Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 05:31:27 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nhớ về bầu trời năm ấy  (Đọc 4963 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #60 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 07:58:08 pm »

Chặng đường tôi về lại bầu trời Quê Mẹ

Tôi lớn lên khi biết yêu mặt đất đồng thời cũng biết yêu bầu trời. Bầu trời Quê Mẹ tôi đẹp lắm! Mùa Hè thì trong xanh, không một gợn mây. Tôi nằm ngửa trên lưng bò ngắm bầu trời trước lúc trời tắt nắng thật dịu êm. Có lúc lim dim ngủ cho đến khi bò về đến cổng chuồng, dừng lại thì tôi mới tỉnh ngủ. Nhưng thời gian như vậy hiếm lắm, mấy khi máy bay giặc Pháp để cho bầu trời quê tôi được bình yên. Giờ đây thì máy bay giặc Mỹ thay thế, chúng không chỉ trút bom đạn mà còn rải xuống biết bao nhiêu là chất độc nữa. Chặng đường tôi bay về bầu trời Quê Mẹ cũng đầy chông gai, mặc dù không có những trận không chiến nao nhớ đời nữa.


Sau khi "Mỹ cút" khỏi bầu trời miền Bắc. Bầu trời được bình yên thì tôi cũng được lên đường đi học tập (đi Liên Xô) để về chuẩn bị con đường "đánh cho ngụy nhào".

Giữa tháng 8-1973, tôi cùng 9 người nữa lên đường đi sang Học viện Hàng không Xô-viết mang tên nhà quân sự kiệt xuất của Xô-viết là Ku-tu-dôp - Cờ Đỏ - Ga-ga-rin (mà ta quen gọi là Học viện Ga-ga-rin) chuyên đào tạo chỉ huy cấp chiến dịch cho khối Vác-sa-va và các nước Xã hội chủ nghĩa. Học viện đóng tại thành phố Mô-nhi-nô cho nên thường nói tắt là Học viện Mô-nhi-nô.


Mô-nhi-nô cách Mạc Tư Khoa khoảng 40-50 km. Thứ Bảy, chúng tôi nhảy tàu điện lên Mạc Tư Khoa chơi, thăm bạn bè rồi tối Chủ nhật lại xuôi tàu điện về Học viện thật tiện lợi.

Chương trình học cực kỳ hóc búa. Việc kiểm tra sát hạch bài học là thường xuyên. Chúng tôi nói với nhau là chỉ cần học và thi đậu thôi là đã xứng đáng phong quân hàm Tướng rồi, chứ chưa cần nói đến việc chỉ huy đánh đấm ra sao.

Tôi lại được sống một mùa Đông ở đất nước Xô-viết rét buốt nghiệt ngã nữa. Có những ngày nhiệt độ âm đến hơn 30 độ, tuyết rơi ngập trắng đồng. Rét buốt ghê vậy nhưng đến giờ tập trượt tuyết là phải ra bãi trượt. Đó cũng là một khoa mục bắt buộc. "Đã là sỹ quan thì phải giỏi trượt tuyết..." - ở đất nước Xô-viết là phải như vậy đó!


Thời gian ở Học viện trôi qua cũng rất nhanh. Kết thúc về nước cũng bằng chuyên tàu liên vận. Thật không may, chuyến của chúng tôi lại trùng vé tàu hai đoàn về cùng một số ghế nên đành chịu chật với nhau, thay phiên nhau mà nằm nghỉ chứ biết làm thế nào nữa!


Về đến Hà Nội, tôi được về Tam Đảo nghỉ 2 ngày với vợ và 2 con. Khi tôi đi học mới có 1 con gái là Hồng Tâm, nay về đã có thêm con trai, vợ chồng tôi thống nhất đặt tên cho con là Hồng Hưng - Nguyễn Hồng Hưng. Trong đời tôi không có gì vui sướng, hạnh phúc bằng khi có 2 đứa con! Cô Dậu - người vợ vô cùng yêu quý đã đem lại cho tôi nguồn hạnh phúc bất tận từ đây, từ trên đỉnh núi Tam Đảo xanh lơ này!


Tôi định xin ở nhà thêm mấy ngày nữa với con, nhưng tối nay, Bộ tư lệnh đã cho xe lên Tam Đảo đón tôi phải về đơn vị ngay để đi công tác. Lúc này tôi đã được trên giao giữ chức vụ Phó tư lệnh Sư đoàn. Sư đoàn có tên là Sư đoàn Không quân 371. Tôi được trên giao nhiệm vụ chỉ huy Tổ đại diện của Không quân tham gian diễn tập với Quân đoàn 1 đóng quân ở Giang Mô, Ninh Bình. Tình huống diễn tập được đặt ra là: Quân đoàn 1 tấn công đánh chiếm một thành phố lớn ở miền Nam, có Hải cảng và khu quân sự liên hợp Hải - Lục - Không quân mạnh nhất ở miền Nam. Tổ lập kế hoạch của Không quân do tôi phụ trách về việc chi viện hỏa lực cho Quân đoàn khi tấn công cũng như khi lâm thời phòng ngự được đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Hòa-Tư lệnh Quân đoàn phê chuẩn với lời khen: "Không quân lập kế hoạch rất bài bản!". Chẳng là kế hoạch được lập theo bài bản học được ở Học viện mà!


Kế hoạch chi viện hỏa lực của Không quân cho Bộ binh tấn công được Ban giám khảo cho điểm 5. Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ thật mỹ mãn! Tạm biệt Quân đoàn 1. Tạm biệt đất Giang Mô, Ninh Bình - mảnh đất tuy chúng tôi "đậu" không lâu nhưng tình đất tình người đã để lại dấu ấn khó quên: 7 cô gái tuổi xinh mơn mởn bị gió cuốn lật thuyền ra đi mãi mãi với Hà Bá trên hồ Giang Mô. Rồi tiếp theo là 7 chàng trai trẻ đi trên chiếc trực thăng Mi-6 (toàn bộ tổ bay) đã bị đâm vào núi đá vôi Tam Điệp, hồn thiêng gửi cho trời Tam Điệp vĩnh hằng!


Kết thúc diễn tập, tôi được lệnh trên phải khăn gói vào sân bay Đồng Hới ngay. Vào để tổ chức Sở chỉ huy phía trước của Không quân. Sở chỉ huy có nhiệm vụ chỉ huy Không quân chiến đấu bảo vệ phía Nam khu Bốn, bảo vệ vận chuyển cho chiến trường, đồng thời cũng sẵn sàng cơ động lực lượng, phương tiện chỉ huy theo Bộ binh tấn công giải phóng miền Nam.


Suốt cả năm 1974, tôi được Bộ tư lệnh Binh chủng phân công thường xuyên trực ở Sở chỉ huy tiền phương đóng ở sân bay Đồng Hới. Mỗi quý ra Hà Nội họp vài ngày để quán triệt Nghị quyết và tranh thủ về lại Trung đoàn Không quân 927 ở sân bay Kép để bay hồi phục mấy hôm rồi lại vào Đồng Hới ngay. Tuy bầu trời miền Bắc rất yên ả từ khi Mỹ chấm dứt chiến tranh phá hoại đến nay, nhưng miền Nam thì ngày càng căng thẳng hơn. Ta đang tích cực điều chỉnh lực lượng, phương tiện, vũ khí, hậu cần... chuẩn bị thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về thực hiện kế hoạch giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong vòng 2 năm là 1975-1976. Nghị quyết ra rất hợp lòng dân, ai cũng sướng vui, sẵn sàng xông ra mặt trận. Ngày thống nhất về thăm quê chỉ còn tính bằng tháng bằng ngày nữa mà thôi...


Ở sân bay Đồng Hới, đêm nào ngủ tôi cũng thấy mình bay về trên bầu trời quê hương xanh thắm, trên cánh đồng Trang quê Mẹ! Mở mắt thức dậy thì nghe tiếng sóng vỗ vào bờ cát ầm ầm mới tỉnh hẳn... À! Đây còn là đất Quảng Bình (Đồng Hới)!

Mùa Hè năm 1974 nóng bỏng ở sân bay Đồng Hới đã trôi qua cũng là một mùa Hè đầy ắp kỷ niệm trong tôi ở đầu cầu miền Bắc chi viện cho miền Nam. Kế hoạch vận chuyển tiếp tế hậu cần cho miền Nam chuẩn bị cho cả hai năm 1975-1976 đã hoàn thành. Ngồi trên Đài chỉ huy ở sân bay Đồng Hới nhìn ra đường quốc lộ số 1, tôi thấy từng đoàn xe ca chở quân, xe tải chở hàng vào Nam mà sướng mắt hết sức! Nghĩ đến cái ngày Tổng tiến công không còn xa xôi gì nữa! Có nghĩa là cái ngày thống nhất đất nước tôi được về quê thăm ba, má, thăm các anh, chị, em thật mừng vui không gì bằng!


Qua mùa Hè nóng bỏng lại đến mùa Đông mưa phùn gió biển. Sân bay Đồng Hới là sân bay đất. Đất ướt, máy bay MiG-21, MiG-17 không thể hoạt động được do ướt lún. Máy bay được điều ra các sân bê tông ngoài Bắc để huấn luyện. Ban đêm, loài chim se sẻ về đậu và ngủ trên các bãi cỏ rất đông. Anh Lưu Huy Chao rất thiện nghệ chuyện đi úp chim về cắt lấy tiết pha với rượu "cuốc lủi" để nhấm nháp với thịt se sẻ nướng, tuyệt vời lắm. Nhưng những ai xa vợ thì không nên uống rượu pha tiết chim se sẻ vì... làm cho "của quý" rất sung mãn, khó ngủ...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #61 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 07:59:53 pm »

Mấy tháng mùa Đông không có máy bay hoạt động, tương đối rảnh rỗi, chúng tôi rủ nhau sang khu giải phóng Đông Hà-Cam Lộ tham quan khu tiếp khách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nơi đây đã từng đón tiếp Chủ tịch Phiđen Catxtơrô. Ông là lãnh tụ cách mạng Cu-ba đầu tiên đến thăm Việt Nam. Ông đi cùng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.


Kết thúc năm 1974, đón năm mới 1975, tôi được Quân chủng cho về ăn Tết với gia đình ngoại trên Tam Đảo. Trước khi ra Bắc, tôi không quên ghé qua làng Quang Phú mua mấy chai nước mắm và mấy cân cá khô về Tam Đảo làm quà ăn Tết Tân Mão... Sau khi nghỉ Tết xong, tôi lại trở lại sân bay Đồng Hới tiếp tục làm nhiệm vụ chỉ huy phía trước của Không quân. Tình hình chiến trường sôi động dần lên. Ta một số trận đánh thăm dò sự phản ứng của Mỹ. Mỹ cũng vần giở giọng ngoan cố, tuyên bố "ủng hộ Thiệu đến cùng". Ta tích cực hoàn thiện kế hoạch chuẩn bị tấn công Buôn Ma Thuột, đồng thời tăng cường lực lượng nghi binh ở Kon Tum và Plây Cu.


Tháng 3-1975, chiến dịch Tây Nguyên mở màn. Ngày 10-3 khai hỏa tấn công thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là trận mở màn giống như cách đây 20 năm (1954): cũng tháng 3 mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ - khai hỏa ngày 13-3-1954, đánh chiếm căn cứ Him Lam. Từ trận đầu đánh thắng đã đưa đến giải phóng miền Bắc và nay cũng vào tháng 3, trận đánh thắng sẽ làm cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc!


Tháng 3, miền Bắc trời vẫn còn rất xấu: mưa phùn, sương mù và mây thấp... làm cho Không quân tiêm kích khó hoạt động nhưng ở vùng "cán xoong" này trở vào Nam thì trời tốt, ít mây. Trên Quân chủng cho triển khai 1 Phi đội MiG-17 ở sân bay Đồng Hới, bởi vậy công việc của tôi lúc này rất bận rộn. Đi tổ chức hiệp đồng với các lực lượng chiến đấu bảo vệ khu Bốn, đồng thời sẵn sàng chi viện cho mặt trận. Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, tình hình chiến đấu phát triển rất nhanh, ta giành thắng lợi ròn rã từ Nam Bộ ra đến Tây Nguyên - Khu 5... Thắng lợi như chẻ tre! Thiệu cho quân ngụy "tùy nghi di tản" càng làm cho quân ngụy rối loạn... Tướng ngụy ở Quân khu 1 - Ngô Quang Chưởng tuyên bố tử thủ bảo vệ Đà Nẵng, nhưng chính hắn lại là tên tướng bỏ Đà Nẵng chạy ra biển theo Mỹ đầu tiên khi cuộc tấn công của ta vào Đà Nẵng.


Ta đã giải phóng gần lãnh thổ cái gọi là Việt Nam Cộng hòa nhưng Mỹ chưa có triệu chứng can thiệp giúp Thiệu, bởi vậy, chủ trương của trên chưa nên sử dụng Không quân vào hỗ trợ cho Bộ binh tấn công mà nên tận dụng số máy bay chiến lợi phẩm A-37, F-5... của ngụy bỏ chạy để đánh lại ngụy là phương sách tốt nhất, làm cho Mỹ không có cớ can thiệp bằng Không quân vào miền Nam lúc này, mặc dù có 2 tàu sân bay đậu ngoài biển Đông.


Chặng đường tôi bay về bầu trời quê cha đất mẹ thực sự được bắt đầu từ ngày 30-3-1975. Tôi bay về bầu trời quê cha đất mẹ không phải bằng máy bay chiến đấu MiG-21 mà là bằng máy bay trực thăng Mi-8, bay kiểu "nhảy cóc" từ sân bay Phú Bài - Đà Nẵng - Phù Cát - Phan Rang.


Chính vì kiểu bay đó mà tôi đã suýt toi mạng ở Nha Trang.

Chiều 30-3 Tư lệnh Lê Văn Tri cùng với một đoàn cán bộ trong đó có tôi đi trên chiếc trực thăng Mi-8 số 77 mở đường bay vào sân bay Phú Bài, bay sau là chiếc trực thăng Mi-6 do Lê Đình Kỷ lái cùng bay vào Phú Bài. Chuyến bay mở đường hơi liều mạng nhưng an toàn, tuy đuôi máy bay có bị vướng đạn AK của bộ đội ta bắn lúc bay qua Huế.


Đêm hôm đó, sân bay Phú Bài còn rực lửa của các loại súng bộ binh cộng với các loại pháo sáng bắn lên trời để ăn mừng chiến thắng. Cũng phải thôi vì hàng ngàn năm mới có mà!...

Ngày 6-4-1975, tôi bay vào sân bay Đà Nẵng. Sân bay mới được giải phóng 1 tuần lễ còn ngổn ngang đủ loại máy bay, xe cộ, súng ống trang bị của lính đủ kiểu loại vứt lại để tranh nhau xuống tàu rút ra biển.

Quân chủng đưa một phần phi công và thợ máy của Trung đoàn Không quân 923 vào Đà Nẵng để tổ chức bay chuyển loại từ MiG-17 sang A-37 (máy bay chiến lợi phẩm ta thu được của Sư đoàn 1 Không quân ngụy ở sân bay Đà Nẵng). Tổ chức học lý thuyết A-37 và bay tập do anh Phạm Ngọc Lan phụ trách. Nguyễn Thành Trung từ Lộc Ninh được tổ chức đưa ra Đà Nẵng để làm giáo viên bay, ngoài ra, ta còn tuyển thêm một số phi công và thợ kỹ thuật A-37 của ngụy còn trốn tại Đà Nẵng. Ta phát thanh gọi anh em tự nguyện ra đăng ký phục vụ cho cách mạng. Lúc này, ta đặt tên cho số ấy là "nhân viên mới".


Ngày 14-4, tôi bay ra Quân chủng nhận nhiệm vụ Đại diện Không quân ở Sở chỉ huy tiền phương tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhận nhiệm vụ xong lại bay vào sân bay Đà Nẵng ngay. Bay ra và bay vào đều dùng trực thăng Mi-6. Ngày 16-4-1975, tôi có mặt ở Đà Nẵng.


Ngày 24-4-1975 tôi bay vào sân bay Phù Cát bằng trực thăng Mi-8 số 77 sơn cờ mặt trận giải phóng, cùng đi có tổ chỉ huy với máy móc thông tin đầy đủ.

Đây là lần đầu tiên tôi về nhìn thấy lại mặt đất, bầu trời quê hương đúng sau 20 năm xa cách. Từ trên không trung nhìn xuống mà bồi hồi nhớ lại thời thơ ấu - tuổi thơ ấy! Ôi! Sung sướng quá! Tôi mường tượng lại những gương mặt sạm nắng "bán lưng cho trời, bán mặt cho đất" quanh năm của cha, của mẹ, của anh Ba Tuần, chị Ba Cẩn, anh chị Năm Phòng, anh chị Sáu Hoa, em Tám Khê, chú Chín Nhơn... Rồi đây, máy bay hạ cánh, tôi sẽ được gặp lại! Nhưng máy bay hạ cánh xuống sân bay, tôi còn phải tiếp tục theo chiến dịch, chưa có thể ghé qua làng quê được.


Chiến dịch Hồ Chí Minh đang diễn ra thực hiện lời Bác Hồ dặn trước lúc Bác đi xa: "đánh cho ngụy nhào!...". Giờ đây là thời cơ có một không hai để "đánh cho ngụy nhào". Ngồi trên chiếc trực thăng Mi-8 lướt qua bao xóm làng xưa ở Quảng Ngãi sao mà bồi hồi, sao mà da diết, nhớ các má, các chị, các em một thời trai trẻ mến thương ấy bây giờ đã 20 năm sao xa lắc xa lơ rồi! Ôi! Sao mà nhớ quá!...


Máy bay bay qua Đức Phổ, nơi Anh hùng Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh. Rồi bay tới Hoài Nhơn "... mỗi đường băng một Tam Quan đợi chờ..." đây rồi! Nhưng rừng dừa Tam Quan đâu còn nữa, chỉ còn lại thân cây trơ như những cây chông mà thôi! Bay qua thung lũng Vũ Sơn, Bình Đê - nơi bầu trời của cha, đất lành của mẹ là nơi mà cha quanh năm bán lưng cho trời để nuôi con khôn lớn và cũng là nơi mà mẹ quanh năm bán mặt cho đất để nuôi con trưởng thành. Ôi! Da diết, bâng khuâng nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ anh, nhớ các chị và em!


Biền biệt 20 năm xa cách nay tôi mới thấy lại dáng dấp quê hương từ trên trời nhìn xuống. Nỗi thương, nỗi nhớ dồn nén nghẹn trào!...

Máy bay đáp xuống sân bay Phù Cát tra dầu, chuẩn bị để bay tiếp vào Phan Rang - nơi sẽ lập Sở chỉ huy phía trước của Không quân tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố Sài Gòn.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:10:07 pm gửi bởi thongdiepthoigian » Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #62 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:01:00 pm »

Ngày 26-4-1975, trời Bình Định trong xanh, tầm nhìn xa tuyệt vời. Tôi thức dậy thật sớm, ra sân, đứng nhìn về phía biển, nhớ lại tuổi thơ ở quê, cũng giờ này đi ra cánh đồng Trang để cài bẫy bắt chim giẽ! Sao mà thích thú! Thích thú lắm! Bây giờ nhớ lại càng thấy thích thú làm sao!


Từ đây, tôi chia tay với thủ trưởng Đào Đình Luyện - Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân. Ông đại diện cho Quân chủng đi lên hướng Tây Nguyên để cùng đi với Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng tiến quân về Sài Gòn. Cũng tại sân bay Phù Cát, tôi chia tay với thủ trưởng Trần Mạnh đi bằng ô tô vào Thành Sơn. Thủ trưởng Đào Đình Luyện đi bằng máy bay trực thăng Mi-6 lên Tây Nguyên. Tôi đi bằng máy bay trực thăng Mi-8 số 77 có sơn cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từ Phù Cát bay thẳng vào Thành Sơn để chuẩn bị tiếp thu 5 chiếc A-37 từ Đà Nẵng bay vào Thành Sơn mắc bom đi đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Định ngày 28-4-1975 là bắt đầu oanh kích.


Trên giao: chỉ nội trong ngày 28-4-1975 mà thôi. Nếu bỏ qua thì không còn cơ hội nào nữa!

Tất cả đã ngồi trên chiếc trực thăng Mi-8 số 77, gồm tổ bay, tổ sỹ quan tác chiến và tôi đều rất vui, cùng nhau xác định rằng "đây là chuyến bay cảm tử" vì phải bay qua đầu các Quân đoàn chủ lực đang hành quân vào Sài Gòn, có hỏa lực Phòng không rất mạnh, nhưng ta lại chưa thông báo được cho họ biết rằng "có chuyến bay trực thăng Mi-8 vào" và bay qua trên đầu hỏa lực của Bộ binh.


8 giờ ngày 26-4, Mi-8 cất cánh bay qua đường 19 vào Phú Yên. Tôi lại nhớ đến sự tích đường 19, con đường có nhiều chiến công huyền thoại trong chiến đấu với thực dân Pháp cũng như trong chiến đấu đánh Mỹ của quân dân ta. Ở đó có chiến công bất tử của Ngô Mây ôm bom lao vào đội hình giặc, ngăn chặn cuộc tấn công của giặc Pháp xâm chiếm quê hương Bình Định năm 1945. Tấm gương Anh hùng bất tử của anh Ngô Mây sống mãi với đất nước và với quê hương Bình Định.


Máy bay bay qua Bình Định an toàn và đi vào đất Phú Yên - mảnh đất mà máu của tôi đã từng đổ để bảo vệ nhân dân năm 1954 trong Chiến dịch Át-lăng. Bay qua hòn núi có tên là Núi Sầm, nơi đó trận đánh năm 1954 của Đại đội 12, Tiểu đoàn 365 có hơn 30 đồng đội của tôi đã hy sinh oanh liệt và trong trận đó tôi cũng bị thương ở bàn tay.


Máy bay rời vùng trời Phú Yên bình yên và bắt đầu vào đất Khánh Hòa, bay đến khoảng trời Cầu Bóng, Nha Trang thì bị pháo cao xạ 37 li bảo vệ Cầu Bóng bắn lên dữ dội và lập tức, các loại súng bộ binh bảo vệ sân bay Nha Trang cũng bắn lên mãnh liệt. Máy bay bị thương nặng. Lái trưởng là đồng chỉ Huyên, dẫn đường lái phụ là đồng chí Uyển, cơ giới trên không là đồng chí Đáp cùng nhau tìm phương kế cứu máy bay, tìm bãi đáp và đáp xuống sân bay Nha Trang. Máy bay đáp khẩn cấp xuống sân đỗ, nói đúng hơn là nó rơi thẳng xuống, bốc cháy và nổ thùng dầu phụ 2.000 lít. Máy bay bị hất tung lên bầu trời, cao đến hơn 10 mét. Thật may mắn vô cùng. Tổ bay, tổ chỉ huy và tôi chỉ có thời gian chưa đầy 10 giây để thoát ra khỏi máy bay trước khi thùng dầu nổ. Hồi đó, mỗi chiếc Mi-8 được lắp thêm một thùng dầu phụ chứa được 2.000 - 3.000 lít dầu TC-1 (đặt trong thân máy bay) để bay được xa hơn. Sau khi máy bay rơi đập đầu xuống sân xi măng vỡ tan kính chắn phía trước, cũng nhờ đó mà chúng tôi chui ra được khỏi máy bay. Tôi đợi cho mọi người chui ra hết mới chui ra sau cùng. Lúc ấy, nhanh một giây thì sống, nếu chậm một giây thì sẽ tan xác cùng máy bay Mi-8 số hiệu 77 mang cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng. Tôi nghĩ, tôi thoát nạn, sống được có khi chính là nhờ khi bay qua Núi Sầm đã đón bao nhiêu hồn thiêng của đồng đội hy sinh ở đó và họ cùng bay theo che chở cho chúng tôi trong những giây phút hiểm nguy ấy để chúng tôi còn sống mà tiếp tục sự nghiệp "đánh cho ngụy nhào"! Tài liệu chỉ huy và tư trang mang theo bị cháy hết sạch, rất tiếc, nhưng tiếc nhất là tút thuốc lá "Thủ đô". Tôi có ý định mang theo để sau khi giải phóng Sài Gòn sẽ đem thuốc lá "Thủ đô" ra mời anh em hút vừa mừng giải phóng Sài Gòn vừa nhớ Thủ đô.


Đêm 26-4, tôi phải ngủ lại tại sân bay Nha Trang, bụng nóng như lửa đốt. Trước khi đi ngủ, tôi nhấm nháp thanh lương khô 702 còn sót lại trong túi quần và "tài sản" cũng chỉ còn nửa bao thuốc "Trường Sơn" hút dở. Nhưng quyết chí ngày mai, ngày 27-4 bằng mọi cách cả tổ chỉ huy phải đến được sân bay Thành Sơn!


4 giờ sáng ngày 27-4, tôi phái đồng chí trợ lý tác chiến ra gặp Ủy ban quân quản thành phố Nha Trang xin mượn một chiếc xe chở được khoảng 12 người vào Phan Rang làm nhiệm vụ. Các đồng chí ưng thuận ngay và còn tặng cho đoàn một thùng lương khô để ăn sáng.


5 giờ sáng, chiếc xe "DODGE" thùng đến chở đoàn chúng tôi vào Phan Rang. Lái xe tên là Nhung, nguyên là lính thông tin ở sân bay Đà Nẵng. Nhung được anh Hà Cân giới thiệu là người nhà bà con ở quê, do đó chúng tôi tin tưởng và tuyển dụng ngay và được theo Sở chỉ huy khai thác thông tin hệ 2 (của Mỹ).


Xe chạy được 30 km thì nổ lốp, suýt xảy ra tai nạn. Giữa nơi đồng không mông quạnh may sao có một chiếc xe cùng loại từ phía Nam chạy ra. Chúng tôi xin chiếc lốp dự phòng và người lái xe đồng ý ngay. Thật may, nhờ được sự giúp đỡ ấy mà chúng tôi đến Phan Rang chưa đến 12 giờ. Dừng xe ở cổng sân bay cho anh em ăn trưa. Suất ăn trưa của mỗi người là một phong lương khô 702 xong rồi nhanh chóng vào sân bay. Việc đầu tiên là quét đường băng chuẩn bị cho 5 chiếc A-37 từ Phù Cát đến hạ cánh vào ngày 28-4.


Những đám cháy trong sân bay đã dập tắt hết nhưng càng về chiều gió càng mạnh làm cho tro bụi bốc lên mù mịt mang theo cả mùi xác chết, thật kinh khủng. Tôi không thể kể dài dòng mà chỉ làm mấy câu thơ ngắn gọn cho dễ nhớ, nhưng lại thôi vì viết vội vã lủng củng lắm! Tôi kể tiếp bằng văn xuôi vậy. Sau khi quét đường băng sạch sẽ xong thì trời cũng chập choạng tối. Quần áo tôi ướt đẫm mồ hôi nhưng không có gì để thay. Bộ quần áo mới tinh mang theo để khi vào Sài Gòn mặc diện thì đã bị cháy hết ở Nha Trang rồi! Đành sang đơn vị gác cổng sân bay mượn một bộ đồ bộ binh mặc tạm, còn bộ quần áo bẩn chỉ cần giặt và phơi trước gió chừng một giờ đồng hồ là khô ngay. Anh em tìm trong kho đồ của ngụy lấy cho mỗi người một chiếc màn còn mới nguyên, vẫn còn nhãn hiệu "Bắc Tiến". Vậy là màn này có từ thời Ngô Đình Diệm cơ đấy!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #63 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:02:19 pm »

Sáng ngày 28-4, tiếp thu 5 chiếc A-37 từ Phù Cát bay vào hạ cánh an toàn và tiếp thu chiếc máy bay An-24 chở Tư lệnh Quân chủng Lê Văn Tri cùng các trợ lý vào phê duyệt kế hoạch đánh sân bay Tân Sơn Nhất chiều ngày 28-4.

10 giờ sáng ngày 28-4-1975 là giờ phút lịch sử khi Tư lệnh Lê Văn Tri đặt bút kỹ duyệt phương án cho 5 máy bay A-37 đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Có mặt tại bàn ký quyết định là Hoàng Ngọc Diêu-Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân chủng, Trần Mạnh-Tham mưu phó Quân chủng, Trần Hanh-Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, Nguyễn Hồng Nhị - Phó Tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, chỉ huy Sở chỉ huy tiền phương Không quân mặt trận.


Biên đội mở màn trận đánh lịch sử đó gồm có các phi công: Nguyễn Văn Lục-Phi đội trưởng, Nguyễn Thành Trung, Hán Văn Quảng, Từ Đễ, Hoàng Mai Vượng.

16 giờ 15 phút, được lệnh của Bộ Tham mưu qua bức điện bằng mật mã cơ yếu do đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng ký: "Lệnh cho bộ đội Không quân bay vào đánh sân bay Tân Sơn Nhất ngay chiều nay 28-4...". Tôi ra lệnh cho 5 chiếc A-37 mở máy cất cánh đánh theo kế hoạch...

   ... Sân bay Phan Rang như bừng dậy
   Năm chiếc máy bay vút lên trời cao
   Lặc lè dưới cánh là bom của Mỹ
   Bom Mỹ phen này quân ngụy được "xơi"!


Trận đánh có một không hai đó được ghi lại và để lại muôn đời cho lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam. Trong lịch sử cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, toàn dân đã thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ: "... Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!...".


Trận đánh ngày 28-4-1975 của Không quân nhân dân Việt Nam đã góp phần làm cho quá trình tan rã và sụp đổ nhanh chóng của quân ngụy Sài Gòn, giảm đi việc đổ xương máu của bộ đội ta tấn công vào Sài Gòn. Đó là cái quý nhất không gì so sánh được!

Khoảng 1-2 giờ sáng ngày 29-4, địch còn điên cuồng cho 2 lần gồm A-37 và F-5 ở sân bay Biên Hòa bay ra Phan Rang ném nhiều loạt bom xuống phá đường băng nhưng bom không trúng đường băng. Đất đá rơi lộp bộp trên đình màn. Tôi đã viết mấy vần thơ:

   Đêm Phan Rang nghe muỗi "kêu than"
   Ngỡ mình nằm giữa vạn tiếng đàn
   Trời sao nhấp nháy trên đình màn
   Ngỡ như vũ trụ sờ tay tới
   Ầm ầm tiếng bom của ngụy đó
   Ngỡ rằng tiếng pháo chào thắng lợi
   Đến khi đất đá roi lộp bộp
   Thì ra "chó chết" còn nhe răng!
   Nhe răng để rồi cắn răng lại
   Kẻ thì ôm hận, người thì vui!.



Cả ngày 29-4-1975, tôi nằm ở sân bay Phan Rang chờ lệnh cho bộ đội xuất kích đánh tiếp vào Sài Gòn.

4 giờ sáng ngày 30-4-1975, điện từ Sở chỉ huy mặt trận thông báo: "Sân bay Biên Hòa quân ta đã làm chủ, vậy Sở chỉ huy tiền phương của Không quân nhanh chóng cơ động vào Biên Hòa để chỉ huy máy bay chiến đấu cơ động vào sân bay Biên Hòa. Từ sân bay Biên Hòa sẽ cất cánh ra đánh địch chốt ở Côn Đảo, nếu chúng không đầu hàng...". Nhiệm vụ thật cấp bách, tôi cùng với tổ chỉ huy lấy một chiếc xe tải của sân bay Phan Rang để chạy vào Biên Hòa. Từ sân bay Phan Rang qua Phan Thiết đến Biên Hòa, chạy trên quốc lộ số 1 thấy đông đúc bộ đội, nhân dân, vui thích làm sao! Xa xa trong làng quê nghèo khổ của đất cực Nam còn có những đám cháy do các trận đánh gây ra trước khi quân ngụy chạy về Sài Gòn.


Tôi đi đến Trảng Bom thì nhận được tin Tổng thống lâm thời của ngụy Sài Gòn đọc lời đầu hàng Quân giải phóng. Quân ta đã vào chiếm dinh Độc Lập. Cờ giải phóng tung bay trên dinh Độc Lập đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, chấm dứt một thời đạn bom. Và một thời hòa bình đến từ đây.

   Bà con cô bác ai nghèo khổ
   Ruộng vườn đất tổ nay của ta

Chiếc xe "DODGE" thùng chở Tổ chỉ huy chạy vào đến Xuân Lộc - Trảng Bom. Xe pháo lớn của ngụy quân vứt đầy đường, quần áo của lính ngụy vứt ngổn ngang. Chúng nó cởi bỏ quần áo lính để chạy lẩn trốn trong dân, trốn vì không có người bắt tù binh! Xe tôi chạy vào đến Hố Nai thì trận đánh Liên đoàn biệt động cuối cùng của ngụy cũng vừa tan. Máu tươi còn đọng từng vũng trên đường số 1, xác xe bọc thép, xác pháo còn đang cháy rừng rực... Xe chạy đến sân bay Biên Hòa, vào cổng sân bay còn đang ngổn ngang súng các loại vứt đầy trạm gác... Tôi cho xe chạy thẳng vào chòi chỉ huy và mở máy kiểm tra hồi phục vô tuyến để ngày 1-5-1975 tiếp thu A-37 từ Phan Rang bay vào mắc bom để đi đánh tàu địch trú ở Côn Đảo.


Đêm ngày 30-4 nằm ở sân bay Biên Hòa thuộc đất miền Đông Nam Bộ - mảnh đất nổi tiếng gian lao mà anh dũng trong hai cuộc kháng chiến để giành độc lập. Đêm nay mới thật sự là một đêm độc lập tự do thuộc về ta. Tiếng nổ của đủ các loại súng, pháo sáng bay sáng rực bầu trời mừng vui chiến thắng của quân và dân ta chưa từng có bao giờ. Tôi nằm trăn trở không sao ngủ được vì nhớ Tam Đảo, nhớ vợ con quá! Không biết ngày nào sẽ đón vợ con vào Sài Gòn để cùng sống trọn niềm vui đã bao ngày mong đợi.


5 giờ sáng ngày 1-5-1975, tôi ra sân vươn vai mấy cái cho tỉnh hẳn rồi gọi tất cả anh em của Tổ chỉ huy dậy đi quét dọn đường băng, cùng với anh em thợ máy chuẩn bị sẵn sàng tiếp thu 5 chiếc A-37 bay từ Thành Sơn vào hạ cánh, chuẩn bị đi đánh Côn Đảo. Tiếp thu máy bay xong và lắp bom đầy đủ, vào lúc 8 giờ sáng, máy bay cất cánh bay ra Côn Đảo. Anh em phi công quan sát thấy có nhiều tàu địch đậu ở cảng. Máy bay ta giảm độ cao, chuẩn bị bổ nhào cắt bom thì quan sát kỹ hơn thấy tàu đã kéo cờ trắng. Như vậy là địch đã đầu hàng. Đó là trận cuối cùng máy bay mang bom đi đánh quân ngụy. Sở chỉ huy lệnh cho phi công vứt bom ngoài biển rồi về hạ cánh xuống sân bay Biên Hòa, hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #64 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:04:01 pm »

Lần đầu tiên thành phố Sài Gòn tổ chức Lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5. Kể từ ngày thành lập thành phố đến nay đã hơn 30 năm. Tôi rất vinh dự được đại diện cho Không quân nhân dân Việt Nam đi dự mít tinh. Tại cuộc mít tinh đó, tôi đã làm bài thơ như sau:

   Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh
   Lớp lớp người mơ Bác của mình
   Về đây thành phố Hồ Chí Minh
   Con cháu của Bác khắp muôn nẻo
   Không phân màu da, khác đôi mắt
   Ngơ ngác nhìn nhau thầm nhớ Bác
   30 năm miền Nam trong tim Bác
   Ngày chiến thắng, Bác đã đi xa!...



Ngày 17-5-1975, nhận được tin quân Pôn-pôt đánh chiếm đảo Thổ Châu, giết sạch 500 người dân sống trên đảo, chỉ còn một cụ già bơi trốn được vào đất liền báo tin cho bộ đội giải phóng. Không quân được lệnh đánh quân Pôn-pôt bảo vệ dân, bảo vệ các đảo ở biển Tây Nam của Tổ quốc: quần đảo Nam Du, Thổ Châu, Phú Quốc, Hòn Ông, Hòn Bà, Đảo Vai...


Tôi lại ba lô trên vai cùng với Tổ chỉ huy đi lên miền Tây. Vừa đi vừa làm bài thơ:

   Tôi lại lên đường đi lục tỉnh
   Miền Tây Nam Bộ đất của mình
   Vậy mà có kẻ quẹt đuôi chó
   Ngúng ngoáy, khịt khịt gây giặc cỏ
   Miền Tây đất bùn thừa phân đó
   Lại có phù sa Tiền, Hậu Giang
   Trêu ngươi khốn kiếp chó theo đàn
   Đụng vào lục tỉnh ắt thêm phân...


Ngày 29-5-1975, tôi bay ra đảo Phú Quốc, lập Sở chỉ huy Không quân tại sân bay An Thới để chỉ huy Không quân bay ra đánh Đảo Vai. Ta dùng 10 chiếc trực thăng UH-1 vũ trang dùng rốc-ket bắn các ụ súng địch chi viện cho Hải quân ta đổ bộ lấy lại đảo.

   Sáng nay tôi bay ra đảo Phú Quốc
   Trời xanh trong, biển lặng hiền hòa
   Nhấp nhô bao đảo trong tầm mắt
   Tổ quốc vươn xa mãi biển xa
   Thời xưa bao người đi mở mang, gìn giữ
   Thế hệ này ta không để mất đi
   Mặc ai bày kế gây oán hận
   Ta đâu có sợ máu xương rơi!...


Chúng ta vừa sống trong cảnh đất nước thanh bình chưa đầy tháng thì đã phải đương đầu với cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam. Bọn cầm quyền Căm-pu-chia Pôn-pôt nghe theo sự xúi giục của bọn bành trướng là cứ đánh Việt Nam để được hưởng viện trợ! Dọc biên giới Tây Nam từ Phú Quốc cho đến Tây Nguyên đều có tiếng súng của bọn Pôn-pôt. Bao nhiêu bộ đội, dân thường đã ngã xuống do bọn đao phủ gây ra!


Ngày 30-5-1975, tôi bay lên sân bay Tịnh Biên dự Hội nghị hiệp đồng chiến đấu với Sư đoàn 4 do anh Ba Trung "móm" làm Sư đoàn trưởng bảo vệ biên giới Tây Nam.

   Từ Châu Đốc đến Hà Tiên
   Con đường biên giới với nước Miên
   Thời giặc Mỹ, hai miền ba nước
   Chia cho nhau bát cháo trong rừng
   Giờ đây Mỹ đã cút, ngụy đã nhào
   Nỡ quên thời khó, hận thù nhau
   Ai dùng dao quắm chém dân mình
   Phải chăng bè lũ theo giặc bành trướng.


Ngày 4-6-1975, tôi được phép về thăm nhà. Tôi đi xe từ Tây Đô về quê Bình Định.

   Ôi! 20 năm nay được phép về thăm quê!
   Xao xuyến lòng con nỗi nhớ nhà
   Tất cả việc quân tôi giao lại
   Mang mỗi tình quê để lên xe
   Từ đất Tây Đô về Đất Mẹ
   Qua bao đèo dốc bao phố lạ
   Quyến rũ đâu bằng cảnh quê ta
   Chăm chăm đôi mắt mong đến nhà!



Chiếc xe du lịch "Đắc-sun" màu xanh lá cây do cháu Tùng lái chạy bon bon về đến làng Cự Lễ - Bến Đá thì gặp cô em út Khê cùng cô con gái là Diệu đi chợ bán mấy bó rau lang già, lá đã vàng ở chợ Hoài Châu về. Nhưng tôi đâu còn nhớ mặt em. Khi cháu Tùng dừng xe để hỏi đường về làng Hy Văn thì lúc này cô em nhận ra ông anh. Em Khê gọi: "Anh Bảy!". Hai anh em đều rơi nước mắt, mừng quá là mừng! Tôi nói: "Hai mẹ con lên xe cùng về với anh Bảy. Nhớ chỉ đường cho chú lái xe chạy về làng Hy Văn nghe!".

   Anh Bảy! Quên em sao, anh Bảy!
   Cha mẹ không còn để thấy anh
   Hy Văn làng mình đó
   Dừa, tre đều mới lên lại lá
   Nay đón anh về mà vắng bóng mẹ cha!
   Xe chạy qua cầu đập Bà Quyến, đi về hướng quán Rướng.
   Hy Văn làng mình đây này anh
   Dừa, tre đều mới lên lá lại
   Em tính đã trải qua 7.000 ngày rồi đó
   Có ngày đêm nào vắng tiếng bom!
   Bao nhiêu dừa chỉ còn trơ gốc
   Bao nhiêu người ngã xuống giữ quê
   Tôi cố hình dung buổi ra đi
   Quê đó người đi nay lại về!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #65 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:05:00 pm »

   Ngày 7-6-1975, tôi dâng hương thăm Ba, Má!
   Chiều nay con về thăm Ba, Má
   Lớt phớt rơi mưa nước mắt ròng!
   Từ buổi con ra đi đời rong ruổi
   Ba, Má đợi mong lệ thấm đầy!
   Nay qua bao sương gió con về đây
   Những mong nũng nịu trong lòng Mẹ
   Cho thỏa bao ngày vắng bóng Cha!
   Nhưng loài bán nước-bọn yêu ma
   Đưa đày Ba, Má sớm đi xa!
   Chiều nay con quỳ bên đôi mộ
   Lạy Mẹ, Cha con đền đáp
   Công dưỡng sinh thành có hôm nay!
   Sống ở trên đời này không có ai tốt bằng Mẹ của tôi và tôi cũng thương Mẹ tôi hơn thương ai hết!
   Con những mong về quê thăm Mẹ
   Hôn bàn tay chai sạn thân thương
   Con những mong về đền ơn Mẹ
   Nũng nịu trong lòng để Mẹ thương
   Con những mong về thơm sữa Mẹ
   Dòng sữa nuôi con đã lớn khôn
   Giặc Mỹ cướp đi sữa Mẹ
   Sữa thành xăng thiêu cháy chúng rồi!
   Nay đây đất trời của Quê Mẹ
   Sữa lại thơm mát dịu như xưa!



Ngày 8-6-1975, tôi thắp hương lạy anh Ba! Anh Ba núp ở hầm bí mật tại nhà. Bọn Mỹ dùng xe ủi đất cày bới lộ hầm, chúng ném mìn xuống hầm đã giết anh ngày 10-2- 1967 (âm lịch).

   Chiều nay em thắp hương lạy anh!
   Cùng chung núm ruột đã sinh thành
   Thù nhà, nợ nước đành ly biệt
   Hồn trẻ ngày ngày cưỡi gió mây
   Việc nhà gánh vác anh lo liệu
   Phụng dưỡng Mẹ, Cha, hiếu nước non!
   Một chiều giặc Mỹ giết anh Ba!
   Thù này ghi tạc mãi con cháu
   Dẫu cho cỏ lấp, dẫu mưa che!



Ngày 9-6-1975, sau khi tôi về thăm các chị, em Tám, các cháu... tôi xin chị Ba cho mượn bò ra cày thửa ruộng đồng Trang của chị Ba để giúp cho chị, nhưng chủ yếu để nhớ lại kỷ niệm thời niên thiếu!

   Hai mươi năm tôi quen cầm súng
   Nay thử cầm cày sao ngượng tay
   "Thá", "Ví" từ lâu quên mất rồi!
   Giọng khác lạ, bò chẳng nghe!
   Vểnh tai ngoảnh đầu nhìn lại sau
   "Ông chủ cày là ai vậy?"
   Nhưng qua mấy đường cày, tay đã quen
   Bò, "thợ" cùng vui, thẳng đường cày...



Tháng 8-1975, sau khi Không quân hỗ trợ cho Hải quân đánh chiếm xong Đảo Vai, tình hình biển Tây Nam tương đối yên, nhưng biên giới giữa các tỉnh miền Tây với biên giới Căm-pu-chia càng nổ ra những trận đánh ác liệt, liên tục. Không quân chi viện liên tục cho bộ đội Sư đoàn 4 chiến đấu giữ biên giới. Tôi biên thư gửi về Tam Đảo cho vợ và hai con:

   Anh gửi em yêu và hai con bé bỏng!
   Trọn tình yêu, đầy thương, tràn nhớ!
   Đất nước đã thống nhất rồi
   Thỏa lòng mong ước bao ngày xa
   Con hỏi: "Sao bố còn đi mãi
   Chưa về với mẹ, con?"
   Em yêu và hai con bé thương!
   Vì miền biên giới chưa bình yên!
   Ngày mai tan giặc, sạch biên cương
   Chân trời, góc biển dân bình yên
   Thì bố về Bắc đón mẹ, con vào Nam!
   Gia đình sum họp, trọn với nước non!



Sau khi ta đánh tiêu diệt một số Tiểu đoàn quân Pôn-pốt ở sát biên giới với An Giang, làm cho chúng chùn bươc áp sát biên giới để hàng tối sang chém giết đồng bào ta. Tình hình tạm yên. Tôi trở về Sư đoàn để chuẩn bị đánh bọn Phun-rô ở Lâm Đồng - Đà Lạt. Mưu đồ của bọn Phun-rô định chiếm Đà Lạt, lập chính phủ Phun-rô để công bố cho thế giới biết và ủng hộ chúng! Sư đoàn Không quân 372, Trung đoàn Không quân 917 đưa 1 Phi đội UH-1 vũ trang cùng L-19, U-17 lên sân bay Cam Ly làm nhiệm vụ chiến đấu đánh Phun-rô.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #66 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:07:14 pm »

Tôi thường xuyên lên kiểm tra tổ chức chiến đấu ở trên đó. Mùa Đông năm đó, ở Đà Lạt - Lâm Đồng trời rất rét, đa số nhân viên mới phục vụ kỹ thuật UH-1 thiếu áo ấm, rét co ro, thật khổ nhưng không làm sao được. Tình hình đánh Phun-rô ở Lâm Đồng đang nóng lên thì bọn phản động lẩn trốn ở vùng núi miền Đông lại nổi dậy định cướp chính quyền ở Bà Rịa. Sư đoàn lại tổ chức sử dụng máy bay L-19 bay quan sát và dùng loa kêu gọi chúng ra đầu hàng. Nếu ngoan cố sẽ bị các máy bay UH-1 vũ trang và A-37 đến ném bom tiêu diệt. Nhiều tên đã ra đầu hàng. Tình hình tạm lắng. Tôi lại về Sư đoàn. Tình hình Mỏ Cày - Bến Tre sâu rầy đang phát triển mạnh, ta cải tiến UH-1 mang bình thuốc và vòi phun xuống Bến Tre diệt sâu rầy cho bà con nông dân. Kết quả cứu được hàng ngàn hec-ta lúa khỏi bệnh sâu rầy. Tôi lại xuống sân bay Cần Thơ kiểm tra trại nuôi heo thí điểm chăn nuôi, kết quả rất tốt. Trại do đồng chí Phạm Bối sáng kiến tổ chức. Đồng chí Phạm Bối cùng đi học bay ở Liên Xô, là con người rất gan dạ nhưng không bay được phải học thợ máy. Nay là Trung đoàn phó Trung đoàn Không quân 937, Sư đoàn Không quân 372. Tôi lại tiếp tục đi kiểm tra khâu gieo lúa của ông Dương Công Danh ở Đồng Tháp Mười. Trung đoàn căn cứ sân bay Tân Sơn Nhất xin Đồng Tháp mấy chục hec-ta để gieo lúa, nhưng kết quả không ngờ vì đồng nước phèn, chưa có kinh nghiệm làm. Ruộng của bà con nông dân làm thì lúa rất tốt. Tôi lại bay xuống Cà Mau kiểm tra trại tăng gia trồng lúa và nuôi heo của ông Sơn, Trung đoàn Không quân 917. Ông Sơn là Chính ủy Trung đoàn Không quân trực thăng 917 học hỏi nhân dân địa phương trước khi làm cho nên kết quả rất tốt. Chở lúa, lợn về đơn vị cải thiện đời sống cho bộ đội.


Đầu năm 1976, tôi được đi ra quần đảo Trường Sa. Cùng đi với đoàn có Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương, Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Ngọc Hiền và nhiều cán bộ hải quân, Lục quân. Đi trên tàu HQ-01 - tàu do Mỹ viện trợ cho Hải quân ngụy, ta thu được sau giải phóng. Tàu chở theo 1 chiếc UH-1 để đưa người lên đảo. Lái chính của chiếc UH-1 này là Lê Đình Ký, quê ở quận Liên Chiểu, Đà Nẵng, trước đầy lái trực thăng Mi-6, lái phụ là Hồ Duy Hùng, nguyên là lái UH-1 cho Không quân ngụy, nay tình nguyện lái cho "Việt cộng". Cơ giới trên không là Nguyễn Đức Ngư trước là cơ giới của máy bay trực thăng Mi-8, lái phụ nữa là Nguyễn Đức Vinh. Chiếc tàu HQ-01 "bơi" hơn 1 ngày 2 đêm thì ra tới đảo Trường Sa lớn. Đoàn lên đảo nghỉ 1 ngày 1 đêm, sau đó, đoàn cán bộ lần lượt đổ bộ lên các đào nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa: Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Song Tử Tây...


Ở giữa biển khơi mênh mông chỉ có 3 người làm bạn với nhau đó là Trời, Biển, Đảo! Thật vĩ đại biết bao! Oai phong biết bao! Kỳ vĩ biết bao! Kỳ thú vô song, chẳng thể nào tả hết! Tôi rất muốn sống lâu với cảnh đó nhưng nhớ vợ và hai con lắm vì từ ngoài Bắc mới vào Nam mọi cái còn đang bỡ ngỡ... Mẹ con tự xoay xở lấy, tội nghiệp lắm, tiền lại không có nữa! Ở đảo về, có quà của biển là một túi san hô, vỏ sò, ốc biển rồi túi củ sâm nam mọc trên đảo do các chiến sĩ trên đảo tặng mang về nấu nước uống mát lắm!


Sau khi vui Tết cổ truyền xong, tình hình vùng Đà Lạt-Lâm Đồng lại rộ lên. Bọn Phun-rô quấy phá gây mất an ninh. Chúng chủ trương đánh cướp chính quyền xã, thôn. Tôi lại lên đường cùng với 1 Phi đội UH-1 và L-19, bay lên sân bay Cam Ly - Đà Lạt để từ đây cất cánh đi đánh Phun- rô. Diệt Phun-rô xong lại quay vào biên giới Tây Nam đánh quân Pôn-pôt. Trên cho phép được sang biên giới truy đuổi diệt tận gốc quân giết người. Anh em rất hả lòng hả dạ vì sự nhượng bộ lâu nay, chúng ta càng kìm chế thì bọn Pôn-pôt càng lấn tới.


Sau khi ta giải phóng Căm-pu-chia thoát khỏi bọn diệt chủng Pôn-pôt thì tình hình biên giới phía Bắc căng thẳng chưa từng có. Nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh với Trung Quốc chỉ còn tính bằng giờ, bằng ngày nữa thôi! Ta chưa hề có một sự phòng thủ biên giới với Trung Quốc! Thật nguy hiểm xiết bao! Trung Quốc đã tập trung hàng vạn quân, hàng ngàn xe tăng, pháo binh dọc theo biên giới đoi diện với ta từ Móng Cái đến Lào Cai để chuẩn bị cho cái mà Trung Quốc gọi là "dạy cho Việt Nam một bài học nhớ đời!". Ta yêu cầu Liên Xô viện trợ vũ khí bộ binh, hàng ngày máy bay An-22 chở sang cho Việt Nam nhưng phải bay qua các nước phía Tây vì đường phía Đông thì Trung Quốc đã cấm máy bay của Liên Xô bay qua.


Ngày 17-2-1979, Trung Quốc cho quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới từ Móng Cái - Lạng Sơn - Cao Bằng - Hà Giang - Lào Cai - Lai Châu... Có nơi đã vào sâu trong đất ta đến 10-15 km hoặc sâu hơn.

Tôi, anh Trần Mạnh, anh Phạm Thanh Ngân đang học lớp ngắn ngày ở Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc được lệnh dừng học, về lại Quân chủng ngay. Tôi ôn lại những tháng ngày ở Trạm 66 Bộ Tổng một chút. Ba anh em ở Trạm, hàng ngày đến Trường nghe lên lớp và thảo luận Tổ học tập ở Trường. Thời gian rảnh còn lại thì nghỉ ở Trạm 66 cho nên có dịp đi dạo chợ Đồng Xuân - Bắc Qua, thi thoảng mua chui vài ký gạo ở chợ Bắc Qua gửi về Sài Gòn cho vợ con (gửi anh Trần Mạnh mang về giúp vì Chủ nhật, anh được về Sài Gòn theo tiêu chuẩn dân sự bởi khi ấy anh là Tổng cục trưởng Hàng không dân dụng, còn tôi và anh Phạm Thanh Ngân sinh hoạt theo chế độ quân sự nên ở lại Trạm 66). Có lẽ đây là thời kỳ Việt Nam khó khăn nhất về lương thực. Khắp cả nước ăn hạt bo bo thay cơm do thiếu gạo.


Tôi về đến Quân chủng, được Quân chủng giao nhiệm vụ mới ngay, đó là làm Tư lệnh Sư đoàn Không quân 67 thuộc Quân chủng Phòng không-Không quân. Căn cứ lâm thời đóng tại sân bay Đa Phúc và được sử dụng cơ sở vật chất của Sư đoàn Không quân 371 cho nhiệm vụ chiến đấu của Sư đoàn 67. Tôi đến sân bay Đa Phúc lập Sở chỉ huy để chỉ huy bộ đội chiến đấu. Sở chỉ huy tạm thời đặt tại phòng tiếp khách của Nhà truyền thống Sư đoàn 371. Đồng chí Đào Đình Luyện thay mặt Tư lệnh Quân chủng lên kiểm tra và phê chuẩn đạt yêu cầu. Lực lượng chiến đấu trước mắt gồm có 1 Phi đội F-5E, 1 Phi đội A-37 (ở sân bay Đa Phúc) và 1 Phi đội UH-1 vũ trang (đóng ở sân bay Bạch Mai). Tất cả máy bay, phi công, thợ máy của Sư đoàn 372 được chuyển sang cho Sư đoàn dã chiến 67 do tôi chỉ huy. Nhiệm vụ vô cùng nặng nề, phức tạp. Tất cả từ người chỉ huy đến người lính đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, lập công xây dựng truyền thống cho Sư đoàn ngay từ ngày đầu, trận đầu.


Tất cả máy bay, trực thăng đều treo bom, tên lửa, rốc-két đầy đủ và sẵn sàng cất cánh. Những ngày cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1979 thời tiết xấu kinh khủng: mây thấp, sương mù dày đặc... máy bay không thể cất cánh được. Mặc cho gió rét, anh em phi công, thợ máy vẫn túc trực dưới cánh máy bay, sẵn sàng cất cánh khi có lệnh.


Khoảng trung tuần tháng 3-1979, quân Trung Quốc rút khỏi lãnh thổ Việt Nam. Khi tấn công thì kèn trống thổi vang xóm núi nhưng khi rút thì lẳng lặng mang theo bao nhiêu thứ cướp được của dân ở biên giới, còn xác quân "chệch" chết thì bỏ lại thối ở biên cương đến hàng tháng sau đó.


Sư đoàn Không quân 67 cũng chấm dứt từ đó. Tôi lại về Sư đoàn Không quân 372 để chuẩn bị một cuộc gọi là đi tập kết lần thứ hai (cơ động toàn Sư đoàn ra Bắc) vì đa số anh em cán bộ Sư đoàn 372 đã trải qua thời kỳ đánh Pháp và được tập kết ra Bắc từ 1954-1955 để xây dựng miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, làm hậu phương chiến lược cho cách mạng giải phóng miền Nam. Còn lần thứ hai này trở ra miền Bắc là để chống quân bành trướng phía Bắc.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 618



« Trả lời #67 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2025, 08:08:45 pm »

Quân chủng Không quân có sự chuyển biến lớn về tổ chức, chuẩn bị lực lượng chiến đấu mới. Sự thay đổi đó là: thu hồi tên Sư đoàn không quân 67 để thành lập Sư đoàn mới đó là Sư đoàn 376 đóng quân ở miền Nam thay cho Sư đoàn 372 cơ động ra đóng quân ở sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa - là Sư đoàn Không quân tiêm kích bom được trang bị máy bay mới Su-22M cánh cụp cánh xòe. Mỗi chiếc có thể mang 3 tấn bom, như vậy 10 chiếc Su-22 thì có sức mạnh hỏa lực tương đương bằng B-52 của Mỹ. Như vậy, Sư đoàn Không quân 372 có thể đánh tiêu diệt các đội hình lớn tập kết quân chuẩn bị tấn công của địch. Chọn phi công đưa sang Trường Không quân Krasnôđar để bay chuyển loại Su-22. Tôi đi học chuyển loại tốp thứ 2, có 10 người. Tôi là người bay đơn đầu tiên trên Su-22 cánh cụp cánh xòe. Đó là lần thứ 3 trong đời phi công của tôi được sang Liên Xô để học bay trên máy bay chiến đấu MiG và Su. Một kỷ niệm sâu sắc không bao giờ quên - nó đã in sâu trong tâm trí tôi về tình đất tình người Xô-viết vĩ đại là mãi mãi!


Sư đoàn Không quân 371 được trang bị máy bay MiG- 21bis hiện đại, tối tân hơn loại MiG-21 F-94, 96, chuyên sâu nhiệm vụ tiêm kích bảo vệ mục tiêu và yểm hộ cho các loại máy bay khác. Sư đoàn đóng quân ở miền Bắc do anh Phạm Thanh Ngân làm Sư đoàn trưởng.


Miền Trung có Sư đoàn Không quân tiêm kích 370 đóng ở Đà Nẵng do anh Mai Đức Toại làm Sư đoàn trưởng.

Miền Nam có Sư đoàn Không quân 376 hỗn hợp tiêm kích-vận tải-trực thăng vũ trang do anh Lê Văn Nhã làm Sư đoàn trưởng, đóng ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Kết thúc năm 1979, tôi cũng hoàn thành một nhiệm vụ cực kỳ trọng đại nhất trong đời binh nghiệp, đó là dẫn đầu Binh đoàn Không quân mặt trận hành quân từ miền Nam ra miền Bắc mà anh em cán bộ người quê ở miền Nam gọi là cuộc tập kết lần thứ 2. Lần thứ nhất cách đây đã 24 năm (1955) sau khi thắng Pháp. Hồi ấy đi từ miền Nam ra miền Bắc bằng tàu thủy, còn bây giờ đi từ miền Nam ra miền Bắc bằng tàu hỏa, máy bay và ô tô. Tôi và các anh Sư đoàn phó Trần Tấn Sơn, Nguyễn Trọng (phó Chính trị), Trần Thạch (chủ nhiệm hậu cần)... thành tổ tiền trạm đi trước ra sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân để lập kế hoạch bố trí nơi đóng quân, xây dựng cơ sở hậu cần kỹ thuật cho Sư đoàn...


Sân bay Sao Vàng lúc đó còn là bãi đất trắng với đồi trọc sỏi đá. Anh Sơn, anh Thạch chạy đi khắp các huyện miền núi Thanh Hóa để mua vật liệu về xây dựng doanh trại (luồng, nứa...), thực phẩm, rau... cho bộ đội. Xin cấp trên cấp cho một ít kinh phí đã khó rồi, nhưng khi có tiền đi mua vật liệu lại càng khó hơn! Phải có đủ giấy giới thiệu trên đời từ Trung ương đến địa phương vì thượng vàng hạ cám đều bao cấp mà! Hai anh Sư phó Sơn, Chủ nhiệm hậu cần Thạch phải chạy khắp hang cùng ngõ hẻm mãi rồi cũng được. Phải kể rằng nhờ vào tài năng nổ của hai anh đó.


Sư đoàn đã hoàn thành cơ động ra Bắc để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc thân yêu! Đứng ở sân bay Sao Vàng, Thanh Hóa nhìn về phương Nam xa xăm nhớ vợ nhớ con. Tôi làm bài thơ:

Biên giới Tây Nam vừa bình yên1 (Ngày 7-1-1979, nhân dân Căm-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng của chế độ Pôn-pốt, biên giới Tây Nam Việt Nam - Căm-pu-chia được bình yên)

Biên giới Bắc Hà máu lại chảy!2 (Ngày 17-2-1979, Trung Quốc cho hơn 10 vạn quân tràn qua biên giới phía Bắc Việt Nam - Trung Quốc)
   Môi hở răng lạnh, hết lạnh rồi
   Môi mím răng nóng, nóng quá vậy!
   Bố lại lên đường ra ngoài ấy3 (Tôi ra Bắc thành lập Sư đoàn Không quân 67 tháng 3-1979)
   Trong này mẹ con sống sao đây!
   Rau cháo qua ngày không ngại đâu
   Xa nhau chỉ ngại buồn cút côi!4 (Tháng 6-1979 điều động Sư đoàn Không quân mặt trận 372 ra Bắc, tôi cùng đi với anh em cán bộ quê ở miền Nam gọi là đi "tập kết" lần thứ 2. Ba mẹ con cô Dậu ở trong Sài Gòn xa xôi (quê ngoại, quê nội đều xa xôi), buồn cút côi là thế)


Sư đoàn Không quân 372 chuẩn bị đón Tết cổ truyền dân tộc lần đầu tiên trên quê hương Lam Sơn lịch sử - 1980. Sau khi Sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ cơ động ra Bắc chuẩn bị sẵn sàng đánh trả "bài học thứ 2" mà Trung Quốc vẫn rêu rao là sẽ dạy cho Việt Nam bài học thứ 2 nếu Việt Nam không chịu rút quân khỏi Căm-pu-chia. Nhưng những lời đe dọa đó chỉ như nước đổ lá khoai. Việt Nam vẫn đóng quân ở Căm-pu-chia giúp nhân dân Căm-pu-chia khôi phục lại cuộc sống. Sư đoàn đón Tết cổ truyền ở quê hương Lam Sơn rất nghèo về lúa gạo nhưng rất giàu về sắn (mì). Bạt ngàn là củ mì (củ sắn). Đón giao thừa, trời rất rét, mỗi đơn vị đốt một đống củi giữa sân để sưởi ấm và nướng sắn. Chúc giao thừa với nhau bằng củ sắn nướng và ly rượu mía đậm đà tình quê hương của vùng đất Lam Sơn lịch sử.


Ăn Tết cổ truyền xong, cấp trên cho hạ cấp sẵn sàng (Hồi ấy có 4 cấp sẵn sàng chiến đấu: toàn bộ, cao, thấp, trung bình). Trên cho Sư đoàn xuống cấp thấp. Anh em tỏa lên đồi cuốc đất trồng sắn, đào ao nuôi cá, làm chuồng nuôi heo... Phong trào thi đua tăng gia sản xuất nổi lên chưa từng có trong Sư đoàn. Mọi sinh hoạt học tập, lao động theo chế độ chính quy bình thường hàng ngày. Thứ Bảy, Chủ nhật được nghỉ ra ngoài không quá 30% quân số (trừ phân đội trực chiến). Tôi tranh thủ giải quyết hết công việc trong tuần để ngày Chủ nhật rủ vài anh em đi vào rừng bắn gà rừng về cải thiện hoặc lội đồng bắn sít. Loại chim sít ưa ăn ở ruộng lầy theo bầy đông hàng trăm con. Ngày đi bắn, tối về làm bữa cháo sít ngon tuyệt vời! Ở Thanh Hóa, gà rừng thì có quanh năm, còn chim sít, cu xanh, cu đất, vẹt... thì có mùa theo từng loại ăn ở các cánh đồng khô hoặc lầy... khác nhau. Vũ khí thì có 3 loại: súng kíp, súng thể thao và súng hơi, cho nên phải chế tạo đạn khác nhau rất công phu thì khi đi bắn mới đạt kết quả cao được. Chim sâm cầm thì chỉ có ở vùng Ninh Bình, cho nên muốn bắn sâm cầm là phải đi xa, tốn cả ngày trời. Thịt sâm cầm rất bổ, đứng hàng đầu thịt các loại chim ăn ở đồng nước. Sinh thời, Bác Hồ rất khen thịt sâm cầm ngon!


Cuối năm 1980, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam một Trung đoàn máy bay chiến đấu Su-22M kiểu tiêm kích bom cánh cụp cánh xòe (có thể cụp góc vát ra sau chỉ còn khoảng 60 độ hoặc xòe về trước góc cánh còn 30 độ, còn bình thường bay thì đặt góc cánh ở 45 độ, nghĩa là bằng góc chếch của MiG-17). Máy bay có thể chiến đấu trong mọi thời tiết. Tôi được Quân chủng giao dẫn đầu đoàn phi công sang Liên Xô bay chuyển loại từ MiG-21 sang máy bay Su-22 tại Trường bay Krasnôđar, nơi mà tôi đã trải qua 2 lần bay huấn luyện MiG ở đó. Chúng tôi sang Liên Xô lần này đi bằng đường Hàng không dân dụng. Chiếc máy bay IL-62 cất cánh từ sân bay Đa Phúc bay qua Lào - Thái Lan - Ấn Độ và hạ cánh xuống sân bay Đêli lấy dầu rồi bay một mạch sang Liên Xô. Máy bay hạ cánh xuống sân bay Mechevô 2 Mạc Tư Khoa, từ đó chuyển sang Tu-154 chuyến bay nội địa đi Krasnôđar. Chúng tôi về đến trường bắt tay vào công tác chuẩn bị bay ngay.


Tháng 12-1980, chúng tôi tốt nghiệp lái Su-22M và trở về Việt Nam. Máy bay chiến đấu Su-22M được chở bằng An-22 sang lắp ráp tại sân bay Đà Nẵng. Các chuyên gia Liên Xô sang lắp ráp và bay thử rồi bàn giao cho Việt Nam. Chúng tôi nhận máy bay và bay chuyển sân ra sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa lắp bom đạn đầy đủ trực chiến sẵn sàng giáng trả quân thù.


Năm 1982, biên giới phía Bắc giảm nhiệt thì vùng biển đảo Trường Sa lại nóng lên. Thủy quân Trung Quốc đánh chiếm một số đảo đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa (đá ngầm là đảo chưa nổi hẳn lên mặt nước). Trong cuộc chiến này, một số bộ đội Hải quân của ta canh gác trên vùng đá ngầm đã anh dũng hy sinh. Máy bay Su-22M được lệnh chuyển sân vào sân bay Thành Sơn chuẩn bị đánh Hải quân Trung Quốc trên vùng biển Trường Sa.


Năm 1982, tôi được trên điều vào Đà Nẵng giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn Không quân 370. Đà Nẵng là địa bàn chiến lược của đất nước. Nếu địch chiếm Đà Nẵng coi như Đông Dương bị chia cắt. Bởi vậy, đóng quân trên địa bàn chiến lược này có 3 đơn vị Quân Binh chủng (Không quân, Phòng không và Hải quân). Lục quân thì có Quân khu 5. Trong ký ức, quân xâm lược đã có 3 lần đổ bộ đầu tiên chiếm Đông Dương là vào Đà Nẵng (Pháp, Mỹ, Nhật). Ba đơn vị chúng tôi: Phòng không - Tư lệnh là anh Nguyễn Thanh Tùng, Hải quân vùng 3 - Tư lệnh là anh Trần Quang Châu, không quân - Tư lệnh là Nguyễn Hồng Nhị. Ba anh em chúng tôi đoàn kết gắn bó như một để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn chiến lược của đất nước - nơi sẽ đụng đầu đầu tiên với địch khi nó xâm lược Việt Nam ta.


Tôi ở Đà Nẵng hơn 7 năm, giữ chức Tư lệnh Sư đoàn hơn 14 năm (Sư đoàn 372 là 7 năm và Sư đoàn 370 cũng 7 năm) và được phong hàm Thiếu tướng kể cũng hiếm có lúc bấy giờ. Ở khúc giữa cây đòn gánh này gánh chịu tất thảy những vất vả gian truân của đất nước, của một thời bắt đầu sự đổi mới đầy phức tạp, gian nan...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM