vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #10 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 09:00:35 pm » |
|
Về phía Campuchia, Chính phủ Campuchia giao cho quân đội, trực tiếp là Quân khu thủ đô Phnôm Pênh phụ trách. Sĩ quan chỉ huy lực lượng này là Tư lệnh Um Savut và Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Les Kôsem. Tư lệnh Um Savut rất cảm thông với đời sống khó khăn, thiếu thốn của chiến sĩ Quân Giải phóng miền Nam nên dễ đáp ứng yêu cầu của ta. Ở mỗi căn cứ Hậu cần Việt Nam trên đất Campuchia Quân đội Hoàng gia Campuchia bố trí một sĩ quan cùng một số lính bảo vệ, phục vụ, đóng gần căn cứ. Ngoài ra họ bố trí lính áp tải trên từng xe hàng khi vận chuyển. Trong từng chuyến, từng đoàn vận chuyển có khi vài chục xe có khi đến cả hàng trăm xe, họ còn bố trí một số xe có sĩ quan theo sát chỉ huy và xử lý các trường hợp bất trắc xảy ra trên đường. Vì vậy, quân số phục vụ cho công tác này rất lớn. Có lúc Quân khu Thủ đô thiếu quân canh phòng, bảo vệ. Chuyến hàng vận chuyển đầu tiên từ cảng Xi-ha-núc Vin về kho trung chuyển Kông-pông Spư. Cán bộ Đoàn hậu cần 17 đều rất lo cho sự bí mật và an toàn. Việc giáo dục quán triệt, chỉ đạo rất kỹ, kể cả dự kiến tình huống xấu nhất khi bị địch phát hiện phá hoại cần tiêu hủy xe và vũ khí; tuyệt đối không để lại tang chứng để địch gây khó khăn cho chính quyền Campuchia và lộ bí mật về hướng chi viện tiếp tế của Việt Nam. Chuyến hàng đầu tiên xuống cửa khẩu Ô Am, trên Đường số 14 thuộc tỉnh Môn-đôn-ki-ri (Campuchia) đối diện với tỉnh Phước Long (Việt Nam) do Đoàn hậu cần 86 tiếp nhận. Vì đây là chuyến hàng xuống biên giới đầu tiên nên đích thân Tư lệnh Um Savut và Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng Les Kôsem đều đi theo. Suốt đoạn đường từ kho Kông-pông Spư, cả ta và bạn đều rất thận trọng, tổ chức rất chu đáo, nên không gặp trở ngại gì. Từ cửa khẩu Ô Am đi vào kho khoảng 500m, do trời mưa to, xe bị sa lầy, cán bộ chiến sĩ Đoàn hậu cần 86 nhanh chóng khắc phục. Qua lần này, các sĩ quan Campuchia rất có cảm tình trước sự đón tiếp nhiệt tình chu đáo của Đoàn hậu cần 86 và vô cùng khâm phục tinh thần làm việc hết mình của cán bộ, chiến sĩ Quân Giải phóng. Vì lượng vũ khí lớn nên khi được phía Campuchia đồng ý, ta đẩy mạnh tiến độ vận chuyển, có khi trong một ngày đi nhiều hướng với hàng trăm xe. Tùy theo cự ly, tính toán thời gian xuất phát, miễn sao khi đến đêm là vào được cửa khẩu để giao hàng. Ở cửa khẩu Stung Treng thuộc Đường C4, sau khi đưa hàng đến kho trung chuyển ở ngoại ô thị xã Stung Treng, Đoàn hậu cần 17 phải thuê thuyền máy nhỏ của bà con Việt kiều chở hàng dọc theo sông Sê Kông (nhánh của sông Mê Kông). Sông này nhiều thác ghềnh, dù rất cẩn thận nhưng ta cũng có vài chuyến bị đắm thuyền, phải lặn mò tìm hàng rất vất vả. Ở cửa khẩu Bò Keo thuộc Nam Tây Nguyên, sau khi đưa hàng đến kho trung chuyển ở Bò Keo huyện Long Phát, tỉnh Rát-ta-na-ki-ri, ta còn phải dùng xe GMC vận chuyển đến kho của Mặt trận Tây Nguyên. Tại đây, nhiều đoạn đường phải xuyên qua căn cứ của Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia (FUNK) nên thường bị bắn tỉa, buộc phải sử dụng các đơn vị Quân đội Hoàng gia Campuchia hộ tống. Vì vậy, khi cán bộ ta muốn quan hệ làm việc với Mặt trận Tây Nguyên, gặp lúc tình hình căng thăng phải nhờ Quân đội Hoàng gia Campuchia dùng xe bọc thép chở đi. Có lần bị lực lượng của Mặt trận FUNK phục kích từ núi cao ném lựu đạn vào xe rất nguy hiểm. Ở các cửa khẩu Ô Răng, Ô Am, Km 25, Mi Mốt thuộc các đoàn hậu cần 86, 70, 50, 210 và 85, hàng tập kết về kho trung chuyển tại cửa khẩu, rồi dùng xe GMC chuyển đến tận các kho. Đường vận chuyển này thường bị máy bay địch đánh phá liên miên, có lần, chúng đổ quân bằng máy bay trực thăng chặn đường, đốt xe, bắn giết người, làm cho lái xe rất hoang mang nên sau đó phải có lực lượng chốt bảo vệ đường. Riêng các cửa khẩu Snuôl sát Đường số 7, cửa khẩu Tăng Lèo (Quân khu  và cửa khẩu Lò Than - Tà Ni thuộc Đoàn 195 (Quân khu 9), địa bàn trống trải phải dùng xe chở tới địa điểm tập kết, rồi các đoàn hậu cần dùng ghe xuồng, sức người vận chuyển đi ngay trong đêm. Qua đợt vận chuyển này, chúng ta có được một khối lượng hàng khá lớn, đáp ứng về cơ bản yêu cầu các hướng chiến trường. Để duy trì khả năng bảo đảm thường xuyên vật chất hậu cần cho chiến trường ngày càng ác liệt, Hậu cần Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giai đoạn này là ra sức tạo nguồn và khai thác hậu cần tại chỗ. Theo phương hướng đó, các đoàn hậu cần được xây dựng dọc biên giới Campuchia - Việt Nam, vừa khai thác nguồn hàng chi viện của Trung ương vừa mở thêm các cửa khẩu để thu mua ở các khu vực giáp ranh giữa vùng giải phóng với vùng tranh chấp hoặc vùng địch chiếm. Đối với công tác "tiểu ngạch" 1 (Nghĩa là tổ chức vận động nhân dân biên giới, các thương lái, các đồn bốt, chính quyền dọc biên giới chở hàng bán cho các đơn vị ta như gạo, nhu yếu phẩm, thực phẩm...), là một yêu cầu rất cấp bách vì cơ quan, đơn vị ta đóng dọc biên giới rất đông, đang gặp khó khăn thiếu thốn, mà phía bên đất ta phần lớn là vùng rừng núi, khó có thể bảo đảm đầy đủ những nhu cầu được. Đoàn hậu cần 17 tổ chức làm năm cánh, phụ trách dọc biên giới từ Hạ Lào đến Hà Tiên, Kiên Giang. Riêng Cánh C có rất nhiều cửa khẩu ở Campuchia đối diện với các tỉnh Quảng Đức, Phước Long, Bình Long và Tây Ninh của ta. Cán bộ ta ngụy trang dưới danh nghĩa là kế toán hoặc người giúp việc cho các thương lái để hoạt động. Muốn làm tốt công tác này cần phải vận động ba đối tượng: Một là, vận động tổ chức người lao động, buôn bán nhỏ ở dọc biên giới để họ mua hàng xuống bán cho các đơn vị ta. Cách này áp dụng ở những vùng có dân phía Campuchia. Tuy là quy mô nhỏ, nhưng rất rộng rãi, thường xuyên, "góp gió thành bão" và chính quyền cơ sở của Campuchia khó ngăn cấm nổi. Hai là, tổ chức nắm những người thương lái có vốn và phương tiện, vận chuyển hàng xuống bán cho các đơn vị ta theo hợp đồng hai bên. Cách này thường áp dụng cho những vùng không có dân và có quy mô vừa, lớn giải quyết tốt các yêu cầu của ta. Nhưng không được thường xuyên, vì chính quyền cơ sở của Campuchia dễ phát hiện và ngăn chặn. Ba là, bằng mọi cách nắm cho được các đồn trưởng, các xã trưởng, huyện trưởng tỉnh trưởng Campuchia giáp biên giới, để họ vừa làm ngơ cho dân buôn bán với ta, đồng tình hợp tác làm ăn với các thương lái hoặc tự chở hàng bán cho các đơn vị ta. Đây là khâu rất quan trọng, cán bộ ta bàn cách cho các thương lái dùng cách hối lộ hoặc góp vốn làm ăn mà nắm họ mới giải quyết được. Qua cách làm trên đây, tuy không thể tổng hợp được, nhưng nhìn chung, đã đáp ứng được khá lớn nhu cầu của các cơ quan đơn vị trên tuyến biên giới. Phương thức "tiểu ngạch" này, đến khi ta vận chuyển hàng chi viện theo phương thức "đại ngạch" 1 (Nghĩa là tổ chức vận chuyển hàng với số lượng lớn qua biên giới Campuchia - Việt Nam theo hợp đồng) vẫn được duy trì và phát triển, đáp ứng được mọi nhu cầu, mọi lực lượng một cách kịp thời, đa dạng của các đơn vị.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #11 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 09:01:22 pm » |
|
Trong công tác thu mua, nhiều biện pháp khôn khéo được áp dụng, từ hình thức thấp đến hình thức cao, từ phân tán nhỏ lẻ đến quy mô tập trung lớn. Cán bộ, chiến sĩ và nhân viên làm công tác hậu cần, thu mua đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo, kết hợp giữa đấu tranh quân sự - chính trị - kinh tế - tài chính, vận dụng ba mũi giáp công trên mặt trận hậu cần ở chiến trường Nam Đông Dương.
Ngoài việc mở các cửa khẩu thu mua, lực lượng hậu cần còn xây dựng các cơ sở thu mua tiếp liệu công khai hợp pháp và bí mật bằng cách đóng giả làm nhà tư sản kinh doanh lớn ngay ở thủ đô Phnôm Pênh hoặc vận động các nhà buôn, các nhà tư sản có tình cảm với cách mạng mua hàng và vận chuyển hàng đến những địa điểm được bố trí sẵn. Tại đây, ta tổ chức lực lượng tiếp nhận và chuyển về căn cứ. Ta còn tranh thủ một số sĩ quan, binh lính, viên chức của địch cùng gia đình họ, dùng phương tiện và lợi dụng những sơ hở trong bộ máy quân sự - kinh tế - hành chính của chính quyền để mua và chuyển hàng cho ta.
Công tác chuyển tiền vào miền Nam qua tuyến đường Trường Sơn trên bộ dù được đóng gói, bao bì một cách thích hợp và an toàn, nhưng khi leo đèo, vượt dãy núi Trường Sơn vẫn bị máy bay địch bắn phá, ngoại tệ bị đốt cháy, con số tổn thất rất lớn. Vì vậy, tháng 4 năm 1965, đồng chí Bảy Nhẫn (Mai Hữu Ích) - Phó Chủ tịch Ngân hàng Ngoại thương, Ủy viên Ban Viện trợ miền Nam được đồng chí Phạm Hùng cử sang Campuchia để phối hợp với đồng chí Mười nhằm thực hiện "phương pháp thanh toán đặc biệt". Đầu tháng 4 năm 1965, đồng chí Mười và đồng chí Bảy Nhẫn đóng vai khách du lịch, đi nghỉ mát và tham quan thắng cảnh ở Kép (Campuchia) để làm việc với nhau. Hai bên đã kết thúc được kế hoạch thực hiện công tác chuyển tiền. Thời gian này, đồng chí Nam Cường - Giám đốc Công ty Tân Á chính thức được chuyển sang Ban Kinh tài Trung ương Cục. Đồng chí Nam Cường ở Phnôm Pênh, đồng chí Dân Sanh ở Sài Gòn phối hợp, hỗ trợ nhau, tăng cường khả năng bảo đảm nhu cầu tài chính cho các chiến trường tại miền Nam. Trong năm 1965, đồng chí Nam Cường và đồng chí Dân Sanh thư nghiệm đổi tiền thành công tốt đẹp giữa tuyến: Sài Gòn - Hồng Kông - Hà Nội và Phnôm Pênh - Hồng Kông - Hà Nội
Để đẩy mạnh việc thu mua vật chất hậu cần tại chỗ cho bộ đội, nhất là gạo, các lực lượng mua bản ở khu vực biên giới phải có tiền Riel (tiền Campuchia). Đồng chí Lê Xuân Ba - cán bộ Phòng Bảo đảm chiến trường thuộc Bộ Tham mưu Tổng cục Hậu cần được cử phụ trách "công tác chi viện đặc biệt", làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, chuyên phụ trách ngoại tệ mạnh chi viện cho hậu cần các chiến trường. Việc đổi tiền Riel được thực hiện tại Hồng Kông (Trung Quốc), rồi đưa tiền về Quảng Châu (Trung Quốc). Từ Quảng Châu đưa về Hà Nội và từ Hà Nội chuyển đến các chiến trường miền Nam. Tiền này được gọi là "Quỹ Ngoại tệ đặc biệt" được cất giữ nghiêm ngặt. Khi cần đưa tiền đi, cán bộ ở Campuchia được gọi về Hà Nội làm việc đến Cục Ngoại hối nhận tiền xong. Tiền được đặt trong "Vali ngoại giao", nếu nhiều thì đóng vào các thùng nghi trang như đồ hộp xuất khẩu, đi theo tuyến hàng không Hà Nội - Phnôm Pênh hoặc Hà Nội - Quàng Châu - Phnôm Pênh mang vào Cơ quan đại diện thương mại Hà Nội tại Phnôm Pênh.
Bộ Chỉ huy Miền chỉ thị cho Đoàn hậu cần 17 tổ chức tiếp nhận tiền Riel và đưa về miền Nam. Đầu tiên việc chuyên chở bằng xe con, có thiết kế hai đáy chuyển về biên giới Campuchia - Việt Nam. Khi đến địa điểm giao nhận bằng các ám hiệu quy định, người giao tiền dừng xe nhanh chóng chuyển thùng tiền giao cho người nhận. Công việc được tiến hành rất nhanh chóng, ăn khớp và an toàn; bên nhận không có điều kiện kiểm đếm lại và ký biên nhận, chủ yếu dựa vào lòng tin. Sau đó, bên nhận tự kiểm và gửi biên nhận đến người giao tiền. Nhưng sau một số lần có khó khăn khi Hải quan Campuchia kiểm tra, Đoàn quyết định mang đi công khai, để trong các va li, khi bị kiểm tra lấy lý do yêu cầu chi tiền mua sắm của Công ty tại các cửa khẩu rất lớn và để trả lương công nhân, sửa chữa xe cộ, mua xăng dầu và các chi phí khác.
Để vận chuyển tiền, Ban Kinh tài Trung ương Cục còn tổ chức mua những con thuyền gắn máy, đóng vai đi buôn gạo, buôn trái cây dọc sông Mê Kông, vận chuyển hàng từ Phnôm Pênh về Nam Bộ mỗi tháng một lần hoặc vài tháng một lần. Bên dưới đáy thuyền có giấu tiền. Người vận chuyển phải bố trí những chuyến hàng rất cẩn thận, tiền chở về được đưa về những địa chỉ nhất định, có người tiếp nhận. Khi giao nhận tiền phải không ai nhận được mặt nhau, để lỡ địch bắt được thì cũng không lần ra đầu mối. Chính vì vậy, địch khó có thể phát hiện và tìm ra manh mối của các cơ sở cách mạng, cả trong thành phố lẫn ngoài vùng căn cứ.
Đầu tháng 7 năm 1966, Đoàn hậu cần 17 tổ chức tiếp nhận hàng chi viện của Trung ương vào cảng Xi-ha-núc Vin và của Đoàn K20, ở Đường C4 hướng tỉnh Stung Treng tổ chức vận chuyển về các khu vực thuộc chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Trong quá trình khai thác nguồn hàng và tổ chức vận chuyển, Đoàn hậu cần 17 đã tìm mọi cách tranh thủ sự ủng hộ của chính quyền địa phương và Quân đội Hoàng gia Campuchia, tận dụng thương nhân chuyển gạo, vũ khí, quân cụ, thuốc men về những nơi do Đoàn quy định cho Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đoàn 559. Ngoài các nhiệm vụ trên, Đoàn hâu cần 17 còn tổ chức khai thác tại chỗ như mua xe ô tô quân sư phụ tùng ô tô, xe đạp; thu mua gạo qua nguồn "đại ngạch", "tiểu ngạch". Trong quá trình hoạt động, Đoàn đã tổ chức các xưởng chuyên làm xe đạp thồ, làm nước mắm và quân cụ; thu mua và sản xuất quân trang cho chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965 - 1966 của đế quốc Mỹ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #12 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:46:40 pm » |
|
3. Hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia, góp phần đánh thắng cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1966 -1967) và bảo đảm cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
Sau thất bại trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, đế quốc Mỹ tiếp tục tăng quân, chuẩn bị mở cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967). Hải quân và không quân Mỹ tăng cường các vụ oanh kích hòng chặn đứng mọi nguồn chi viện của miền Bắc cho các chiến trường miền Nam. Trước tình hình trên, ta mở chiến dịch Sa Thầy (18.10- 6.12.1966), tiến công quân Mỹ và ngụy trên địa bàn hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, nhằm phối hợp với chiến trường Khu 5 và toàn Miền đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của địch. Đồng chí Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến dịch. Địa bàn chiến dịch là huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum và một phần huyện Chư Pa, tỉnh Gia Lai, kéo dài từ biên giới Campuchia - Việt Nam đến Đường số 15 và từ Sùng Lễ đến Sùng Thiện, rộng khoảng 500km2. Đây là khu vực rừng già, rừng non xen kẽ với những bãi cỏ tranh và đồi núi cao. Sông Sa Thầy chảy từ Bắc Kon Tum xuống Nam Gia Lai; phía Đông sông Sa Thầy là sông Pô Kô; ngoài ra, còn nhiều suối, khe chằng chịt. Trên bờ phía Đông sông Pô Kô, địch thiết lập đồn biên phòng Plây Girăng, cách biên giới hai nước Campuchia - Việt Nam vào khoảng 20km. Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn Bộ binh 1; Trung đoàn Bộ binh 95; một tiểu đoàn và một đại đội súng cối 120mm; hai tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm và lực lượng vũ trang địa phương hoạt động trên địa bàn khu chiến dịch.
Bộ Tư lệnh Chiến dịch Sa Thầy yêu cầu các tuyến hành lang vận tải dọc biên giới Campuchia - Việt Nam tích cực vận chuyển vũ khí, lương thực thực phẩm tăng cường cung cấp cho chiến dịch. Các tuyến hành lang vận tải Nam Tây Nguyên cùng lúc vừa phải tổ chức đẩy hàng vươn sâu vào nội địa và hướng về vùng đồng bằng duyên hải, vừa thực hiện vận chuyển chi viện chiến dịch. Đây là một thách thức đối với lực lượng hậu cần Cánh Nam Tây Nguyên. Lúc này, địch tăng cường dùng máy bay trinh sát, máy bay ném bom đánh phá dữ dội suốt ngày đêm kết hợp với tổ chức nhiều toán biệt kích xuyên rừng sục sạo. Lực lượng hậu cần sau nhiều tháng liên tục hoạt động nên sức khỏe giảm sút, quân số hao hụt. Tuy nhiên, Binh trạm Nam và các đơn vị phục vụ cố gắng bổ sung thêm 1 tiểu đoàn vận tải bộ. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ đều nêu cao quyết tâm thi đua phục vụ chiến dịch thắng lợi. Hàng vận chuyển từ các cánh hậu cần Nam Tây Nguyên chủ yếu là lương thực thực phẩm do trên chuyển đến qua đất Campuchia hoặc do các cánh hậu cần trực tiếp thu mua được. Tuyến hành lang vận chuyển của ta từ Cửa khẩu VQ5 về Binh trạm Nam sau đó tiếp tục được đẩy lên Binh trạm Trung, rồi đưa lên cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu. Vượt qua khó khăn, lực lượng vận tải trên tuyến hành lang đã cung cấp cho chiến dịch được 15 tấn đạn, hơn 760 tấn lương thực thực phẩm; bình quân mỗi người 1 ngày được cung cấp 700g gạo, 35g thực phẩm, 22g muối.
Sau gần 2 tháng chiến đấu, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh 34 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 2.400 quân địch (có 2.000 quân Mỹ), đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn, tám đại đội quân Mỹ, hai đại đội quân ngụy; bắn rơi 20 máy bay, phá hủy 25 pháo, 17 xe quân sự.
Sau Chiến dịch Sa Thầy, ta tổ chức cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 - 1967, trọng điểm là miền Đông Nam Bộ. Trước tình hình đó, cuối năm 1966, Quân khu căn cứ biên giới được thành lập (gọi là Quân khu 10) có nhiệm vụ: Củng cố vững chắc căn cứ vùng rừng núi, xây dựng giao thông liên lạc nối liền với đường Trường Sơn ở khu vực sông Sê-rê-pốc, bảo vệ kho tàng ở biên giới phục vụ cho lực lượng vũ trang ở miền Bắc hành quân vào Nam Bộ. Cơ quan Quân khu 10 có các ngành Quân nhu, Quân y, Quân giới, Tham mưu, Kế hoạch, Vận chuyển. Các đơn vị trực thuộc Hậu cần Quân khu 10 có: Đại đội Vận tải bộ (cán bộ, chiến sĩ đơn vị chủ yếu là nữ), Đại đội xe thồ, Xưởng quân giới, Bệnh xá K35, Bệnh xá Quân khu bộ, Trại an dưỡng, Xưởng dược, Xưởng may, bộ phận sản xuất lương thực... Việc thu mua và vận chuyển trên các tuyến của Quân khu 10 gặp rất nhiều khó khăn do lực lượng hậu cần ít, địa bàn thưa dân, vùng căn cứ sản xuất chủ yếu là bắp và mỳ (sắn); tài chính trên cấp thường không đủ, lại chủ yếu là tiền miền Nam nên việc thu mua gạo trên đất Campuchia bị hạn chế. Cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên các tuyến hành lang phải bám rẫy sản xuất để tự bảo đảm cho đời sống, còn lương thực thực phẩm thu mua được đều vận chuyển đến cho các đơn vị.
Tháng 4 năm 1967, Quân khu 6 thành lập tuyến hành lang vận tải H50 từ biên giới Campuchia về các địa bàn của Quân khu. Tuyến hành lang vận tải dài hơn 300km xuyên qua rừng núi về các căn cứ Khu phải đi qua hai đường số 14 và 20 đang bị địch kiểm soát hết sức gắt gao. Các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ trên tuyến hành lang H50 phối hợp chặt chẽ với các đoàn hậu cần của Quân khu 10 và Đoàn hậu cần 86, vừa tiếp nhận, thu mua hàng hóa, vừa phải chiến đấu mở đường, bảo vệ đường để vận chuyển hàng hóa an toàn. Tuy gặp nhiều gian khổ, ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ hậu cần tuyến hành lang H50 (khoảng 1.000 người) vẫn nêu cao ý chí quyết tâm cùng các cánh vận tải khác hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Ở hướng Bắc và Đông Bắc Sài Gòn, ta mở chiến địch tiến công địch trên hướng Bình Long - Đường số 13 (8.6.9.7.1966), chặn đánh các cuộc hành quân của địch đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, Chiến khu Đ, vùng biên giới hai tỉnh Bình Long, Phước Long bảo vệ căn cứ cơ quan đầu não của Miền và hành lang vận tải của ta. Lực lượng chiến đấu gồm Sư đoàn Bộ binh 9, Trung đoàn 16 của Sư đoàn Bộ binh 7, các đơn vị binh chủng độc lập và phối thuộc cùng lực lượng vũ trang địa phương, quân số khoảng 10.000 người. Đoàn hậu cần 85 đứng chân trên khu vực tổ chức các chân hàng phía trước trực tiếp bảo đảm cho các đơn vị chiến đấu. Các tuyến hành lang vận tải của Đoàn hậu cần 85 được nối trực tiếp với các đoàn hậu cần tuyến sau như: 81, 82 và 83 để huy động nhân vật lực chi viện cho mặt trận. Do được chuẩn bị từ trước, các cánh hậu cần nhanh chóng hoàn thành chỉ tiêu vận chuyển chiến dịch. Hậu cần Miền tăng cường cán bộ, nhân viên kỹ thuật, quân y, thuốc men cho các bệnh viện của Đoàn hậu cần 85, đưa khả năng thu dung điều trị lên 2.000 giường, các đội phẫu thuật lâm thời sẵn sàng chi viện cho phía trước. Lương thực thực phẩm, đạn dược được chuẩn bị theo quy định. Hội đồng Cung cấp Tiền phương huy động hơn 600 dân công của hai tỉnh Bình Dương và Tây Ninh, 200 cán bộ, nhân viên các cơ quan dân - chính - đảng Trung ương Cục, trên 400 cán bộ, nhân viên Bộ Tư lệnh Miền tham gia phục vụ chiến dịch, chủ yếu làm nhiệm vụ vận tải.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #13 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:47:46 pm » |
|
Từ tháng 9 năm 1966, địch đánh vào Chiến khu Dương Minh Châu, mở đầu cuộc "Hành quân Át-tơn-bo-rơ"1 (Cuộc "Hành quân Át-tơn-bo-rơ" (A. Attleboro, 14.9 - 25.11.1966) mở đầu cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) của quân Mỹ và ngụy, nhằm triệt phá căn cứ, tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến và một bộ phận chủ lực Quân Giải phóng, hỗ trợ cho chương trình bình định xung quanh Sài Gòn. Lực lượng hành quân: Quân Mỹ có ba lữ đoàn thuộc các sư đoàn bộ binh 1 và 25, Lữ đoàn Bộ binh nhẹ 196, Lữ đoàn Dù 173, một tiểu đoàn của Sư đoàn Bộ binh 4, năm tiểu đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh; quân ngụy Sài Gòn có: chín tiểu đoàn của các sư đoàn bộ binh 5, 25 và lữ đoàn dù (tổng số quân 30.000) được sự chi viện của 1.600 lần chiếc máy bay chiến thuật, 225 lần chiếc máy bay chiến lược B-52. Sau hơn 2 tháng hành quân, bị bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ (Sư đoàn 9, Trung đoàn 16) và lực lượng vũ trang Tây Ninh chặn đánh, tiến công mãnh liệt ờ Bàu Gòn, Chà Dơ, Trảng Lớn, Dầu Tiếng, Gò Dầu, Suối Đá... gây thiệt hại nặng, với 4.500 quân bị loại khỏi vòng chiến đấu, 65 máy bay, bảy khẩu pháo, hàng trăm xe quân sự bị phá hủy, phá hỏng, buộc địch phải chấm dứt cuộc hành quân, không đạt mục tiêu đề ra), Bộ Tư lệnh Miền quyết định sử dụng một bộ phận Sư đoàn Bộ binh 9 và Trung đoàn Bộ binh 16 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích mở chiến dịch phản công chặn phá các mũi, hướng, tiến tới đánh bại cuộc "Hành quân Át-tơn-bo-rơ" bảo vệ được căn cứ kho tàng. Trong quá trình chiến đấu, Cục Hậu cần Miền và Đoàn hậu cần 82 chỉ đạo trực tiếp các tuyến hành lang vận tải vừa đảm bảo cho tác chiến, vừa tiếp tục làm công tác chuẩn bị. Đoàn hậu cần 17 được lệnh nhanh chóng thu gom hàng từ Phnôm Pênh đưa về biên giới qua hai cửa khẩu 2 và 3. Các đơn vị hậu cần huy động lực lượng tiếp nhận chuyển hàng vào sâu nội địa phục vụ các đơn vị chiến đấu. Địch cho máy bay đánh phá dữ dội, kết hợp với bộ binh tiến hành càn quét hòng khoá chặt biên giới, chặn cắt các hành lang vận tải của ta từ Campuchia về. Đối phó với sự đánh phá ác liệt của địch ta tổ chức phân ra thành các tuyến nhỏ lẻ tiếp tục làm nhiệm vụ. Địch đánh phá ban ngày, ta tích cực vận chuyển về đêm đến vị trí bộ đội đánh địch.
Đầu tháng 10 năm 1966, trên cơ sở đánh giá chất lượng các tuyến đường, Đảng ủy Đoàn 559 chủ trương sử dụng tuyến vận chuyển cơ giới trên các đoạn từ Mụ Giạ vào Sa Đi - La Hạp - A Túc, từ Chà Vằn vào Tà Xẻng, từ Phi Hà đi Tà Ngâu. Đảng ủy Đoàn nhấn mạnh: Muốn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vận chuyển phải tiến hành các biện pháp tổng hợp, trước hết là phát động toàn tuyến "đánh địch mà đi". Phát huy tất cả các lực lượng đánh máy bay, biệt kích để bảo vệ hành lang, bảo vệ cầu đường, bảo vệ vận tải. Lực lượng đảm bảo giao thông phải coi cầu đường là chiến trường, bám sát cầu đường, làm đường và sửa đường ban ngày là chính, kết hợp khôi phục đường cũ với mở thêm đường mới để đảm bảo giao thông thông suốt cả mùa khô. Tổ chức vận chuyển phải vận dụng cách "đánh nhỏ ăn chắc" đi theo đội hình trung đội, tiểu đội là chủ yếu. Đặc biệt, phải tăng cường lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ. Giao cho các binh trạm trực tiếp chỉ huy lãnh đạo các lực lượng vận tải, công binh, phòng không, giao liên trong biên chế; tăng cường cán bộ tại các trọng điểm. Đầu tháng 11 năm 1966, trên trục đường từ Phi Hà đi Tà Ngâu trên đất Campuchia ta bố trí hai tiểu đoàn công binh, nhưng do mùa mưa kéo dài đến giữa tháng 11 năm 1966 nên thời gian bước vào kế hoạch vận chuyển chậm hơn. Trong khi đó, hoạt động của địch cũng tăng dần. Không quân địch rải chất độc hóa học xuống khu vực Phi Hà, dốc 200 thuộc Đường C4, bố trí lực lượng biệt kích dọc tuyến đường từ Bô Phiên đến Tà Xẻng.
Cuối năm 1966 để tăng cường tiếp nhận vũ khí, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Đoàn 18A và Đoàn 31. Đoàn 18A do đồng chí Bùi Phùng - Cục phó Cục Hậu cần Miền làm Đoàn trưởng, có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí do Đoàn hậu cần 17 chuyển xuống tại Sa-tum, Đường số 7 trên đất Campuchia giao cho Đoàn hậu cần 85. Đoàn 31 do đồng chí Lâm Quốc Đăng - Trưởng đoàn, có nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí của Đoàn hậu cần 17 chuyển giao cho Đoàn hậu cần 86. Tại khu vực tiếp nhận, Đoàn 31 cho xây dựng hai kho đạn K1 và K2. Thời gian sau, hai đoàn hậu cần 85 và 86 trực tiếp tiếp nhận hàng của Đoàn hậu cần 17, Đoàn 31 giải thể.
Ngày 22 tháng 2 năm 1967, địch huy động 45.000 quân, 11.000 xe quân sự (có 2.000 xe thiết giáp), 600 máy bay mở cuộc "Hành quân Gian-xơn Xi-ty"1 (Cuộc "Hành quân Gian-xơn Xi-ty" (A. Junction City, 22.2 - 15.4.1967) nhằm triệt phá căn cứ, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và chủ lực Quân Giải phóng, bịt chặt biên giới Campuchia - Việt Nam, mở rộng vành đai an ninh quanh Sài Gòn. Lực lượng hành quân của quân đội Mỹ có 31 tiểu đoàn bộ binh và dù (thuộc các sư đoàn 1, 25, 4, 9 và các lữ đoàn 196, 173), một trung đoàn và tám tiểu đoàn tăng thiết giáp, bốn trung đoàn pháo binh, sáu tiểu đoàn công binh; quân ngụy có một lữ đoàn thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động quân (tổng số khoảng 45.000 quân), được sự yểm trợ của 17 phi đoàn không quân chiến thuật, máy bay trực thăng, vận tải và hàng trăm lần chiếc máy bay chiến lược B-52. Kết hợp tiến quân đường bộ, đổ bộ đường không cùng với ưu thế về hỏa lực máy bay, pháo binh, quân Mỹ và quân ngụy liên tiếp mở hai đợt tiến công vào căn cứ, nhưng bị đánh trả quyết liệt. Sau gần 2 tháng hành quân không đạt mục tiêu đề ra, lại bị tổn thất nặng (hơn 14.000 quân bị loại khỏi vòng chiến đấu, mất 160 máy bay, 992 xe quân sự, 112 khẩu pháo...), buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt cuộc hành quân) đánh phá căn Dương Minh Châu. Đây là cuộc hành quân lớn nhất trong cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai. Để đảm bảo đánh bại cuộc hành quân của địch, 4.000 quả đạn ĐKB được ưu tiên vận chuyển cho Nam Bộ. Cuối tháng, ta đã đưa hàng vào Tà Xẻng được 120 tấn và Tà Ngâu được 170 tấn. Từ Tà Ngâu ta vận động đồng bào Việt kiều ở ven sông Mê - Kông huy động thuyền chở vũ khí vào Kra-chê, sau đó giao cho Nam Bộ. Nhờ được chi viện nhiều vũ khí, đạn dược qua tuyến 559, quân và dân Đông Nam Bộ đánh bại cuộc "Hành quân Gian-xơn Xi-ty". Thắng lợi to lớn của quân và dân ta càng làm Bộ đội Trường Sơn lạc quan, tin tưởng, quyết tâm thi đua thực hiện công tác vận tải. Cuối tháng 4 năm 1967 vật chất hậu cần giao cho chiến trường Nam Bộ được 768 tấn, đạt 156% kế hoạch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #14 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:49:47 pm » |
|
Sau thất bại trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 -1967, ở chiến trường miền Nam, trước yêu cầu của tình hình mới và để thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định đẩy mạnh nhiệm vụ chi viện miền Nam. Tuyến 559 được chỉ thị vừa thực hiện nhiệm vụ vận chuyển chiến lược, vừa vận chuyển chiến dịch. Để thực hiện quyết tâm trên, Đoàn 559 quyết định kiện toàn tổ chức, bố trí phân chia lại phạm vi phụ trách của các binh trạm. Các binh trạm trên trục dọc 1, 2, 3, 4, 5 và 6 được đổi thành binh trạm 31, 32, 33, 34, 35 và 36. Từ Bạc vào phía Nam, hoạt động trên đất Campuchia có Binh trạm 37 phụ trách từ Sê-ca-mán vào Tà Xẻng và Đường C4 từ Phi Hà đến Tà Ngâu, tuyến đường sông từ Tà Ngâu đến Nậm Kông. Biên chế lực lượng có Trung đoàn Công binh 98, Tiểu đoàn Cao xạ 16, Tiểu đoàn Bộ binh 2, Tiểu đoàn Vận tải ô tô 58, Tiểu đoàn Giao liên 16, Đoàn thu mua (có Đại đội Tàu thuyền), Đại đội Thông tin, Đội Điều trị, Bệnh xá, ba đội phẫu thuật, Trạm Trung tu ô tô, Trạm Trung tu pháo, Đội Chuyên gia. Đồng chí Đỗ Hữu Đào làm Binh trạm trưởng và đồng chí Vũ Quang Bình làm Chính ủy. Sở Chỉ huy Binh trạm 37 bố trí ở Phi Hà.
Tuy nhiên, tình hình các binh trạm phía Nam vẫn còn nhiều khó khăn, trở ngại khi vận chuyển, một số "dốc của" bị đánh sập từ mùa trước chưa khôi phục được; đường mới mở còn rất hẹp và dốc, xe chỉ chạy được một chiều với đội hình nhỏ, tốc độ chậm, lại bị máy bay địch khống chế mạnh. Hướng Binh trạm 37 bị địch đánh mạnh ờ Lâm Phu, dốc 200 nên hàng từ Tà Ngâu trên đất Campuchia về Phi Hà bị hạn chế. Để nắm chắc và phát triển đều trên toàn tuyến khi phục sự mất cân đối giữa các binh trạm phía ngoài và các binh trạm phía trong, đồng chí Đồng Sỹ Nguyên - Tư lệnh Đoàn 559 chỉ huy đoàn kiểm tra các binh trạm phía Nam từ khu vực Bạc đến Đường C4 trên đất Campuchia, giúp cho các binh trạm tiếp thu những kinh nghiệm của các binh trạm phía ngoài về xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy hiệp đồng binh chủng, chiến thuật vận chuyển, bảo đảm cầu đường tác chiến và về xây dựng mạng thông tin thông suốt trên toàn tuyến. Đợt kiểm tra tạo ra sự chuyển biến mạnh về mọi mặt nhất là lòng tin vào khả năng hoàn thành nhiệm vụ của các binh trạm phía Nam.
Để mở rộng địa bàn của các tuyến hành lang vận chuyển chuẩn bị cho tác chiến trong năm 1968, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công trên hai hướng Bình Long và Phước Long trong những tháng cuối năm 1967. Lực lượng tham gia gồm ba sư đoàn bộ binh 5, 7 và 9. Để đảm bảo phục vụ chiến dịch kịp thời với quân số tham gia lớn, Cục Hậu cần Miền thành lập cơ quan tiền phương, do Thượng tá Bùi Phùng - Phó Cục trưởng Cục Hậu cần Miền phụ trách, hai đoàn hậu cần 85 và 86 được giao nhiệm vụ trực tiếp bảo đảm cho chiến dịch, ba đoàn hậu cần 81, 82 và 83 làm tuyến sau.
Trên hướng tiến công chủ yếu, Tiền phương Hậu cần Miền tăng cường cho các tuyến vận tải ba đội điều trị (6,7 và 20), hai tiểu đoàn vận tải xe thồ 48 và 49 với 400 xe đạp thồ và bảy xe ô tô GMC cho Đoàn hậu cần 85; đồng thời, tổ chức thêm hai bệnh viện K116 và K71A của Hậu cần Miền ở Tây Đường số 13 làm tuyến hậu phương điều trị, thu dung. Quá trình vận chuyển trên các tuyến hành lang bị địch đánh phá dữ dội. Thời tiết mưa nhiều, đường trơn, lầy lội nên vận chuyển rất khó khăn. Quân Mỹ lại rải chất độc hóa học trên phạm vi rộng với khối lượng rất lớn. Nhiều đơn vị vận tải quân số hao hụt, sức khỏe cán bộ, chiến sĩ bị suy kiệt; lực lượng vận tải trên các cánh phải huy động sự giúp đỡ lớn của nhân dân để vận chuyển hàng. Nhân dân trên các tuyến hành lang vận tải vừa chăm sóc bộ đội bị ốm, tham gia vận chuyển hàng, vừa bảo vệ tuyến hành lang trước các hoạt động đánh phá của địch.
Bộ Tư lệnh Miền đã tăng cường lực lượng công binh, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng hậu cần sửa chữa và làm mới nhiều tuyến hành lang vận chuyển. Với lực lượng công binh được tăng cường, hai đoàn hậu cần 85 và 86 cùng với Hội đồng Cung cấp Tiền phương Miền và Hội đồng Cung cấp hai tỉnh Bình Long và Phước Long mở được 241km đường xe đạp thồ gồm hai tuyến ngang và hai tuyến dọc (hai bên Đường số 13) bảo đảm vận chuyển người và hàng từ phía sau ra. Nhờ có các tuyến đường được sửa chữa và làm mới nên khối lượng hàng vận tải tăng lên nhanh. Tính đến ngày 25 tháng 10 năm 1967, các đoàn hậu cần 85 và 86 đã tiếp nhận 2.280 tấn hàng do Đoàn hậu cần 17 chuyển tới và thu mua tại chỗ để dự trữ cho chiến dịch. Sau ba tháng hoạt động, Đoàn 18A đã chuyển được 2.000 tấn vũ khí đạn dược phục vụ chiến dịch. Khối lượng vật chất vận chuyển được đảm bảo cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch có đủ ăn đến hết tháng 12 năm 1967. Tuy thời gian chuẩn bị gấp, nhưng lực lượng hậu cần đã vận chuyển và cung cấp gần 4.000 tấn lương thực thực phẩm, bảo đảm cho bộ đội mỗi người trong một tháng được 21 kg gạo, 3,2kg thực phẩm, 0,3kg đường và 0,6kg muối. Đồng thời, vận chuyển được 157,5 tấn đạn dược (tiêu thụ hết 38,5 tấn) và số thương bệnh binh cũng được vận chuyển đưa về tuyến sau điều trị kịp thời.
Đêm 26 rạng ngày 27 tháng 10 năm 1967, Sư đoàn Bộ binh 5 tổ chức tiến công và pháo kích căn cứ địch ở Phước Quả, Phước Long mở màn chiến dịch. Đêm 28 tháng 10 năm 1967, Sư đoàn Bộ binh 9 tiến công Lộc Ninh, Sư đoàn Bộ binh 7 đánh địch trên Đường số 13. Chiến dịch kết thúc thắng lợi.
Để tiếp tục chi viện cho chiến trường Tây Nguyên và nối thông được với tuyến đường vận tải chiến lược 559, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở thêm tuyến đường chạy dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, từ tỉnh Phước Long ra đến bờ sông Sê-rê-pốc tỉnh Quảng Đức đài 200km1 (Tới tháng 7 năm 1968, tuyến đường này hoàn thành đúng tiến độ và bảo đảm chất lượng có thể sử dụng được cả trong mùa khô lẫn mùa mưa, các loại xe kéo pháo chạy được).
Trên chiến trường Đông Nam Bộ, để tập trung lãnh đạo công tác chuẩn bị hậu cần cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cuối năm 1967, Bộ Tư lệnh Miền và Cục Hậu cần Miền quyết định tách cánh vận chuyển hậu cần Đông Đường số 13 của Đoàn hậu cần 85 để thành lập Đoàn hậu cần 70 do đồng chí Cao Phong - Đoàn trưởng, đồng chí Sáu Sâm làm Chính ủy, đứng chân tại khu vực sông Măng (Bắc Cuốc Rưới và Nam Đường số 14K) cùng với Đoàn hậu cần 50 làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng của hai đoàn hậu cần 17 và 86 để cấp phát các nơi và vận chuyển xuống Đoàn hậu cần 81 để bảo đảm cho các sư đoàn bộ binh 5,7,9 và một số đơn vị Miền hoạt động xung quanh khu vực Đường số 13. Đoàn hậu cần 70 được tổ chức thành bốn cánh quân nhu hậu cần: Cánh H7 hoạt động ở sông Măng làm nhiệm vụ thu mua hàng tại khu vực Lộc Ninh và Snuôl (Campuchia), lực lượng từ 60 - 70 người; Cánh H8 đứng chân khu vực ven sông Bé làm nhiệm vụ vận tải và quản lý kho tàng, có khoảng 100 người; Cánh H10 đứng chân tại khu vực Nam Đồng Xoài làm nhiệm vụ tiếp nhận hàng từ tuyến H9 chuyển cho Đoàn hậu cần 81, có khoảng 100 người. Lực lượng vận tải của Đoàn hậu cần 70 hoạt động trong phạm vi rộng, phía Đông giáp Đoàn hậu cần 86, phía Tây giáp Đoàn hậu cần H50 (Quân khu 6), phía Bắc tiếp giáp Campuchia. Phương tiện vận tải chủ yếu bằng xe đạp thồ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #15 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:50:55 pm » |
|
Tại thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia dưới danh nghĩa là Công ty Hắc Lỷ, Đoàn hậu cần 17 tổ chức lực lượng vận tải đường bộ và đường sông, xây dựng lực lượng bảo đảm kỹ thuật xe - máy để bảo đảm cho phương tiện vận tải của Công ty và các đoàn hậu cần ở biên giới Campuchia - Việt Nam.
Về vận tải đường sông, Đoàn hậu cần 17 không tổ chức lực lượng riêng mà thuê tàu của tư nhân chở gạo và các mặt hàng khác từ thủ đô Phnôm Pênh lên tỉnh Stung Treng giao cho chiến trường Nam Tây Nguyên, thuê tàu nhỏ và ca nô chở vũ khí từ Hạ Lào về Stung Treng. Đoàn còn thuê tàu của cơ sở Việt kiều chở vũ khí từ Phnôm Pênh xuống tỉnh Long Bình giao cho Quân khu 9.
Về vận tải đường bộ, Đoàn hậu cần 17 xây dựng nhiều tuyến tải. Tuyến tải từ cảng Xi-ha-núc Vin về tỉnh Kông-pông Spư dài 170km, hàng để tại kho của Đoàn và thuê 1 đại đôi Quân đội Hoàng gia Campuchia canh gác. Tuyến tải từ Phnôm Pênh lên Stung Treng chở gạo và hàng hóa khác cho chiến trường Nam Tây Nguyên và chở vũ khí về giao cho Đoàn hậu cần 86, quãng đường dài 500km. Tuyến tải từ Phnôm Pênh đi các hướng chở vũ khí giao cho các đoàn hậu cần 50, 70, 86 và đến tỉnh Svây Riêng giao cho Quân khu 8, quãng đường dài từ 150 - 300km. Trong các chuyến đi trên mỗi tuyến gồm 100 xe, trong đó Đoàn có 10 xe, còn lại là xe của tư nhân.
Về xưởng, trạm sửa chữa xe: Đoàn 17 tổ chức Xưởng sửa chữa xe vận tải, có năm thợ và thuê thêm 20 thợ là Việt kiều; Xưởng sửa chữa xe con có ba thợ và thuê thêm bảy thợ Việt kiều. Đồng thời, tổ chức bốn trạm sửa chữa xe bố trí dọc đường vận chuyển: Trạm sửa chữa đứng chân ở thị xã Kra-chê bảo đảm cho xe trên tuyến đường Phnôm Pênh - Stung Treng và là nơi liên lạc của Đoàn với Hậu cần Miền. Trạm sửa chữa ở Mi Mốt có năm thợ và lái, được bố trí gần bãi tiếp nhận hàng của Đoàn hậu cần 85. Trạm ở ngã ba Sum trên Đường số 14K, cách thị xã Kra-chê hơn 4km, bố trí gần bãi tiếp nhận của Đoàn hậu cần 70, có bốn thợ và lái. Trạm sửa chữa bố trí gần bãi tiếp nhận của Đoàn hậu cần 86, cách huyện lỵ Srê Khtum 6km, có năm thợ. Các trạm sửa chữa này còn phải bảo đảm bảo dưỡng, sửa chữa xe cho các đoàn hậu cần 70, 85 và 86.
Ngoài ra, Đoàn 17 còn được giao nhiệm vụ bảo đảm trang bị xe cho các đoàn hậu cần. Từ cuối năm 1966 đến năm 1969, Đoàn đã mua và sửa chữa khôi phục được 200 xe. Trong đó, có 100 xe trọng tải lớn (30% có đầu tời), 20 xe Dodge, 30 xe Landrover, 50 xe Jeep đưa về các đoàn hậu cần ở khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia (Đoàn hậu cần 86 được 13 xe, gồm: ba xe GMC, hai xe Dodge, hai xe Toyota, bốn xe Jeep, một xe Landrover; Đoàn hậu cần 85 được hai xe Dodge, hai xe GMC). Đoàn còn mua cho Hậu cần Miền 40 tấn phụ tùng ô tô, 500 bộ săm lốp, 500 bình điện, 300 bộ đồ nghề theo xe, 20 bộ dụng cụ sửa chữa nhỏ, một số máy, thiết bị dùng cho sửa chữa xe và 1.200 tấn xăng dầu.
Để thực hiện việc mua xe ô tô, Đoàn hậu cần 17 lợi dụng thế hợp pháp của Công ty Hắc Lỷ là hằng ngày, xe phải vận chuyển đến tận kho các đoàn hậu cần nên Đoàn chủ trương đưa thêm xe hàng trà trộn vào đoàn xe, khéo léo qua mặt sĩ quan, binh lính Campuchia tại các cửa khẩu để giao xe cho các đoàn hậu cần sử dụng. Để tiết kiệm tiền, Đoàn tổ chức thêm một trạm sửa chữa ở Phnôm Pênh để chuyên đi thu mua xe tại các bãi xe hỏng của Quân đội Hoàng gia Campuchia và mua xe của tư nhân chất lượng từ 70 - 80%, khôi phục sửa chữa lại. Xe mua được của Quân đội Hoà gia được cải tiến lại thành các loại xe từ 2 - 3 cầu đủ sức vận chuyển các tuyến đường lầy lún.
Theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền Quân khu 8 tổ chức xây dựng tuyến vận tải tiếp nhận vũ khí từ Campuchia vê nước. Đơn vị P100 của Quân khu được thành lập (9.1966) đóng tại Tà Lu, Phum Soài và Tăng Lèo thuộc huyện Ka-ra-lia, tỉnh Svây Riêng. Đồng chí Võ Quốc Khánh - Phó phòng Hậu cần Quân khu được cử giữ chức Chỉ huy trưởng, đồng chí Phan Văn Tào - Giám đốc Xưởng X5 làm Chỉ huy phó. Đơn vị P100 có nhiệm vụ tổ chức lực lượng, kho tàng, bến bãi và phương tiện vận tải để tiếp nhận vũ khí của Trung ương chi viện, phân phối cho các quân khu 7, 8 và 9. Lực lượng chủ yếu là của Xưởng X5 (300 người) là con em Việt kiêu ở Campuchia. Mùa mưa năm 1966, tại Đồng Tháp Mười bị trận lụt nặng, Bệnh xá X11 và Xưởng X5 phải rút lên biên giới đứng chân quanh khu vực đơn vị P100. Hàng nghìn đồng bào ở hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường cũng phải lên vùng biên giới Campuchia - Việt Nam tránh lũ. Tuy có khó khăn trong sinh hoạt đời sống, nhưng việc dựa vào nhân dân huy động nguồn lực tại chỗ phục vụ hậu cần có nhiều thuận lợi. Sau một thời gian tổ chức lực lượng, đơn vị P100 đã có các đại đội kho và vận tải thô sơ, với gần 500 kho hầm xi măng, mỗi hầm có sức chứa khoảng một tấn hàng, 20 xe trâu cùng 40 con trâu kéo, 50 xe ba gác, ba xe mô tô và nhiều trang cụ khác. Cuôi tháng 10 năm 1966, đơn vị P100 đón nhận 100 tấn hàng đầu tiên do xe của Quân đội Hoàng gia Campuchia chuyển đến. Sau đợt nhận hàng này, từ tháng 11 năm 1966 đến cuối năm 1967, mỗi tháng đơn vị P100 tiếp nhận hai đợt hàng, mỗi đợt trên dưới 400 tân, kịp thời phân phối đi các chiến trường Nam Bộ.
Để đứng chân hoạt động trên đất Campuchia được lâu dài và an toàn, ngoài những thỏa thuận giữa hai nhà nước theo các nguyên tắc cơ bản, ta phải đối phó với rất nhiều khó khăn do một số viên chức chính quyền địa phương và sĩ quan, binh lính Campuchia gây ra. Một bộ phận lực lượng vũ trang của Chính phủ Campuchia được đế quốc Mỹ can thiệp đã tìm cách cản trở việc vận chuyển, thậm chí có hành động cướp hàng của ta. Trước tình hình đó, các cán bộ, chiến sĩ ta kiên quyết dựa vào pháp lý của Campuchia để đấu tranh, đồng thời sẵn sàng đánh trả mọi hành động cướp hàng của chúng. Điển hình, đầu tháng 2 năm 1967, trong chuyến vận tải hàng từ Campuchia do đồng chí Năm Hòa - Cục trưởng Cục Hậu cần Miền, cùng Đoàn hậu cần 17 với gần 100 xe ra chuyển hàng về kho ở Km 0 Lộc Ninh. Dọc đường về qua hai tỉnh Stung Treng và Kra-chê, các sĩ quan Quân đội Hoàng gia Campuchia yêu cầu giữ xe, lấy vũ khí để kiếm tiền. Anh em vận tải kiên quyết đấu tranh, ôm mìn sẵn sàng cho nổ nếu không cho đi. Trước hành động kiên quyết đó, các sĩ quan ở hai tỉnh trên đành phải nhượng bộ. Do vậy, trong những đợt đầu năm 1967, các tuyến hành lang của ta tiếp nhận vận chuyển được một khối lượng lớn vũ khí hỏa lực mạnh, chất nổ... Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, súng chống tăng B-40, B-41 và súng máy phòng không 12,7mm được trang bị rộng rãi cho du kích và bộ đội địa phương, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang tại chỗ diệt xe tăng, xe cơ giới và máy bay địch, góp phần đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967) của địch.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #16 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:51:55 pm » |
|
Mỗi đợt nhận hàng, thường có cán bộ, sĩ quan Campuchia đến nhũng nhiễu và hạch sách, ta phải lựa chiều tranh thủ cảm tình với họ, thực hiện nghiêm túc chính sách "Miên vận", đơn vị P100 phải tốn kém khá lớn tài chính "làm luật" với đám người này. Đầu năm 1967, trước lúc đơn vị P100 tổ chức đưa chuyến hàng về nước, đồng chí Phan Văn Tào đã đến gặp viên sĩ quan Campuchia phụ trách địa bàn báo trước và biếu 50.000 Riel. Viên sĩ quan này vui vẻ nhận tiền nhưng đến đêm khi đơn vị P100 lấy hàng từ các hầm kho, dùng xe ba gác đưa về biên giới Việt Nam, tên này đã trở mặt cho lính bắt hết đưa về Chủ tịch xã với lý do "Tỉnh trưởng ra lệnh". Ta phải dùng mọi cách, tốn hơn một triệu Riel và phải mất 1 tháng chúng mới chịu thả người, phương tiện và hàng hóa. Trước tật xấu của đám người này, nhân dân Campuchia và Việt kiều trên địa bàn luôn hết lòng ủng hộ giúp đỡ ta về nhiều mặt, từ nhà ở, phương tiện đi lại đến cung cấp lương thực thực phẩm, khi cần họ có thể giúp bốc xếp và vận chuyển hàng... Về ăn, Quân nhu Phòng Hậu cần Quân khu 8 cấp tiền, đơn vị nhờ bà con Việt kiều ở Campuchia mua lương thực. Đơn vị P100 dùng tiêu chuẩn tiền ăn được cấp, mua muối từ nội địa chuyển lên nên luôn có từ 20 - 30 tấn muối dự trữ trong kho. Muối được đem đổi lợn gà, trâu bò, chó... Ở Ka-ra-lia đồng bào Khơme rất thiếu muối, ta dùng muôi đổi thực phẩm cho dân vừa rẻ vừa giúp nhân dân Campuchia có muối ăn. Mỗi ki-lô-gam muối đổi được một con gà hoặc 1kg thịt lợn, cứ 200kg muối đổi được một con trâu... Từ đầu năm 1967, Phòng Hậu cần Quân khu đã dùng phương thức này, quan hệ trực tiếp với thương nghiệp tỉnh Svây Riêng, giao muối cho bạn tại biên giới, bạn chuyển trâu bò, lợn gà về các đơn vị của ta đứng chân trên đất Campuchia (lúc này đã trở thành căn cứ phía sau của Khu ủy và Bộ Tư lênh Quân khu  . Có tuần Hậu cần Miền nhận một lúc 5 tấn gà, hàng trăm con lợn đủ cung cấp cho bộ đội và dự trữ. Ngoài ra, bộ đội ta còn tổ chức đóng đáy, chất chà trên các sông, tự túc được cá ăn và làm mắm. Để chuyển vũ khí và hàng hỏa từ biên giới về nước, chiến trường Nam Bộ phải sử dụng lực lượng và ghe xuồng của hai đại đội vận tải thủy X15 và X16 của Quân khu 8, có một đại đội của Quân khu 9 và một đại đội của Đặc khu Sài Gòn - Gia Định. Các lực lượng vận tải của ba quân khu 7, 8 và 9 nhận hàng từ Tăng Lèo đi qua sông Cái Cỏ rẽ xuống sông Trăng, đi qua kênh Nguyễn Văn Trỗi, Đìa Phèn, Cả Trấp, Gò Gòn, kênh 61 xuống kênh Ngang, cắt qua kênh Dương Văn Dương. Trường hợp kênh Dương Văn Dương bị ngăn chặn thì cắt qua kênh Phước Xuyên, từ đó tiếp tục dựa vào các tuyến kênh ngang, kênh tắt len lỏi vượt qua đồn bốt địch, chuyển về địa bàn quân khu mình theo kế hoạch. Tuy khó khăn gian khổ và có lúc phải chịu hy sinh, tổn thất do địch phát hiện đánh phá ngăn chặn, nhất là thời gian giữa mùa mưa và mùa khô "lỡ xuồng, lỡ bộ" (tải xuồng gặp cạn, tải bộ gặp lầy). Song bằng mọi hình thức và phương thức vận tải, đến cuối năm 1967 ta đã tiếp nhận và đưa về Quân khu 8 hơn 8.000 tấn gồm vũ khí đạn, thuốc men, dụng cụ quân y và nhiều khí tài quân sự khác. Ở Quân khu 9, từ tháng 6 năm 1967, ta bắt đầu triển khai nhiệm vụ tiếp nhận hàng quá cảnh trên đất Campuchia, hình thành tuyến vận tải từ biên giới về nội địa (thường gọi là tuyến đường C1). Đồng chí Trương Tấn Lộc (Bảy Lúa) - Phó Chính ủy Phòng Hậu cần Quân khu được Khu ủy chỉ định trực tiếp lên biên giới cùng đồng chí Sáu Đặc phụ trách đơn vị Đ80 (đang hoạt động tiếp liệu từ Phnôm Pênh về biên giới Campuchia - Việt Nam khu vực tỉnh Hà Tiên), tổ chức nghiên cứu địa hình, tình hình mọi mặt liên quan, sau đó báo cáo bằng vô tuyến điện về Quân khu giải quyết. Nhận nhiệm vụ của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu, đồng chí Trương Tấn Lộc đã cùng bộ phận cơ yếu điện đài và ba chiến sĩ bảo vệ từ căn cứ U Minh Hạ hành quan đến Sóc Chuốt thuộc xã Bàn Tây Mía, huyện Túc Mía tỉnh Kam-pốt gặp đồng chí Sáu Đặc và 20 anh em đơn vị Đ80 đang có mặt ở đây họp bàn triển khai công việc. Cuối tháng 6 năm 1967, cuộc họp lần đầu giữa hai đồng chí Bảy Lúa, Sáu Đặc và một số anh em đơn vị Đ80 diễn ra trong căn nhà sàn của đồng bào Khơme tại Rọc Dứa. Cuộc họp bàn việc chuyển 90 tấn hóa chất kẹt tại Phnôm Pênh từ cuối năm 1963 về nội địa và tiếp nhận 300 tấn vũ khí của Cục Hậu cần Miền tại thị trấn Túc Mía (cách biên giới 4km) vào mùa khô năm 1967 - 1968, với điều kiện mỗi đêm phải tiếp nhận từ 30 - 50 tấn, trong lúc chính quyền Campuchia chỉ cho phép ta thường xuyên trên đất bạn không quá ba người, hàng nhận sau hai giờ phải đưa về hết bên đất Việt Nam. Sau nhiều giờ bàn bạc cuộc họp đã đi đến thống nhất: Lực lượng quá ít, phương tiện vận tải chưa có, phải vận đông Việt kiều xóm Lưới giúp về con người và phương tiện vận chuyển hàng từ Túc Mía về biên giới, huy động con em Việt kiều gia nhập đơn vị. Phải tiếp nhận vũ khí dự trữ trên đất bạn, sẵn sàng chờ mùa nước lên Quân khu cho người và phương tiện chuyển tiếp về nội địa trong thời gian ngắn nhất. Tổ chức hệ thống kho dọc biên giới ở khu vực Sóc Chuốt (Campuchia), kho trung chuyển ở rừng tràm Hà Tiên và Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn tỉnh Kiên Giang (Việt Nam) giao cho đơn vị khác chuyển về Căn cứ U Minh. Làm tốt công tác "Miên vận" và vận động quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng trên tuyến kênh Vĩnh Tế, làm công tác binh vận và nắm địch, tổ chức bộ phận trinh sát nắm đường, lực lượng bảo vệ chiến đấu. Đề nghị Quân khu tăng cường lực lượng để xây dựng đơn vị. Tháng 7 nắm 1967, Quân khu 9 điều Đại đội 7 thuộc Tiểu đoàn 309, có 107 người, do đồng chí Hai Thiết chỉ huy. Đầu tháng 8 năm 1967, Khu ủy Khu 9 tiếp tục tăng cường cho đơn vị Liên đội Thanh niên xung phong có ba đại đội (phần lớn là nữ), quân số 365 người thuộc hai tỉnh Cà Mau và tỉnh Rạch Giá do đồng chí Trịnh Ngọc Châu - Thường vụ Khu đoàn làm Liên đội trưởng và đồng chí Trương Thị Nhi (Sáu Vân) - Ủy viên Tỉnh đoàn Rạch Giá làm Liên đội phó, kết hợp tuyển dụng hơn 100 con em Việt kiều trên đất Campuchia. Tháng 9 năm 1967, Đoàn 195 (tương đương cấp trung đoàn) chính thức được thành lập do đồng chí Bảy Lúa làm Chính ủy kiêm Đoàn trưởng, đồng chí Chín Nghiêm làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị và đồng chí Chín Thành làm Đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Các đồng chí Chín Thành làm phó Sáu Đặc phụ trách quan hệ với các bộ phận của Miền tại Phnôm Pênh và lo việc đưa hàng từ Túc Mía về biên giới; Đoàn phó Hai Đạm phụ trách khu vực Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn và quan hệ với các đơn vị vận tải tuyến đường C1; Đoàn phó Tám Thơi phụ trách khu vực Hà Tiên và nghiên cứu bến, xây dựng cơ sở để chuẩn bị giao hàng đi công khai khi có lệnh của Quân khu 9. Cơ quan và đơn vị trực thuộc có Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Đại đội chiến đấu bảo vệ rừng tràm Hà Tiên, Trung đội bảo vệ tuyến kênh Vĩnh Tế, ba trung đội kho, một trạm xá ở Sở Chỉ huy và một trạm xá tại rừng tràm Hà Tiên, Liên đội Thanh niên xung phong và một số bộ phận khác. Theo quyết định của Quân khu, tháng 10 năm 1967 đồng chí Tư Mau về làm Đoàn trưởng, đồng chí Tư Khánh được bổ sung làm Đoàn phó. Về phương tiện vận tải từ biên giới về nước, có gần 200 xuồng các loại của Liên đội Thanh niên xung phong. Trong quá trình xây dựng đơn vị, Đoàn 195 mua sắm được bảy xe trâu, chín xe ngựa, 20 xe ba gác, 100 xe đạp thồ, 14 con trâu, 10 con ngựa làm phương tiện vận tải.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #17 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:53:38 pm » |
|
Từ tháng 9 năm 1967, Đoàn 195 sử dụng một đại đội thanh niên xung phong, một trung đội kho cùng nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia trên địa bàn, tổ chức tiếp nhận và chuyển về biên giới 90 tấn hóa chất và 400 tấn vũ khí. Việc tiếp nhận 400 tấn vũ khí hết sức vất vả, trong điều kiện hoạt động vào ban đêm. Thông thường, mỗi tuần có một chuyến từ 3 - 5 xe của Quân đội Hoàng gia Campuchia đến giao hàng cho ta, mỗi xe có sức chở 10 tấn, mỗi đợt giao hàng có sĩ quan và binh lính đồn Ton Hon của quân đội bạn phụ trách trên địa bàn giám sát và kiểm tra. Tuy có nhiều khó khăn nhưng Đoàn 195 vẫn tổ chức tốt từ khâu tiếp nhận, đến khâu vận chuyển qua biên giới Campuchia - Việt Nam theo quy định của bạn; đồng thời, cũng tranh thủ được cảm tình của sĩ quan, binh lính và cán bộ địa phương bạn, giúp công việc diễn ra thuận lợi. Hàng từ biên giới Campuchia - Việt Nam về Căn cứ U Minh được chia làm hai cung đoạn: Cung đoạn từ biên giới qua rừng tràm Hà Tiên đến Rọc Xây, giao cho hai đại đội thanh niên xung phong tỉnh Cà Mau đảm nhận. Từ Rọc Xây về kho trung chuyển ở Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn do một đại đội thanh niên xung phong Rạch Giá đảm nhiệm, trên tuyến vận tải có Đại đội 7 (Tiểu đoàn 309) chịu trách nhiệm đánh địch bảo vệ hành lang. Từ Mỹ Hiệp Sơn về Căn cứ U Minh do lực lượng vận tải Phòng Hậu cần và các đơn vị chiến đấu trực tiếp đến nhận theo kế hoạch của Quân khu 9. Từ tháng 10 năm 1967, Đoàn 195 tiến hành vận tải hàng hóa về nước. Lợi dụng mùa nước nổi, bằng xuồng "be chín" có sức tải 300kg/chiếc. và xuồng "be mười" sức chở 600kg/ chiếc (nam một người điều khiển một xuồng, nữ hai người điều khiển một xuồng). Tùy theo địa hình trên các cung đoạn vận tải, chỗ nước sâu thì dùng dầm bơi, nơi nước nông dùng sào chống, đoạn nào cạn thì dùng sức người đẩy xuồng. Đêm đêm, mỗi cung đoạn huy động từ 30 - 50 xuồng vận tải, hoạt động liên tục từ 9 giờ đêm đến 4 giờ sáng, đói ăn cơm vắt, khát uống nước đồng, cứ như thế nam cũng như nữ ai cũng làm việc không quản vất vả. Tất cả cùng chung ý nghĩ và quyết tâm "đưa nhanh vũ khí về chiến trường để giải phóng quê hương đất nước". Kết thúc đợt đầu, Đoàn 195 chuyển 300 tấn vu khí và 90 tấn hóa chất về Quân khu 9 và 100 tấn cho tỉnh An Giang (Quân khu  trong mùa nước nổi. Cuối tháng 12 năm 1967, Quân khu 9 điều động Đại đội 7 về bổ sung cho Tiểu đoàn 307, giao cho Đoàn 195 tự tổ chức một đại đội bảo vệ căn cứ hành lang vận tải do đồng chí Sáu Ngân - Đại đội trưởng và tiếp tục nhận 300 tấn vũ khí của Trung ương chi viện. Việc tiếp nhận và vận chuyển từ thi trấn Túc Mía về biên giới Campuchia - Việt Nam vào mùa khô thuận lợi, thời tiết khô ráo, xe thô sơ hoạt động dễ dàng trên đường, nên tốc độ tiếp nhận và vận chuyển rất nhanh chỉ trong thời gian ngắn ta đưa về cất giữ tại các địa điểm bí mật ở biên giới. Công việc vận tải từ biên giới Campuchia - Việt Nam về khó trung chuyển Hà Tiên và Nam Thái Sơn, Mỹ Hiệp Sơn chủ yếu bằng khiêng vác bộ và xe trâu kéo. Năng suất và tốc độ vận chuyển chỉ bằng một phần năm so với mùa mưa. Mặt khác, địch cũng đã phát hiện được tuyến vận tải của Quân khu 9, chúng thường xuyên cho máy bay hoạt động đánh phá và đưa quân trong các đồn tiến hành hoạt động ngăn chặn. Do vậy, ta phải tổ chức nhiều đợt trinh sát bám đường, theo dõi hoạt động của binh lính địch ở các đồn, khi có điều kiện thuận lợi (thường từ 11 giờ đêm hằng ngày trở đi) mới nhanh chóng cho lực lượng vận chuyển vượt qua các trọng điểm để đưa vũ khí về điểm quy định. Đoàn 195 phải dùng nhiều hình thức vận chuyển, theo nhiều cung đoạn: Sử dụng phương tiện xe trâu, xe ngựa kết hợp mang vác bộ đưa hàng từ biên giới về rừng tràm Hà Tiên; khiêng vác bộ từ rừng Hà Tiên về kênh Tám Ngàn; từ kênh Tám Ngàn xuống xuồng chuyển tiếp về Nam Thái Sơn và Mỹ Hiệp Sơn. Mùa khô năm 1967 - 1968, Đoàn 195 đưa hơn 100 tấn về rừng Hà Tiên, từ Hà Tiên về Nam Thái Sơn và Mỹ Hiệp Sơn gần 80 tấn, số vũ khí được giao cho các đơn vị chiến đấu, chuẩn bị cho đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Cuối năm 1968, Đoàn 195 được tổ chức thành ba đơn vị mang các phiên hiệu 195A, 195B và 196, rải dài từ sông Sở Thượng, Túc Mía trên đất Campuchia xuống tận rừng tràm Hà Tiên. Trên tuyến đường Hà Tiên, Cà Mau, Cần Thơ (tuyến đường C1), Quân khu 9 còn thành lập đơn vị vận tải du kích do Khu ủy Khu 9 trực tiếp phụ trách đưa vũ khí từ biên giới Campuchia - Việt Nam về nội địa. Quân Mỹ và ngụy dùng máy bay B-52 ném bom rải thảm ác liệt rừng tràm Hà Tiên, dùng tàu chiến ngày đêm tuần tra kiểm soát trên kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành; dùng trực thăng đổ quân và bộ binh càn quét địa bàn. Trên tất cả các điểm kho của Đoàn 195 dọc phía Bắc kênh Vĩnh Tế trên đất Campuchia và các tuyến vận tải của đơn vị từ Nam kênh Vĩnh Tế về các kho trung chuyển, thời gian này chủ yếu dùng lực lượng vận tải bộ. Các chiến sĩ vận tải bộ lựa thời cơ len lỏi qua các đồn địch, đưa nhỏ giọt mỗi chuyến từ 1 - 1,5 tấn về rừng tràm Hà Tiên. Mặc dù chân hàng trên đất Campuchia có hơn 500 tấn vũ khí, song ta chỉ đưa về rừng tràm Hà Tiên được 70 tấn (trong đó 55 tấn giao thẳng cho đơn vị vận tải các tỉnh, 15 tấn còn lại được Phòng Hậu cần sử dụng ghe tải hai đáy vận chuyển về Quân khu 9). Cuối năm 1969, Đoàn 195 tổ chức Đại đội 1 phục kích đánh tàu dọc sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế, bắn cháy và bắn hỏng chín tàu, làm giảm mật độ hoạt động tàu tuần tiễu của địch, góp phần bảo vệ lực lượng vận tải chuyển gần 300 tấn vũ khí về nước. Trong năm 1968, hoạt động tiếp nhận vũ khí của Trung ương của đơn vị P100 ở khu vực Tăng Lèo, Tà Lu trên đất Campuchia vẫn được tiến hành thuận lợi, nhưng trên chiến trường Quân khu 8, việc đưa vũ khí từ các điểm biên giới Campuchia - Việt Nam về các trụ cánh của Hậu cần Quân khu rồi đến các đơn vị chiến đấu cũng vô cùng khó khăn và ác liệt. Để đưa vũ khí trên đất Campuchia về chiến trường phải xuyên qua Đồng Tháp Mười trong khi địch thường xuyên ngăn chặn và đánh phá các tuyến tải, Quân khu phải huy động mọi lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong và dân công, vận dụng linh hoạt các hình thức vận tải công khai và bí mật, bằng mọi hình thức, phương tiện và tuyến đường tiếp tế vũ khí đạn dược từ các nguồn của Quân khu đến các mặt trận. Tính chung từ năm 1966 đến năm 1969, ta thực hiện được 10 chuyến tàu biển quốc tế đưa vào cảng Xi-ha-núc Vin chi viện cho các chiến trường miền Nam 90.870 tấn hàng quân sự các loại (vũ khí đạn, lương thực thực phẩm, thuốc men...); trong đó có 60.380 tấn bảo đảm cho chiến trường Nam Bộ và 30.490 tấn tiếp tế cho chiến trường Tây Nguyên. Riêng về vũ khí đạn dược ta đã đưa vào cảng Xi-ha-núc Vin được 21.473 tấn, vận chuyển về các chiến trường miền Nam được 18.703 tấn, trích lại cho Campuchia 358 tấn 1 (Số 2.412 tấn còn lại bị quân ngụy Lon Non chiếm trong cuộc đảo chính tháng 3 năm 1970, nhưng khi giúp cách mạng Campuchia giải phóng lại vùng này, ta đã thu lại được phần lớn, chỉ mất 288 tấn).
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #18 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:54:53 pm » |
|
Quân Mỹ và ngụy dần dần phát hiện, ngoài đường Trường Sơn ta còn hướng tiếp tế từ Campuchia xuống. Mặt khác, chúng còn phát hiện các kho tàng, lực lượng và một số cơ quan lãnh đạo, chỉ huy đang đứng chân trên tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam, nhiều chỗ vào sâu đất Campuchia. Chúng gây sức ép, tố cáo chính quyền Campuchia chứa chấp "Việt cộng" và đe dọa cho bộ binh càn quét, máy bay bắn phá. Chính quyền Campuchia vừa tiếp tục ủng hộ ta vận chuyển hàng chi viện, làm ngơ việc ăn ở, kho tàng của ta trên đất bạn, vừa tích cực phản bác lại tố cáo. Chính quyền Campuchia còn cho phép các nhà báo, các tổ chức quốc tế được đến trực tiếp quan sát biên giới Campuchia - Việt Nam. Biết được tin này, ta đã chỉ đạo cho các cánh của Đoàn hậu cần 17 phối hợp cùng các đoàn hậu cần, cơ quan, đơn vị ta đóng trên biên giới thu dọn, ngụy trang kho tàng, xóa dấu vết chỗ ở, hạn chế đi lại, rào lấp hoặc phá các đường ra vào, cấm vận chuyển hàng trong những ngày có đoàn quan sát đến làm việc...
Ngoài ra, ta còn rất quan tâm phân công người đi quan hệ, trao đổi, gợi ý với các huyện trưởng, xã trưởng, đồn trưởng Campuchia giáp biên giới về cách đối phó, từ lời lẽ trả lời phỏng vấn đến cách dẫn dắt đoàn quan sát đi những đâu và bằng cách nào. Chú ý bố trí những người trực tiếp hướng dẫn phải rất khôn khéo, vận dụng nhiều mưu mẹo, lợi dụng tối đa tâm lý ngại khó đi vào những nơi dơ bẩn, bùn lầy, hoặc hù dọa cho là đường nguy hiểm, có Mặt trận thống nhất dân tộc Campuchia để tránh né những khu vực có cơ quan, kho tàng của ta. Nhờ vậy, những lần đoàn đến quan sát đều không phát hiện được gì. Chính quyền Campuchia lấy đó phản bác lại mạnh mẽ hơn. Đặc biệt, ở huyện Snuôl thuộc tỉnh Kra-chê của Campuchia là huyện giáp biên giới với Việt Nam, Huyện trưởng ở đây dùng kế "chiêu đãi kìm chân". Khi có đoàn thanh sát đến, Huyện trưởng cố ý mời họ dự chiêu đãi trước khi đi quan sát. Trong các món ăn chiêu đãi có món thit gà nấu canh chua bằng trái "cần thăng" với lá "cành sa". Món ăn này rất thơm ngon nên các thành viên đoàn thanh sát ăn rất nhiều. Vì trong lá "cành sa" có chất ăn vào dễ bị say và ngủ sâu, nhất là khi cùng sử dụng với rượu mạnh, nên khi ăn xong họ đều lăn ra ngủ mê man. Đến khi thức dậy, trời đã vào lúc chiều tối nên không đi thanh sát được nữa, đành phải ra về rồi báo cáo là "Tình hình không có gì hết!"...
Đoàn hậu cần 17 lợi dụng thế hợp pháp của Công ty Hắc Lỷ đã tổ chức đưa đón cán bộ lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đi lại hoạt động nhanh chóng và an toàn. Trong thời gian diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy và các chiến dịch lớn khác trong năm 1968, trong đó đi lại nhiều nhất giữa các tỉnh Phước Long, Bình Long và Tây Ninh. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Bí thư Trung ương Cục đi từ Thủ đô Hà Nội bằng hộ chiếu ngoại giao đến thủ đô Phnôm Pênh rồi được Đoàn đưa xuống căn cứ làm việc với Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miên; đồng chí Nguyễn Thị Định - Phó Tư lệnh Quân Giải phóng; đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng Tham mưu trưởng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng và các cán bộ cấp cục, quân khu, sư đoàn... cũng được Đoàn đưa đón, đi lại, ăn ở trên đất Campuchia để hoạt động. Đi trên đất Campuchia nhanh hơn gấp nhiều lần và đỡ vất vả hơn so với đi đường rừng núi Trường Sơn.
Đầu năm 1968, trên cơ sở bộ phận còn lại của Đoàn hậu cần 85, Bộ Tư lệnh Miền thành lập Đoàn hậu cần khu vực 50, do đồng chí Sáu Định làm Đoàn trường, đồng chí Tư Phán làm Chính ủy, đứng chân tại khu vực Sóc Con Trăn làm nhiệm vụ phục vụ cho các đơn vị chiến đấu và thu mua hàng tại khu vực Móc Câu và Mi Mốt. Đoàn hậu cần 50 được tổ chức thành ba cánh hậu cần: Cánh 7 hoạt động từ cầu 48 đến sân bóng khu vực Sóc Gon Trăn làm nhiệm vụ tiếp nhận, thu mua hàng hóa. Cánh 8 đứng chân ở khu vực Nha Thức làm nhiệm vụ trực tiếp phục vụ các đơn vị chiến đấu ở phía trước từ cầu Bà Chiêm đến Nha Thức, Dầu Tiếng nối với Đoàn hậu cần 83. Cánh 9 thọc sâu từ Nha Thức xuống Núi Cậu, Lò Thau, Dầu Tiếng làm nhiệm vụ vận chuyển hàng cho Đoàn hậu cần 83 và các sư đoàn phía trước. Tổng quân số của Đoàn hậu cần 50 là 1.950 người; hoạt động trong một phạm vi rộng, phía sau Đoàn hậu cần 83, phía Tây Đường số 13 từ Km 0 giáp biên giới Campuchia - Việt Nam dọc theo sông Sài Gòn đến Nha Thức. Cơ cấu tổ chức và biên chế Đoàn hậu cần 50 khá lớn, được chia ra các khối: Quân nhu có 248 người, bố trí tại năm cửa khẩu, có năm đội kho, một xưởng may quân trang, một xưởng chế biến lương khô; Quân y có 499 người với hai bệnh viện lớn K50, K51 và hai bệnh viện nhỏ K52, K53 cùng bốn bệnh xá, kho, xưởng dược và một khung huấn luyện y tá; Quân giới có 377 người, bốn kho và Xưởng Quân giới HI09; lực lượng vận tải có 454 người gồm hai tiểu đoàn xe thồ, một đại đội vận tải ô tô chạy từ biên giới Campuchia đến Nha Thức qua Đường Đỏ, Bổ Túc, Cà Tum; lực lượng vũ trang và bảo vệ có 177 người gồm bốn trung đội vũ trang và một đại đội chuyên tiếp nhận tân binh ba trung đội công binh, một trạm sửa chữa ô tô và một trạm sửa chữa xe đạp thồ.
Nhằm tăng cường khả năng tiếp nhận, vận chuyển nguồn vật chất do Trung ương chi viện ngày càng lớn cho lực lượng vũ trang trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bô trong dịp Tết Mậu Thân 1968, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tách Trung đoàn 17 thuộc Sư đoàn Bộ binh 7 và lấy thêm một bộ phận cán bộ, chiến sĩ đường dây của hai tỉnh Phước Long và Quảng Đức để thành lập Đoàn 90. Phạm vi hoạt động của Đoàn 90 từ Nam sông Sê-rê-pốc vào đến phía Tây sông Sài Gòn (vùng biên giới Campuchia - Việt Nam). Khi mới thành lập, Đoàn 90 thuộc Bộ Tư lệnh Miền, sau chuyển giao về Cục Hậu cần Miền trực tiếp chỉ huy và lãnh đạo. Cán bộ, chiến sĩ thuộc Đoàn 90 đã phối hợp chặt chẽ cùng với các đoàn hậu cần khu vực 70, 86, 50 và 82 bảo đảm mọi mặt sinh hoạt, đời sống, cứu chữa thương bệnh binh hoạt động trên đường dây; tổ chức đưa đón cán bộ, chiến sĩ miền Bắc vào chiến trường Nam Bộ. Với việc tổ chức đường dây này, bộ đội trên đường hành quân vào chiến trường Đông Nam Bộ được đón tiếp chu đáo, được bố trí nơi ăn, chỗ nghỉ, được phòng, chữa bệnh kịp thời. Nhờ đó, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị hành quân vào chiến trường đúng thời gian, đảm bảo sức khỏe và quân số tham gia Cuộc Tổng tiến công và nổi dạy Xuân Mậu Thân 1968.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
vnmilitaryhistory
Moderator

Bài viết: 2817
|
 |
« Trả lời #19 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2026, 05:56:29 pm » |
|
Trong quá trình Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở nội đô Sài Gòn, Hậu cần Quân khu 10 đảm nhận vận chuyển vũ khí, lương thực, thuốc men cho các lực lượng vũ trang ở Chi khu Bù Đốp, hai thị xã Phước Long và Gia Nghĩa của tỉnh Quảng Đức. Để thuận lợi trong quá trình vận chuyển, Hậu cần Quân khu bố trí thành ba bộ phận: Bộ phận phía trước gồm có các kho đạn, kho quân nhu, lực lượng vận tải cùng hai đội phẫu thuật sẵn sàng tải thương và cứu chữa thương binh. Bộ phận phía sau đứng chân ở hậu cứ Quân khu tại Bù Gia Mập gồm Xưởng may, Xưởng Quân giới, Bệnh xá Quân khu bộ. Bộ phận còn lại đứng chân ở Cánh VI (Đoàn hậu cần 86) ở Ka Tum gồm có Bệnh viện K35, Xưởng dược cùng một số kho gạo, đạn. Lực lượng vận tải của Quân khu có một đại đội, khi chiến sự diễn ra ở địa phương nào thì các địa phương sẽ huy động thêm dân công phục vụ vận chuyển. Trong quá trình chuẩn bị phục vụ Tổng tiến công và nổi dậy, Hậu cần Quân khu đã huy động được hơn 1.000 dân công phục vụ chiến đấu trên tuyến từ Cánh V1 đến Bù Đốp, Đa Kia và ngược lại. Nhờ nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao, các lực lượng làm nhiệm vụ vận tải và thu mua của Quân khu đã tiếp nhận dự trữ được trên 300 tấn lương thực thực phẩm, 150 tấn vũ khí, đạn dược; vận chuyển cung cấp cho lực lượng vũ trang ba tỉnh Bình Long, Phước Long và Quảng Đức trên 170 tấn hàng.
Với bốn binh trạm trên chiến trường Tây Nguyên và bảy tuyến vận tải chính (bốn tuyến vận tải dọc và ba tuyến vận tải ngang) trên chiến trường Đông Nam Bộ. Trong đó, có tuyến vận tải dọc xuất phát từ Đoàn hậu cần 50 ở biên giới Campuchia - Việt Nam xuống đến Đoàn hậu cần 235 (khu vực Dầu Tiếng và Bắc Sài Gòn) và tuyến vận tải ngang từ Đoàn hậu cần 86 đến Đoàn hậu cần 70 (khu vực Đông và Tây Đường số 13); tuyến từ Đoàn hậu cần 70 đến Đoàn hậu cần 50 (vận chuyển dọc theo biên giới); Tại các tuyến vận tải này, quân và dân ta đã xây dựng và tổ chức thành công các tuyến hành lang vận chuyển liên hoàn chặt chẽ, có tuyến trước, tuyến sau từ xa đến gần, áp sát và vây quanh các mục tiêu tác chiến. Tổ chức mỗi tuyến hành lang là một căn cứ hậu cần liên hoàn có hệ thống kho tàng, bệnh viện, bệnh xá, xưởng quân nhu, quân giới... Mặc dù, gặp rất nhiều khó khăn do địch đánh phá dữ dội, rải chất độc hóa học nhằm chặn, cắt, triệt phá quyết liệt các tuyến vận tải của ta nhưng đến trước giờ nổ súng thực hiện Tổng tiến công đợt 1, các đoàn hậu cần vẫn thu mua được 4.464 tấn gạo và 3.426 giạ lúa (1 giạ nặng 20kg), vận chuyển thành công hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc men tới các địa điểm chuẩn bị tác chiến.
Sau đợt 1 Tổng tiến công và nổi dậy, để tiếp tục bảo đảm vật chất cho những đợt tiến công tiếp theo trong năm 1968, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tổ chức thêm các tuyến vận tải mới làm nhiệm vụ bảo đảm hậu cần trực tiếp cho Sư đoàn Bộ binh 9 của ta tiến công từ hướng Tây vào Sài Gòn và hỗ trợ tuyến sau cho hai phân khu 2 và 3. Điển hình là tuyến V1A chạy từ biên giới Campuchia đi An Ninh, Lộc Giang qua Tây Mỹ Thái Mỹ (tiếp giáp với Đoàn hậu cần 83); lực lượng vận tải trên tuyến có 100 người, có thời điểm cần thiết đã phải huy động dân công địa phương tham gia.
Tính chung, trong ba đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các lực lượng vận tải của Trung ương (Đoàn 559 ở Nam Tây Nguyên và Campuchia), lực lượng vận tải Miên đã chuẩn bị và vận chuyển được 46.282 tấn hàng hóa, trong đó có 10.872 tấn vũ khí, đạn dược. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong đợt Tổng tiến công tính riêng trên chiến trường Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ trong giai đoạn chuẩn bị là 5.554 tấn lương thực, 5.079 tấn thực phẩm, 10.633 vũ khí, đạn dược; quá trình tác chiến vận chuyển được 29.836 tấn lương thực, 5.793 tấn thực phẩm, 36.649 tấn vũ khí; đã cấp cho các đơn vị 29.755 tấn lương thực, 5.893 tấn thực phẩm, 35.648 vũ khí, đạn dược; còn lại dự trữ 5.655 tấn lương thực, 4.979 tấn thực phẩm và 10.634 vũ khí, đạn dược.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta ở miền Nam đã làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, buộc địch phải ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhưng chúng vẫn tăng cường phản kích nhằm tiêu diệt chủ lực của ta và bình định cấp tốc ở miền Nam. Đồng thời, tập trung không quân, hải quân đánh phá Nam Quân khu 4, nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam ngay từ tuyến đầu.
Tiếp đó, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn- xơn tuyên bố chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc và chấp nhận cùng các bên họp hội nghị tại Pa-ri để bàn về vấn đề Việt Nam. Tuy buộc phải xuống thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhưng đế quốc Mỹ lại tập trung lực lượng sử dụng các biện pháp tổng hợp về quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao phản kích ta quyết liệt.
Những năm 1965 - 1968, chiến trường miền Nam là một trong những nơi đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch. Việc giữ vững và phát triển mạng đường vận chuyển và thu mua vật chất hậu cần trên đất Campuchia bảo đảm phục vụ chiến đấu trên các chiến trường là một trong những thắng lợi lớn của quân đội và nhân dân ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam. Vượt qua những gian khổ ác liệt, hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia đã góp phần cùng cả nước bảo đảm kịp thời cho các lực lượng đánh thắng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|