Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 05:31:32 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhớ về bầu trời năm ấy  (Đọc 4966 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #10 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:22:48 pm »

Sau Lễ Quốc khánh ngày 2 tháng 9 và mừng chiến thắng ở sân vận động Phù Cát, Tiểu đoàn 365 được lệnh hành quân ra Quảng Nghĩa. Tiểu đoàn dừng chân ở Tam Quan Bắc một thời gian. Tôi được phép hai ngày về thăm nhà. Không còn gì vui sướng bằng! Tôi đã thực hiện được lời hứa với cha mẹ trước khi đi chiến dịch: "Con sẽ về thăm cha mẹ sau chiến dịch!". Tôi về tới nhà, gặp cha mẹ, anh, các chị, các em, đông vui quá! Tối đến, sau bữa cơm, cả nhà ngồi quây quần bên nhau nghe tôi kể chuyện chiến đấu, đặc biệt là chuyện ăn Tết Giáp Ngọ ở mặt trận. Tôi kể về chuyện đình chiến, về Hiệp định Giơ-ne-vơ, chuyện sắp tới đây bộ đội mình phải đi tập kết ra ngoài Bắc, vậy cha mẹ, anh chị em ở nhà hãy vui vẻ để tôi đi tập kết. Bộ đội mình ra miền Bắc tập trung xây dựng quân đội hùng mạnh, làm hậu thuẫn đấu tranh thống nhất nước nhà. Tôi động viên cha mẹ, anh chị em ở nhà yên tâm, xa nhau chỉ có hai năm thôi. Sau hai năm sẽ có Tổng tuyển cử, đất nước thống nhất sẽ lại gặp lại nhau. Cả nhà im lặng nghe cha tôi nói: "Con ra ngoài Bắc cố gắng công tác cho tốt để được gặp Bác Hồ. Khi nào được gặp Bác, nhớ chuyển lời của cha cầu chúc Bác Hồ luôn luôn mạnh giỏi, sống lâu để đến ngày đất nước thống nhất, đồng bào miền Nam được đón Bác vào thăm!". Hơn mười năm sau, tôi đã thực hiện được lời mong ước của cha. Đó là năm 1966, tôi bắn rơi 1 máy bay của giặc Mỹ. Năm đó được gặp Bác Hồ, tôi đã chuyển lời của cha tôi đến cho Bác.


Sau hai ngày thăm nhà, tôi trở lại đơn vị, tiếp tục hành quân ra Quảng Nghĩa. Tiểu đoàn đóng quân ở Thi Phổ-Mộ Đức, làm nhiệm vụ bảo vệ khu tập kết 300 ngày. Thi Phổ nằm chắn ngang quốc lộ số 1, giáp ranh giữa ta và địch (địch ở phía Bắc sông Vệ). Vừa đến vị trí đóng quân, đặt ba lô xuống là lao ngay vào công tác dân vận, giúp dân. Nhân dân ở đây đang ra sức khôi phục lại cuộc sống sau hơn 9 năm kháng chiến hy sinh mất mát, gian khổ. Giờ đây mới có được những ngày hòa bình đầu tiên, không gì vui sướng bằng, nhưng cũng đầy những âu lo, trăn trở... Chúng tôi đi làm mọi việc cùng với nhân dân, vừa lao động, vừa tuyên truyền, giải thích cho nhân dân về đường lối, chủ trương của Đảng.


Thời gian còn lại không bao nhiêu ngày nữa, bộ đội sẽ đi tập kết ra Bắc hết. Quân thù sẽ đến chiếm đóng vùng kháng chiến của ta và tai họa sẽ giáng xuống đầu nhân dân. Cái cảnh tra tấn, chém giết, tù đày, tố cộng, diệt cộng... trả thù những người kháng chiến sẽ diễn ra khốc liệt.


Trải qua hơn 9 năm kháng chiến, nhân dân ở đây được sống với cách mạng, họ mang ơn sâu nghĩa nặng của cách mạng, của Đảng, của Bác Hồ, đồng thời họ cũng hy sinh hết thảy sức người, của cải cho cách mạng, cho kháng chiến thắng lợi. Nay họ phải sống trở lại với chế độ phong kiến-đế quốc, chờ 2 năm thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà như quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ, hay là họ phải sống với chế độ ấy bao nhiêu chục năm? (20 năm sau thì thắc mắc đó của đồng bào Thi Phổ được giải đáp).


Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ, hồi ấy chủ trương của ta cố gắng giải thích và tuyên truyền cho đồng bào miền Nam thấy được giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của cách mạng. Ta phải "đặt lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt" (lời kêu gọi của Bác Hồ). Trong kháng chiến chống Pháp, Đảng ta nói trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi! Ngày nay, trong đấu tranh chính trị, chúng ta cũng phải trường kỳ, gian khổ, hy sinh, nhưng nhất định thắng lợi! Đồng bào miền Nam đi trước về sau. Nhân dân mình vốn giàu lòng yêu nước, giàu truyền thống cách mạng, khi được thông suốt đường lối cách mạng của Đảng thì gạt bỏ hết thắc mắc, một lòng tin cách mạng, tin Bác Hồ.


Thời gian chúng tôi được ở lại khu tập kết 300 ngày để làm nhiệm vụ thật quá ngắn. Mỗi giờ, mỗi phút đồng hồ được ở với nhân dân khu 300 ngày thật quý hơn vàng. Trong lòng mỗi chúng tôi chất đầy bao kỷ niệm không bao giờ mờ phai về tình quân dân cá nước, nghĩa đồng bào, tình đồng đội, đồng chí!


Các buổi liên hoan quân dân chia tay diễn ra vô cùng cảm động. Những giọt nước mắt trên gò má các mẹ, các chị, các em cứ chảy dài kèm theo lời nhắn "nhớ 2 năm thì về!".

Tình hình kinh tế khu 300 ngày được khôi phục chưa đáng là bao, nhân dân còn nghèo lắm. Nhưng khi quân dân chia tay, bà con cố gắng dành dụm sắm quà tặng cho bộ đội mang ra miền Bắc làm kỷ niệm. Những chiếc khăn thêu, những con gà, trái bí, cây mía, gói đường phổi đến gói thuốc rê, đặc biệt là những trái dừa Bình Định. Chúng tôi mang theo mỗi người một trái dừa Bình Định, trồng ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa.


Chúng tôi ở khu tập kết 300 ngày, công việc vất vả ngày đêm, song rất vui vì được giúp cho đồng bào thật nhiều trước khi tập kết ra miền Bắc. Anh em tranh thủ đi thăm tất cả các nghĩa trang liệt sĩ trong khu vực để làm sạch cỏ, quét vôi mới, làm vệ sinh sạch sẽ và thắp tuần nhang tạm biệt đồng đội. Họ là những người con yêu quý của ba miền Bắc, Trung, Nam và có cả những người bạn quốc tế như người Đức, người An- giê-ri... là những người trong đội quân lê-dương của thực dân Pháp đã chạy sang hàng ngũ của ta, tình nguyện cùng ta đánh thực dân Pháp. Nay họ đã nằm lại mãi mãi trên mảnh đất Liên khu 5 này.


Ngày 15 tháng 5 năm 1955, ngày cuối cùng chấm dứt khu tập kết 300 ngày. Tiểu đoàn 365 là đơn vị được làm nhiệm vụ cuối cùng xuống tàu. Cho đến giờ phút chót, chúng ta vẫn phải cảnh giác, đề phòng địch lật lọng đánh úp ta. Hôm đó, thành phố Quy Nhơn, Bình Định trở thành rừng cờ đỏ sao vàng năm cánh. Cờ cắm hai bên đường phố, cờ cắm trên mái nhà, cờ cầm trên tay các cụ, các mẹ, các anh chị, các em tiễn vẫy đưa bộ đội xuống tàu. Mọi người đi tiễn đều giơ lên hai ngón tay, nước mắt lăn dài trên má, miệng nói: "Hẹn hai năm!"


Buổi chia tay lịch sử đó ở cảng Quy Nhơn-Bình Định, ai đã từng chứng kiến hẳn mãi mãi sẽ là dấu ấn trong ký ức không bao giờ phai mờ. Nó mãi mãi xanh tươi như rừng dừa Bình Định.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #11 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:24:17 pm »

Khi lên tàu, chúng tôi được lệnh đổ xuống biển các loại vũ khí có ngòi nổ như lựu đạn, thủ pháo... để lên tàu được gọn nhẹ và an toàn.

24 giờ ngày 15 tháng 5 năm 1955, tàu kéo còi tạm biệt cảng Quy Nhơn, nhổ neo rời cảng, chạy về phía chân trời có chòm sao Bắc Đẩu. Chúng tôi nhìn về thành phố Quy Nhơn mờ mờ trong sương đêm mà trong lòng trào dâng nỗi lưu luyến, nỗi nhớ tiếc mông lung... không cầm được nước mắt!


Mờ sáng ngày 18 tháng 5 năm 1955, tàu cập bến Sầm Sơn-Thanh Hóa. Trời sáng hẳn, mặt trời giống như một đĩa lửa đỏ rực, từ từ nhô lên khỏi mặt biển. Chúng tôi rời tàu lớn chuyển sang tàu nhỏ để đổ bộ lên bờ. Trên bờ, nhân dân Sầm Sơn đã tập trung rất đông, có đủ các tầng lớp lứa tuổi đón chào bộ đội miền Nam tập kết. Cờ hoa, băng-rôn, khẩu hiệu rợp trời cảng Sầm Sơn. Nhân dân vỗ tay, các em nhỏ múa hát suốt chặng đường từ bến cảng về đến nhà nghỉ. Cảnh đón tiếp tràn đầy tình cảm yêu thương của đồng bào Sầm Sơn làm cho chúng tôi vơi bớt nỗi nhớ nhà, nhớ quê.


Ngày 19 tháng 5 năm 1955, lần đầu tiên trên quê hương miền Bắc, đơn vị tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ 65 tuổi (1890-1955). Tại buổi lễ, anh em đồng tâm hứa với Bác: "Chúng cháu yên tâm công tác ở miền Bắc, ra sức xây dựng quân đội làm hậu thuẫn cho đồng bào miền Nam đấu tranh"...


Những ngày chúng tôi sống ở sầm Sơn, bà con chăm sóc rất tận tình. Bà con coi bộ đội miền Nam tập kết như con em ruột thịt của mình, làm cho chúng tôi vợi bớt nỗi nhớ nhà.


Rời Sầm Sơn, chúng tôi hành quân vào Tĩnh Gia-Thanh Hóa đóng quân. Đơn vị bước vào thời kỳ mới: thời kỳ xây dựng quân đội trong hòa bình.


Hồi ấy, bộ đội đóng quân ở nhà dân (vì chưa xây dựng được doanh trại). Hàng ngày, chúng tôi tiếp xúc với bà con có nhiều phong tục, tập quán chưa quen nên rất bỡ ngỡ. Ở đây, khi đi ra ngoài đường, gặp người lớn tuổi phải chào (chào bằng lời). Chúng tôi hay quên chào bằng lời mà lại chào bằng tay theo kiểu của nhà binh. Phong tục gọi người đã có chồng có vợ, có con cũng rất khác trong Nam. Anh chị sinh con đầu lòng là con trai thì phải gọi là anh chị "cò", nếu là con gái thì gọi anh chị "hĩm". Khi vợ chồng chưa có con thì gọi là anh chị "đỏ". Kiêng gọi tên "cúng cơm" của người đã có vợ có chồng. Ăn cơm, uống nước chè cũng có tập quán riêng. Đang ăn cơm, nếu có người đến (không phân biệt quen hay lạ) đều phải "mời xơi cơm". Có một hôm, bà con làm đồng đang ăn cơm, gặp bộ đội ta, bà con mời bộ đội "xơi cơm". Thế là, có anh chàng ngồi ngay xuống, "xơi" rất thật thà!
Nói về tập quán uống nước chè xanh, tôi đã bị một trận say lảo đảo. Bà con thường nấu nước chè xanh vào các buổi sáng sớm, mời mọi người trong xóm đến uống. Cái tên gọi "nác mới" rất to cho cả xóm nghe, ấn tượng một làng quê yên ả đọng mãi trong tôi. Đó là làng quê ở xứ Nghệ.


Cuối năm 1955, vùng Thanh Sơn-Thanh Hóa đang thực hiện cải cách ruộng đất. Ruộng vườn, nhà cửa, trâu bò... của những gia đình gọi là "nhà địa chủ" đều bị tịch thu đem chia cho nông dân nghèo. Nông dân được chia của đáng lẽ phải rất phấn khởi, song ngược lại, vừa lo vừa buồn. Vì họ biết có nhà không phải là "địa chủ", có nhà còn có con em đi kháng chiến, bị quy sai nhưng không ai dám đứng ra thanh minh. Một số cán bộ, đảng viên bị quy sai cũng bị bắt, bị đấu tố. Tình hình nông thôn lúc đó rất căng thẳng. Dân chúng mất lòng tin, hoang mang. Kẻ địch đã lợi dụng sai lầm trong cai cách ruộng đất, tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, kích động nhân dân chống lại Đảng, chống phá cách mạng, gây chia rẽ giáo, lương... Mặt khác, chúng dụ dỗ bà con giáo dân tổ chức di cư vào miền Nam (họ nói: "Chúa đã vào Nam rồi!"). Có nhiều xóm công giáo kéo nhau di cư hầu hết vào Nam. Nhà cửa, ruộng vườn bỏ hoang, thiên tai ập đến tàn phá, mùa màng mất trắng... Dân tình đói khổ, dịch bệnh lây lan, bỏ nhà ra đường xin ăn...


Nhà tập thể của đơn vị tôi, hàng ngày cứ đến bữa ăn, rất đông trẻ em kéo đến vây lớp trong lớp ngoài xin cơm. Chúng tôi không cầm được nước mắt, rất thương các cháu. Nhưng phần cơm có được để chia cho các cháu cũng chỉ một miếng lót dạ (mỗi bữa có 40-50 cháu).


Đơn vị tạm dừng chương trình học tập, phân công nhau về các địa phương lao động, giúp nhân dân bị đói khôi phục sản xuất, tẩy trừ dịch bệnh... Chúng tôi tới từng nhà dân làm mọi việc từ trong nhà đến ngoài đồng. Trước mắt, trồng các loại cây ngắn ngày như rau, khoai... nhằm chống đói, đồng thời giúp bà con làm mùa vụ. Đồng ruộng cày ải nhưng thiếu trâu bò, chúng tôi hò nhau đi kéo cày. Anh em nào sức khỏe yếu quá thì ở nhà dọn dẹp vệ sinh, giặt quần áo, cắt tóc, tắm rửa cho các cháu rồi dạy học, dạy múa hát. Ban đêm, chúng tôi đốt lửa trại, biểu diễn văn nghệ. Xóm làng có tiếng hát, tiếng sáo trúc... xóa đi bóng đêm chết đói, chết bệnh... Bà con nông dân khen: "Bộ đội về làng làm cho bà con chúng tôi sống lại!". Và trong ký ức mỗi chúng tôi cũng không bao giờ quên những ngày làm công tác dân vận giúp bà con nông dân ở Thanh Sơn-Thanh Hóa năm 1955.


Cách mạng tháng 8 năm 1945 là một cuộc cách mạng mở nước, đổi đời cho dân Việt Nam. Cải cách ruộng đất mặc dù có những sai sót khuyết điểm nhất định, song cơ bản là cuộc cách mạng mở ruộng, đổi đời cho nông dân miền Bắc ở thập kỷ 50 của thế kỷ 20. Nông dân từ chỗ không có ruộng vườn đã trở thành người chủ của ruộng vườn, từ không có cơm ăn áo mặc đã trở thành ăn no mặc lành. Đó là một cuộc cách mạng rung trời chuyển đất chưa từng có ở Việt Nam-một đất nước có đến 90% dân số là nông dân (năm 1955). Khẩu hiệu "Người cày có ruộng!" do Đảng khởi xướng. Khẩu hiệu đó có từ những ngày cách mạng còn trong trứng nước. Nó đã trở thành sức mạnh thành động lực cho 90% dân số (nông dân) theo Đảng làm cách mạng đến cùng. Hàng chục vạn chiến sĩ hy sinh ngoài mặt trận là con em của nông dân. Họ đã làm nên những mùa Xuân đại thắng chấn động địa cầu, đem lại độc lập, tự do cho đất nước, cho người cày có ruộng, thực hiện được niềm mơ ước hàng bao đời của người nông dân. Đem lại sự nghiệp vĩ đại đó cho nông dân, tất yếu là do Đảng của giai cấp công nhân khởi xướng và dẫn đường mới có được. Chúng ta nhớ lại thời thực hiện chính sách cải cách ruộng đất, cũng có những người làm sai chính sách gây thiệt hại cho Đảng và cho bà con nông dân, nhưng Đảng đã kịp thời sửa sai. Bác Hồ đã tự phê bình trước quốc dân đông bào. Bác đã khóc! Chúng tôi vô cùng xúc động và ai cũng khóc vì thương Bác Hồ quá! Một số cán bộ cải cách làm sai đã làm khổ cho Bác!


Hồi ấy, sau khi được sửa chữa sai lầm trong cải cách ruộng đất, đời sống ở nông thôn được ổn định, an ninh chính trị được khôi phục, nạn di cư được chấm dứt, nông dân yên tâm chăm lo làm ăn, kinh tế được phát triển.

Bài học vô giá của Đảng ta hồi ấy đối với nông dân miền Bắc là thấy được sai lầm và kiên quyết sửa chữa theo sự chỉ đường, dẫn lối của Bác Hồ. Nếu không có Bác Hồ, nông dân miền Bắc sẽ đi tới đâu? Đôi khi tôi ước mong Việt Nam mình sớm xuất hiện những nhà văn có tầm cỡ, viết ra những pho sách lịch sử về nông dân với cách mạng để lại cho đời. Nếu chậm, sợ mai mốt sẽ mờ phai hết vai trò lịch sử của một thời đất nước ta có 90% là nông dân cầm cày cầm cuốc và cầm súng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #12 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:25:24 pm »

Anh em bộ đội miền Nam chúng tôi lần đầu tiên đón Tết cổ truyền dân tộc trên quê hương miền Bắc. Trong mỗi anh em chúng tôi đầy ắp những tâm tư buồn vui, thương nhớ quê hương. Chúng tôi thương nhất những anh em có vợ con ở lại trong miền Nam. Đêm đêm các anh ấy khóc thầm khóc trộm khi nghe đài đưa tin địch bắt đầu khủng bố những gia đình bộ đội đi tập kết.


Đơn vị đóng quân ở Tĩnh Gia-Thanh Hóa, vùng quê thuộc diện còn nghèo đói lại hay bị thiên tai tàn phá, mùa màng mất trắng. Chuẩn bị đón Tết, bà con tuy nghèo về vật chất nhưng tình quân dân cá nước không nghèo. Bà con biết bộ đội miền Nam nhớ nhà nhớ quê nhiều nên để động viên, bà con tổ chức rất nhiều trò chơi vui trong 3 ngày Tết. Những ngày Tết năm ấy (1955) trời rét đậm đột xuất, tay chân rét buốt nhưng trong lòng thấy ấm áp, vui mừng vì chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp dân chống đói, chống lụt bão, tăng gia sản xuất... Công sức của anh em chúng tôi đổ ra góp phần không nhỏ, đã giúp địa phương ổn định đời sống cho nhân dân được yên vui đón Tết, được chính quyền và nhân dân khen: "Các anh đúng là bộ đội của dân, bộ đội vì dân..
Những ngày Tết, mỗi người được một cái bánh chưng. Nếp, đỗ, lá... được trên đưa xuống, phần gói bánh, luộc bánh chúng tôi tự làm (sống, chín phải chịu). Mỗi người được một hộp thịt hộp (trên nói là của Bác Mao biếu).


Tập quán vui chơi ngày Tết của bà con có nhiều trò chơi cổ truyền, truyền thống như chơi cờ người, đánh vật, đánh đu... Bộ đội ta thích nhất trò chơi đánh đu (còn gọi là xích đu). Chơi trò đánh đu: mỗi lần đu có hai người nam và hai người nữ hoặc một nam một nữ tùy theo bàn đu lớn hay nhỏ. Nam và nữ đứng lên bàn đu giáp mặt nhau. Hai người lần đầu lên đu còn ngượng đỏ mặt, nhưng khi quen sau vài lần đu có thể được hôn nhau nên hội đu càng thêm vui nhộn.


Ban đầu khởi động bàn đu đong đưa, có người đẩy nhẹ bàn đu. Hai hoặc bốn người chơi đu nhún nhịp nhàng cho đu bay lên cao dần dần... Đúng là "Trai đu gối hạc khom khom cật. Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng..." (thơ Hồ Xuân Hương). Đôi nam nữ nào đánh đu bay lên cao nhất trong buổi chơi thì được giải nhất. Trò chơi đánh đu rất hợp với tuổi thanh niên. Nó vừa rèn tính dũng cảm, vừa phải uyển chuyển nhịp nhàng, phối hợp động tác nhún ăn khớp giữa hai người hoặc bốn người thì đu mới bay lên cao. Nhưng trò chơi đánh đu này cũng nguy hiểm vì không có dây an toàn, nếu sơ sảy rời tay nắm cần đu là cầm chắc tai nạn. Đã có trường hợp đôi nam nữ chơi đu bị tai nạn đáng tiếc. Khi đu đã bay lên cao, không may, cô gái bị đứt dây rút, váy bị tuột, cô gái vội bỏ tay cầm đu để giữ váy (thời đó mặc váy là phổ biến). Thế là tai nạn thương tâm xảy ra! Người đi xem đu chia vui trở thành đi chia buồn!


Bài học cho người chơi đu là luôn luôn phải nhớ nắm chắc tay đu cho dù có bị tuột... cũng kệ!

Đón Tết cổ truyền xong, đơn vị bước vào thời kỳ huấn luyện xây dựng quân đội chính quy (1956). Chúng tôi được học tập quán triệt nhiệm vụ, mục tiêu, yêu cầu xây dựng quân đội chính quy. Phải ra sức xây dựng quân đội nhân dân hùng mạnh, đủ sức bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và làm hậu thuẫn cho nhân dân miền Nam đấu tranh đòi địch phải thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà...


Kết thúc chính trị, đơn vị bước vào huấn luyện chính quy, rèn luyện "ngũ thông tứ tính" được đặt lên hàng đầu. Nhiều chương hình học tập rất mới lạ, chúng tôi chưa được nghe bao giờ, bởi đã quen lối sinh hoạt của một đội quân du kích đã 9 năm chỉ có đánh giặc. Giờ đây phải lột cái vỏ du kích đó đi để mang cái vỏ của người lính chính quy! Có nhiều anh em thắc mắc, cho rằng, thời 9 năm, ta không có chính quy vẫn đánh thắng đội quân chính quy của thực dân Pháp! Phát sinh tư tưởng: có nhiều người xin trở về miền Nam đi chiến đấu, có một số lại muốn ra quân để đi làm kinh tế. Trước tình hình đó, đòi hỏi công tác chính trị tư tưởng, công tác lãnh đạo phải được đặt lên hàng đầu. Nhiệm vụ của người chỉ huy lãnh đạo lúc này phải giải thích cho mọi người hiểu rõ và thông suốt thì huấn luyện xây dựng chính quy mới đạt kết quả. Đường lối chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện... Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân là cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc... Song song đó, phải xây dựng những Binh đoàn chủ lực, chính quy mạnh, có trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến trong Quân Binh chủng hợp thành. Bộ đội có khả nâng thực hiện những chiến dịch lớn, dài ngày, có khả năng giữ đất và giành đất (tức là bảo vệ được miền Bắc xã hội chủ nghĩa và tấn công giải phóng miền Nam). Đối tượng tác chiến là đế quốc Mỹ...


Sau khi chúng tôi quán triệt đường lối chiến tranh nhân dân và xây dựng quân đội nhân dân của Đảng, ai ai cũng hồ hởi, phấn khởi như mở cờ trong bụng vì hiểu được bây giờ chúng ta phải làm gì. Đơn vị nổ ra phong trào thi đua luyện quân lập công, rèn luyện "ngũ thống tứ tính" sôi nổi chưa từng có. Song, nhiệm vụ của "đội quân công tác" chúng tôi lúc nào cũng phải sẵn sàng giúp dân. Trên miền Bắc, bốn mùa đều có các loại "giặc" mà bộ đội phải tham gia chống. Đó là: chống bão lụt, chống hạn hán, chống dịch bệnh, chống rét, chống đói... Chúng tôi đếm trên đầu ngón tay, trong một năm có trên 20 loại "giặc" phải chống. Có những thời gian chúng tôi phải lấy đêm làm ngày để học tập, huấn luyện cho kịp chương trình chính quy đã đặt ra, còn dành thời gian ban ngày đi giúp dân, chống "giặc" trời. Chúng tôi không quản khó khăn vất vả, mọi người đều lăn xả vào công việc, với khẩu hiệu "Vì miền Bắc yêu thương. Vì miền Nam ruột thịt!".


Từ năm 1956, quân đội ta bắt đầu áp dụng "ngũ thống, tứ tính" mạnh mẽ trong đời sống sinh hoạt của bộ đội. Nhiều kỷ niệm sâu sắc của một thời đã qua, chúng tôi không thể quên. Chế độ ăn của bộ đội thay đổi: trước ăn ngày hai bữa trưa và tối, nay ăn ba bữa sáng trưa tối. Thêm một bữa ăn là thay đổi cả tập quán thói quen của cái bụng. Ban đầu có nhiều người không đến nhà an làm cho "anh nuôi" lo bấn xúc xích vì thừa cơm nhiều quá! Cán bộ chính trị có việc làm: phải đi vận động bộ đội đi ăn sáng. Việc đưa cái gì vào bụng là do cái miệng nó tự giác, không thể "ra lệnh" được. Rồi ngày tháng qua đi, cái miệng cũng đã quen cơm, không cần cán bộ phải đi vận động nữa!


Trang bị được thay đổi là một sự kiện lớn hồi bấy giờ. Súng cộng đồng và súng cá nhân được thay đổi từ chiến lợi phẩm lấy được của Pháp, nay thay bằng súng trường và tiểu liên do Trung Quốc sản xuất, một thời gian ngắn sau, lại được thay bằng AK, CKC... của Liên Xô sản xuất. Súng rất tốt. Đạn bắn đi rất căng và độ chính xác rất cao. Trong phong trào thi đua bắn giỏi, tôi đã đoạt giải nhất với thành tích trong bài bắn bia "lỗ châu mai" bằng súng tiểu liên AK. Tổng số đạn 15 viên bắn làm ba loạt thì đạn trúng bia 14 viên, chỉ có 1 viên trượt. Anh em trong đơn vị đã sáng tác tặng tồi bài hát với tựa đề "Nguyễn Hồng Nhị bắn rất hay!".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #13 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:26:20 pm »

Năm 1956 là năm đơn vị lột cái vỏ du kích thay bằng vỏ chính quy. Quần áo, chiếu chăn, màn, mũ, giày, áo bông... đến cái bát ăn cơm, khăn mặt cũng đều cấp phát thống nhất với màu xanh lá cây rất đẹp.

Đơn vị bước vào mùa huấn luyện. Địa hình ở Thanh Hóa rất thuận lợi cho việc huấn luyện chiến thuật, có đủ các điều kiện để tập phân đội tấn công - phòng ngự - phản công, rồi tập vượt qua đồng lầy, vượt sông...

Thời tiết ở Thanh Hóa rất khắc nghiệt. Mùa hè nắng cháy da khi tập ở ngoài thao trường. Buổi trưa nằm trong nhà tranh mà cứ nghe tre nổ lốp bốp trên mái, mồ hôi chảy nhễ nhại, không sao mà chợp mắt được. Mùa Đông thì lại rất lạnh, đặc biệt những đợt gió mùa Đông Bắc về gây ra rét đậm rét hại làm chân tay tê cóng. Ban đêm, chúng tôi ngủ trong ổ rơm. Nhà dân lợp lá cọ, vách thưng bằng mê nứa, gió Đông Bắc luồn qua vách thông thống, tuy ở trong nhà nhưng lanh buốt như ở ngoài sân. Cái khổ nhất của mùa rét đấy là các kẽ ngón chân bị nứt, môi bị nẻ, sáng sớm đụng vào nước là lạnh buốt thấu xương. Song, mặc cho rét buốt hành hạ, chúng tôi vẫn đi tập đều các khoa mục tấn công vượt đồng lầy, vượt sông..., phải dầm mình trong bùn lầy, nước lạnh buốt hàng ngày mà tinh thần tập luyện không hề nao núng. Chúng tôi hoàn thành các bài tập khó nhất, cấp trên xuống kiểm tra, đánh giá đạt giỏi toàn đơn vị.


Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sau 2 năm sẽ thực hiện Hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng đã qua 2 năm (1955-1956) rồi mà không hề có Hiệp thương giữa hai miền, ngược lại, ở miền Nam, đế quốc Mỹ đã vào hất cẳng Pháp ra.
Đế quốc Mỹ tiếp tay đỡ đầu Ngô Đình Diệm cự tuyệt Hiệp thương tổng tuyển cử (xé bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ). Ngô Đình Diệm thực hiện tiêu diệt cộng sản đến cùng. Chúng kéo máy chém đi khắp các thành thị, nông thôn miền Nam, gieo tội ác trời không dung đất không tha! Chúng chặt đầu, mổ bụng moi gan bất cứ người nào chúng cho là Việt cộng hoặc thân Việt cộng và những gia đình có người tập kết ra miền Bắc. Mặt khác, Diệm gào thét lấp sông Bến Hải, Bắc tiến. Mỹ- Diệm đã dìm đồng bào miền Nam trong biển máu! Tình hình miền Nam càng đen tối bao nhiêu càng thôi thúc bấy nhiêu nghị lực và tinh thần của chúng tôi ra sức xây dựng quân đội nhân dân ta tiến nhanh, tiến mạnh lên chính quy... sẵn sàng chiến đấu cao. Chúng tôi nhớ lại lời nói của đồng chí Nguyễn Chánh - Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 trước khi xuống tàu đi tập kết ra Bắc: "...Chúng ta nhất định sẽ trở về miền Nam bằng con đường trương cờ hòa bình lên để về hoặc đạp lên xác quân thù mà về!...". Chúng tôi sống trên miền Băc yêu thương sau 2 năm, nay càng thấy rõ con đường muốn trở về miền Nam ruột thịt, phải đạp lên xác thù mà về! Đó là lời tiên đoán của đồng chí Nguyễn Chánh 2 năm trước ở bên tàu Quy Nhơn-Bình Định, nay đã thành hiện thực.


Đơn vị hành quân vào Nghệ An đóng quân và tham gia diễn tập "Sư đoàn tác chiến trong Quân Binh chủng hợp thành". Các huyện Diễn Châu, Yên Thành, Nghi Lộc và Hưng Nguyên - Nghệ An có nhiều cánh đồng rộng (ít ruộng bùn sâu) phù hợp với sử dụng nhiều xe, pháo trong tác chiến Quân Binh chủng hợp thành. Hồi đó, trong diễn tập, ra tình huống là chính để rèn cho cán bộ chỉ huy-tham mưu, chứ xe, pháo đâu đã có nhiều, hơn nữa, ta còn bị ràng buộc bởi Ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơ- ne-vơ. Trong thành phần Ủy ban ấy có Ấn Độ, Ca-na-đa, Ba Lan, có một tổ đóng ở Vinh. Hàng ngày, họ đi soi mói bất cứ chỗ nào nếu họ nghi rằng ta có vũ khí, trang bị mới cho quân đội. Trong khi đó, ở miền Nam, đế quốc Mỹ đưa trang bị, vũ khí mới, hiện đại, ồ ạt vào thì họ không có phản ứng gì. Anh em mình rất ức!


Diễn tập cấp Sư đoàn lần đầu tiên được tổ chức ở Sư đoàn 324, đặt nhiều tình huống tác chiến trực tiếp với kẻ thù chính là đế quốc Mỹ-một đội quân xâm lược nhà nghề được trang bị vũ khí hiện đại, nhưng ta có cách tác chiến của mình để đánh thắng Mỹ. Tất nhiên, trong tình huống diễn tập, bao giờ cũng dành cho "quân đỏ" phần thắng ("quân đỏ" là quân ta, "quân xanh" là quân địch).


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ diễn tập, đồng thời cũng là tổng kết công tác huấn luyện quân sự năm, tổng kết thi đua, liên hoan biểu diễn văn nghệ "cây nhà lá vườn", giao nhiệm vụ năm tới và đón Tết cổ truyền dân tộc.

Những năm đầu hòa bình, lao động của người lính theo con đường xoắn ốc đi lên là như thế (... học tập chính trị-quân sự-tập luyện-diễn tập-tổng kết-lao động-ăn Tết...), Năm 1960, chủ trương xây dựng doanh trại chính quy, ở tập trung. Thời bình mà bộ đội ở nhờ nhà của dân mãi không tiện. Không tiện cho dân và không tiện cho cả bộ đội thực hiện "ngũ thống, tứ tính" trong xây dựng chính quy.


Đơn vị ăn Tết cổ truyền xong, thay khẩu hiệu "Thi đua luyện quân lập công" bằng khẩu hiệu "Thi đua lao động nhanh, nhiều, tốt, rẻ".

Đơn vị hành quân về đóng ở vùng Đô Lương-Anh Sơn (Nghệ An) làm nhiệm vụ lao động xây dựng doanh trại. Toàn đơn vị giống như một công trường xây dụng, có đủ các bộ phận ngành, nghề. Ai chưa biết về ngành nghề gì thì được tổ chức đào tạo tại chỗ, gồm kỹ thuật làm gạch, ngói, mộc..., kỹ thuật xây, tô trát, đúc, hàn... cho đến đổ trần bê-tông, nền móng... Tất cả công việc xây một tòa nhà đều phải thông hiểu và tự làm. Bộ phận vất vả nhất đó là bộ phận đi khai thác vật liệu (cát, đá, gỗ, luồng, nứa...). Đơn vị tôi được phân công đi khai thác gỗ. Núi rừng Con Cuông (phía Tây Nghệ An) thuộc loại rừng già lâu đời, có rất nhiều cây gỗ quý. Gỗ ở sâu trong rừng nên phải làm đường cho voi kéo gỗ từ trong rừng ra bãi để ô tô chở ra bờ sông Lam. Chúng tôi làm lán ở sâu trong rừng. Rừng có rất nhiều khỉ và vượn đen, có đuôi rất dài. Hai chân trước nó bám trên cành cây, cái đuôi dài thả thõng xuống đong đưa trông rất ngộ. Đặc biệt, tiếng kêu của vượn rất to. Mỗi đàn có hàng trăm con cùng kêu một lúc vang cả núi rừng. Nó di chuyển từ cây này sang cây khác nhanh thoăn thoắt, ý chừng biểu diễn cho các chú bộ đội xem. Cảnh rừng già có khỉ, vượn ở đây giống như cảnh rừng già ở Bắc Tây Nguyên, làm tôi sống lại một thời đi chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nghịch ngợm, phá phách không ai bì được, đó là các chú khỉ. Bộ đội giặt quần áo phơi, nếu không cắt cử người canh gác thì chúng đến vơ cuộn, tẩu vào rừng ngay. Nhà bếp đến giờ chia cơm cho bộ đội phải có vài người trông coi đuổi khỉ. Cơm, canh, rau… tất cả thức ăn của bộ đội, khỉ đều thích cả, chỉ trừ mắm tôm thôi. Chúng rất sợ mùi mắm tôm, khi có mùi mắm tôm là chúng la hét, bỏ chạy hết vào rừng. Biết được đặc tính ấy của khỉ, nhà bếp lúc nào cũng để sẵn một bát mắm tôm. Kể từ đó, nhà bếp được an toàn, không phải lo đuổi khỉ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #14 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:27:08 pm »

Nhiệm vụ khai thác gỗ gồm có các công đoạn chính, được phân công như sau: hạ cây, chặt đứt đoạn, bóc vỏ và tum đầu (để khi lao gỗ xuống núi không bị vướng), lao gỗ xuống núi (nếu gỗ tự lao đi không đúng hướng thì người xeo gỗ phải chạy theo xeo cho gỗ chạy đúng hướng). Có trường hợp gỗ chạy lạc sang biên giới nước bạn Lào, ta đành bỏ, gây lãng phí sức người. Khi gỗ đã tập trung từ trên sườn núi cao xuống các khe sâu trong rừng nhưng không có đường cho ô tô vào, phải sử dụng đến các "thớt voi" kéo gỗ ra bãi đưa lên ô tô. Gỗ được khai thác từ nơi núi cao rừng sâu ở vùng Tây Nghệ An giáp biên giới Lào, đưa xuống sông Lam đóng bè xuôi về đến Đô Lương phải qua bao nhiêu công đoạn lao động gian nan vất vả, qua bao nhiêu thác ghềnh nguy hiểm. Công đoạn nào cũng có bài học xương máu để lại thật đáng tiếc. Ngày nay, ngồi nghĩ lại, lại giật mình khi tôi không hề hấn gì trong quá trình lao động khai thác gỗ ấy thì thật là số may "trời cho" và đồng đội "phù hộ". Con sông Lam có dòng nước trong xanh chảy êm đềm từ thượng nguồn về đến thị trấn Đô Lương nhưng có mấy ai biết đến nó phải qua bao nhiêu thác ghềnh đá hung hãn. Nước đổ ào ào xuống thác, xoáy tít. Nếu có một cây gỗ rơi xuống vực, nó xoay tròn mấy vòng rồi biến mất. Người rơi xuống đó thì cũng giống như chiếc lá đối với nó mà thôi. Ban đầu xuôi bè, anh em chúng tôi chưa quen, đặc biệt là chưa thuộc hết các thác nguy hiểm cộng với ghềnh đá đã để bè bị vỡ, tai nạn xảy ra, đau xót vô cùng! Sau rồi phải mời một số người dân quen thuộc ghềnh thác, đi theo bè của bộ đội để giúp đỡ. Từ đó mới đảm bảo an toàn tuyệt đối cho những chuyến xuôi bè gỗ. Sau 3 tháng, đơn vị thực hiện nhiệm vụ khai thác gỗ cho Sư đoàn đã đưa được gần 1000 mét khối gỗ các loại về đến thị trấn Đô Lương, hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Tại đây, gỗ được đưa vào xưởng cưa (xưởng cưa của Phòng Hậu cần Sư đoàn) xẻ ra thành phẩm khác nhau để cung cấp cho các đơn vị trong toàn Sư đoàn làm nhà.


Các dãy đồi trọc (không có cây) ở các vùng Anh Sơn, Thanh Chương, Yên Thành... ngày nào còn nằm dưới cái nắng chói chang, không một dâu chân người, hoang vắng. Vậy mà giờ đây, bao nhiêu là nhà ngói mọc lên chen nhau. Ban ngày, mái ngói màu đỏ thắm, ban đêm điện sáng trưng tạo nên phong cảnh đẹp chưa từng có. Nhân dân địa phương đến xem nhà, rồi vườn rau của bộ đội thì đều trầm trồ khen: "Bộ đội giỏi quá! Bộ đội đã biến đồi sỏi đá thành nhà ngói, thành vườn rau, ao cá, bà con bầy tui phải theo gương bộ đội thôi!".


Tổng kết phong trào thi đua "lao động nhanh, nhiều, tốt, rẻ" ai cũng tự hào với những thành tích đã đạt được trong lao động vừa qua. Khẩu hiệu thi đua "nhanh, nhiều, tốt, rẻ" nay được thêm chữ "nhất" vào thành "nhanh nhất, nhiều nhất, tốt nhất, rẻ nhất" mới tương xứng với công sức của bộ đội đã đổ ra.


Tạm biệt nhà dân, chúng tôi ra doanh trại ở tập trung, có đầy đủ các điều kiện xây dựng chính quy tốt hơn và nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.

Buổi liên hoan chia tay với nhân dân để đi "ở riêng diễn ra trong tình cá nước thật cảm động. Ai đã trải qua mọt thời làm người lính, một thời ở nhờ nhà dân, gắn bó keo sơn, tối lửa tắt đèn nhờ anh bộ đội, rồi bộ đội cần cái kim sợi chỉ để vá áo quần lại nhờ cậy dân. Bây giờ, tuy không còn ở nhờ nhà dân nữa nhưng tình quân dân vẫn gắn bó keo sơn, bởi bộ đội của dân, do dân, vì dân mà. Chúng tôi cùng với thanh niên nơi đóng quân cùng hát bài "Bộ đội về làng" với những lời ca: "Các anh đi ngày ấy đã lâu rồi! Xóm làng tôi còn nhớ mãi! Các anh đi biết bao giờ trở lại. Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong…". Đúng là một thời để nhớ! Một thời mà mỗi khi nhắc đến lại như thấy sống lại một thời trai trẻ.


Cuối thập niên (1958), một sự kiện lớn diễn ra trong toàn quân: giảm tám vạn quân thường trực để đưa đi làm kinh tế, góp phần đẩy miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.


Chấp hành chủ trương giảm quân thường trực, đơn vị nghiêm túc triển khai cho bộ đội quán triệt mục đích, ý nghĩa của chủ trương. Ban đầu, anh em chúng tôi có nhiều băn khoăn, thắc mắc, nhưng sau học tập, được trên giải đáp có lý có tình thì nhanh chóng thông suốt và sẵn sàng chấp hành nhiệm vụ, bất cứ việc gì cũng làm. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ đối với quân đội là: "Quân đội ta luôn trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!"


Nghèo đói cũng là kẻ thù cần phải đánh thắng! Số anh em nằm trong diện giảm quân được tổ chức thành các Trung đoàn, Tiểu đoàn, Đội sản xuất... trương khẩu hiệu với nội dung như vậy, hành quân lên miền Tây Nghệ An, Thanh Hóa khai hoang, thành lập các nông trường mang tên "1-5", "19-5", "Đông Hiếu", "Tây Hiếu"... ở Nghệ An, rồi "Bãi Trành", Lam Sơn", "Sao Vàng", "Sông Âm"... ở Thanh Hóa.


Những anh em tuổi còn trẻ, có thể còn phục vụ lâu dài trong quân đội thì được lựa chọn đưa đi các trường quân sự để đào tạo sỹ quan. Ngoài ra, có một số anh em được gửi đi các nước Xã hội chủ nghĩa, nhờ bạn giúp đỡ đào tạo kỹ thuật để làm nòng cốt xây dựng các Quân Binh chủng kỹ thuật, vũ khí hiện đại... Tương lai không xa, quân đội ta sẽ trở thành một quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sẵn sàng giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Viễn cảnh làm nức lòng mọi người. Lòng tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng càng nhân lên gấp bội. Anh em chúng tôi sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ cho dù có gian khổ khó khăn đến đâu chăng nữa.


Sau bữa cơm chiều, anh em bạn bè dắt nhau lên ngồi trên đỉnh đồi cầu Om. Cây cầu Om bắc qua suối Rào Gang là địa đầu của Truông Bồn. (Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Truông Bồn nổi tiếng là nơi ác liệt nhất, chịu đựng bom đạn nhiều nhất, là một trong những điểm đánh phá của Không quân, Hải quân Mỹ). Anh em tâm sự, nhắn nhủ nhau "Vì miền Bắc yêu thương. Vì miền Nam ruột thịt", hãy cùng phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao, cùng nhau gìn giữ và phát huy truyền thống của Tiểu đoàn 365-Tiểu đoàn Lá Mít anh hùng. Ở nơi đó, anh em đã từng một thời gắn bó keo sơn như ruột thịt, đã trải qua bao nhiêu chặng đường gian khổ, ác liệt của chiến tranh, đã cùng nhau lập nên truyền thống hào hùng, ngày nay, trong hòa bình, lao động xây dựng thì truyền thống của Tiểu đoàn càng phải được phát huy trên quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh anh hùng. Nơi đây từng là khu đồi sỏi đá hoang vu, anh em của Tiểu đoàn 365 về đây cùng với những đôi bàn tay cần cù lao động đã biến đồi trọc thành vườn cây, ao cá. Những cụm nhà trên các đồi xinh xinh đó là doanh trại sống tập trung đầu tiên của Tiểu đoàn 365 do anh em tự làm để ở sau khi rời nhà dân.


Nay dù đã xa Tiểu đoàn, nhưng trong ký ức của tôi không bao giờ quên thời trai trẻ của mình từng là chiến sỹ của Tiểu đoàn 365-Tiểu đoàn Lá Mít anh hùng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #15 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:29:15 pm »

Bước chân không mỏi sẵn sàng "đi B"

Gia tài của người chiến sỹ gói gọn trong chiếc ba lô bằng vải của ngành quân trang cấp. Cái chăn bông được cuộn tròn và buộc vòng quanh ba lô cùng chiếc chiếu con được buộc trên cùng. Chiếc bát ăn cơm bằng sắt tráng men hoa rất đẹp với đôi đũa tre được giắt bên hông ba lô. Chiếc bình tông đựng đầy nước đeo chéo qua vai. Tạm biệt anh em trong Tiểu đội, tôi lên đường nhận nhiệm vụ mới.


Đại đội trinh sát đặc công của Sư đoàn-đó là điểm tôi sẽ đến để chuẩn bị "đi B" đang huấn luyện kỹ thuật đánh đặc công, kỹ thuật trinh sát..., rồi học các miếng võ hiểm, học cách sử dụng các loại vũ khí của Mỹ mới đưa vào miền Nam trang bị cho quân đội Sài Gòn để sau này chúng tôi về Nam chiến đấu, sẵn sàng lấy vũ khí địch diệt địch.


Cách mạng miền Nam lúc này giống như cái lò xo. Lò xo bị ép càng mạnh thì sức bung của nó càng mạnh. Mỹ, ngụy càng ra sức khủng bố, đàn áp đẫm máu đồng bào miền Nam bao nhiêu thì phong trào nổi dậy đấu tranh càng mạnh bấy nhiêu. Ở nhiều địa phương đã thành lập các đội vũ trang và đang rất cần sự chi viện từ ngoài miền Bắc. Ở các đơn vị miền Nam tập kết lúc bấy giờ, phong trào tình nguyện về Nam chiến đấu cũng rất sôi nổi. Cái từ "đi B" (về Nam chiến đấu) lúc bấy giờ có sức hấp dẫn, thu hút diệu kỳ đối với những người lính miền Nam tập kết. Người nào được ghi tên "đi B" đợt... 1... 2... là rất vinh dự, tự hào vì được thay mặt cho những người con vì "miền Bắc yêu thương, vì miền Nam ruột thịt" về Nam chiến đấu giải phóng quê hương.


Đơn vị đã có một số đồng chí lên đường "đi B". Tôi hy vọng sẽ được đi đợt sắp tới. Để đi được gọn nhẹ, đồ đạc cá nhân tôi tặng lại cho anh em. Tôi cũng chẳng có gì đáng kể vì thời đó, hàng tháng, mỗi người được lĩnh mấy đồng bạc gọi là "phụ cấp tiêu vặt". Tôi dùng tiền đó vào cách mua sách tự học tiếng Nga, tiếng Trung và các loại tiểu thuyết mà tôi rất thích, như "Đất nước đứng lên", "Bất khuất", "Vượt Côn Đảo"..., đặc biệt, một số tiểu thuyết nước ngoài như "Thép đã tôi thế đấy", "Sông Đông êm đềm", "Những người khốn khổ"... Anh em trong Tiểu đội ví cái ba lô của tôi là "cái tủ tiểu thuyết". Giải tán "cái tủ tiểu thuyết" ấy, tôi rất tiếc nhưng không còn cách nào khác! Giấy khen, Bằng khen của tôi trong kháng chiến chống Pháp, tôi gửi nhờ người bạn đồng hương giữ giúp nhưng không biết người bạn ấy bây giờ còn hay mất, vì sau đó người bạn ấy cũng "đi B" rồi mất liên lạc với nhau.


Thời gian tôi ở Đại đội trinh sát-đặc công không lâu nhưng cũng để lại nhiều kỷ niệm khó quên. Khắp các miền trên quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh, chỗ nào cũng có bàn chân của chúng tôi đặt đến để vừa huấn luyện vừa rèn luyện đôi chân chuẩn bị vượt Trường Sơn về Nam. Bàn chân của người lính cách mạng là bàn chân vạn dặm. Bây giờ không đi được nữa, đành ngồi một chỗ nuối tiếc một thời không bao giờ lặp lại... Vượt "sông Cấm", chiếm cảng "Cửa Lò", đánh phá "Cửa Rào"... những chặng đường tập luyện đẫm mồ hôi ấy được các cô gái xứ Nghệ mời vào nhà uống nước chè xanh với giọng nói ngọt ngào, nghe thấm ngọt đến tận tim!, nhớ mãi không phai!


Anh Dương Tấn Bộ - Chính trị viên Đại đội và tôi rất thương nhau. Anh nói: "Công việc "đi B" đã hoàn tất, bây giờ cho em đi nghỉ phép, tham quan một vài nơi cho biết trước khi "đi B", em ạ!". Tôi vừa mừng lại vừa lo! Chính trị viên thấu hiểu nỗi lo của tôi là không có tiền. Anh em trong Tiểu đội rất hiểu hoàn cảnh của nhau. Mỗi người góp mấy đồng cho tôi đủ chi tiêu trong 10 ngày phép. Khi hết phép, trở về đơn vị thì trong túi cũng hết sạch, không còn xu nào. Trên tuyến xe khách Kim Liên đi Vinh, không hẹn mà gặp người bạn tên Tôn cùng đi đã bao tiền tiêu dọc đường cho tôi về đến tận đơn vị.


Suốt mấy ngày nghỉ phép ở Hà Nội, tôi đi bộ dạo quanh các phố, có hôm ngồi hàng giờ liền ở nhà hàng Thủy Tạ, xem cụ Rùa nổi lên mặt nước, rồi vào đền Ngọc Sơn "xóc quẻ", rút thẻ. Đến cổng Phủ Chủ tịch, tôi cứ đứng đó hàng giờ nhìn vào trong sân, may ra thấy được Bác Hồ đi trong đó. Tôi nhớ da diết lời cha tôi dặn trước khi đi tập kết mà đến nay vẫn chưa thực hiện được. Ngày đi chơi, tối về, tôi ngủ lại nhà anh Trịnh Hồng Kỳ ở khu nhà tập thể mới làm phía ngoài bờ đê, phân cho cán bộ miền Nam tập kết ở tạm. Gia đình anh được đi tập kết hết, con lại đông mà đồng lương của anh chị lại rất eo hẹp cho việc nuôi 8 miệng ăn. Tất cả các con của anh chị đều được đi học, trưởng thành là nhờ chế độ bao cấp tem phiếu và gia đình anh chị cũng như nhiều gia đình cán bộ miền Nam tập kết khác cũng nhờ đó mới vượt qua được những khó khăn vào thời ấy. Sau ngày miền Nam giải phóng, gia đình anh chị chuyển về thành phố Quy Nhơn sinh sống. Mỗi lần về Bình Định thăm quê, tôi lại ghé thăm gia đình anh chị Ba Kỳ.


Còn lại 5 ngày phép, tôi lên chuyến tàu hỏa Hà Nội - Hải Phòng để thăm mấy bạn quen cùng đi tập kết đang công tác tại cảng Hải Phòng. Tôi đến thăm và ngủ lại nhà một bạn quen, nhắc lại những chuyện ở quê khi còn ở tuổi thiếu niên. Hai đứa rất thích súng (ná) cao su để bắn chim. Hai đứa mải miết đi săn chim quên cả việc chăn trâu bò nên đã để chúng ăn lúa của dân. Cũng vì vậy mà hai đứa đều bị "án" đòn-một trận đòn nhớ đời.


Tôi cũng đến trường miền Nam số 4 thăm má Thạch, người cùng quê. Má có 2 cô con gái học ở trường miền Nam số 4, Hải Phòng. Hồi đó, các cô gái miền Nam đi tập kết được coi là vừa quý vừa hiếm nên được nhiều người rất mến mộ. Tôi cũng rất mến hai cô gái con của má Thạch. Sau này, tôi có ở sân bay Cát Bi học dự khóa bay một thời gian thì chủ nhật nào tôi cũng đến nhà má chơi. Má rất quý tôi. Tuy nhiên, tôi với con gái của má không có duyên số gặp nhau.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #16 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:30:13 pm »

Mặc dù còn rất quyến luyến với đất cảng, với các cô gái học sinh miền Nam rất dễ thương, nhưng tôi đành tạm biệt vì mấy ngày phép đã hết. Tôi lên chuyến tàu hỏa Hải Phòng - Hà Nội vào một chiều mùa Thu nắng vàng rực rỡ. Nắng xuyên vào cửa sổ tàu, soi rõ mặt từng người. Tôi thấy ai ai cũng đều lim dim mắt, mặc cho tiếng kêu xình xịch, mặc cho con tàu lắc lư. Con tàu như không phải chạy mà đang bơi trên cánh đồng lúa chín vàng óng của vùng Hải Dương, Hưng Yên. Ôi! Miền Bắc thật thanh bình làm sao! Tôi hình dung đến ngày đất nước thống nhất sẽ đáp chuyến tàu hỏa như thế này từ Hải Phòng về miền Nam, đến ga Tam Quan thì xuống tàu, cùng xuống tàu về quê thăm má thăm ba có con gái của má Thạch! Rồi tôi lại tự hỏi: ngày đó có đến không và bao giờ đến? Tiếng còi tàu rú lên một hồi dài cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Tàu báo qua cầu Long Biên chuẩn bị vào ga Hàng Cỏ. Mọi người đều thức giấc, xách túi, chuẩn bị xuống tàu. Tôi rời ga, đi theo đường Trần Hưng Đạo đến đường phố Huế, theo đường xe điện về đến bến xe điện Bờ Hồ thì rẽ phải vào đường Lò Sũ, băng ngang qua đường Trần Quang Khải ra khu tập thể bờ sông. Nhưng đã hết giờ tiếp khách nên tôi không vào khu tập thể được. Tôi đành quay ra Bờ Hồ, đến đồn công an xin ngủ nhờ. Tôi trình bày lí do xin ngủ nhờ, các anh công an đồng ý ngay. Tôi đánh một giấc cho đến 4 giờ sáng thì thức dậy. Tiếng chổi quét đường sàn sạt trên đường phố đã đánh thức tôi dậy. Tôi cảm ơn các anh ở đồn công an và chuẩn bị đi đến bến xe Kim Liên. Một anh công an đã sốt sắng lấy xe đạp đưa tôi đi đến bến xe. Tôi thầm nghĩ, có thể, anh công an kiểm tra xem tôi có đúng là đến bến xe hay không. Cũng là một công đôi việc: vừa giúp được người mà lại vừa làm nhiệm vụ cảnh giác của người công an nhân dân.


Về đến đơn vị, trong lòng đang vui, tôi hào hứng kể chuyện đi Hải Phòng cho anh em trong Tiểu đội nghe thì nhận được tin chẳng thú vị gì. Đó là chuyện tôi được cử đi học Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Nguyện vọng của tôi trước sau như một, là "đi B", chưa khi nào tôi nghĩ đến chuyện học hành gì cả. Anh Dương Tấn Bộ-Chính trị viên gọi tôi lên giao nhiệm vụ. Anh nói: "Đi học cũng là nhiệm vụ Đảng giao, em hãy tạm gác nguyện vọng "đi B"để yên tâm đi học sỹ quan, phục vụ lâu dài cho quân đội!". "Quân lệnh như sơn" - là người lính thì phải nghiêm chỉnh chấp hành mặc dù trong lòng không vui. Tôi đã sẵn sàng về miền Nam chiến đấu, song đành phải gác lại. Tôi nhớ trong dân gian có câu: "Nói trước bước không qua!" và lấy đó để an ủi mình. Tôi cùng với 4 anh em nữa trong Đại đội được về Trường Lục quân kiểm tra sức khỏe và ôn văn hóa để dự kỳ thi tuyển học viên khóa 12 của nhà trường. Bốn anh em mang ba lô, đi bộ từ Đà Sơn lên bến xe Đô Lương. Chúng tôi vừa đi vừa ngắm cảnh, tạm biệt tình đất tình người cùng giọng nói dịu ngọt của các cô gái Đô Lương. Sáng hôm đó, chuyến xe khách Đô Lương - Vinh chỉ còn trống có 2 ghế, bởi vậy, hai người phải ngồi bệt xuống sàn xe. Tôi và anh Tửu xung phong ngồi bệt. Vệt nắng chiều xuyên qua cửa sổ thì xe mới bò đến thành phố Vinh. Mặc dù "kiến bò trong bụng" đã từ lâu, nhưng 4 anh em vẫn phải đi nhanh đến trạm bán vé để mua vé ngày mai đi Hà Nội bởi trạm bán vé sắp đóng cửa vì hết giờ làm việc. Chúng tôi ngồi đợi trước cửa phòng bán vé đến hơn hai tiếng đồng hồ mới nhận được vé. Nhận vé xong, bốn anh em lại phải "bôn tập" đến cửa hàng cơm vì cửa hàng cũng sắp đóng cửa. Bốn anh em đưa phiếu gạo cho o (cô) mậu dịch viên bán cơm để mua mỗi người được một đĩa cơm trắng. Nếu không có tem gạo thì chỉ được mua mì mà thôi. Cơm nước xong, bốn người lại tiếp tục "bôn tập" đi tìm nhà trọ. Ở bến xe Vinh, chỉ có mấy nhà trọ. Nhà lá, vách bằng mê nứa và vách ngăn các phòng bằng những tấm cót nên những tiếng chuyện trò thì thầm của phòng bên, chúng tôi đều nghe rõ mồn một, rồi những tiếng ếch nhái ở thửa ruộng sau nhà cứ vang suốt đêm. Tôi thiêm thiếp, chập chờn ngủ thì mơ thấy được trở về Đà Sơn gặp các cô thân quen đến thăm chúng tôi. Đang lúc ríu rít thì nghe tiếng còi ô tô đánh thức, báo hiệu ra bến xe. Chuyến xe Vinh đi Hà Nội khởi hành từ lúc còn mờ sương. Tôi căng mắt nhìn hai bên đường, nhớ lại những ngày tháng tập chiến thuật ở đây với những đêm rét cắt da cắt thịt vẫn phải nằm dưới ruộng lúa để mai phục bắt tù binh, cướp súng địch...


Xe chạy đến chợ Còng (Thanh Hóa) thì dừng lại để ăn cơm trưa. Đất Thanh Hóa đã lưu lại trong tôi không biết bao nhiêu là kỷ niệm đáng nhớ ngay từ những ngày đầu tập kết. Từ miền đồng bằng đến vùng rừng núi của Thanh Hóa, đâu đâu cũng có dấu chân của bộ đội miền Nam tập kết, đi lao động giúp dân "chiến đấu" chống chọi lại thiên tai, dịch bệnh và nghèo đói...


Qua đất Thanh thì đến Ninh Bình. Xe ghé vào cửa hàng ăn ở Gián Khuất. Tuy bụng chưa đói, nhưng đã đến bữa ăn tối. Cửa hàng ăn Gián Khuất do một bác bộ đội chuyển ngành tên là Khắc làm Giám đốc. Bác rất quýkhách hàng là bộ đội. Những người khách mặc áo lính thường được bác sắp xếp cho ngồi riêng một bàn. Bác dặn, các chú cứ nộp tem gạo cho cửa hàng theo tiêu chuẩn ăn hàng ngày của bộ đội, còn cơm không hạn chế, các chú cứ ăn thật no. Thật hiếm có người thông cảm với bộ đội như thế. Chúng tôi rất cảm ơn bác Khắc và lên xe. Xe chạy một mạch từ Ninh Bình ra đến Hà Nội là đúng 10 giờ đêm. Giờ này các nhà trọ đều đã đóng cửa nên chúng tôi vào đồn công an xin ngủ nhờ. Gần sáng, tiếng chổi quét đường của công nhân vệ sinh đã đánh thức chúng tôi dậy. Cảm ơn anh công an trực ban, bốn anh em chúng tôi đi lên bến xe Kim Mã mưa vé đi Sơn Tây. Tuyến đường Hà Nội-   Sơn Tây chỉ dài hơn 40 km, có nhiều xe khách loại nhỏ và chạy nhiều chuyến trong ngày nên dễ dàng mua vé. Xe chạy đến Sơn Tây lúc hơn 10 giờ sáng. Chúng tôi vào cửa hàng ăn mậu dịch mua mỗi người một tô mì (vì cửa hàng thông báo hết gạo) để chống đói và hành quân gần ba giờ thì tới cổng Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Chúng tôi vào cổng trình giấy tờ. Trực ban nhà trường gọi trực ban Tiểu đoàn 2 ra nhận quân. Tiểu đoàn 2 thuộc khoa đào tạo sỹ quan chính trị viên Đại đội của Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #17 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:31:37 pm »

Ngày 14 tháng 4 năm 1960, ngày đầu tiên tôi sống theo nề nếp của nhà trường - một nhà trường mẫu mực chính quy của quân đội. Lần đầu tiên tôi được mặc quần áo sỹ quan và đeo quân hàm học viên sỹ quan nên cảm thấy hãnh diện lắm! Tôi nghĩ rằng, càng hãnh diện, tự hào bao nhiêu thì trách nhiệm càng nặng nề bấy nhiêu. Đã là học viên sỹ quan là phải mẫu mực trước ba quân, song, học viên sỹ quan chính trị lại càng phải mẫu mực gấp bội - đó là lời dặn dò của đồng chí Chính ủy nhà trường - Thiếu tướng Lê Quang Hòa nói hôm khai giảng khóa học.


Trường Sỹ quan Lục quân trong kháng chiến chống Pháp gọi là Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, sau khi hòa bình (1954) được đổi tên thành Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Trường đã trải qua 11 khóa đào tạo, đến khóa tôi vào học là khóa 12 (1960-1963). Cho đến năm 1954, trường đã có hàng ngàn cán bộ ra trường, bổ sung đi khắp các chiến trường Bắc, Trung, Nam. Học viên tốt nghiệp Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn về các đơn vị, có tiếng về đức độ, tài năng, được bộ đội và nhân dân mến phục. Chúng tôi nói với nhau: mình là đàn em thứ 12 cần phải ra sức rèn luyện đê xứng đáng với các bậc đàn anh.


Ngày 14 tháng 4 năm 1960, tôi cắp sách đến lớp, nghe về lịch sử truyền thống của Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Buổi chiều ôn văn hóa. Tôi đi xem phim và gặp gỡ các anh em cùng đơn vị được đi học, cùng tâm sự cho khuây khỏa nỗi nhớ đơn vị cũ. Đúng 9 giờ 30 phút tối, kèn báo ngủ và đèn tắt.


Ngày 15 tháng 4 năm 1960. Thời tiết ở xứ Sơn Tây này hay thật. Chiều hôm qua khi chơi bóng chuyền còn toát mồ hôi thế mà sáng nay đã phải mặc áo chống rét. Núi Ba Vì-Tản Viên chìm trong màn sương mù trắng đục. Tôi ngồi trong lớp ôn văn hóa, khi đến các bài toán xác suất, lúc bí quá thì nhìn lên núi Ba Vì nhớ lại những ngày đi chiến dịch ở núi rừng Bắc Tây Nguyên. Buổi chiều, sương mù tan hết, khoảng trời Ba Vì - Tản Viên lại hiện ra xanh trong thật là đẹp.


Cơm tối xong, tôi giành 1 giờ để ôn toán xác suất.

9 giờ 30 phút tối. Kèn ngủ vang lên. Đèn tắt. Thời tiết lại mát mẻ dễ chịu nên giấc ngủ đến ngay.

Ngày 16 tháng 4 năm 1960. Kiểm tra văn hóa. Bài toán xác suất làm sai do chủ quan. Bài học đầu tiên của người học viên sỹ quan. Thầy giáo nhắc nhở: "Tính cẩn thận, cần kiểm tra lại, không bao giờ thừa đâu nghe!".

Buổi sáng sương mù dày đặc. Phải mặc áo chống rét. Tối nay thứ Bảy, không phải tập hợp điểm danh nhưng vẫn phải đề phòng báo động hành quân (tập). Mấy anh em quen thân nhau đi đến căng-tin mua mỗi người một cốc bia và một điếu thuốc lá Điện Biên (vì tiền trong túi chỉ đủ có thế).


Ngày 17 tháng 4 năm 1960. Ngày Chủ nhật đầu tiên sống ở nhà trường, gặp đợt gió mùa Đông Bắc về mạnh, gây mưa và rét. Ngày Chủ nhật cũng không có kèn báo thức nên ai muốn dậy lúc nào cũng được. Hàng cây xà cừ trước nhà bị mưa phùn phủ trắng ngọn, núi Ba Vì lấp kín trong mưa, nhà trường như còn chìm trong giấc ngủ sáng. Bỗng nghe tiếng trực ban nội vụ gọi mọi người đi ăn sáng, tôi vùng dậy thì đã 8 giờ sáng rồi. Sau bữa ăn sáng, tôi đến phòng đọc sách, đọc truyện cho đến lúc ăn trưa. Chiều đến, kéo nhau đi dạo các cửa hàng Bách hóa, hiệu phở, căng-tin, cắt tóc, may vá... với mục đích chỉ là xem hàng và trêu các cô gái Sơn Tây bán hàng với tiếng nói địa phương nghe ngồ ngộ, như "con bò" thi gọi là "con bó", "núi Ba Vì" thì nói là "núi Ba Ví"...


Tối đến, đi xem phim. Vậy là hết ngày Chủ nhật đầu tiên sống ở nhà trường trên "đất võ Sơn Tây".

Những thời gian đầu tiên của khóa đào tạo sỹ quan, lao động chiếm đa phần. Thời gian lao động dài ngày và vất vả nhất là đào mương dẫn nước cho cánh đồng Thạch Thất-Sơn Tây gần nửa tháng, phải làm thông tầm (không nghỉ trưa) để bảo đảm kế hoạch và giành danh hiệu "năng suất cao". Trong phong trào thi đua lao động, học viên sỹ quan chính trị phải dẫn đầu phong trào. Chúng tôi đã cam kết thi đua và vượt mức rất nhiều lần. Sau lao động đào mương là đến lao động đào núi, làm hầm trường bắn hiện đại nhất của quân đội lúc bây giờ.


Sau gần 1 tháng mặc bộ quần áo học viên sỹ quan Lục quân thấy rất vinh dự và hãnh diện, bất cứ làm việc gì cũng phải nghĩ đến việc phải gương mẫu. Là người sỹ quan trong quân đội anh hùng của dân tộc anh hùng thì lúc nào cũng phải mẫu mực. Khối học viên sỹ quan chính trị được nhà trường nhận xét là khối dẫn đầu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lao động xã hội chủ nghĩa.


Hôm nay, ngày 19-5-1960, toàn trường tập hợp làm lễ kỷ niệm ngày sinh nhật Bác Hồ lần thứ 70 và chính thức khai giảng Khóa 12 Trường Sỹ quan Lục quân. Tôi đứng trong hàng quân, hướng lên khán đài nhìn ảnh Bác, trong lòng trào dâng nỗi mong ước bao giờ mình được gặp Bác để chuyển lời của cha chúc Bác... Năm nay Bác đã đến tuổi 70 rồi, liệu đến ngày giải phóng miền Nam, Bác có còn khỏe không để vào thăm đồng bào trong đó có cha của mình. Nghĩ đến ngày thống nhất đất nước còn xa mênh mông quá, tôi cảm thấy lo lo...


Nhà trường lấy ngày 19-5 khai giảng học chính khóa 12 đào tạo sỹ quan chính trị đầy ý nghĩa và dấu ấn sâu sắc cho mỗi học viên chúng tôi. Mọi người phải ra sức học tập, rèn luyện theo lời dạy của Bác: "Quân đội ta luôn trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng!".


Bước vào học, tôi dành những ngày Chủ nhật lên thư viện nhà trường tìm đọc những sách mà mình tâm huyết nhất và chép lại những đoạn, những lời nói của các nhà tiền bối cách mạng. Tôi cho đây là chìa khóa nâng cao bản lĩnh của người cán bộ chính trị. Các Mác đã nói về đạo đức của giai cấp bóc lột như sau: "... Tất cả các giai cấp bóc lột đều lừa bịp và áp bức những người bị bóc lột; cướp đoạt lẫn nhau những sản vật thừa và thặng dư giá trị của những người bị bóc lột; vì thế mới tạo nên tính lừa bịp của tất cả bọn bóc lột, tạo nên tính áp bức người khác và tính tranh cướp lẫn nhau của giai cấp bóc lột, chia những sản vật thừa và thặng dư giá trị của người bị bóc lột mà sinh ra.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #18 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:33:02 pm »

Xây dựng hạnh phúc của mình trên cơ sở làm cho người khác đau khổ là đặc điểm chung của tất cả bọn bóc lột. Hy sinh tất cả hạnh phúc của nhân loại hay của số đông người, làm cho một số đông người bị đói rét và sa vào địa vị tủi nhục để tạo nên quyền lợi đặc biệt và hưởng thụ đặc biệt của một người hay một số ít người là cơ sở của sự "cao quý", "vĩ đại" và "kính trọng" là "đạo đức" của bọn bóc lột...", hoặc một đoạn khác, Mác viết: "... Giai cấp tư sản đã xé toang bức màn tình cảm phủ lên những quan hệ gia đình và đã thu hẹp những quan hệ ấy lại thành ra chỉ còn là những quan hệ "tiền nong đơn thuần"..." ... "Giai cấp tư sản đã dìm lòng mê đạo, tinh thần hứng khởi nghĩa hiệp, mối tình cảm tiểu tư sản trong dòng nước băng lạnh của lối tính toán ích kỷ... Nó đã biến phẩm chất con người thành một giá trị trao đổi tầm thường...".


Các Mác nói khi giai cấp vô sản nắm chính quyền: "... Khi giai cấp vô sản nắm chính quyền, vấn đề trước mắt phải giải quyết đầu tiên là làm thế nào để củng cố và tăng cường chuyên chính vô sản, trấn áp sự phản kháng của giai cấp bóc lột đã bị đánh gục, tiêu diệt giai cấp bóc lột chưa bị tiêu diệt hết; cải tạo hàng chục triệu nông dân cá thể và những người thủ công khác thành những người lao động tập thể..."


Tháng 6-1960, học viên nhà trường bắt đầu tập trung tập đội ngũ duyệt binh. Mồng 2 tháng 9 năm đó, kỷ niệm 15 năm ngày Độc lập. Tháng 6, đất Sơn Tây nắng và nóng cháy da, chúng tôi tập đứng nghiêm hàng giờ đồng hồ ngoài trời, ai chịu đựng được thì được đưa vào đội hình chính thức duyệt binh. Khối duyệt binh của học viên sỹ quan Lục quân là nòng cốt của đội hình duyệt binh. Các trường khác lấy đó làm chuẩn để đi theo. Chúng tôi rất tự hào và hãnh diện, ra sức tập cả ngày lẫn đêm, phải đạt điểm cao nhất khi kiểm tra. Cấp trên kiểm tra, rất hài lòng về khối sỹ quan chính trị.


Những ngày Chủ nhật được nghỉ, tôi vẫn say đọc sách ở thư viện và ghi lại những điều tôi cho là rất bổ ích cho mình phấn đâu. Những đoạn bổ ích cho học tập chống chủ nghĩa cá nhân như sau: "... Khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn nghiêm trọng với lợi ích tập thể thì chủ nghĩa cá nhân càng dễ phát triển... Chủ nghĩa cá nhân thường biểu hiện: kiêu ngạo, địa vị, quan liêu, tự do chủ nghĩa, bình đẳng tuyệt đối, mệnh lệnh, chơi trội, bè phái mất đoàn kết, tư tưởng vương quốc, vô chính phủ, đả kích báo thù, đặc quyền phi chính trị, kỹ thuật đơn thuần, không yên tâm công tác, xa xỉ, lãng phí, tham ô, hủ hóa, sợ khó, xa rời quần chứng, bạc nhược công tác...

Đảng viên mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa thì sẽ:

- Không cả gan, hăng hái, sôi nổi, chăm chỉ, siêng năng.

- Không trung thành, cầu thị tiến bộ.

- Không gương mẫu, lập trường không vững.

- Không bảo vệ sự đoàn kết, phá sự đoàn kết.

- Không có quan điểm quần chúng, không tin tưởng quần chúng.
   
- Thiếu cảnh giác cách mạng, không phân biệt đúng mâu thuẫn địch và địch, ta và ta.

- Không cố gắng nghiên cứu kỹ thuật nghiệp vụ.

- Không học tập, lười học mà đòi tiến bộ."...


Tháng 6 đi qua cũng là kết thúc khoa mục đứng nghiêm. Tiếng hô "Nghiêm" nghe gọn vậy, nhưng tập đứng nghiêm hàng giờ, trên đầu nắng lại nóng như đổ lửa, dưới bàn chân thì nóng như dẫm vào nước sôi bấy giờ mới thấm thìa cái từ đứng "nghiêm". Trong đời quân ngũ, nếu ai có gặp may được một lần như thế ắt sẽ không bao giờ quên. Bước vào tháng 7, tập đi đều, đi nghiêm. Những ngày Chủ nhật, tôi vẫn giữ nề nếp đọc sách, đọc các sách bổ ích cho bài học xây dựng chi bộ Đảng, gương đảng viên và cũng ghi lại những trang đáng nhớ về các bậc tiền bối cách mạng. Trong sinh hoạt Đảng, chi bộ được xác định là: "Chi bộ là Đảng trong quần chúng, là linh hồn của phong trào cách mạng trong một xí nghiệp hay địa phương. Chi bộ là trung tâm điểm thu hút quần chúng, khác nào đá nam châm thu hút những mảnh sắt vụn. Chi bộ là nơi kết nạp những đảng viên mới, là trường học dạy những đảng viên, ví như ruộng mạ để gây thành những cây lúa". Đó là bài trong báo "Cờ Giải Phóng" ngày 10-10-1942 - Tân Trào.


Tống Văn Trân, người đảng viên của Đảng đã để lại tấm gương mẫu mực cho muôn đời con cháu: khi bị đi đày đã lấy máu vẽ búa liềm lên ngực áo. Máu khô có màu nâu, búa liềm càng rõ nét. Người mang búa liềm máu trên ngực áo ấy là Tống Văn Trân.

Những người cộng sản thuộc lớp đầu tiên như thế đấy. Họ mê say lý tưởng cao đẹp nhất của loài người. Đầu óc họ chói lòa ánh sáng mới, chân lý mới. Họ tin chủ nghĩa cộng sản sẽ thắng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng làm công tác cách mạng, nghĩa là tuyên truyền, giác ngộ, vận động, tổ chức. Tiếng hô khẩu hiệu, tiếng hát và tiếng nói của Tống Văn Trân và các đồng chí của anh còn vọng mãi đến bây giờ, sau này và mãi mãi.


Sở Đầm (Côn Đảo) là nơi đóng thành công chiếc thuyền gỗ đầu tiên để vượt ngục. Đêm ấy vào cuối mùa Xuân, dưới ánh trăng sáng nhờ nhờ, thuyền Tống Văn Trân và các đồng chí của anh ra khơi. Chuyến ra khơi ấy, trong lịch sử vượt Côn Đảo là chuyến đầu tiên về tới đất liền. Chín đồng chí yêu mến của chúng ta đã làm thế nào mà vượt trót lọt được. Cuộc đời cách mạng đã dành cho người chiến sỹ được sống những cảnh đời thật cao rộng, con người vươn lên lồng lộng trươc quân thù và trước cả thiên nhiên. Còn gì đẹp bằng những con người giành lại được tự do như một đàn chim bằng sổ lồng, tháo cũi bay vù ra khơi xa thăm thẳm! Trên sóng trắng trùng dương là buồm căng gió...


Tháng 7 đi qua, kết thúc khoa mục tập đi đều và đi nghiêm. Gần một tháng trời phơi ngoài nắng hè ở đất Sơn Tay, người nào người nấy đen như "cột nhà cháy", nhưng thân hình săn chắc lên nhiều lắm, không còn là những sinh viên sỹ quan quân đội da hồng hào, đẹp trai cho các cô gái Sơn Tây ngắm trộm nữa. Sang tháng 8 là giai đoạn hợp luyện, cả đội hình duyệt binh bắt đầu tập. Chúng tôi phải chịu đựng cái "nắng tháng Tám rám trái bưởi" đúng như câu nói ví von trong dân gian. Trên trời nóng, dưới đất nóng, xung quanh đều nóng, khắp nơi nóng... Suốt ngày mồ hôi chảy nhễ nhại...Thời gian đi qua rất nhanh, không đến một tháng nữa thì giờ phút vinh quang cho người học viên sỹ quan chính trị sẽ đến! Tôi nghĩ đến những phút giây mình đi nghiêm qua lễ đài Ba Đình, trên đó có Bác Hồ đứng vẫy tay chào! Ôi vinh quang và sung sướng biết bao trong đời quân ngũ của mình! Tôi mạo muội nghĩ: Bác Hồ mà biết trong đoàn quân diễu qua lễ đài có những người con của đồng bào miền Nam ruột thịt thì chắc Bác vui lắm!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #19 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2025, 09:33:59 pm »

Thời gian vào học nghiệp vụ, tài liệu nhiều, thi cử khắt khe, tôi không còn thời gian đọc truyện tấm gương của lớp người đảng viên trước cách mạng tháng Tám. Vì vậy, trong tháng 8, tôi phải tranh thủ đọc cho xong và ghi lại những điều tâm đắc nhất, hữu ích cho công tác chính trị.


Nói về thời kỳ đen tối của cách mạng và các đồng chí đảng viên trung kiên của Đảng nói gì? "... Năm 1932, hàng ngàn đồng chí bị bắn chết, hàng vạn đồng chí vào các nhà tù, các trại giam. Chính dưới làn sóng khủng bố trắng của thực dân Pháp ấy, cơ sở Đảng ở mọi noi bị đập phá cơ hồ tan nát. Trong phong ba bão táp, Đảng Cộng sản Đông Dương vào tuổi còn thơ non đã tỏ rõ cốt cách gang thép của mình. Dù trong lao tù hắc ám, lạc trên núi cao hay lọt giữa biển cả, xa lìa đông đảo quần chúng nhân dân là nguồn máu nóng của mình, Đảng của chúng ta vẫn vận dụng trí tuệ tập thổ không ngừng sáng tạo và năng lực tổ chức khoa học góp phần chuẩn bị cho đội ngũ và sức mạnh cho những trận chiến đấu mới.


Câu nói của đồng chí Trần Phú hồi tháng 5-1931 trước tòa đại hình của thực dân Pháp ở Đông Dương: "... Trong cuộc đấu tranh giữa chúng tôi-những người mất nước và các ông-những kẻ cướp nước, sự hy sinh như tôi là lẽ dĩ nhiên. Nhưng cuối cùng, chúng tôi sẽ thắng!...". "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!..." - câu nói cuối cùng ấy của đồng chí Trần Phú cũng là câu tóm tắt cuộc đời hành động tuy ngắn ngủi nhưng sáng ngời dũng khí của người cộng sản. Đó cũng là câu nói cuối cùng của đồng chí Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, mãi mãi khắc sâu vào tâm khảm của những người cộng sản Việt Nam.


Năm 1930-1931, vụ án Lý Tự Trọng - một vụ án tốn nhiều giấy, mực... làm chấn động và thức tỉnh tinh thần yêu nước trong thanh niên. Lý Tự Trọng - người cộng sản Việt Nam đầu tiên ra trước tòa án đại hình của thực dân Pháp, đã giữ một khí phách cách mạng rất cao cả: "... Tôi hành động không phải là không suy nghĩ. Tôi hiểu việc tôi làm. Tôi làm vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đủ tuổi thanh niên nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng con đường thanh niên Việt Nam phải đi. Tôi tin rằng các ông suy nghĩ kỹ thì các ông cũng thấy cần phải giải phóng dân tộc, giải phóng những người cần lao như tôi..."


Nói về đồng chí Lê Hồng Phong: "... Đồng chí Lê Hồng Phong, bí thư kính mến của Đảng đã anh dũng hy sinh vì Đảng, vì nhân dân. Gương tận tụy cách mạng và lòng tin tưởng săt đá của đồng chí Lê Hồng Phong cùng với gương sáng của các tiên liệt cách mạng đã chiếu rọi con đường chúng ta đi, thấm nhuần trong tư tưởng và công tác chúng ta, giúp chúng ta tăng thêm sức mạnh để vượt qua những giờ phút gian nguy nhất trong cuộc giao tranh với quân thù..." (Báo Nhân Dân số 73, ngày 11-9-1952).


Nói về tấm gương của đồng chí Lê Viết Thuật: "... Bữa cơm chiều hôm nay lại vẫn như thường lệ: lá rau tàu bay nấu với muối. Cơm bữa thay bằng thân cây đu đủ giã nhỏ trộn với cám rang. Cuộc đời khổ cực của đồng chí Lê Viết Thuật đã qua, nhưng tinh thần sắt đá, ý chí kiên cường, sự hy sinh vô bờ bến cho Đảng, cho nhân dân vẫn mãi mãi còn đây. Ai qua nhà ngục Vinh mà không dừng lại trầm ngâm giây lát, nhẩm lại hai câu khẩu hiệu "Liên bang Xô-viết muôn năm!", "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!" viết bằng máu với ngón tay cụt chỉ còn một nửa. Dòng chữ lờ mờ trên tường đá nhưng đọc qua dòng chữ đó không thể không nhớ lại một trang sử oanh liệt của Lê Viết Thuật, của người Xô-viết Nghệ An".


Cuộc đời quân ngũ may ra cũng chỉ được một lần đi duyệt binh qua lễ đài 2-9 chào mừng ngày Quốc khánh, vậy mà tôi từ chính thức phải xuống đội dự bị. Khi bắt đầu vào tập, đo chiều cao đủ, nhưng đến hôm 1-9 đo lại để chuẩn bị đi duyệt chính thức thì bị thiếu mất mấy li chiều cao. Tôi tiếc ngẩn ngơ, chắc là do tập đứng nghiêm nhiều quá nên bị chùn chân chăng?


Ngày 7-9-1960, Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc phòng Trung Quốc sang thăm Trường Sỹ quan Lục quân Việt Nam. Học viên toàn trường tập trung trước sân hiệu bộ nghe ông ta phát biểu. Tôi tranh thủ ghi tóm tắt lời ông nói như sau: "... Chiến đấu muốn thắng lọi người sỹ quan phải nắm chắc tình hình địch và ta, địa hình ta và địch... Phải biết hướng nào là chủ yếu kẻ địch sẽ tấn công ta, như thế có lợi cho chúng. Như thế chúng ta sẽ tập trung quân và hỏa lực hướng đó trội hơn. Như thế nếu kẻ địch tấn công, chúng ta sẽ dần cho chúng nó nhừ tử và cuối cùng chúng sẽ thất bại. Nếu chúng nó tấn công ở hướng thứ yếu của chúng ta, chúng nó càng thất bại hơn..."


Tháng 11-1960, bắt đầu vào học chính trị cơ bản gồm duy vật biện chứng, triết học, chính trị - kinh tế, chiến tranh...

"... Chiến tranh đã tàn phá hàng ngàn thành phố, hàng vạn làng mạc, tiêu diệt hàng trăm triệu sinh mệnh trên Trái Đất. Chiến tranh làm đảo lộn cuộc sống bình thường, tiêu hủy một chế độ xã hội này, làm nảy sinh những chế độ xã hội khác, kìm hãm hoặc thúc đẩy lịch sử trong một mức độ nhất định... Nhưng chiến tranh không thể thay đổi được hướng phát triển chung của xã hội loài người. Hướng phát triển đó cuối cùng vẫn do điều kiện kinh tế quyết định...". "... Chiến tranh có tính chất lịch sử, nghĩa là nó sinh ra trong thời đại này và sẽ mãi mãi mất đi trong thời đại khác. Chiến tranh đi qua suốt cả lịch sử có giai cấp, là sản phẩm của xã hội có giai cấp và sẽ mất đi cùng với thời đại lịch sử chia xã hội thành giai cấp...". "... Thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong tất cả các nước có nghĩa là sự thành lập một xã hội mà nguyên tắc quốc tế là hòa bình và trong đó mọi dân tộc chỉ có một chủ nhân là lao động.(Mác - Ăng-ghen).


Kết thúc tháng 11-1960, nhà trường tổ chức kiểm tra lý luận về triết học Mác - Lê-nin, duy vật biện chứng... Tôi dự kiểm tra đạt điểm 5 (hồi đó thang điểm cao nhất là 5). Tôi đã đọc nhiều sách cua Mác, Ăng-ghen, Lê-nin. Khi trả lời câu hỏi của thầy, tôi đã dẫn chứng được một số câu then chốt trong sách, do đó mới được điểm cao tột cùng như vậy. Sự thật, tôi vừa trả lời vừa run vì mình đâu có giỏi chính trị!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM