Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:09:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch sá  (Đọc 33247 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #30 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:44:31 pm »

Ban Ba chiến dịch được Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ: tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị ở hướng chủ yếu vượt sông Đà đánh địch bên hữu ngạn. Tổ chức giữ vững liên lạc vô tuyến điện với Mặt trận Y13, vượt cấp đến Trung đoàn 165 và các tiểu đoàn 542, 564, 115 (Trung đoàn 165), với Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148); giữ vững liên lạc vô tuyến điện với Trung đoàn 36 cả khi đang hành quân và đánh địch ở Phú Thọ; giữ chắc liên lạc vô tuyến điện với các đơn vị đã vượt sông Đà, cụ thể: với Đại đoàn 312, vượt cấp đến hai trung đoàn 209, 141 đánh địch ỏ Tà Phình, Bản Hoa, Ba Lay...; với Đại đoàn 316, vượt cấp đến hai trung đoàn 98, 174 đánh địch trên cao nguyên Mộc Châu; với Đại đoàn 308, vượt cấp đến Trung đoàn 88 tiến đánh Hát Tiếu, Mường Lụm, đánh địch trên đường 41 và cắt liên lạc giữa Mộc Châu với Yên Châu trên đường 41, vượt cấp đến Trung đoàn 143 ở Sốp Bao làm lực lượng dự bị chiến dịch. Nếu điều kiện thuận lợi, tổ chức gấp đường liên lạc điện thoại giữa sở chỉ huy chiến dịch với Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312.


Những trường hợp thông tin bị gián đoạn trong truy kích địch ở đợt 1 đã được rút kinh nghiệm và chấn chỉnh, nên bước vào đợt 2, ngay từ đầu thông tin đã được giữ vững. Đêm 16 tháng 11, Đại đội điện thoại 99 (Tiểu đoàn thông tin 303) đã triển khai rải dây phục vụ cho các đơn vị vượt sông 2 đôi dây điện thoại của các đại đội 99 và 110 (Tiểu đoàn thông tin 303) kéo từ sở chỉ huy chiến dịch theo hai mũi xuống Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312, một đôi dây được kéo dựa vào cầu phao phía hạ lưu rồi thả qua sông bằng bè chuối vào Đại đoàn 308 ở suối O (Long Ma, Mường Lụm). Còn đôi dây xuống Đại đoàn 312, các chiến sĩ liên lạc điện thoại phải bơi qua sông để rải dây đến Tà Lài, Bản Hoa. Cả hai đôi dây đều thông suốt ngay trong đêm 18 tháng 11 khi các đơn vị ở hướng chủ yếu bắt đầu nổ súng. Như vậy, bằng hai phương tiện thông tin liên lạc cơ bản vô tuyến điện và điện thoại, Ban Ba chiến dịch có thể bảo đảm thông tin thông suốt đê Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo, chỉ huy các mũi ở hướng chủ yếu đánh địch trong đợt 2.


Sau khi hệ thống phòng ngự của địch bị đập vỡ, để bảo đảm cho chỉ đạo, chỉ huy cuộc truy kích, Tiểu đoàn thông tin 303 tổ chức một bộ phận nhẹ đi trước gồm một trung đội liên lạc điện thoại, một tổ tổng đài và một trung đội liên lạc chuyển đạt, một tổ điện đài vô tuyến điện do Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 303 trực tiếp chỉ huy. Anh em đã hành quân cấp tốc liên tục 3 ngày 3 đêm, theo kịp các đơn vị chiến đấu đến Cò Nòi. Khi sở chỉ huy tiền phướng do đồng chí tham mưu trưởng chiến dịch dừng lại ở Cò Nòi, các phân đội trên đã bảo đảm ngay liên lạc. Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái đã có nhận xét: Thông tin liên lạc của Bộ bảo đảm liên lạc từ đầu chiến dịch đến đây vẫn duy trì rất tốt. Tuy nhiên, ở các đơn vị cấp dưới do chỉ dùng liên lạc chuyển đạt để chỉ huy truy kích địch nên tốc độ truy kích chậm, thiếu những mũi thọc sáu, chặn đầu, không bao vây chặt nên để địch chạy dồn về Nà Sản.


Ở hướng thứ yếu phía nam Lai Châu, bộ đội ta nổ súng và tiến hành nghi binh tốt, thu hút được sự chú ý của địch, ở hướng này việc tăng thêm lực lượng Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) và Mặt trận Y13 nên số lượng điện đài đáng kể. Từ 1 điện đài của Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) nay tăng lên thành 7 điện đài. Bốn tiểu đoàn đồng thời phát sóng liên lạc vô tuyến điện ở 4 mũi, cùng với 3 điện đài của mặt trận và của Trung đoàn 165, nên địch lầm tưởng đây là hướng tiến công chủ yếu của ta với lực lượng 3 đại đoàn. Thấy địch hoang mang, qua vô tuyến điện, Tư lệnh Mặt trận Y13 lệnh Tiểu đoàn 542 vượt sông sớm hơn dự định 8 ngày, để cùng các tiểu đoàn 910 và 564 tiến công địch. Ngày 8 tháng 11, địch bỏ Tuần Giáo, rồi bỏ tiếp Thuận Châu, Điện Biên, Quỳnh Nhai, Mường Sài... rút về Lai Châu, Nà Sản. Tiểu đoàn 115 - lực lượng dự bị cũng được tung ra tiến về Thuận Châu. Biết địch đã rút chạy, Tư lệnh Mặt trận Y13 dùng liên lạc vô tuyến diện cho tiểu đoàn quay xuống Mường La, 11 giờ ngày 22 tháng 11, Tiểu đoàn 115 tiến công giải phóng thị xã Sơn La, sau đó tiến sát Nà Sản. Như vậy, chỉ với lực lượng bốn tiểu đoàn, biết phát huy tốt phương tiện thông tin liên lạc vô tuyến và tiến công kiên quyết ta đã giải phóng 6 huyện (Than Uyên, Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Mường La, Điện Biên, Thuận Châu) và thị xã Sơn La.


Địch co cụm về Nà Sản, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy và Đang ủy chiến dịch quyết tâm tập trung lực lượng mỏ đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt địch ở Nà Sản, giành toàn thắng cho chiến dịch Tây Bắc. Mặc dù ta đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản không thành công, song chiến dịch tiến công Tây Bắc vẫn giành thắng lợi rất to lớn và xuất sắc về nhiều mặt theo mục đích đề ra, nhất là nhiệm vụ giải phóng đất đai và nhân dân vùng Tây Bắc.


Trong thắng lợi rất to lớn và xuất sắc đó, Bộ đội Thông tin liên lạc đã trưởng thành lên một bước vững chắc. Cán bộ và chiến sĩ đã tham gia thực hiện tốt nhiệm vụ nghi binh chuẩn bị chiến dịch theo kế hoạch chung đã bảo đảm liên lạc chỉ đạo, chỉ huy thông suốt vững chắc cho lực lượng lớn bộ đội vượt sông Hồng, tiến công giải phóng Nghĩa Lộ, phá vỡ tuyến phòng thủ sông Đà, giải phóng tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản).


Lịch sử xây dựng, phát triển và trưởng thành của Bộ đội Thông tin liên lạc một lần nữa ghi nhận tinh thần bền bỉ, dũng cảm tuyệt vời của cán bộ và chiến sĩ thông tin trong chiến dịch Tây Bắc. Cùng với bộ binh, cán bộ, chiến sĩ thông tin đã vượt qua đèo cao, suối sâu, thác ghềnh đầy khó khăn hiểm trở, bom đạn ác liệt để triển khai mạng điện thoại, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt cả trong trường hợp tấn công mục tiêu và cả khi truy kích địch đường dài. Đồng thời, chiến dịch Tây Bắc đã ghi nhận kết quả của các chiến sĩ liên lạc vô tuyến điện ở hướng thứ yếu - Mặt trận Y13 vừa tiến hành giữ vững liên lạc chỉ huy tiến công, vừa tiến hành nghi binh ở các mũi, của từng tiểu đoàn độc lập đánh địch. Chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi, Bộ đội Thông tin liên lạc rút được nhiều bài học bổ ích, đặc biệt là bài học kinh nghiệm bảo đảm cho đánh vận động truy kích địch trên địa hình rừng núi và kinh nghiệm tổ chức thông tin liên lạc trong đánh tập đoàn cứ điểm, một kiểu tổ chức phòng ngự mới của địch. Những bài học kinh nghiệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với Binh chủng Thông tin liên lạc. Những kinh nghiệm đó đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Binh chủng "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại" đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 09:57:49 pm »

PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC NĂM 1952

Thiếu tướng NGUYỄN VĂN CÔN
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh


Sau thắng lợi to lớn, toàn diện trong chiến dịch Hòa Bình và hoạt động du kích chiến ở vùngđồng bằng Bắc Bộ, thế và lực của ta ngày càng được củng cố và phát triển; phạm vi chiếm đóng của thực dân Pháp và ngụy quyền bị thu hẹp, từ chỗ chủ động tiến công nay phải chuyển sang bị động đối phó... Trong khi đó, từ những năm 1949-1951, các đại đoàn 304, 308, 312, 320 và Trung đoàn pháo binh 675, công binh 151... lần lượt ra đời đã tạo ra thời cơ mới, đủ điều kiện để mở những chiến dịch quy mô lớn, hiệp đồng binh chúng.


Để lấy lại thế chiến lược đã mất ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Chính phủ Pháp phải thay quân, đổi tướng, bố trí lại lực lượng và thay đổi thủ đoạn chiến tranh, cử Đờ Lát đờ Tátxinhi sang Đông Dương làm Tổng tư lệnh kiêm Cao ủy Pháp thay cho tướng Pinhông và Cácpăngchiê.


Ngay sau khi đặt chân tới Việt Nam, Đò Lát đã gấp rút xây dựng phòng tuyến boong ke, khoảng 800 lô cốt xi măng..., bố trí từ Hòn Gai, Đông Triều, qua Bắc Giang, Bắc Ninh lên Sơn Tây và mở rộng xuống Ninh Bình, Phát Diệm. Đồng thời, tăng cường tuyển mộ binh lính bản địa, lập hệ thống hương lý để cai trị, càn quét, bắn giết, cướp của hòng thực hiện chính sách: "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và "kéo bộ đội chủ lực của ta đánh xuống đồng bằng để tiêu diệt".


Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến và âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị chuyên đề về chiến tranh du kích nhằm kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 2 và bàn phương châm, nhiệm vụ đấu tranh trong vùng sau lưng địch; đồng thời gấp rút chuẩn bị lực lượng, thực hiện đánh lớn, chắc thắng vào nơi sơ hở, mỏng yếu của địch; tránh rắn, đánh mềm, nhằm tiêu diệt lớn sinh lực dịch, giải phóng một phần đất đai, mở rộng vùng chiến khu cách mạng... Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy nhận định: trên chiến trường Bắc Bộ lúc này, không có hướng nào địch "bố phòng" yếu như ở Tây Bắc, nếu ta đánh vào Tây Bắc ta sẽ đạt được 2 mục đích "tiêu diệt sinh lực" và "mở rộng đất đai" và đã quyết định chọn Tây Bắc để mở chiến dịch.


Trên địa bàn Tây Bắc, địch có 4 phân khu là: Lai Châu, Sông Đà, Nghĩa Lộ, Sơn La và 3 tiểu khu độc lập gồm: Thuận Châu, Phù Yên, Tuần Giáo. Toàn bộ lực lượng dịch chiếm đóng có 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 5 tiểu đoàn và 43 đại đội ngụy, 4 trung đội pháo, rải ra trên 144 cứ điểm (trong đó 40 cứ điểm, địch bố trí tới 2 đại đội đóng giữ). Các cứ điểm cơ bản bố trí độc lập, khó cơ động ứng cứu cho nhau, dễ bao vây cô lập.


Về ta, lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 đại đoàn chủ lực; 1 trung đoàn công binh và 11 đại đội địa phương. Riêng pháo binh tham gia chiến dịch gồm có: Trung đoàn pháo binh 675 (trang bị sơn pháo 75mm), Tiểu đoàn 83 (súng cối 120mm) và 3 tiểu đoàn pháo binh trong 3 đại đoàn chủ lực.


Lực lượng pháo binh được sử dụng theo 3 đợt chiến dịch, như sau:

Đợt 1, gồm 4 đại đội pháo binh (2 đại đội sơn pháo 75mm và 2 đại đội côi 120mm) chi viện cho 2 trung đoàn bộ binh tiêu diệt các cứ điểm vòng ngoài, trước mắt tập trung hỏa lực và xung lực, đánh chiếm cứ điểm Sài Lương và Ca Vịnh, sau đó mở rộng đánh chiếm các cứ điểm còn lại.


Đợt 2, sử dụng 3 đại đội sơn pháo và 1 đại đội cối 120 chi viện cho Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) tiến công tiêu diệt địch ở Phú Thọ. 7 đại đội còn lại phối thuộc cho các hướng sau: 4 đại đội phối thuộc cho Đại đoàn 316 tiến công trên hướng chủ yếu đánh vào Mộc Châu, 2 đại đội phối thuộc cho Đại đoàn 312 tiến công cứ điểm Ba Lay trên hướng thứ yếu, 1 đại đội làm dự bị chiến dịch.


Đợt 3, chiến dịch sử dụng 2 tiểu đoàn pháo, bao gốm tiểu đoàn sơn pháo 75mm và tiểu đoàn cối 120mm chi viện cho Đại đoàn 308 và 312 tiến công tiêu diệt tập đoàn Nà Sản.


Sau 4 ngày khiêng pháo theo đội hình bộ binh, ngày 13 tháng 10, pháo binh được lệnh chiếm lĩnh đội hình chiến đấu. Đêm ngày 14 tháng 10, được lệnh nổ súng tiến công đánh địch vòng ngoài. Đại đội sơn pháo và Đại đội cối 120 bắn vào cứ điểm Sài Lương. Đại đội pháo 752 và Đại đội cối 111 bắn vào cứ điểm Ca Vinhmở màn chiến dịch. Với hàng trăm phát đạn đại bác cùng bắn vào hai cứ điểm nhưng do ta không chú ý đến đặc điểm của quân địchở Tây Bắc là "dễ tan nhưng khó diệt" nên khi pháo ta bắn chuẩn bị, địch đã lợi dụng đêm tối và đường rừng rút chạy, khi bộ binh xung phong đánh chiếm hai mục tiêu nói trên thì cả hai mục tiêu này không còn một tên địch. Được lệnh phát triển tiến công, đánh chiếm các mục tiêu vòng ngoài còn lại, lực lượng pháo binh đã nhanh chóng cơ động, triển khai đội hình chiến đấu, chi viện cho Trung đoàn bộ binh 174 (Đại đoàn 316) nhanh chóng đánh chiếm cứ điểm Bản Mo, Trung đoàn bộ binh 141 đánh chiếm cứ điểm Nậm Mười, Dốc Bàng, Đồng Bồ... Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức thuận lợi, trong 11 ngày tác chiến, vừa cơ động, vừa liên tục tiến công hàng loạt cứ điểm nhỏ dọc đường; vừa bao vây, đánh chiếm các cụm cứ điểm vòng ngoài, vừa chế áp quân địch tăng viện đường không xuống Tú Lệ, vu hồi đường bộ vào đông nam Lai Châu. Được pháo binh chi viện đắc lực, bộ binh ta đã nhanh chóng làm chủ hoàn toàn tuyến vòng ngoài của địch (trừ Phong Thổ - Lai Châu) từ hữu ngạn sông Thao đến tả ngạn sông Đà; từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Kết thúc đợt 1 chiến dịch, ta đã đánh tan rã tiểu đoàn Âu - Phi và một số đại đội quân ngụy, tuyến vòng ngoài của địch được giải phóng.


Tuy vậy, quá trình diễn biến của đợt 1, địch đã phán đoán được hướng tiến công chủ yếu của ta nên khi đợt 1 chiến dịch diễn ra, địch đã kịp tăng thêm 5 tiểu đoàn Âu - Phi cho hướng Lai Châu và Nà Sản; lập cầu hàng không Hà Nội - Nà Sản; xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để quyết đánh bại hướng tiến công chủ yếu của ta. Đồng thời tập trung 12 tiểu đoàn, kết hợp với xe tăng, pháo binh mở cuộc hành quân Loren đánh sâu vào hậu phương của ta ở Phú Thọ, Đoan Hùng nhằm đỡ đòn cho Tây Bắc.


Giữ vững quyết tâm đã xác định, Bộ chỉ huy chiến dịch đã lệnh cho Trung đoàn 36 cùng với 3 đại đội sơn pháo và 1 đại đội cối 120mm lui về phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch ở Phú Thọ. Lực lượng chủ yếu ở Tây Bắc tổ chức thành 2 mũi tiến công. Mũi chủ yếu tiến công vào Tuần Giáo, phát triển đánh chiếm Điện Biên Phủ. Mũi thứ yếu đánh chiếm Thuận Châu và truy kích địch trên hướng Sơn La. Trên hướng Tây Bắc, sau khi tổ chức vượt sông Đà, lực lượng pháo binh đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, kịp thời nổ súng chi viện cho các đại đoàn tiến công tiêu diệt địch ở Mộc Châu (trên hướng chủ yếu), tiêu diệt và bức hàng gần 4 tiểu đoàn quân địch ở Chiềng Đông, Cò Nòi, Tạ Khoa, về đến Nà Sản. Trên hướng phối hợp, 3 đại đội sơn pháo và 1 đại đội cối 120mm cũng phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 36, 176 và dân quân du kích tỉnh Phú Thọ, tổ chức nhiều trận đánh đạt hiệu suất cao, buộc cuộc hành binh Loren của giặc Pháp phải kết thúc. Kết quả đợt 2 chiến dịch, ta đã giải phóng được một vùng đất đai rộng lớn, bao gồm 6 huyện với gần 10 vạn dân, phá vỡ hoàn toàn tuyến phòng thủ phía nam Lai Châu của địch.


Nhưng đến đợt 3 của chiến dịch, với 2 trận thành công (ở Pú Hồng, Bản Hời, nhưng bị địch phản kích chiếm lại) và 2 trận không thành công (ở Nà Si, Bản Vây), Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận thấy, ta chưa đủ lực đánh thắng một tập đoàn cứ điểm lớn như Nà Sản. Ngày 10 tháng 12 Bộ chỉ huy ra lệnh kết thúc chiến dịch, lui về củng cố hậu phương và vùng mới giải phóng.


Kết quả của chiến dịch ta đã diệt và bắt gần 10 nghìn tên địch, giải phóng khoảng 28.500km2 đất đai, với 250.000 dân, nối liền Tây Bắc với Việt Bắc và Thượng Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 09:59:18 pm »

Từ thực tế tham gia chiến dịch cho thấy: nếu pháo binh được tổ chức sử dụng hợp lý, lựa chọn cách đánh hay thì dù ở bất cứ địa hình nào, rừng núi hay đồng bằng, hỏa lực pháo binh cùng đủ sức chi viện cho bộ binh tiến công, tiêu diệt cứ điểm, cụm cứ điểm trong công sự vững chắc, có lực lượng chiếm đóng từ hai đại đội đến một tiểu đoàn địch. Ưu, nhược điểm của bộ đội pháo binh qua thực tiễn chiến đấu trong quá trình chiến dịch được rút ra là:


1. Nghệ thuật sử dụng pháo binh có bước phát triển mới, phù hợp với quy mô tác chiến và cách đánh của binh chủng hợp thành.

Việc Trung ương chọn Tây Bắc để mở chiến dịch là một chủ trương hết sức sáng suốt, có tầm nhìn chiến lược sâu rộng; phù hợp với khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang ta và tình hình địch trên chiến trường miền Bắc lúc bấy giờ: phát triển chiến tranh đu kích ở vùng sau lưng địch, buộc địch phải tăng cường lực lượng, xây dựng hệ thống lô cốt boong ke để quyết giữ, bình định "vùng đồng bằng hữu ích, Bắc Bộ", tạo thế và thời cơ cho ta tập trung lớn lực lượng để tiến hành chiến dịch Tây Bắc giành thắng lợi.


Nắm chắc quyết tâm của chiến dịch và nhiệm vụ hỏa lực được giao, lực lượng pháo binh tham gia chiến dịch được sử dụng hết sức hợp lý. Trên các hướng tiến công (chủ yếu, thứ yếu, vu hồi và phối hợp...) đều có hỏa lực pháo binh chi viện. Tập trung nhiều hơn cho hướng chủ yếu, trận đánh then chốt ở Nghĩa Lộ và Mộc Châu; có lực lượng dự bị để xử trí tình huống: đánh địch vu hồi đường bộ (hướng đông nam Lai Châu), địch đổ bộ đường không xuống Tú Lệ...


Đây là bước phát triển vế nghệ thuật sử dụng pháo binh so với các chiến dịch trước đó: lần đầu tiên ta hình thành lực lượng pháo binh 3 cấp để chi viện bộ binh tiến công địch phòng ngự trong còng sự vững chắc có 1 tiểu đoàn dịch chiếm giữ. Tuy nhiên, do chưa hình thành được lực lượng pháo binh chi viện chung, nên thế trận pháo binh còn thiếu tính vững chắc, bỏ lỡ cơ hội diệt dịch ở Yên Châu, Cò Nòi, Thuận Châu và không đủ sức huy động hỏa lực tập trung để kiềm chế, chế áp pháo binh, sinh lực địch tập trung ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản.


2. Lập thế trận pháo binh hiểm, bất ngờ, vận dụng cách đánh sáng tạo

Từ giữa năm 1952, cùng với việc bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ, trên hướng Tây Bắc, thực dân Pháp đã ráo riết củng cố "Xứ Thái tự trị" gồm 8.000 quân chiếm đóng, lập ra 144 cứ điểm (trong đó có 40 cứ điểm có trên 2 đại đội địch đóng giữ), bố trí thành 4 phân khu và 3 tiểu khu độc lập, để bóc lột, đàn áp nhân dân, che chở cho Thượng Lào và uy hiếp, đe dọa vùng tự do của ta ở Việt Bắc. Đồn bốt địch tuy nhiều nhưng cách xa nhau, biệt lập, khó chi viện cho nhau bằng cả hỏa lực và xung lực. Vì vậy, bộ đội pháo binh đã vác pháo vào gần, len lỏi vào các phân khu, đặt pháo bắn thẳng sát hàng rào... nên khi pháo binh bắn vào Sài Lương và Ca Vịnh, địch ở 2 cứ điểm này đã hoảng hốt bỏ chạy. Một số cứ điểm khác trong tuyến phòng thủ vòng ngoài như: Bản Mo, Nậm Mười, Ba Khe, Đồng Bồ... đều bị hỏa lực của pháo binh bắn bất ngờ, mãnh liệt, địch trong các cứ điểm luống cuống đối phó, chỉ sau 35 phút chiến đấu, bộ binh ta đã làm chủ hoàn toàn tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.


Bằng cách đánh này, đợt 2 của chiến dịch, pháo binh đã phát huy hiệu quả hỏa lực chi viện cho các hướng tiến công giành thắng lợi. Điển hình là trận Mộc Châu, trên hướng chủ yếu của chiến dịch, bộ đội pháo binh đã triệt để lợi dụng địa hình hiểm trở, đưa 2 khẩu sơn pháo 75mm của Đại đội 756 vào đỉnh cao điểm 230 để ngắm bắn trực tiếp vào hàng rào kẽm gai, bắn phá một số hỏa điểm của địch bố trí trước cửa mở để tham gia mở cửa và kiềm chế các hỏa điểmngụy hại; đồng thời đưa 4 khẩu cối 120mm của Đại đội 113 vào chân điểm cao 241 để chế áp trận địa pháo binh địch bố trí ở tây Mộc Châu và Ba Lay... tạo được hỏa lực áp đảo ngay từ giai đoạn đầu pháo bắn chuẩn bị.


3. Phải nắm chắc địch để lựa chọn cách đánh, kết hợp với hiệp đồng pháo - bộ chặt chẽ để giành thắng lợi triệt để trong từng tình huống chiến dịch.

Hiểu địch và nắm chắc địch để chuẩn bị và thực hành đánh thắng địch là một yếu tố quan trọng bậc nhất đối với bất ký chiến dịch nào. Đặc biệt, ở Mặt trận Tây Bắc, tiến công địch trong công sự vững chắc, lại được bố trí rải rác trên nhiều cứ điểm, nơi có địa hình hiểm trở, nên việc nắm chắc địch càng có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi triệt để của chiến dịch.


Thực tế, khi bộ binh ta đánh vào hai cứ điểm Sài Lương và Ca Vịnh, địch đã bỏ chạy không còn một tên cho thấy ta nắm địch ở hai cứ điểm này chưa chắc, khâu hiệp đồng pháo - bộ còn thiếu cụ thể nên ta đã bỏ lỡthời cơ tiêu diệt địch tại đây, còn để địch tổ chức lui quân về phía sau, củng cố thêm lực lượng chống trả. Ngay cả khi ta đánh chiếm cứ điểm Tà Phình (đợt 2 của chiến dịch) cũng mắc phải sai lầm này: theo kế hoạch, chiến dịch sẽ tiến hành đánh cứ điểm Tà Phình trước để chia cắt Bản Hoa với La Hay, sau đó mới tập trung lực lượng đánh chiếm La Hay nhưng sau khi pháo bắn chuẩn bị, bộ binh ta thực hành xung phong cũng bị dịch lợi dụng thời cơ tổ chức chạy về La Hay toàn bộ. Bộ chỉ huy chiến dịch phải lệnh cho Đại đoàn 312 quay lại đánh La Hay. Đặc biệt, khi đợt 2 của chiến dịch kết thúc, tuy ta đã giải phóng được vùng đất đai rộng lớn, đánh chiếm được nhiều cứ điểm nhưng việc ngăn chặn, đánh quân rút chạy ta lại không thực hiện được. Pháo binh không chuẩn bị các phần tử bắn chặn dự kiến, còn để lực lượng lớn của địch ở Sơn La kịp lui về co cụm ở Nà Sản. Sau đợt 2 của chiến dịch, lực lượng địch ở Nà Sản đã lên tới 10 tiểu đoàn, có 2 tiểu đoàn dù và 1 tiểu đoàn pháo binh.


Tuy nhiên, nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến dịch Tây Bắc có bước phát triển mới so với các chiến dịch trước đó về tổ chức sử dụng lực lượng, bố trí đội hình, sáng tạo ra cách đánh hay và tổ chứcchỉ huyhỏa lực chặt chẽ, nhất là trong điều kiện trang bị pháo, đạn của ta còn hạn chế. Trong đó, ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, đưa pháo vào gần mục tiêu để ngắm bắn trực tiếp là tư tưởng chỉ đạo và cách đánh xuyên suốt trong cả quá trình chiến dịch.


Tựu chung lại, thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã mở ra thế chiến lược mới. Bộ đội Pháo binh đã tiến bộ về chính trị cũng như về kỹ, chiến thuật đánh địch ở địa hình rừng núi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:01:52 pm »

BỘ ĐỘI CÔNG BINH BẢO ĐẢM CƠ ĐỘNG
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952


Thiếu tướng TS PHẠM QUANG XUÂN
Tư lệnh Binh chủng Công binh


Cách đây 60 năm, vào Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã mở chiến dịch tiến công lên Tây Bắc và giành thắng lợi to lớn, có ý nghĩa chiến lược. Cùng với quân dân cả nước, bộ đội công binh kể cả cấp chiến dịch và cấp chiến thuật, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mở đường, sửa đường và bảo đảm vượt sông cho lực lượng lớn, bí mật và an toàn, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.

- Bảo đảm vượt sông cho chiến dịch: Công binh có nhiệm vụ bảo đảm cho các đơn vị qua sông Thao trong ba đêm (10 đến 12-10-1952). Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và có nhiều khó khăn vì sông rộng, lực lượng qua sông rất lớn, phải bảo đảm bí mật, an toàn. Để điều hành việc qua sông đạt được các yêu cầu đề ra, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ định ủy ban vượt sông gồm đại biểu tỉnh ủy, ủy ban, công chính, công đoàn tỉnh Yên Bái và Trung đoàn 151. Đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Đoan, Trung đoàn phó Trung đoàn 151 là chỉ huy phó ủy ban vượt sông, phụ trách kế hoạch và kỹ thuật.


Khu vực vượt sông dài 45km gồm ba bên: Âu Lâu, Cổ Phúc, Mậu A. Tiểu đoàn công binh 555 được tăng cường 1.100 dân công biết chèo lái thuyền, sử dụng 381 chiếc thuyền nan, 46 thuyền gỗ, 20 xuồng đơn, 5 máy đẩy, đảm nhiệm việc đưa bộ đội qua sông. Công tác tổ chức và chuẩn bị được tiến hành tỉ mỉ theo kế hoạch. Đêm 10 tháng 10 năm 1952 bộ đội bắt đầu qua sông. Trời đổ mưa to, máy đẩy ở bên Mậu A bị hỏng nên hết đêm mà bộ đội vẫn chưa qua hết, xảy ra ùn tắc. Lợi dụng sương mù, máy bay địch không hoạt động được, chỉ huy bến vượt đã huy động và tập trung lực lượng công binh cùng với dân công tích cực chèo thuyền bằng tay. Đến 9 giờ sáng ngày 11 tháng 10, đội hình chính của hai đại đoàn đã được đưa qua sông theo đúng kế hoạch. Đến đêm thứ ba, trên 41.000 người, 338 lừa ngựa và hàng trăm tấn trang bị, lương thực, thuốc men đã qua sông bí mật, an toàn. Đây là cuộc bảo đảm qua sông lớn, được tổ chức chặt chẽ, bí mật, an toàn, hoàn thành xuất sắc trong lịch sử bảo đảm vượt sông của Công binh Việt Nam.


Đợt 2 chiến dịch, Tiểu đoàn công binh 333 (thiếu) chuẩn bị bắc cầu qua sông Đà ở Sa Piệt. Phát hiện có địch ở bờ hữu ngạn, tiểu đoàn chuyển xuống bắc cầu ở Vạn Yên và Long Mú. Tuy nhiên, do lũ lên to nước chảy xiết, nên đêm 14 tháng 11 năm 1952, Đại đội 260 không bắc được cầu qua Long Mú. Hai đêm sau (15 và 16-11), đại đội khắc phục khó khăn tổ chức bắc xong cầu, đảm bảo cho Đại đoàn 308 qua sông bí mật an toàn, tiến vào tiêu diệt vị trí Mường Lum (đêm 18-11). Ở bến Vạn Yên, cũng do nước chảy xiết, có nhiều đá ngầm, lại bị máy bay địch đánh vỡ mảng, đứt dây nên qua hai đêm Đại đội 250 vẫn không bắc xong cầu. Không còn thời gian trinh sát và chuyển bến, đơn vị phải tháo cầu, dùng mảng để chèo chở bộ đội qua sông, được Trung đoàn 151 tăng cường thêm Đại đội 126 cùng một số thuyền nan nên trong hai đêm (15 và 16-11-1952), Đại đoàn 312 đã vượt sông Đà tiến vào tiêu diệt Bản Hoa (đêm 17-11). Tại bến Lánh cách bến Vạn Yên 3km, Đại đội công binh 150 (Đại đoàn 316) chèo thuyền đưa bộ đội qua sông tiêu diệt 3 đại đội địch ở Mộc Châu (đêm 20-11). Hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu bị đập vỡ, quân địch ở ven sông Đà tháo chạy. Bộ đội địa phương Khu Tây Bắc tiến vào vùng sau lưng địch, giải phóng Tuần Châu, Tuần Giáo, Thuận Châu, Sơn La (từ 17 đến 22-11) và Điện Biên Phủ (ngày 30-11-1952).


- Bảo đảm đường cơ động cho chiến dịch:

Từ ngày 8 tháng 10 năm 1952, Tiểu đoàn 333, 444 cùng công binh các đại đoàn bí mật mở 5 đường cơ động, mỗi đường dài 50 đến 60km... Thời gian gấp, đường dài vượt qua nhiều núi cao, rừng rậm, lại phái tránh các đường mòn và gỡ các mìn bẫy của địch,... Nhưng được sự giúp đỡ của dân quân địa phương, các con đường đều được mở đúng hướng. Những đoạn vượt qua đèo cao đều được làm đường vòng, đánh bậc, làm tay vịn để người đi bộ và khiêng vác pháo được dễ dàng. Đèo Khâu Vác cao 1.230m nhiều chỗ dốc đứng được các chiến sĩ công binh bạt dốc, làm hơn 10.000 bậc. Đoạn đường từ Cổ Phúc đi Sài Lương qua 10 đèo, trong đó có bốn đèo cao trên 1.000m đều có bậc để đi qua. Trên đường đi chiến dịch, Đại tướng Tổng tư lệnhVõ Nguyên Giáp đã khen ngợi cán bộ, chiến sĩ công binh đang làm nhiệm vụ trên đoạn đường này.


Đến ngày 13 tháng 10 năm 1952, trên các hướng tiến quân, công binh đã mở được 258km đường xuất kích. Đường mở đến đâu, bộ binh tiến đến đấy. Đêm 14 tháng 10, các đại đoàn đồng loạt nổ súng tiến công địch, mở màn đợt 1 chiến dịch Tây Bắc. Trong 5 ngày đêm, ta đánh chiếm và bức rút nhiều đồn bốt địch, giải phóng Nghĩa Lộ, Phù Yên, Ca Vịnh, Sài Lương... Chiến dịch phát triển nhanh, đạn dược, lương thực, thuốc men đều được vận chuyển theo đường 13 lên mặt trận, nhưng đây là con đường đất, lâu ngày không sử dụng, trời lại mưa to, đường bị lầy lún, sạt lở nhiều đoạn, khối lượng công việc sửa chữa rất lớn. Bộ chỉ huy chiến dịch thành lập ủy ban sửa đường 13, gồm đại biểu Bộ Giao thông công chính, Tỉnh ủy Yên Bái và Ban chỉ huy Trung đoàn 151. Sau đó, do yêu cầu cấp bách của nhiệm vụ vận chuyển, đế chống địch phá hoại, bộ đội công binh được giao chỉ huy toàn bộ lực lượng sửa đường gồm 6 đại đội công binh của Trung đoàn 151, hơn 4.000 dân công, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ và 1 đại đội súng máy cao xạ 12,7mm. Để phát huy khả năng của các lực lượng dân công, Ban chỉ huy Trung đoàn 151 đã tổ chức giáo dục, động viên và biên chế dân công thành các đại đội, trung đội, tiểu đội. Các ban cán sự dân công có cán hộ công binh làm nòng cốt. Do tổ chức chặt chẽ, phân công hợp lý, nên sau 6 ngày đêm, lao động khẩn trương dưới trời mưa tầm tã và bom đạn của máy bay địch, các lực lượng đã sửa xong 18km đường từ Âu Lâu đến địa bàn chiến dịch, bảo đảm cho các đoàn xe vận tải tiếp tế cho mặt trận.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:09:11 pm »

Sau đợt 1, mặt trận phát triển rộng. Mặc dù bộ đội công binh, vận tải và dân công đã cố gắng rất lớn trong việc sửa đường và vận tải, nhưng việc tiếp tế vẫn không bảo đảm kịp theo yêu cầu của chiến trường. Theo chỉ thị củaBộ chỉ huy chiến dịch, công binh khẩn trương mở đường 13 từ Âu Lâu đến Khe Địa dài 47km. Dưới trời mưa tầm tã, máy bay địch liên tục đánh phá, nhưng cán bộ, chiến sĩ của 4 đại đội thuộc Trung đoàn 151, cùng 2.500 dân công, thanh niên xung phong vẫn thực hiện nhiệm vụ mở đường. Để ngăn chận ta, máy bay địch ném bom nổ chậm, bom (mìn) bươm bướm, thả đinh ba ngạnh ở các khu vực Suối Rút, Bãi Sang. Chống phá bom nổ chậm trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Trung đoàn công binh 151 thành lập Đội 83 nghiên cứu phá bom. Sau một thời gian ngắn nghiên cứu, với lòng dũng cảm và trí thông minh, các chiến sĩ Đội 83 đã nghiên cứu tìm ra nguyên lý hoạt động của ngòi nổ M124-A1 và cơ cấu chống tháo của nó. Từ thành công bước đầu này, Đội 83 đã viết tài liệu phổ biến rộng rãi trong công binh. Trung đoàn 151 tổ chức một lớp học ngắn ngày phổ biến kinh nghiệm phá bom nổ chậm, bom bươm bướm cho cán bộ trong trung đoàn và cán bộ công binh các đại đoàn. Tuy còn đơn giản, nhưng biện pháp tổ chức chống phá bom địch, đã kịp thời bảo đảm thông suốt dường 13 và đặt cơ sở cho chiến thuật "chống phá bom mìn địch, bảo đảm giao thông" của Công binh Việt Nam sau này.


Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, hình thành nên vùng giải phóng rộng lớn nối liền từ căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, thếchủ động tiến công của ta được giữ vững; âm mưu chiếm đóng, lập "Xứ Thái tự trị" của địch bị phá sản. Với thành tích phục vụ chiến dịch, công binh được tặng thưởng 3 Huân chương Quân công hạng Ba, 3 Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng Bộ đội Công binh lá cờ thêu bốn chữ vàng: "Mở đường thắng lợi". Đây là lời khái quát sâu sắc của Bác về vị trí, vai trò vàtruyền thống vẻ vang của Bộ đội Công binh, từ đây "Mở đường thắng lợi" trở thành truyền thống của Bộ đội Công binh Việt Nam Anh hùng.


Tổng kết bảo đảm cơ động trong chiến dịch Tây Bắc, chúng ta có thể rút ra những bài học lớn, cả về lý luận và thực tiễn của nhiệm vụ bảo đảm đường cơ động và bảo đảm vượt sông trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trong tương lai.


Một là: Công tác chuẩn bị đường cơ động và bến vượt sông phải đi trước một bước và giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ.

Đặc điểm của nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong chiến đấu hiệp đồng binh chúng phải bảo đảm trong phạm vi rộng, khối lượng lớn, tiêu tốn nguyên vật liệu nhiều và thời gian làm công tác chuẩn bị trực tiếp ngắn. Do đó, công tác chuẩn bị đường, bến vượt phải đi trước một bước. Trong chiến dịch Tây Bắc khu vực vượt sông Thao dài 45km gồm ba bến Âu Lâu, Cổ Phúc, Mậu A, lòng sông rộng, lực lượng qua sông lớn. Sau khi qua sông công binh bảo đảm cơ động cho các đơn vị tham gia chiến dịch trên 5 tuyến đường, mỗi đường 50 đến 60km, qua nhiều địa hình đèo dốc phức tạp, khối lượng làm đường lớn. Nhưng do có sự chuẩn bị trước về bến vượt, mạng đường, huy động được phương tiện của nhân dân, tận dụng được vật liệu tại chỗ; việc tận dụng mạng đường, bến vượt cũ kết hợp với nguỵ trang, nghi binh khôn khéo đã làm giảm khối lượng và thời gian công tác chuẩn bị, giữ được yếu tố bí mật, bất ngờ làm cho địch không kịp đối phó. Đó là những yếu tố đế lực lượng công binh đã hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo đảm cơ động cho chiến dịch.


Để bảo đảm bí mật, an toàn cho các tuyến đường, công binh đã thực hiện một số biện pháp cần thiết như các tuyến đường đi qua những rừng cây che khuất, ở những đoạn đường qua đèo trống trải, dùng ống bương, đan sọt, dựng đất trồng cây leo hai bên để che khuất thành đường; biện pháp nguỵ trang này vận dụng đồng thời với việc mở đường, mở đến đâu nguỵ trang đến đó; hạn chế dùng thuốc nổ đặc biệt khi vào gần địch. Mặt khác ở những nơi địch bố trí mìn bẫy, chống bộ binh, lực lượng công binh đã kịp thời khắc phục nên các tuyến đường giữ được bí mật, an toàn và góp phần bảo đảm cho chiến dịch giành thắng lợi.


Hai là: Phải nắm chắc ý định và các tình huống chiến dịch, tổ chức bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông toàn diện; tập trung lực lượng, phương tiện bảo đảm cơ động vào nhiệm vụ chủ yếu của chiến dịch.

Trong tác chiến chiến dịch, các tình huống có thể xảy ra liên tục, khẩn trương, nhiều tình huống có thể nằm ngoài dự kiến. Vì vậy, cơ quan và người chỉ huy đơn vị bảo đảm cơ động phải nắm chắc ý định, các phương án tác chiến của người chỉ huy bảo đảm cơ động để có phương án bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông hợp lý. Nhiệm vụ bảo đảm vượt sông và bảo đảmđường trong tác chiến chiến dịch, thường phải triển khai cùng một lúc trên các hướng, nhiều khu vực, nhiều đối tượng và lực lượng tham gia. Do đó, phải có kế hoạch tổ chức, chỉ huy, chỉ đạo lực lượng công binh các cấp thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ bảo đảm đường, bảo đảm vượt sông theo quyết tâm của người chỉ huy.


Trong chiến dịch Tây Bắc, Bộ chỉ huy đã tập trung công binh vào bảo đảm cơ động, kết hợp chặt chẽ giữa trung đoàn công binh chiến dịch, công binh các đại đoàn với lựclượng lớn dân công, thanh niên xung phong, trong đêm đầu tiên tổ chức vượt sông ở bến Mậu A do gặp trời giông bão, mưa to gió lớn, trời đã sáng mà bộ đội vẫn chưa qua sông hết, xảy ra ùn tắc bên bờ hữu ngạn. Lợi dụng sương mù, máy bay không hoạt động được, chỉ huy bến vượt sông đã tập trung toàn bộ lực lượng, phương tiện động viên bộ đội quyết tâm tiếp tục chèo thuyền chuyên chở bộ đội qua sông, đến 9 giờ sáng, đội hình chính của hai đại đoàn đã được đưa qua sông theo đúng kế hoạch.


Trong quá trình bảo đảm cơ động cho chiến dịch, Trung đoàn 151 chỉ huy lực lượng sửa chữa đường 13 (gồm 6 đại đội công binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 đại đội 12,5mm và 4.000 dân công). Để phát huy khả năng của toàn bộ lực lượng, chỉ huy trung đoàn đã xây dựng kế hoạchcụ thể hợp lý, tập trung lực lượng công binh cho nhiệm vụ bảo đảm cơ động và sửa chữa đường, lực lượng phòng không tập trung bảo vệ các trọng điểm địch tập trung đánh phá, lực lượng dân công được giáo dục động viên, biên chế thành các đại đội, trung đội, tiểu đội có ban cán sự dân công trong đó cán bộ công binh làm nòng cốt. Chính được sự tổ chức hợp lý, phân công và hiệp đồng chặt chẽ, nên chỉ sau 6 ngày đêm, lao động khẩn trương, dưới trời mưa tầm tã và đánh phá ác liệt, liên tục của máy bay địch, 18km đường từ Âu Lâu đến mặt trận đã sửa xong, bảo đảm cho các đoàn xe vận tải tiếp tế kịp thời cho chiến dịch. Kết hợp cùng sửa chữa và bảo đảm đường, bộ đội công binh đã kịp thời thành lập Đội phá bom 83 tìm ra biện pháp, đơn giản nhưng hiệu quả và sáng tạo chống phá bom nổ chậm của địch, kịp thời bảo đảm thông suốt đường 13 và đặt cơ sở cho chiến thuật "chống phá bom mìn địch, bảo đảm giao thông" của Công binh Việt Nam sau này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:10:03 pm »

Ba là: Phải kết hợp chặt chẽ giữa tận dụng khôi phục sửa chữa đường, bên vượt sông cũ với mở đường bến vượt mới. Đồng thời, phải vận dụng nhiều hình thức chiến thuật hợp lý, linh hoạt và khẩn trương bảo đảm cho chiến đấu.


Trong chiến dịch, khối lượng công việc chuẩn bị mạng đường, bến vượt rất lớn, thời gian gấp. Nếu chí tập trung làm đường và bến vượt mới sẽ không bảo đảm được đủ số lượng đường và không kịp thời gian chiến đấu, do đó phải kết hợp chặt chẽ giữa khôi phục sửa chữa đường, bến vượt cũ với mở đường và làm bến vượt mới.


Trong chiến dịch Tây Bắc khi tổ chức vượt sông Thao, công binh đã tận dụng 3 bến vượt là Âu Lâu, Mậu A, Cổ Phúc là những bến đò có sẵn của nhân dân địa phương, chỉ tập trung làm và sửa đường lên xuống bến hai bên bờ, cho xe, pháo cơ động lên xuống phà qua sông. Khi tổ chức bảo đảm cơ động đường cho chiến dịch, Bộ đội Công binh đã tận dụng, cải tạo đường mòn đi rừng của nhân dân địa phương, kết hợp với làm đường mới, bảo đảm được 285km trên 5 hướng của chiến dịch để bộ đội cơ động xuất kích. Chính nhờ tận dụng bến vượt, đường cũ nên đã giảm bớt rất nhiều thời gian, công sức của bộ đội nhưng vẫn bảo đảm cho các đại đoàn cơ động bí mật, an toàn, đúng thời gian quy định của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Khi tận dụng mạng đường và bến vượt cũ, cần tập trung vào những công việc cụ thể và cấp thiết như: các đường, bến cũ hẹp không bảo đảm cho binh khí kỹ thuật cơ động, cần phải tổ chứcmở rộng, hạ bớt độ dốc; những nơi địa hình bằng phẳng, chỉ cần phát quang, đánh dấu để giảm khối lượng đào, đắp; nơi địa hình vừa đào vừa đắp, cần gia cố vững chắc bên nền đường đắp, khi sử dụng một thời gian dài, đất đá phần đường đắp dễ bị sụt lún, đặc biệt vào mùa mưa dễ bị sạt lở, khối lượng khắc phục lớn sẽ ảnh hưởng đến cơ động lực lượng. Việc sửa chữa, cải tạo đường và bến vượt cũ, phải có kế hoạch ém lót sẵn, phương tiện, vật liệu, nhất là các trọng điểm giao thông; tại đó, tổ chức các tổ, đội chốt để kịp thời khắc phục tình huống do địch đánh phá, hoặc do xe cơ giới cơ động nhiều, do thiên tai gây ra. Trong đó, tập trung lực lượng, phương tiện bảo đảm ở những khu vực có đường hẹp, độc đạo, nơi núi cao, vực sâu, nơi có nền đất yếu, lầy lún, nơi có các đầu mối giao thông quan trọng. Chỉ tiến hành làm đường, thiết bị bến vượt mới khi thật sự cần thiết, khi có thay đổi hướng, khu vực tác chiến, hoặc khi bị địch đánh phá hư hỏng nặng, không đủ khả năng khắc phục. Việc mở đường, bến vượt mới phải chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện, để vừa có lực lượng mở đường, làm bến mới; vừa có lực lượng sẵn sàng đánh địch trên không, địch mặt đất để bảo đảm cho việc mở đường, làm bến hoàn thành đúng kế hoạch trong mọi điều kiện địa hình, thời tiết và tình huống khó khăn phức tạp. Trong mọi trường hợp, phải có kế hoạch dự phòng, chuẩn bị đường và bến dự bị đế sẵn sàng thay thế khi bị địch đánh phá, hoặc do thay đổi hướng tiến công; đường, bến dự bị phải được thiết bị đầy đủ các công trình như chính thức và phù hợp với ý định tác chiến của người chỉ huy.


Bốn là: Phát huy sức mạnh của mọi lực lượng tham gia, lấy lực lượng công binh làm nòng cốt thực hiện các nội dung chủ yếu, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong tác chiến chiến dịch.


Nhiệm vụ bảo đảm đường và bảo đảm vượt sông trong chiến đấu, chiến dịch rất phức tạp, khối lượng lớn, thờigian gấp, tình huống khẩn trương, riêng lực lượng công binh không có khả năng chuẩn bị và bảo đảm đầy đủ mạng đường và bên vượt, thường phải huy động nhiều lực lượng tham gia bảo đảm cơ động. Trong chiến dịch Tây Bắc, để bảo đảm cho 3 đại đoàn vượt sông, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tổ chức ra ủy ban vượt sông gồm tỉnh ùy, ủy ban, công chính, công đoàn tỉnh Yên Bái, do đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng tham mưu trưởng chỉ huy. Ngoài công binh là lực lượng chủ yếu bảo đảm vượt sông, chiến dịch đã huy được 1.100 thanh niên xung phong biết chèo thuyền, 447 thuyền nan, thuyền gỗ... của nhân dân hai bờ sông Thao. Chính vì được tổ chức chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo, huy động được nhiều lực lượng tham gia, mặc dù bảo đảm lực lượng lớn qua sông kéo dài liên tục trong 3 đêm trên 3 bến vượt, trong điều kiện mưa to, gió lớn và sự đánh phá ác liệt của máy bay địch, nhưng vẫn bảo đảm vượt sông bí mật, an toàn đúng thời gian quy định của Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Việc huy động công binh các cấp (chiến dịch, chiến thuật, địa phương...) cùng các lực lượng tham gia chiến dịch thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cơ động trong suốt giai đoạn chuẩn bị và thực hành chiến dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội ta cơ động và thực hành chiến dịch bí mật, kịp thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của chiến dịch. Trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cơ động đã có phân công, phân cấp tương đối rõ ràng, lực lượng công binh của Bộ bảo đảm vượt sông, bảo đảm đường cho chiến dịch; lực lượng công binh của các đại đoàn khắc phục vật cản, bảo đảm cơ động cho từng trận đánh của chiến dịch; lực lượng thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến có lực lượng công binh làm nòng cốt tham gia cùng công binh bảo đảm cơ động cho chiến dịch.


Bảo đảm cơ động trong chiến dịch Tây Bắc đã chứng tỏ sự trưởng thành, phát triển quan trọng trong nghệ thuật tổ chức, chỉ huy thực hiện nhiệm vụ bảo đảm cơ động cho chiến dịch tiến công của Bộ đội Công binh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những bài học rút ra từ bảo đảm cơ động trong chiến dịch Tây Bắc là bài học quý của suốt chặng đường 66 năm xây dựng, phát triển, trưởng thành của Bộ đội Công binh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:12:25 pm »

NÉT ĐẶC SẮC CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952


Thiếu tướng, PGS, TS VŨ QUANG ĐẠO
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Thu Đông năm 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công vào Tây Bắc - chiến trường rừng núi có vị trí chiến lược quan trọng ở Bắc Bộ, nhằm "tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng đất đai ở Tây Bắc". Sau gần hai tháng với ba đợt chiến đấu quyết liệt (từ ngày 14-10 đến ngày 10-12-1952), chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 tên địch, giải phóng khoảng 28.500km2 với 25 vạn dân.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc 1952 là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta. Với chiến dịch này, nghệ thuật quân sự Việt Nam đã phát triển lên một bước mới, thể hiện ở những nét đặc sắc sau:


Thứ nhất, chủ động mở hướng tiến công địch trên địa bàn rừng núi và xác định mục đích chiến dịch đúng đắn, phù hợp.

Chủ động mở chiến dịch, chọn hướng tiến công địch là vấn đề mang tính chiến lược, chiến dịch và là một nghệ thuật. Chọn đúng hướng chiến dịch không chí phát huy được sở trường của ta mà còn đánh trúng vào chỗ yếu chí tử của địch, từ đó sẽ đưa ra chủ trương sử dụng lực lượng và triển khai thế trận thích hợp, tổ chức thực hành các trận đánh then chốt vào các mục tiêu chủ yếu, thực hiện thắng lợi mục đích, nhiệm vụ chiến dịch. Thu Đông 1950, ta chủ động mở chiến dịch Biên Giới, trên địa bàn các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, giành được thắng lợi lớn. Một trong những yếu tố dẫn tới thành công của chiến dịch nói trên là do ta chọn đúng hướng chiến dịch, phát huy được sở trường, ưu thế của mình; khoét sâu chỗ yếu, hạn chế tối đa sức mạnh về vũ khí, phương tiện Chiến tranh của địch.


Nhằm khuếch trương thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, trong xuân hè 1951, ta chủ động mở liên tiếp 3 chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung) tiến công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, song cả ba chiến dịch này đều không đạt được mục đích, lực lượng ta bị tôn thất không nhỏ. Nguyên nhân chính là do ta chọn hướng tiến công không chính xác, đánh vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ lúc đó là không phù hợp, vì ở địa bàn này, địch phát huy được ưu thế về vũ khí, trang bị, hoả lực và khả năng cơ động bằng cơ giới; còn bộ đội chủ lực ta khó phát huy được sức mạnh và sở trường của mình. Ngoài ra, sau khi nối thông biên giới với Trung Quốc, ta nhận dược một số viện trợ của các nước anh em, điều này ít nhiều làm nảy sinh tư tưởng dựa vào viện trợ của nước ngoài, tỏ ra nôn nóng, muốn đánh lớn, thắng nhanh, đánh giá không chính xác tương quan lực lượng địch, ta.


Từ thực tế đó, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (4-1952), Trung ương Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, đồng thờiquán triệt sâu sắc hơn đường lối kháng chiến trường kỳ, phương châm, nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện tại. Hội nghị nhấn mạnh: về lực lượng cơ động, ta mới xấp xỉ địch, nhưng về vũ khí, trang bị kỹ thuật chúng còn mạnh hơn ta; tuy ta đã nắm quyền chủ động nhưng chưa đủ ưu thế áp đảo. Vì vậy, việc chọn hướng mở chiến dịch phải phù hợp với thế và lực của ta, cần tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, khoét sâu nhược điểm cơ bản của địch, làm chúng suy yếu dần trong khi ta từng bước trưởng thành, giành thắng lợi từng phần, tạo ra chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho ta, tiến lên tiến hành những trận quyết chiến chiến lược, giành thắng lợi quyết định.


Trên cơ sở những phân tích trên, Trung ương Đảng nhận định phương hướng tiến công có lợi cho ta lúc này là chiến trường rừng núi Tây Bắc và chủ động xúc tiến công tác chuẩn bị chiến dịch. Với chủ trương: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, tháng 9 năm 1952, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch tiến công Tây Bắc. Mục đích chiến dịch bao gồm cả nội dung quân sự và chính trị là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai và giành dân, phá âm mưu lạp "Xứ Thái tự trị" của Pháp.


Chọn hướng Tây Bắc để tiến công, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh đã có sự phân tích đúng đắn, đánh giá chính xác tương quan lực lượng cũng như sở trường, sở đoản của ta và đối phương. Tây Bắc có vị trí chiến lược hết sức quan trọng nhưng lại là nơi địch có lực lượng phòng thủ yếu, hỏa lực pháo binh, không quân khó phát huy sức mạnh và hiệu quả do địa hình rừng núi. Tráilại, đây lại là nơi phù hợp với trình độ tác chiến và sở trường của bộ đội ta, nơi ta có thể khắc phục chỗ yếu của mình, hạn chế sức mạnh và khoét sâu chỗ yêu của địch, buộc chúng phải đối phó với ta ở chiến trường do ta chủ động lựa chọn.


Không chỉ chọn đúng hướng tiến công chiến lược để mởchiến dịch, mà trong quá trình thực hành chiến dịch, ta còn xác định và chỉ đạo hình thành hoàn chỉnh hai hướng chủ yếu và thứ yếu của chiến dịch, có tác dụng hỗ trợ nhịp nhàng và hiệu quả cho nhau trong suốt hai đợt đầu. Đó là sự phối hợp giữa hướng tiến công phía trước (hướng chủ yếu, tiêu biểu là hai trận then chốt Nghĩa Lộ và Mộc Châu), phá vỡ hệ thống phòng ngự chiều sâu của địch từ hữu ngạn sông Thao đến hữu ngạn sông Đà, với hướng thứ yếu vu hồi, luồn sâu, chia cắt và nghi binh chiến dịch, góp phần giải phóng một phần rộng lớn phía nam Lai Châu.


Mục đích chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai, phá âm mưu lập "Xứ Thái tự trị" của địch, thể hiện được mối quan hệ biện chứng giữa quân sự với chính trị trong chiến dịch phù hợp với sự phát triển của chiến trường trong giai đoạn này.


Chọn đúng hướng tiến công, đúng đối tượng tác chiến, có cách đánh phù hợp, ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn có vị trí chiến lược quan trọng cùng hàng chục vạn dân ở Tây Bắc.


Qua chiến dịch Tây Bắc, trình độ lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta, trình độ chỉ đạo, chỉ huy của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh ngày càng được nâng cao trong việc chọn hướng tiến công chiến lược và xác định mục tiêu chiến dịch. Thực tế đã chứng minh đó là sự lựa chọn chủ động, chính xác, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tương quan lực lượng địch - ta và thực tế chiến trường lúc bấy giờ; đồng thời khẳng định bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật chiến dịch nói riêng của quân đội ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #37 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:13:38 pm »

Thứ hai, thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện" và công tác nghi binh chiến dịch.

Căn cứ vào đặc điểm địa hình và thế bố trí của địch, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh nhận định rằng trên chiến trường Tây Bắc, ta có nhiều thuận lợi để đánh viện và cũng có điều kiện tương đối thuận lợi hơn so với đồng bằng để đánh địch phòng thủ trong công sự vững chắc. Do lực lượng địch ở Tây Bắc phần lớn là nguỵ binh người địa phương (63%) rất thông thuộc địa hình nên ta xác định trong thực hành chiến dịch cần hành quân nhanh chóng, bao vây chặt, chặn đường rút lui của chúng, truy kích mạnh và tiêu diệt gọn khi địch rút chạy. Qua diễn biến chiến dịch có thể thấy "đánh điểm, diệt viện" là phương châm đúng đắn, thể hiện tính tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt, nhất là trong điều hành cách đánh chiến dịch ở các trận then chốt và trong truy kích địch rút chạy.


Trong chỉ huy, điều hành chiến dịch, khi tập trung lực lượng tiến công địch ở hướng chủ yếu trong đợt 1, ta sử dụng lực lượng chia cắt địch ở Phù Yên, chặn đường rút và chặn viện binh của địch, sẵn sàng vận động tiêu diệt cả lực lượng địch rút chạy lẫn lực lượng tăng viện ở ngoài công sự. Trình độ cả đánh điểm và diệt viện của ta đều tiến bộ. Về đánh điểm, bộ đội ta đã diệt được cứ điểm do một tiểuđoàn tăng cường của địch chiếm giữ trong một đêm dưới điều kiện phi pháo, hoả lực ác liệt của địch (Nghĩa Lộ). Về diệt viện, ta đủ khả năng truy kích đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn Âu - Phi rút chạy trên chặng đường dài ở địa hình rừng núi (đợt 1 chiến dịch). Rõ ràng đây là bước trưởng thành quan trọng của quân đội ta.


Giữa lúc trên chiến trường Tây Bắc bộ đội ta đang giành nhiều thắng lợi quan trọng, thì ngày 28 tháng 10, quân Pháp mở cuộc hành quân Loren (Lorraine) đánh lên vùng tự do Phú Thọ "nhằm cắt đứt đường tiếp tế vận chuyển lương thực, vũ khí của ta, hòng phá kế hoạch của ta ở mặt trận chính và che giấu những thất bại của chúng ở tả ngạn sông Đà"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, tập 4,Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963. tr. 401). Qua kinh nghiệm trong chiến dịch Biên Giới ta đã đối phó với cuộc hành quân Phoque của địch đánh lên Thái Nguyên, lần này ta giữ quyền chủ động, vừa quyết tâm tiến hành đợt 2 chiến dịch Tây Bắc, vừa bảo vệ được vùng tự do Phú Thọ. Giữ vững quyết tâm thực hiện đợt 2 chiến dịch, Bộ chỉ huy chủ trương tập trung binh lực ở Tây Bắc, chỉ điều động một trung đoàn (Trung đoàn 36, Đại đoàn 308) về phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh địch ở Phú Thọ. Với quyết tâm và sử dụng lực lượng hợp lý, ta vừa giữ vững thế chủ động tiến công địch ở mặt trận chính diện Tây Bắc, đồng thời đánh bại cuộc hành quân Loren, tiêu biểu là trận thắng lớn ở Chân Mộng, Trạm Thản, tiêu diệt và bắt 484 tên địch, phá hủy 44 xe, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử chiến thuật Quân đội nhân dân Việt Nam (1944-1975). tập 1. Nxb Quân đội nhân dân. H. 2003, tr. 383). Đây là trận vận động tiêu diệt địch ngoài công sự xuất sắc ở hướng phối hợp trong chiến dịch Tây Bắc.


Cùng với thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện", trong chiến dịch Tây Bắc, ta còn thực hiện tốt kế hoạch nghi binh, giữ bí mật, tạo bất ngờ lớn đối với địch ngay từ khi chuẩn bị chiến dịch. Điểm nổi bật về nghi binh trong chiến dịch này là: tiến hành nghi binh bằng nhiều biện pháp tích cực, kết hợp chặt chẽ nghi binh với phòng gian giữ bí mật; nghi binh trên nhiều hướng, sử dụng nhiều lực lượng, nhiều đơn vị làm công tác nghi binh; nghi binh trong mọi thời gian, từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc chiến dịch.


Kế hoạch nghi binh được chuẩn bị chu đáo và triển khai thực hiện nghiêm túc, nhịp nhàng. Các biện pháp nghi binh được thực hiện có hiệu quả, nổi lên là tiến công địch ở hướngphối hợp, thay đổi phiên hiệu đơn vị, tung tin giả, cơ động lực lượng, phô trương thanh thế, dùng kỹ thuật lừa địch trên làn sóng vô tuyến điện. Trung đoàn 238 ở Bắc Ninh, Bắc Giang mang phiên hiệu mới là Đại đoàn 316, Trung đoàn 246 ở Vĩnh Yên mang tên Đại đoàn 308, Trung đoàn 91 ở Sơn Tây, Phú Thọ mang tên Đại đoàn 312. Điện đài thường trực của các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch vẫn bố trí ở vị trí cũ, tiếp tục phát tin liên lạc định kỳ theo mật mã cũđể đánh lừa địch. Đặc biệt, ta tổ chức nghi binh ở hướng trung du và đồng bằng, làm cầu, sửa đường qua Tu Vũ để xuống Liên khu 3 nhằm thu hút sự chú ý của địch rằng đây sẽ là hướng chủ yếu trong hoạt động của ta. Mọi lực lượng trong các hoạt động nghi binh đều được tổ chức điều hành nhịp nhàng, hoạt động đúng lúc, đúng thời gian quy định, ăn khớp nhau như là hoạt động của lực lượng chuẩn bị chiến dịch.


Các hoạt động nghi binh của ta đã có kết quả to lơn. Trước những chuyển biến của lực lượng ta, địch đã ráo riết điều lực lượng cơ động đến những nơi bị thu hút để đề phòng cuộc tiến công lớn của ta, tuy nhiên chúng đã bị lừa. Trước khi ta nổ súng đánh vào Pú Chạng vài giờ, tướng Xalăng, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, vẫn đinh ninh ta sẽ tiến công vào đồng bằng. Chúng bố trí 29 trong số 32 tiểu đoàn cơ động vào việc phòng thủ hai bờ nam, bắc sông Hồng và sẵn sàng đón đợi chủ lực ta tiến đánh. Đến khi chúng nhận thấy tình hình nghiêm trọng ở Phân khu Nghĩa Lộ và thả Tiểu đoàn dù số 6 xuống Tú Lệ để cứu nguy, thì tình hìnhđã quá muộn. Bộ đội ta đã vây chặt Pú Chạng, Nghĩa Lộ và sau đó tiêu diệt các vị trí này.


Không chỉ nghi binh bảo đảm bí mật hướng tiến công chiến lược mà trong quá trình diễn ra chiến dịch, ta vẫn tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp nghi binh, làm cho địch bất ngờ về hướng tiến côngchủ yếu của ta trong đợt 2. Trong khi địch lầm tưởng ta sẽ đánh lên Lai Châu và điều lên đây 2 tiểu đoàn tăng cường thì các trung đoàn chủ lực của ta bí mật vượt sông Đà tiến công tiêu diệt vị trí Mộc Châu, mở toang cánh cửa vào Sơn La.


Trong đợt 3, ta tiến đánh Nà Sản không thành công và chủ động kết thúc chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã hết sức chủ động, linh hoạt tiến hành nhiều biện pháp nghi binh có hiệu quả nhằm đánh lừa địch, bảo đảm an toàn, tránh bị tiêu hao lực lượng. Ta để lại một lực lượng cùng với địa phương tích cực củng cố các vùng mới giải phóng, đồng thời tiếp tục bao vây, uy hiếp địch ở Nà Sản. Vì vậy, khi ta đã chủ động ngừng tiến công Nà Sản thì địch vẫn vừa ráo riết củng cố công sự để đối phó với ta ở đây, vừa vội vã điều quân cơ động lên củng cố Sầm Nưa (Lào), đề phòng mặt sông Mã. Trong khi đó, ta khéo léo bí mật đưa một lực lượng sang hoạt động rám rộ ở khu vực sông Mã, kết hợp với việc rút quân về Liên khu 4, tổ chức tiến công một số vị trí địch nhằm khuếch trương thắng lợi và thu hút sự chú ý của địch. Một bộ phận khác, theo yêu cầu của phía bạn Lào, tiến sang đánh địch ở Phong Xa Lỳ, Mường Khoa nhằm đánh lạc hướng chú ý của địch. Có thể nói, đây là một bất ngờ lớn đối với địch, đồng thời là một thành công lớn của ta trong việc kết thúc chiến dịch, nghi binh lừa địch.


Như vậy, có thể thấy trong chiến dịch Tây Bắc, cùng với thực hiện thành công phương châm "đánh điểm, diệt viện", ta đã tiến hành nghi binh bằng nhiều biện pháp tích cực trên nhiều hướng, sử dụng nhiều đơn vị, nhiều lực lượng. Chúng ta đã điều hành được chiến dịch theo ý đồ của ta, làm cho địch luôn bị bất ngờđối phó. Đây thực sự là một bước tiến quan trọng thể hiện sự phát triển mới của nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng trong kháng chiến chống Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #38 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:15:13 pm »

Thứ ba, tập trung ưu thế lực lượng trong những trận then chốt, phá vỡ khu vực phòng ngự mạnh của địch.

Ở Tây Bắc, địch bố trí lực lượng trên diện rộng, đồng thời tập trung lực lượng mạnh tổ chức phòng ngự tại một số cứ điểm như Nghĩa Lộ, Mộc Châu. Để đối phó trong trường hợp bị ta tiến công, địch thực hiện cách phòng ngự co dãn, nếu bị đánh các điểm nhỏ sẽ co về cụm quanh các điểm lớn, tạo thế liên hoàn chống đỡ. Căn cứ vào thế bố trí lực lượng của địch, ta xác định cách đánh chiến dịch là tập trung lực lượng phá vỡ một số khu vực then chốt, kết hợp vu hồi đón lõng, truy kích kịp thời, mạnh dạn thọc sâu, chia cắt địch, kết hợp trong ngoài cùng đánh.


Để thực hiện cách đánh trên, ta tập trung lực lượng binh, hoả lực lớn gồm ba đại đoàn chủ lực 308, 312, 316 (2 trung đoàn); Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148), 6 đại đội sơn pháo 75mm (24 khẩu), 3 đại đội cối 120mm (12 khẩu), 1 tiểu đoàn công binh (Đại đoàn công pháo 351) và 11 đại đội bộ đội địa phương. Trong khi đó, toàn bộ binh lực chiếm đóng của địch trên địa bàn Tây Bắc có 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 5 tiểu đoàn và 43 đại đội ngụy, 4 trung đội pháo, rải ra trên 104 cứ điểm (quá trình diễn biến chiến dịch, địch tăng viện 11 tiểu đoàn)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945-1975) tập 1: Trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Nxb Quân đội nhân dân,H.1994. tr. 175).


Với binh, hoả lực mạnh, trong quá trình thực hành chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch đã tập trung lực lượng và vật chất bảo đảm, quyết tâm giành thắng lợi trong các trận then chốt. Trong đợt 1, ta sử dụng 2 đại đoàn và 1 trung đoàn bộ binh cùng toàn bộ pháo chiến dịchtiến công địch ở khu vực Nghĩa Lộ, tạo thế áp đảo cần thiết về lực lượng (binh lực ta gấp 5,5 lần, hoả lực gấp 15 lần của địch)2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Chiến dịch tiến côngTây Bắc (Thu Đông 1952). H. 1992, tr. 62). Do có ưu thế về binh, hỏa lực, ta đã nhanh chóng tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm Nghĩa Lộ, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch ởTây Bắc, tạo thời cơ thuận lợi cho chiến dịch phát triển. Đợt 2 chiến dịch, ta sử dụng 6 trung đoàn và toàn bộ pháo chiến dịch tiến công khu vực Mộc Châu, Ba Lay, Bản Hoa, Mường Lụm, chỉ dùng 1 trung đoàn và 1 tiểu đoàn ở hướng phối hợp. Trong đó sử dụng 2 trung đoàn đánh trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu, phá vỡ "lá chắn thép" vào Tây Bắc trên đường số 6 của địch, buộc chúng phải rút khỏi các vị trí như Tạ Khoa, Tạ Say, Chiềng Phan, v.v..., đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để mũi thọc sâu do Trung đoàn 165 đảm nhiệm, giải phóng Mường Sài, Sơn La và vùng nam Lai Châu.


Xác định đúng mục tiêu then chốt và tập trung lực lượng chiếm ưu thế tiêu diệt các mục tiêu đó của địch, ta đã nhanh chóng phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó. Với việc đập vỡ các khu vực phòng ngự then chốt của địch, ta đã tạo được thế đánh địch ngoài công sự, mởđường đưa lực lượng chiến dịch vào tung thâm, tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ tiếp theo của chiến dịch. Thắng lợi trong hai trận then chốt quan trọng Nghĩa Lộ và Mộc Châu đã tạo ra những điều kiện thuận lợi phát triển chiến dịch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đây thực sự là một nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự đã được vận dụng thành công trong chiến dịch Tây Bắc.


Thứ tư, chủ động kết thúc chiến dịch đúng đắn, linh hoạt.

Sau khi cả bốn trận tiến công vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản đều không thành công, bộ đội ta bị thương vong nhiều, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận thấy ta chưa nắm chắc tình hình địch, trước mắt ta chưa đủ khả năng tiêu diệt Nà Sản, cần có thời gian chuẩn bị chu đáo, huấn luyện bộ đội, nghiên cứu kỹ về kiểu phòng ngự mới của địch, nên đã quyết định dừng tiến công Nà Sản, chủ động kết thúc chiến dịch Tây Bắc để tránh thương vong, không có lợi cho việc xây dựng lực lượng lâu dài.


Kết thúc chiến dịch là một nghệ thuật. Trong khí thế tiến công đang giành thắng lợi, việc chủ động kết thúc chiến dịch vào thời điểm có lợi nhất đã khó, kết thúc trong tình huống bất lợi càng khó gấp bội.


Chủ động kết thúc chiến dịch Tây Bắc là một quyết định sáng suốt, linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế lúc đó. Đây là một nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong việc chủ động kết thúc chiến dịch. Không những ta đã biết kết thúc chiến dịch đúng lúc cần phải kết thúc mà còn biết khéo léo kết thúc một cách có lợi nhất cho ta. Nhờ vậy, ta đã tránh được những tổn thất không cần thiết, bảo toàn được lực lượng, đặc biệt là giữ vững được khí thế và niềm tin của cán bộ, chiến sĩ sau khi đã giành một loạt thắng lợi trong đợt 1 và đợt 2 chiến dịch, nhanh chóng chuyển sang nhiệm vụ củng cố và xây dựng vùng mới giải phóng. Việc kết thúc chiến dịch đúng lúc còn thể hiện và khẳng định bản lĩnh vững vàng, tinh thần dám chịu trách nhiệm, sự quyết đoán của người chỉ huy, không để tư tưởng hiếu thắng chi phối, ảnh hưởng đến nhiệm vụ lâu dài. Tổng Quân ủy đã nhận định: đánh thì không chắc thắng, trong khi đó thì vùng mới giải phóng của ta rất rộng mà chưa được củng cố, cho nên Tổng Quân ủy chủ trương đình chỉ cuộc tiến công Nà Sản và chuyển sang nhiệm vụ củng cố căn cứ địa Tây Bắc để giữ vững những thắng lợi vừa qua. Quyết định này vừa phát huy được kết quả trước đó của chiến dịch, vừa bào toàn lực lượng, tạo thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo, nhất là tạo tiền để cho chủ trương mở chiến dịch Thượng Lào 1953.


Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, nếu trước khi bước vào đợt 3, Bộ chỉ huy không nóng vội, dành nhiều thời gian cần thiết để nắm vững tình hình địch và tình hình bộ đội hơn, hạ quyết tâm không tiến công Nà Sản, hoặc quyết tâm đánh nhưng dành thời gian chuẩn bị đầy đủ hơn, bảo đảm chắc thắng (như Bộ chỉ huy nhấn mạnh trong Hội nghị cán bộ chuẩn bị đợt 3), thì thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc sẽ trọn vẹn hơn.


Mặc dù Nà Sản là trận không thành công, nhưng qua trận đánh này, với hình thức tác chiến mới là tiến công vào tập đoàn cứ điểm, Bộ chỉ huy chiến dịch đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu. Một quyết tâm chính xác cần phải dựa trên sự nhận định đúng về tình hình địch, tình hình ta, dựa trên cơ sở thực tế. Đặc biệt, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình, cần phải đánh giá chính xác để đưa ra quyết định đánh hay không nên đánh, đánh ở thời điểm nào. Điều này thể hiện bản lĩnh, sự tài giỏi và quyết đoán của người chỉ huy. Những bài học đó đã phát huy giá trị và có ý nghĩa đặc biệt sau này. Khi ta quyết định tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954, căn cứ vào tình hình thực tế, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển phương châm tác chiến, từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Đó là một quyết định chính xác và vô cùng quan trọng dẫn đến thắng lợi của chiến dịch.


Thắng lợi lịch sử của chiến dịch Tây Bắc đã đưa cuộc kháng chiến của dân tộc ta tiến lên một bước mới trong việc tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, thế và lực của ta ngày càng phát triển, tiến lên giành những thắng lợi có tính chất quyết định. Chiến thắng đó đã khẳng định sự trưởng thành vượt bậc, toàn diện và vững chắc của quân đội ta, trong đó nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng đã có những bước phát triển mới. Những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong chiến dịch Tây Bắc cũng chính là những bài học kinh nghiệm quý báu đã được vận dụng thành công trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ và nhiều chiến dịch sau này. Những bài học kinh nghiệm quý báu đó vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được gìn giữ và phát huy.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2826



« Trả lời #39 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2024, 10:18:24 pm »

CHIẾN DỊCH TÂY BẮC - BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI
VỀ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc là vùng rừng núi duy nhất địch còn kiểm soát được tại Bắc Bộ. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược, ảnh hưởng đến tiến trình cuộc kháng chiến của dân tộc ta và nước bạn Lào. Tuy vậy, so với các vùng khác ở Bắc Bộ, lực lượng địch ở Tây Bắc mỏng và yếu nhất. Lực lượng chiếm đóng của địch ở Tây Bắc có 3 tiểu đoàn Âu - Phi, 5 tiểu đoàn và 43 đại đội ngụy Thái, 4 trung đội pháo, rải ra trên 144 cứ điểm, phần lớn là cứ điểm trung đội, có 40 cứ điểm đại đội. Riêng 2 vị trí Nghĩa Lộ, Mộc Châu, được coi là hai lá chắn bảo vệ cửa ngõ Tây Bắc, mỗi nơi có 1 tiểu đoàn.


Trước tình hình đó, tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Tây Bắc nhằm mục đích: "Tiêu diệt sinh lực địch - Tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc - giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm của các chiến dịch lớn, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 1963, tập 2. tr. 140). Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 3 đại đoàn chủ lực (308, 312, 316), 6 đại đội sơn pháo 75mm, 3 đại đội súng cối 120mm, 1 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn bộ binh và 11 đại đội bộ đội địa phương. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm: đồng chí Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng; đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm chính trị; đồng chí Trần Đăng Ninh - Chủ nhiệm cung cấp.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc mở màn. Trải qua ba đợt tiến công kéo dài gần hai tháng, chiến dịch đã thực hiện được các mục tiêu đề ra, loại khỏi vòng chiến đấu 6.029 tên địch (diệt 1.005 tên)1 (Thương vong của ta theo dự kiến là 6.000 người (2.000 vong)); diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội địch. Giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 28.500km2 với 250.000 dân).


Chiến thắng Tây Bắc khẳng định sự trưởng thành vượt bậc, toàn diện và vững chắc của quân đội ta. Về nghệ thuật chiến dịch đã có bước phát triển vững chắc, đặc biệt có những phát triển mới, quan trọng, thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:

Tập trung lực lượng phá vỡ từng khu vực phòng thủ then chốt của địch, tạo sự chuyến biến lớn cho chiến dịch.

Địch ở Tây Bắc bố trí trên một khu vực rất rộng. Sau khi bị ta tiến công trong chiến dịch Lý Thường Kiệt (tháng 10-1951), địch đã tăng cường phòng ngự ở một số điểm then chốt như Nghĩa Lộ, Mộc Châu, Lai Châu để tạo các lá chắn bảo vệ khu trung tâm Sơn La, Lai Châu. Ngoài việc tăng cường lực lượng, xây dựng hệ thống công sự, vật cản vững chắc cho các cụm cứ điểm này, địch còn thực hiện cách phòng ngự linh hoạt: khi bị tiến công mạnh, các cứ điểm nhỏ sẽ co về phòng ngự quanh các cứ điểm lớn để chống trả cuộc tiến công của ta; nếu nhận thấy không đủ sức chống trả, chúng sẽ tập trung lực lượng, tổ chức rút quân về các khu trung tâm.


Trước đặc điểm phòng ngự của địch, để thực hiện mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, Bộ chỉ huy chiến dịch đã đề ra cách đánh: tập trung lực lượng phá vỡ một số khu vực then chốt, buộc địch rút chạy, tạo thời cơ cho các bộ phận đón lõng, truy kích, thọc sâu tiêu diệt sinh lực địch, tạo sự chuyển biến lớn cho chiến dịch.


Trên thực tế, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kiên quyết tập trung lực lượng, tập trung các mặt bảo đảm để đánh thắng các trận then chốt, phá vỡ một số khu vực then chốt của địch. Trong đợt 1, ta sử dụng 2 đại đoàn, 1 trung đoàn bộ binh và toàn bộ pháo binh chiến dịch đánh địch ở khu vực Nghĩa Lộ. Sau khi tiêu diệt một loạt vị trí chung quanh Phân khu Nghĩa Lộ, đồng thời đưa lực lượng hao vây kiềm chế các cứ điểm lân cận không cho địch tổ chức ứng cứu, chi viện, Bộ chỉ huy chiến dịch đã sử dụng 2 trung đoàn cùng lực lượng pháo binh chiến dịch tiến công cụm cứ điểm Pú Chạng - Nghĩa Lộ. Do có ưu thế về binh hỏa lực, ta đã nhanh chóng tiêu diệt hoàn toàn cụm cứ điểm, đập tan phòng tuyến vòng ngoài của địch ở Tây Bắc, tạo thời cơ thuận lợi cho chiến dịch phát triển nhanh chóng.


Trong đợt 2 chiến dịch, ta sử dụng 3 đại đoàn thiếu (6 trung đoàn) và toàn bộ pháo binh chiến dịch để đánh địch ở khu vực Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay... Trong đó, sử dụng 2 trung đoàn tiến hành trận then chốt tiêu diệt cứ điểm Mộc Châu, do Tiểu đoàn ngụy Thái số 2 chiếm giữ. Các trận tiến công ưu thế của ta trên khu vực này, đặc biệt là trận Mộc Châu đã phá vỡ chiếc lá chắn của địch trên đường 41, buộc chúng phải rút khỏi các vị trí Chiềng Pan, Sông Con, Tạ Say, Sa Piệt, Tạ Khoa..., khai thông con đường 41 vào Tây Bắc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để Trung đoàn 165 trên hướng thọc sâu giải phóng Mường Sài, Sơn La và một vùng đất đai rộng lớn Nam Lai Châu.


Chọn đúng và tập trung lực lượng ưu thế đập vỡ các khu vực then chốt, hiểm yếu, ta đã nhanh chóng phá vỡ thế trận phòng ngự của địch, làm rối loạn chỉ huy, dồn địch vào thế bị động đối phó, tạo ra những thuận lợi để chiến dịch phát triển nhanh chóng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai. Đây thực sự là một nét phát triển mới so với các chiến dịch trong năm 1951, đầu 1952.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM