dân chủ lãnh đạo.

Bang New York dưới quyền Thống đốc cấp tiến Reuben Fenton đưa ra chương trình cải cách mạnh mẽ nhất miền Bắc. Từ năm 1865 đến 1867, ngành lập pháp cho xây dựng tám trường đào tạo giáo viên mới, lập Ban nhân đạo đầu tiên cho tiểu bang, bỏ học phí cho giáo dục phổ cập và đặt tiêu chuẩn tối thiểu về nhà ở trong thành phố New York. Hội đồng thành phố lập Sở cứu hỏa chuyên nghiệp để thay thế các đội cứu hỏa tình nguyện vốn bị xem có hiệu năng kém. Tiểu bang cũng thành lập Sở Y tế. Cùng với việc trợ cấp cho các công ty, những biện pháp trên dẫn đến việc gia tăng ngân sách tiểu bang và thành phố, nợ và thuế suất. Nhưng khác với miền Nam, miền Bắc có đủ khả năng thu đủ thuế, thu nhập cá nhân tăng.

Đảng Cộng hòa cũng đưa ra những chương trình thăng tiến đời sống người da đen.

Những biện pháp của Quốc hội kết hợp với hành động của tiểu bang và các địa phương đem lại nhiều tiến bộ trong việc đảm bảo các quyền cho người da đen miền Bắc. Đạo luật Dân quyền năm 1866 và những tu chính án ban hành sau chiến tranh hủy bỏ các luật cấm đoán người da đen đến các tiểu bang phía Bắc, ra tòa làm nhân chứng, và bầu cử. Năm 1867 bang Pennsylvania cấm phân biệt chủng tộc trên xe điện và sáu năm sau bang New York có luật nghiêm cấm kỳ thị màu da trong tất cả các dịch vụ công cộng. Học sinh da đen giờ đây cũng được theo học các trường học trước đây chỉ dành cho học sinh da trắng. Bang Michigan cấm phân biệt chủng tộc trong giáo dục năm 1867 và chỉ một năm sau Trường Đại học Tiểu bang bắt đầu nhận sinh viên da đen. Phân biệt chủng tộc trong giáo dục tại bang Iowa bị xem là vi phạm Tu chính án 14.

Tuy nhiên, vấn đề cải thiện điều kiện người da đen thời kỳ tái thiết ở miền Bắc không toàn diện như ở miền Nam. Đa số người da đen miền Bắc vẫn phải sống trong những căn nhà ổ chuột, làm việc chân tay, thường bị giới chủ đối xử tệ. Một cuộc thăm dò vào năm 1871 cho thấy trong cộng đồng người da đen ở thành phố New York có 400 người làm nghề hầu bàn (phục vụ ăn uống), và 500 phu khuân vác nhưng chỉ có hai y bác sĩ và một số ít thợ thủ công. Nhìn chung chính khách da đen ở miền Bắc không có chiến lược phát triển đời sống kinh tế cho người da đen.

Phụ nữ vẫn còn là “giới công dân duy nhất” ở miền Bắc chưa có đại diện trong chính quyền. Phong trào phụ nữ tăng nhanh đòi quyền bình đẳng trong mọi hoạt động chính trị và xã hội; họ đấu tranh ý tưởng phổ biến trong xã hội: “thế giới của phụ nữ là gia đình” và đòi được quyền bầu cử. Nhưng ngay tại bang Massachusetts cấp tiến, đại hội đảng Cộng hòa năm 1871 cũng không thông qua dự luật cho phụ nữ quyền bầu cử tuy có sự ủng hộ của Thống đốc William Claffin. Tương tự, dự luật này cũng gặp thất bại tại các bang thuộc Cộng hòa khác như Iowa, Maine và Michigan.

Tuy nhiên kinh tế là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất trong nội bộ đảng Cộng hòa ở miền Bắc. Hầu hết các ngành, các cơ sở kinh tế đều có khó khăn. Nông dân than phiền giá vận chuyển nông sản cao ngất trời, tình trạng bè phái ưu tiên cho những hãng vận tải lớn, và giá cả những vật phẩm chế biến quá cao. Cảng sông kêu ca tình trạng vắng khách, ngay cả những nhà buôn ở Chicago cũng than phiền giá vận chuyển bằng đường sắt và tiền thuê kho chứa hàng quá cao. Những nhóm kinh tế trên đều cho rằng hỏa xa đã phá vỡ những tập quán hoạt động lâu đời của họ và đe dọa tính độc lập của cá nhân và các cộng đồng địa phương.

Phong trào lao động được phục hồi và đặt ra nhiều vấn đề hóc búa. Tuy công nhân vẫn chia theo ngành nghề, sắc tộc và tôn giáo nhưng công nghiệp có xu hướng ngày càng được cơ giới hóa, biến các thợ thủ công lành nghề thành những công nhân điều khiển máy móc, những người thợ làm việc tạm trong một thời gian ngắn ngủi nay phải thường xuyên lao động trong các nhà máy. Tại Quốc hội, George Julian đề nghị luật làm việc tám giờ một ngày cho công nhân Liên bang, được sự ủng hộ của những người Cộng hòa lẫn Dân chủ. Dự luật được thông qua năm 1868 sau khi đề nghị cắt giảm lương để bù số giờ lao động giảm của John Sherman bị cả hai đảng bác bỏ.

Ở cấp tiểu bang, luật về giờ làm việc trên có phần phức tạp vì có tác động đến lao động trong khu vực tư nhân, gây tranh cãi giữa những người Cộng hòa và cả những người cấp tiến vì có nhiều đại biểu Hội đồng lập pháp tiểu bang cho rằng luật “vi phạm quyền sở hữu cá nhân”. Tại bang Massachusetts, tiểu bang công nghiệp toàn diện nhất Hoa Kỳ, nhiều đại biểu cấp tiến ủng bộ luật giới hạn số giờ làm việc ngày, cấm lao động trẻ em, và bảo đảm an toàn lao động nhưng những đại biểu khác như Francis Bird, một người cấp tiến hàng đầu thì cho rằng luật lao động này vi phạm luật cung và cầu và đi ngược với nguyên tắc hợp đồng tự do mà đảng Cộng hòa đang tìm cách thực thi tại miền Nam.

Những người chủ trương cải cách lao động yêu cầu đảng Cộng hòa xem xét sự mất cân đối giữa những quyền lực kinh tế và sự phụ thuộc phổ biến về kinh tế, cũng như trách nhiệm của tiểu bang giải quyết những vấn đề này.

Trong nội bộ đảng Cộng hòa có sự chuyển hướng từ chính trị về ý thức hệ qua chính trị về tổ chức. Đặc biệt là sau khi Tướng Grant nhận chức Tổng thống làm lắng dịu cơn khủng hoảng ý thức hệ thời Johnson và giảm ảnh hưởng của nhóm cấp tiến ngay tại Washington, chính quyền các tiểu bang nằm trong tay các Thượng Nghị Sĩ đầy quyền lực xem chính quyền là công cụ cải cách ít hơn là phương tiện cầm quyền và điều hòa yêu sách của những nhóm kinh tế và sắc tộc khác nhau trong xã hội miền Bắc. Dần dà đường lối chính sách chuyển từ chương trình tái thiết qua các vấn đề kinh tế làm thay đổi từ sự phân chia giữa cấp tiến và trung dung (ôn hòa) hay giữa Dân chủ và Cộng hòa sang liên minh Đông và Tây, thành thị và nông thôn, và giữa những nghề nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, sự kiện đảng viên Cộng hòa phân hóa về chính kiến cho thấy rõ tầm quan trọng của cuộc nội chiến và tái thiết như là những tiêu chuẩn xác định bản chất của Đảng. Như vậy nếu vấn đề miền Nam suy yếu trên danh nghĩa là mục tiêu cải cách hoặc nguồn sáng kiến mới thì sự cam kết thực thi tái thiết là điểm liên kết các lãnh tụ của Đảng. Oái ăm thay, sự nổi lên của những “người hùng” trong chiến dịch chống chế độ nô lệ (những Thượng Nghị Sĩ quyền lực) không làm chính sách đảng Cộng hòa suy yếu mà lại làm nảy sinh nhóm cải cách có nhiều ảnh hưởng trong đảng chống lại chính trị mới của thời kỳ Tổng thống Grant, đòi kết thúc cuộc tái thiết.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13633



« Trả lời #59 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2023, 03:20:06 pm »


❖ NGUỐN GỐC CHỦ NGHĨA TỰ DO

Đến cuối nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng thống Grant, mội lãnh tụ Cộng hòa bất bình than phiền “tổ chức của đảng Cộng hòa vĩ đại” đã suy thoái trở thành 37 “băng đảng” hay “phe phái” độc quyền hưởng sự bảo trợ của Liên bang đối với tiểu bang và tất cả đều thối nát. Chính sách mới của thời đại hoàng kim đòi hỏi một sự cải tổ. Kêu gọi cải cách là một nhóm nhỏ nhưng có thế lực gồm nhiều nhà trí thức, nhà báo và các nhà chuyên môn như các nhà báo E. L. Godkin, Horace White, và Samuel Bowles; các nhà nghiên cứu kinh tế Francis Amasa Walker và David Wells; những doanh nhân giàu trí tuệ Edward Atkinson và Isaac Sherman; và những chính khách có đầu óc cải cách Carl Schurz và James Garfield. Phần đông các sinh viên tốt nghiệp đại học sinh sống tại các thành phố miền Đông Bắc hay miền Tây như Cincinnati và Chicago đều có chung lý tưởng và ý thức đồng nhất qua những tổ chức như Hiệp hội Khoa học xã hội Mỹ (American Social Science Association) và hệ thống các tờ báo có thế lực trong đó có The Nation (Dân tộc), North American Review (Tạp chí Bắc Mỹ), Republican (người Cộng hòa) ở Springfield, và Tribune (Diễn đàn) ở Chicago. Sự nổi bật của nhóm báo hiệu thời kỳ giới trí thức Hoa Kỳ làm chính trị đã bắt đầu.

Chủ nghĩa tự do cổ điển cho biết “chân lý” của những người chủ trương cải cách là “khoa học tài chính” - tự do mậu dịch, luật cung và cầu, và tiêu chuẩn của vàng. Một chế độ có giới hạn thì lại đưa ra những cơ sở khác để cải cách, vì mọi can thiệp của chính quyền tiểu bang đều nuôi dưỡng những mặt tiêu cực của chính trị thời hoàng kim: hối lộ, thuế cao và sự lãng phí của công.

Những nhà cải cách tự do chỉ là những người phát ngôn không quan tâm đến lợi ích chung. Nhưng ý thức hệ về cải cách làm kết tinh tư tưởng bảo thủ rõ rệt của một giai cấp trung lưu. Sử gia Francis Parkman nhận xét về giai cấp mới này: “Một lũ vô sản ngu dốt và một bọn tài phiệt kém cỏi nổi lên trên bầu trời của chúng ta như loài quỷ dữ”. Đã vậy, trong khi những nhà cải cách xỉ vả “bọn hỏa xa” và “băng đảng than sắt” vì đã làm méo mó thị trường và chính quyền, họ rất cảnh giác với mối hiểm nguy từ bên dưới. Những con người “ưu tú” này phản ứng dữ dội với những luật lệ về hỏa xa, các cuộc đình công và yêu sách làm việc tám giờ. Những âm mưu can thiệp vào tài sản vi phạm các qui luật bất diệt của nền kinh tế chính trị vì đã phá vỡ nguyên tắc cung và cầu và sử dụng quyền cưỡng bách của chính phủ để phục vụ lợi ích cho một giai cấp công dân.

Các nhà cải cách tin rằng sự suy đồi chính trị thời hoàng kim phần lớn do bọn mị dân và đầu cơ chính trị thắng thế nhờ thành kiến của cử tri là người lao động. Tại New York, họ liên kết với các doanh nhân, luật sư, tài phiệt và chính khách đối lập để hạ bệ “trùm” William Tweed, lãnh tụ đảng Dân chủ đã cướp của Thành phố hàng chục triệu đôla. Băng đảng Tweed tượng trưng cho mối quan hệ cộng sinh giữa tham nhũng, chính trị có tổ chức, quyền lực công nhân hỏa xa và giai cấp công nhân thành thị, và sự lạm dụng của tiểu bang. “Trùm” Tweed chi phối quyền lãnh đạo thành phố, liên minh với hai tay trùm trong ngành hỏa xa là Jim Fisk và Jay Gould, liên kết với các công đoàn lao động, và lập một hệ thống phúc lợi xã hội không chính thức để dùng ngân sách thành phố tài trợ các trường học Thiên Chúa giáo và cung cấp lương thực và chất đốt cho người nghèo. Điều làm các nhà cải cách tức giận là việc tố cáo Tweed tham nhũng không làm suy giảm uy tín của y đối với cử tri thuộc các tầng lớp dưới. Benjamin Butler, dân biểu bang Massachusetts, còn xấu xa hơn Tweed vì là người của đảng Cộng hòa. Ông này phô trương ủng hộ mục đích của các nhà cải cách: tám giờ làm việc mỗi ngày, hạn chế lạm phát, trả nợ Nhà nước bằng tiền mặt. Ông còn khiến công luận ghê tởm vì tán dương quyền bầu cử của phụ nữ, chủ nghĩa dân tộc Ai-len và Công xã Paris. “Chủ nghĩa Butler” là tên gọi tắt loại chính trị quần chúng ngấm sâu trong đời sống người dân Mỹ “tinh thần đám đông ô hợp châu Âu”.

 
Hầu hết những người chủ trương cải cách trước đây đã tán thành giải phóng nô lệ và quyền bầu cử của người da đen. Nếu phe cấp tiến nghĩ Nhà nước phải theo nguyên tắc bình đẳng về quyền dân sự và chính trị thì nhóm Tự do lại muốn làm khác đi chút ít. Trong lúc công nhân, nông dân và nhiều nhóm người phương Bắc đòi có những sửa đổi về kinh tế xã hội thì chính những nhà cải cách tự do từng tán dương quyền lực Nhà nước hoạt động xã hội nay lại chỉ trích nỗ lực làm thành luật những hoạt động có lợi cho nhân loại là đối trá, lừa bịp. Họ nói quyền lực Nhà nước về bản chất là sự lãng phí, tồi tệ và nguy hiểm. Nhiều người đã từ bỏ những nguyên lý dân chủ, ủng hộ quyền bầu cử có điều kiện về giáo dục và tài sản nhất là đối với cử tri ở những thành phố lớn, và tán thành việc chỉ định bổ nhiệm thay cho việc bầu viên chức chính phủ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM