Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 08:29:07 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM  (Đọc 6107 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2025, 09:39:58 pm »

- Tên sách: Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong KCCM
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân
- Năm xuất bản: 2021
- Người số hóa: macbupda, vnmilitaryhistory


LỜI NÓI ĐẦU


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta, tại các chiến trường miền Nam, nhất là chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có nhu cầu bảo đảm vật chất hậu cần - kỹ thuật rất lớn. Nhờ có đường lối, chủ trương, chỉ đạo đúng đắn, sự đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa hai nước Việt Nam và Campuchia nên hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia đã bảo đảm ngày càng nhiều, càng tốt hơn cho quân và dân hai nước chiến đấu, giành chiến thắng.


Cuốn sách "Hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" viết về các hoạt động của hậu cần quân sự Việt Nam trên đất bạn Campuchia từ năm 1954 đến năm 1975, chủ yếu tập trung vào các nội dung chính như các hoạt động xây dựng căn cứ, vận chuyển vũ khí, chuyển tiền thu mua lương thực thực phẩm tại chỗ cung cấp cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đồng thời, nêu rõ những hoạt động mở đường, vận chuyển trên tuyến đường Hồ Chí Minh qua đất bạn Campuchia và quá trình tiếp nhận vũ khí của tuyển chi viện đường biển từ miền Bắc Việt Nam đến cảng Xi-ha-núc Vin, rồi vận chuyển bằng đường bộ chi viện cho chiến trường hai nước Việt Nam và Campuchia. Mặt khác, cuốn sách còn viết về công tác bảo đảm hậu cần cho các chiến dịch, trận chiến đấu; điển hình như Chiến dịch Đông Bắc Campuchia, Chiến dịch phản công Đường 6 Campuchia, Chiến dịch đánh bại cuộc hành quan Ăngco Chay... Qua đó, nói lên sự hợp tác, liên minh chiến đấu, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau giữa lực lượng vũ trang và nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia.


Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn và xuất bản, do thời gian và khuôn khổ sách có hạn, mặc dù các tác giả đã rất cố gắng song cuốn sách còn có những thiếu sót, hạn chế; nhất là chưa thể sưu tầm, biên soạn được nhiều tư liệu có giá trị lịch sử về Hậu cần quân sự Việt Nam trên chiến trường Campuchia trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của độc giả để cuốn sách hoàn thiện hơn cho những lần tái bản sau.


Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

TÁC GIẢ
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #1 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:26:35 pm »

MỞ ĐẦU


Do điều kiện địa lý, đường biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia dài hàng trăm ki-lô-mét, có đường giao thông thủy bộ thuận lợi, từ lâu đời nhân dân vùng biên giới đã xây dựng được sự đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, cùng chung lưng đấu cật làm ăn sinh sống, đoàn kết chiến đấu chống thiên tai, thú dữ và các thế lực cường quyền áp bức, ngoại xâm. Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, quán triệt tư tưởng "Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 - 1975), nhân dân Việt Nam phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, liên minh chiến đấu được xây đắp từ lâu đời qua nhiều thế hệ, tích cực chủ động giúp cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia một cách toàn diện, nhiệt tình, vô tư, khảng khái như nhiệm vụ, nghĩa vụ của chính mình với Tổ quốc.


Trong hai cuộc kháng chiến vẻ vang đó, nhân dân và lực lượng vũ trang Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ của Việt Nam nhận được sự giúp đỡ, đùm bọc nhiệt tình, sâu nặng, hiệu quả của nhân dân và chính quyền Campuchia, nhất là các tỉnh, thành phố như: Xi-ha-núc, Bát-tam-bang, Kông-pông Spư, Kam-pốt, Ta-keo, Kăng-đan, Prây Veng, Svây Riêng, Kông-pông Chàm, Kra-chê, Môn-đun-ki-ri, Rát-ta-na-ki-ri. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả mà lực lượng vũ trang ta tăng thêm sức mạnh chiến đâu lập nhiều chiến công vẻ vang, góp phần cùng quân dân ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam nói chung, hai nước Campuchia và Việt Nam nói riêng đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.


Ngay sau khi quân phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945), ở Nam Đông Dương, quân đội thực dân Pháp núp dưới thế lực quân Anh thực hiện kế hoạch tái chiếm Đông Dương. Đầu năm 1946, thực dân Pháp đã đánh chiếm được hầu hết các tỉnh Nam Bộ nước ta. Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam lúc này gặp muôn vàn khó khăn và gian khổ. Trước tình hình trên, ngáy 2 tháng 2 năm 1946 Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị cán bộ quân sự hai Chiến khu 8 và 9 tại Căn cứ U Minh để bàn biện pháp chiến đấu mới. Tháng 8 năm 1946, theo quan điểm "Đông Dương là một chiến trường", Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Lào - Miên để thống nhất chỉ đạo và phối hợp chiến đấu của cách mạng Lào và Campuchia trên chiến trường Nam Đông Dương.


Thực hiện chính sách tương trợ và thống nhất chỉ huy lực lượng kháng chiến chống thực dân Pháp ở Campuchia, tháng 9 năm 1946, Ban Hải ngoại trực thuộc Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ được thành lập. Ngoài nhiệm vụ chính trị, quân sự, với nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho lực lượng vũ trang, Ban Hải ngoại chỉ rõ: Lấy vùng duyên hải Cao Miên mới giải phóng làm nơi tiếp tế cho Mật trận Miên. Cùng thời gian, ở Xiêm Riệp, Ủy ban Giải phóng dân tộc Campuchia được thành lập. Các tầng lớp nhân dân nhiệt tình ủng hộ, nhiều sư sãi tham gia vào các phong trào cứu quốc, tự nguyện dùng nhà chùa làm nơi hoạt động. Tháng 12 năm 1946, lực lượng vũ trang Việt kiều ở Thái Lan xâm nhập vào Bắc Xiêm Riệp xây dựng căn cứ ở vùng núi Đăng Rech, tạo ảnh hưởng lớn trên đất Campuchia sau đó phát triển cơ sở ra vùng Bát-tam-bang.


Cuối năm 1946, thực dân Pháp dựng lên chính quyền bù nhìn ờ Campuchia. Ở Việt Nam, chúng chiếm được khu vực các tỉnh Bình - Trị - Thiên, cô lập Liên khu 5 với Trung ương. Trước tỉnh hình đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra nhiệm vụ trước mắt phải giúp Campuchia mở Mặt trận kháng chiến chống Pháp tại Campuchia để tận dụng khả năng thuận lợi giành độc lập cho nhân dân Campuchia. Mặt khác, để giữ vững sự chỉ đạo của Trung ương với lực lượng kháng chiến ở Nam Đông Dương, Đảng ta giao cho Xứ ủy Nam Bộ nhiệm vụ "tiếp tế ngược" thông qua con đường qua Thái Lan, Campuchia và Lào.


Tháng 3 năm 1947, một số đơn vị lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam cơ động sang Đông Nam Campuchia, giúp lực lượng cách mạng nước bạn phát động chiến tranh du kích ở Nam Prây Veng, giúp hai tỉnh Svây Riêng và Kăng-đan thành lập khu Đông Nam. Cuối năm 1947, Xứ ủy và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ giao nhiệm vụ cho ba khu (7,8,9) và Ủy ban Kháng chiến hành chính các tỉnh biên giới tổ chức ngay việc chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia. Kết quả chỉ trong thời gian ngăn, các lực lượng hậu cần, gồm các hội "Khơme ít-xa-rắc" và "Việt kiều cứu quốc" đã phát triển, lan rộng cả nước Campuchia với nhiệrn vụ phá đường giao thông vận tải thủy bộ của thực dân Pháp.


Công tác hậu cần, bảo đảm vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang trong những ngày tháng đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được cấp ủy, ủy ban nhân dân và ủy ban kháng chiến các cấp rất quan tâm với nhiều biện pháp tổ chức thực hiện linh hoạt và phong phú. Ở miền Nam Việt Nam, Chính phủ đã sử dụng phần lớn số vàng quyên góp trong "Tuần lễ vàng" giao cho Xứ ủy Nam Bộ mua vũ khí ở Thái Lan. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Xứ ủy cử Đoàn cán bộ gồm 13 người do hai Xứ ủy viên là đồng chí Dương Quang Đông - Trưởng đoàn và đồng chí Trương Văn Kinh - Chính trị viên, đồng chí Sơn Ngọc Minh và đồng chí Nguyễn Văn Thiệt làm Phó đoàn, có nhiệm vụ mua vũ khí về cho lực lượng vũ trang Nam Bộ; vận động cách mạng Campuchia đẩy mạnh phong trào kháng chiến, tăng cường liên minh chiến đấu Việt - Miên; vận động bà con Việt kiều hướng về Tổ quốc ủng hộ kháng chiến. Đoàn vượt biển sang Thái Lan mua vũ khí bằng "Con đường Xuyên Tây". Trước cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và Campuchia, Thủ tướng và các quan chức cao cấp Thái Lan vừa tạo điều kiện giúp đỡ việc mua sắm vũ khí trang bị, hóa chất, vừa giúp phương tiện, giấy phép và lực lượng bảo vệ hộ tống vận chuyển hàng ra biên giới Thái Lan - Campuchia.


Công việc khó khăn nhất là vận chuyển vũ khí trang bị trên đất Campuchia về Việt Nam, vì thời gian này tàu thuyền chở hàng qua lãnh thổ, lãnh hải Campuchia bị thực dân Pháp kiểm soát rất gắt gao; đòi hỏi nhiệm vụ vận chuyển vũ khí phải bảo đảm hết sức bí mật. "Con đường Xuyên Tây" nằm trên địa bàn Phân khu Kam-pốt. Phân khu cùng Đoàn cán bộ mua vũ khí của ta phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân Campuchia giữ bí mật, tham gia bảo vệ, bốc dỡ vũ khí. Nhân dân và lực lượng cách mạng Campuchia cùng với bà con Việt kiều rất nhiệt tình giúp đỡ cách mạng Việt Nam mua bán, bảo vệ, vận chuyển vũ khí. Không chỉ những cán bộ cách mạng Campuchia mà ngay cả những người tu hành, sư sãi là người có uy tín lớn trong xã hội Campuchia, trước sự đe dọa, vây ráp của thực dân Pháp vẫn tự nguyện, nhiệt tình giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Điển hình là nhà sư Bảo Ân ở chùa Thi Oa Thi, nhà sư Giác Man ở chùa Năng Lớn, nhà sư Bích Vân ở chùa Băng Phô. Đặc biệt, nhà sư Bảo Ân còn trực tiếp đi theo xe chở vũ khí xuống cảng bốc dỡ lên tàu và làm công tác bảo vệ. Các nhà chùa Thi Oa Thi, Năng Lớn, Băng Phô còn là các trạm, kho trung chuyển, tập két vũ khí rất an toàn chờ đưa xuống tàu về Việt Nam.


Với sự giúp đỡ trên, cuối năm 1946, sau đợt công tác ở Xiêm Riệp, đồng chí Dương Quang Đông trở lại thủ đô Băng Cốc (Thái Lan) chỉ huy hai chiếc ghe (thuyền) chở 14 tấn vũ khí, nhanh chóng cập bến Vàm Ông Trang, thuộc xã Diễn An. Tại đây đồng chí Hoàng Như Khương - Chính ủy Khu 9 và đồng chí Nguyễn Hùng Phước - Khu Bộ phó Khu 9 được Xứ ủy giao nhận phần lớn số vũ khí quý giá này để trang bị cho lực lượng vũ trang Khu 9; số còn lại giao cho Đại đội Cửu Long I và trang bị cho các đơn vị vũ trang mới thành lập của tỉnh Bạc Liêu.


Số lượng vũ khí chuyến đi đầu tiên trên "Con đường Xuyên Tây" ở địa phận của Campuchia mang về trang bị cho quân dân Khu 9 tuy ít, nhưng đã kịp thời tăng thêm sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang Khu, phá vỡ thế bao vây của thực dân Pháp đối với chiến trường Nam Bộ; đồng thời, làm cơ sở để Xứ ủy Nam Bộ, các tỉnh ủy hình thành phát triển "Con đường Xuyên Tây" rất có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chiến đấu chiến trường miền Đông Nam Bộ trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sau chuyến đi trên, nhiều chuyến vận chuyển vũ khí khác vượt qua sự càn quét, kiểm soát của địch cập các bến bãi an toàn. Đầu năm 1947, đồng chí Dương Quang Đông tổ chức mua nguyên vật liệu, vũ khí ở Ma-lai-xi-a, qua 3 tháng, đồng chí đã tìm mua được 150 tấn nguyên vật liệu và nhiều vũ khí đưa về chiến trường Nam Đông Dương.


Nhận thấy có đủ cơ sở thực tiễn hình thành con đường vận tải trên biển để chở vũ khí và các đoàn cán bộ, thực hiện chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí Phạm Văn Bạch - Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ quyết định thành lập Phòng Hàng hải do đồng chí Võ Đăng Kỳ làm Trưởng phòng, Ban Vận tải thuộc Phòng do đồng chí Dung Văn Phúc phụ trách. Từ đây "Con đường Xuyên Tây" trên bộ, trên biển chính thức được thành lập. Quá trình tồn tại và phát triển suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mỗi giai đoạn tổ chức biên chế, quy mô, tên gọi khác nhau; nhưng hàng chục nghìn tấn vũ khí, máy móc, hóa chất và nhiều đoàn cán bộ theo con đường này vào chiến trường, góp phần to lớn vào sự phát triển, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân và dân trên chiến trường Nam Đông Dương. Những lần vận chuyển sau, do đường biển bị giặc phong tỏa gắt gao, ta phải huấn luyện vận chuyển đường bộ, nhưng cũng bị địch ngăn chặn trên đất Campuchia, bộ đội phải chiến đấu hàng chục trận, hy sinh 11 người mới đưa được 16 tấn vũ khí về Cà Mau để trang bị cho Đại đội Cửu Long 1. Con đường lịch sử này là công sức, máu xương, trí tuệ và những tình cảm cách mạng sâu nặng của bà con Việt kiều, của nhân dân và lực lượng cách mạng Campuchia đã nhiệt tình giúp đỡ, bảo vệ, góp phần phát triển lực lượng cách mạng Việt Nam, lực lượng vũ trang Nam Bộ vượt qua khó khăn, giành thắng lợi to lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #2 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2026, 11:29:24 pm »

Để làm tốt công tác bảo đảm trang bị vũ khí cho bộ đội tình nguyện Việt Nam chiến đấu giúp Campuchia và đơn vị liên quân Việt Nam và Campuchia, Ban Hải ngoại trên cơ sở Binh công xưởng VK50 của ông Ba Đọt (Thanh Ba) đã chỉ đạo các binh công xưởng Nam Bộ chi viện, đầu tư giúp đỡ mở rộng thêm một số binh công xưởng khóc nằm rải dọc tuyến biên giới Campuchia - Việt Nam. Đặc biệt, có rất nhiều xưởng nằm sâu trong vùng đất Đông Nam Campuchia để đáp ứng yêu cầu chiến đấu của lực lượng vũ trang trên chiến trường Nam Đông Dương. Điển hình là các xưởng quân giới: Xưởng X30 ở Tây Nam Kam-pốt, Xưởng X31 ở Đông Kam-pốt, Xưởng X32 ở Tây Kam-pốt và các xưởng vũ khí dân quân: Xưởng X71 ở Tây Nam Kam-pốt, Xưởng X21 ở Đông Kam-pốt, Xưởng X50 ở Tây Bắc Kam-pốt có nhiệm vụ sản xuất lựu đạn, mìn, lựu phóng, cối 60mm, sửa chữa súng bộ binh cho lực lượng vũ trang hai nươc Việt Nam và Campuchia chiến đấu.


Đầu năm 1948, các ủy ban giải phóng Campuchia ra đời và hình thành ba khu giải phóng rộng lớn. Khu Đông Nam do Tu-xa-mút và Keo-ma-ni lãnh đạo có sự hỗ trợ bảo đảm của Khu 8 và Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Long Châu Tiền của Việt Nam. Khu Tây Nam là cơ sở của phong trào kháng chiến dưới sự lãnh đạo của đồng chí Sơn Ngọc Minh thường xuyên giữ mối liên hệ với Khu 9 của Việt Nam. Khu Đông Bấc dưới sự chỉ huy của đồng chí Chan-xi-chan và đồng chí Chây Xơ-rết có mối quan hệ chặt chẽ với Khu 7 của Việt Nam. Vùng Tây Bắc Campuchia, Ủy ban Dân tộc giải phóng cũng được thành lập.


Cuối năm 1948, Ban Hải ngoại soạn thảo Hiệp ước Tương trợ Việt - Miên, về mặt hậu cần Hiệp ước nêu rõ: Quân đội quốc gia Việt Nam hoạt động ở Cao Miên giúp giải phóng dân tộc Miên đều được Chính phủ Cao Miên độc lập tiếp tế về thực phẩm và quân nhu... Cùng thời gian, với sự phối hợp chặt chẽ của Việt Nam, phong trào kháng chiến của nhân dân Campuchia ở các tỉnh thuộc miền Tây Nam và Đông Nam phát triển mạnh mẽ; vùng giải phóng lan rộng, căn cứ du kích nối liền từ Đông sang Tây Campuchia gom các tỉnh Svây Riêng, Prây Veng, Kăng-đan, Ta-keo, Kam-pốt, Kông-pông Spư được hình thành.


Đầu năm 1949, Đảng Cộng sản Đông Dương mở Hội nghị cán bộ Miên - Lào, Hội nghị nhấn mạnh: Nhiệm vụ cần kíp của Miên, Lào hiện nay là xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang và chính quyền ở căn cứ địa. Hội nghị quyết định thành lập Ban Cán sự Đảng ở Miên có nhiệm vụ lãnh đạo công tác ở vùng Tây Bắc, Tây Nam và Đông Nam Miên, thống nhất vào Ban Cán sự Miên trực thuộc với bộ phận Trung ương miền Nam. Riêng bộ phận hoạt động ở Bắc Miên giáp Hạ Lào vẫn do Ban Cán sự Trung ương ở hải ngoại lãnh đạo. Cuối năm 1949, phong trào kháng chiến phát triển trên cả nước Campuchia, 14/15 tỉnh đã có vùng giải phóng và căn cứ du kích. Các căn cứ địa trên hai nước đã nối liên lạc được với nhau. Lực lượng vũ trang Việt Nam sang giúp Campuchia, tính đến đầu năm 1950 đã mang theo 1.500 súng tiểu liên, 4.000 súng trường và hàng nghìn lựu đạn, có cả máy thông tin vô tuyến điện để bắt liên lạc và phối hợp tác chiến.


Bước sang năm 1950, trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của cuộc kháng chiến và quan hệ chiến đấu giữa ba nước Campuchia, Lào và Việt Nam, Hội nghị lần thứ III Đảng Cộng sản Đông Dương (21.1 - 3.2.1950) đã ra Nghị quyết tổng phản công địch trên khắp chiến trường Đông Dương nhằm thu hồi toàn bộ lãnh thổ ba nước. Trong bản báo cáo, đồng chí Trường Chinh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ: Trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Đông Dương là một chiến trường duy nhất. Chiến lược tổng phản công phải được tiến hành đồng thời ở Việt Nam, Lào và Campuchia, bởi ba quốc gia có quan hệ mật thiết với nhau vê địa lý, chính trị; bởi Lào và Campuchia lúc này là kho dư trữ người, lương thực và nguyên liệu... Phải tích cực giúp đỡ cách mạng Miền mở rộng các khu giải phóng, các căn cứ địa.


Để cắt đứt tuyến vận tải huyết mạch nuôi sống bộ đội ờ miền Đông Nam Bộ, địch thường xuyên tổ chức các cuộc càn quét, gom dân, đánh phá các cơ sở của ta, lập hệ thống đồn bốt dày đặc ven hai đường số 1 và 10, gài mìn, phục kích những điểm ta có thể vượt qua... Mỗi chuyến hàng ta phải huy động từ 300 - 500 dân công, có chuyến từ 2.000 - 3.000 dân công nên phải tổ chức thành nhiều đoàn, chia thành nhiều chặng. Cuối năm 1951, địch mở hai cuộc càn lớn vào khu vực Kinh Xáng - Cần Gié và An Nhơn Tây. Lực lượng vận tải phải đổ máu mới đưa được gạo từ miền Tây lên miền Đông. Con đường vận tải từ Đồng Tháp Mười lên Chiến khu Đ được gọi là "huyết lộ" (con đường máu). Sau một số trận càn lớn của địch, tuyến vận tải bị phong tỏa, đời sống của bộ đội và nhân dân khu căn cứ miền Đông gặp rất nhiều khó khăn.


Trước tình hình đó, một mặt Bộ Tư lệnh Nam Bộ chỉ thị cho các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ tích cực tăng gia sản xuất để tự túc một phần lương thực; mặt khác, chuyển một số đơn vị sang Chiến khu Dương Minh Châu và gấp rút mở đường vận tải mới từ Đồng Tháp Mười và Đông Bắc Campuchia về. Tuyến vận tải mới từ Đồng Tháp Mười về Chiến khu Dương Minh Châu dài 305km chạy dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, qua nhiều cánh đồng lớn. Chặng đường dài 80km từ Xóm Rầy đến Phước Chi địa hình trống trải hầu như không có làng mạc, đặc biệt phải vượt qua "cánh đồng chó ngáp" dài 60km. Mùa mưa nước ngập từ 20 đến 25cm, gốc tràm ngổn ngang. Mùa khô đi lại dễ dàng hơn, nhưng thường bị địch phục kích. Để bảo đảm an toàn, yêu cầu lực lượng vận tải phải vượt qua cánh đồng trong 1 đêm. Chính vì vậy, phải tổ chức lực lượng vận tải chuyên nghiệp, vừa làm nhiệm vụ vận tải, vừa phải vận động xây dựng cơ sở trong nhân dân và binh lính địch ủng hộ kháng chiến. Mặc dù có rất nhiều cố gắng, nhưng do đường xa và nhiều khó khăn nên mỗi tháng chỉ vận tải trên tuyến này được ba chuyến, cung cấp được một phần cho các cơ quan và đơn vị.


Ở Chiến khu Dương Minh Châu, có tuyến vận tải được tổ chức từ Đông Bấc Campuchia về theo sông Vàm Cỏ (xuôi về mất 1 đêm, ngược lên phải mất 7 đêm), tiếp đó vận tải bằng đường bộ khoảng 80km mới về được căn cứ. Đây là vùng thưa dân, không có khả năng huy động dân công tại chỗ nên tất cả cán bộ, đảng viên cơ quan dân - chính - đảng và các đơn vị lực lượng vũ trang đều phải tham gia vận chuyển hàng, ở Khu 9, tuyến vận tải ven biển bằng thuyền nhỏ đưa hàng mua ở Thái Lan và Campuchia về. Tuyến này hoạt động không thường xuyên; khối lượng hàng vận tải không lớn, nhưng có một số loại hàng quý cần cho kháng chiến mà ta không sản xuất được như hóa chất, thuốc chữa bệnh phương tiện kỹ thuật đã được vận chuyển qua tuyến này.


Sự hình thành các tuyến vận tải chiến lược, nhất là các tuyến vận tải trên chiến trường Campuchia phục vụ chiến đấu và chiến đấu ở các chiến trường miền Nam Việt Nam với việc duy trì các tuyến vận tải thường xuyên, lực lượng vận tải chuyên nghiệp với nhiều phương thức, phương tiện đa dạng, thích hợp với từng vùng đã đáp ứng yêu cầu xây dựng và tác chiến ngày càng lớn của bộ đội chủ lực, yêu cầu phát triển chiến tranh du kích rộng khắp ở chiến trường miền Nam.


Hoạt động bảo đảm hậu cần trên đất nước Campuchia, được sự tham gia trực tiếp và đông đảo của nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia đã góp phần đánh thắng thực dân Pháp xâm lược là chiến công chung của nhân dân hai nước Việt Nam và Campuchia. Đồng thời, tạo cơ sở cho sự phát triển vững chắc của hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:53:23 pm »

Chương I
HẬU CẦN QUÂN SỰ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG CAMPUCHIA,
GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN LƯỢC "CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT" VÀ "CHIẾN TRANH CỤC BỘ" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ
(1954-1968)


1. Hoạt động xây dựng lực lượng, bảo đảm hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia, góp phần đánh thắng chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược trên bán đảo Đông Dương, ở Việt Nam, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa; miền Nam tạm thời nằm dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; ờ Campuchia và Lào, thực dân Pháp phải rút quân viễn chinh, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước. Cách mạng Campuchia tổ chức cho lực lượng vũ trang giải ngũ tại chỗ, thực hiện hòa hợp dân tộc, đấu tranh giữ vững chủ quyền, độc lập, hòa bình và trung lập. Lực lượng vũ trang cách mạng Lào rút về tập kết, đấu tranh giữ gìn và phát triển lực lượng, bảo vệ vùng giải phóng, thực hiện Chính phủ Liên hiệp, xây dựng nước Lào hòa bình, trung lập và thịnh vượng.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhân dân cả hai miền Nam Bắc đã nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Giơnevơ (ký ngày 20.7.1954), ra sức củng cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh ở miền Nam Việt Nam, nhằm củng cố hòa bình, thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc. Ta nhanh chóng chuyển quân tập kết, tiếp quản đô thị và các vùng mới giải phóng, trao trả người bị bắt, đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn phá hoại Hiệp định của địch...


Thực tiễn những năm đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ ở miền Nam Việt Nam cho thấy không thể chỉ tiến hành đấu tranh chính trị đơn thuần mà phải dùng bạo lực cách mạng để thực hiện mục tiêu giành độc lập, dân tộc. Thực hiện sự chỉ đạo của các cấp, các địa phương ở miền Nam đã từng bước tổ chức và thành lập các đội tự vệ, các tiểu đội, trung đội, đại đội vũ trang làm nhiệm vụ diệt ác trừ gian, vận động quần chúng, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo. Tháng 10 năm 1957, Tiểu đoàn 250 - đơn vị chủ lực đầu tiến của Nam Bộ chính thức được thành lập. Ngoài việc tổ chức, biên chế lực lượng và huấn luyện, yêu cầu về vũ khí trang bị, lương thực thực phẩm ngày càng lớn. Dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy và chính quyền, nhân dân cùng lực lượng vũ trang tìm mọi cách tự trang bị vũ khí cũng như các nhu yếu phẩm bảo đảm cho sinh hoạt, huấn luyện và chiến đấu.


Ngay từ đầu năm 1957, Xứ ủy Nam Bộ đã chuẩn bị kế hoạch xây dựng căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ, bao gồm hai vùng căn cứ Đông Bắc và Tây Bắc. Căn cứ Đông Bắc nguyên là địa bàn Chiến khu Đ (Biên Hòa), nay được mở rộng tiếp giáp với biên giới Campuchia - Việt Nam. Dựa vào kinh nghiệm làm công tác hậu cần trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các cấp ủy Đảng và đoàn thể cách mạng phát động phong trào "Hũ gạo nuôi quân", "Con gà, cây chuối kháng chiến", bằng cách chắt chiu, dành dụm của từng gia đình, hằng tháng các tổ phụ nữ đi thu gom gạo, thực phẩm để nuôi bộ đội và cán bộ thoát ly.


Các đội vũ trang ở miền Đông Nam Bộ gặp nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực thực phẩm, vì địa bàn nơi đây hầu hết là rừng núi, dân cư thưa thớt; mặt khác, do địch đây mạnh hoạt động khủng bố, cấm đoán, nên việc tiếp tế càng gian khổ hơn. Trước thực trạng trên, Xứ ủy Nam Bộ và cấp ủy Đảng của các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã cử nhiều cán bộ trực tiếp xuống các địa phương vận động nhân dân làm công tác tiếp tế. Đồng chí út Hổ và đồng chí Ba Sàng phụ trách tiếp tế cho các đơn vị đứng chân ở Bời Lời (Tây Ninh), đồng chí Nam Ninh và đồng chí Sáu Moon phụ trách tiếp tế cho vùng Dương Minh Châu (Tây Ninh), đồng chí Lâm Sơn Hải phụ trách tiếp tế cho các đơn vị đứng chân ở Tây Ninh giáp biên giới Campuchia - Việt Nam... Để tránh sự khủng bố gắt gao của địch, Xứ ủy chuyển từ Sài Gòn xuống Châu Đốc và đến năm 1957 rời sang Campuchia. Một số cán bộ Ban Cán sự Việt kiều ở Phnôm Pênh được điều qua Xứ ủy chuyên lo thu mua hàng, tổ chức đường dây bí mật chuyển vật chất hậu cần về miền Đông Nam Bộ.


Thực hiện nghị quyết của Xứ ủy Nam Bộ, các căn cứ địa vùng rừng núi giáp biên giới Campuchia - Việt Nam được củng cố, xây dựng là nơi đứng chân và bảo đảm cho lực lượng vũ trang mới được tổ chức lại. Từ Campuchia, Xứ ủy đã tích cực vận động Việt kiều đóng góp tài chính, chỉ đạo tổ chức tiếp liệu chuyển về miền Nam. Hàng chục thanh niên Việt kiều được tập hợp đào tạo thành y tá, dược tá, chuẩn bị dụng cụ quân y, thuốc men lập thành bộ phận quân y và 30 thợ may, máy may được huy động sản xuất quân trang sẵn sàng đưa về miền Nam.


Như vậy, ngay từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ta đã đánh giá đúng vị trí quan trọng của Vương quốc Campuchia trung lập. Dựa vào hoàn cảnh thuận lợi về chính trị, kinh tế, mối quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Xứ ủy Nam Bộ đã chuyển sang đứng chân hoạt động ở Campuchia chỉ đạo cách mạng miền Nam.


Cuối năm 1959, Xứ ủy Nam Bộ và một phần lực lượng hậu cần chuẩn bị ở Campuchia chuyển về căn cứ Tây Bắc Sài Gòn; lực lượng còn lại tổ chức thành một số cơ sở ở Phnôm Pênh. Đầu năm 1960, Trung đoàn chủ lực đầu tiên (phiên hiệu Q1) của Ban Quân sự Miền ra đời, toàn bộ quân trang, một phần lương thực, thuốc men là sự đóng góp của Việt kiều ở Campuchia đưa về. Lực lượng vũ trang Miền phát triển mạnh, quy mô tác chiến ngày một lớn, nhu cầu vật chất hậu cần ngày càng tăng. Tuy được Trung ương chi viện vào bằng đường biển (chủ yếu là vũ khí, đạn dược) và khai thác tại chỗ nhưng nguồn vật chất, trang bị khai thác trên đất Campuchia vẫn rất quan trọng. Từ năm 1963, Hậu cần Miền đã tăng cường nhiều cán bộ am hiểu, có kinh nghiệm hoạt động ở Campuchia cho "Bộ phận tiếp liệu ngoại" tại Phnôm Pênh như các đồng chí Tư Võ, Bảy Cà Phê, Tư Rừng, Tư Kho, Bảy Đạt... Nhờ vận dụng linh hoạt các biện pháp, thông qua Việt kiều, Hoa kiều móc nối được một số sĩ quan quân đội Campuchia và thương nhân mua những thứ thiết yếu, ngụy trang dưới dạng buôn bán hàng hóa, đưa đến các "chợ trời" khu vực biên giới ở Ca-ba-chàm thuộc tỉnh Srây Riêng, Sa Âm và Mi Mốt thuộc tỉnh Kông-pông Chàm. Tại các cửa khẩu, các "chợ trời" biên giới, quy luật giá cả, giá trị được sử dụng khéo léo đã hút được nguồn hàng lớn từ nội địa Campuchia mang tới bán cho ta. Sau đó, số hàng hóa mua được nhanh chóng chuyển về các căn cứ hậu cần ở miền Đông Nam Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:54:34 pm »

Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 25 tháng 5 năm 1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng giao cho Trung tướng Trần Văn Trà - Phó Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp tổ chức Đoàn B90 gồm 25 người đủ các thành phần dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số đã từng chiến đấu, công tác ở chiến trường rừng núi miền Đông Nam Bộ, Nam Tây Nguyên và Đông Bắc Campuchia, do đồng chí Trần Quang Sang (Ba Phước) - Chỉ huy trưởng Đoàn vũ trang tuyên truyền Lộc Ninh, cán bộ Ban Thống nhất Trung ương làm Trưởng đoàn; đồng chí Phùng Đình Ấm (Ba Cung) - Chính trị viên tiểu đoàn thuộc Sư đoàn Bộ binh 324 và đồng chí Phạm Lạc (Phạm Văn Lạc) - Tiểu đoàn phó thuộc Sư đoàn Bộ binh 330 làm Phó đoàn. Đoàn B90 có nhiệm vụ hành quân vào Đắk Lắk cùng các đồng chí hoạt động tại địa phương tìm cách mở đường từ Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ để vừa xây dựng cơ sở cách mạng, khắc phục tình trạng chia cắt do địch kiểm soát giữa chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ với chiến trường Tây Nguyên và Khu 5, vừa chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho việc tiếp nhận sự chi viện nhân lực, vật lực từ hậu phương miền Bắc theo đường chiến lược Trường Sơn vào Tây Nguyên và nguồn hàng từ Đông Bắc Campuchia do các cơ sở hoạt động bí mật khai thác, chuyển về. Các đồng chí được tuyển chọn ngoài việc hội đủ tiêu chuẩn đức tài, tinh thần chịu đựng gian khổ, không ngại hy sinh, từng sống, chiến đấu ở địa bàn vào công tác, còn phải "không có vợ và chưa có người yêu ở miền Bắc" để giữ gìn bí mật tuyệt đối cho Đoàn. Công tác chuẩn bị hậu cần vào miền Nam theo quy định cũng được tiến hành hết sức nghiêm ngặt. Những bộ quân phục hiện dùng đều phải để lại, mỗi người được cấp hai bộ quần áo bà ba đen, một chiếc "khăn rằn" kiểu miền Trung Nam Bộ, một "xà cột" vai, một mũ rộng vành, một võng và vải nilông, một đôi "dép râu"; các túi gạo, túi thuốc, thực phẩm khô... Tổng cộng mang trên người không quá 20kg. Gần ngày lên đường, tất cả giấy tờ, từ quyết định điều động, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đến bằng khen, giấy khen, huân chương, huy chương, quân hàm, quân hiệu, các loại mang dấu ấn miền Bắc đều được tập trung gửi lại, sao cho trước lúc lên đường, anh em trong Đoàn phải được coi như một bộ phận từ phong trào đấu tranh chống Mỹ, ngụy những năm 1957- 1959.


Việc thành lập Đoàn B90 trong thời kỳ quân và dân ta ở miền Nam bắt đầu thực hiện chiến tranh cách mạng không chỉ nhằm khắc phục tình trạng chiến trường vùng sâu, vùng xa bị chia cắt do Đoàn 559 chưa vươn tới được, mà còn là điều kiện thuận lợi để xây dựng, mở rộng cơ sở cách mạng, xóa bỏ "vùng trắng" từ Nam Đắk Lắk trở vào Đông Nam Bộ, một vùng được Mỹ, ngụy mệnh danh là "bất khả xâm phạm".


Ở miền Đông Nam Bộ, Xứ ủy Nam Bộ quyết tâm mở tuyến vận tải chi viện chiến lược cả trên bộ và trên biển, đồng thời chỉ thị cho Khu ủy miền Đông Nam Bộ khẩn trương xây dựng cơ sở, mở rộng căn cứ tiến ra phía Bắc đón các bộ phận mở đường từ Nam Tây Nguyên và Đông bắc Campuchia vào.


Sau những ngày tháng tìm đường giữa những cánh rừng hoang vu và núi non hiểm trở. Vào lúc 16 giờ ngày 30 tháng 10 năm 1960, Đội I của Đoàn B41 (Đầu năm 1960, Đoàn B90 và Đội công tác Nam Đăk Lắk hợp nhất thành Đoàn B4, có nhiệm vụ "xoi mở đường" kết hợp với xây dựng cơ sở cách mạng từ các tỉnh Nam Tây Nguyên xuống các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Ban Cán sự lâm thời Đoàn B4 do đồng chí Vũ Anh Ba - Bí thư Ban Cán sự tỉnh Đăk Lắk trực tiếp làm Bí thư. Đồng chí Trần Phòng - Bí thư kiêm Đội trưởng Đội Công tác Nam Đăk Lắk và đồng chí Trần Quang Sang - Bí thư Chi bộ kiêm Đoàn trưởng Đoàn B90 làm Ủy viên) đã bắt được liên lạc với Đại đội 59 của Liên tỉnh ủy miền Đông Nam Bộ tại con suối cạn, thượng nguồn sông Đồng Nai Thượng và ngày 4 tháng 11 năm 1960, tại Km 5 trên Đường số 14, khu vực ngã ba biên giới Campuchia, Lào và Việt Nam, đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Phước Long đã bắt được liên lạc với Đội II của Đoàn B4 do đồng chí Phùng Đình Ấm phụ trách. Thiết lập được tuyến hành lang giao liên từ Trung Bộ vào miền Đông Nam Bộ, tuyến giao liên vận tải quân sự Trường Sơn qua đất Campuchia và Lào thật sự trở thành cầu nối giữa căn cứ địa miền Bắc với miền Nam.


Căn cứ vào sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Bộ, Khu ủy miền Đông tổ chức hai đội C200, C300 từ Chiến khu Đ, khu Vực Bình Phước "xoi mở đường" lên thượng nguồn sông Đồng Nai Thượng và ngã ba biên giới (Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Campuchia) bắt liên lạc với Đoàn B4. Giữa tháng 7 năm 1960, Đội C200 đã bắt liên lạc được Đội I (Đoàn B4) đến cuối tháng 2 năm 1960, Đội C300 đã bắt liên lạc với Đội II (Đoàn B4).


Việc mở đường, khai thông hành lang chiến lược Bắc - Nam trên đất Campuchia là nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng và khó khăn gian khổ. Mục đích, yêu cầu, phương châm, phương pháp, tư tưởng chủ đạo trong công tác là: Tích cực, chủ động "xoi mở đường"; bám chặt vào dân để xây dựng cơ sở; tạo thế, tạo lực bám trụ lâu dài, vững chắc, phát triển hành lang tiến ra phía trước được quán triệt thấu suốt từ lãnh đạo đến từng đội viên. Trong điều kiện chiến trường mới lạ, cơ sở cách mạng trên địa bàn rất mỏng, thậm chí nhiều nơi chưa có, các đội công tác mở đường vừa phải mò mẫm bám từng buôn, móc ráp từng người dân để tuyên truyền chủ trương của cách mạng, vừa phải tự lo từng bữa ăn hằng ngày. Để duy trì sinh hoạt và công tác, Đội C200 phải dựa vào củ chụp, củ năng thay lương thực làm thức ăn hằng ngày. Trong điều kiện cơ động làm nhiệm vụ, anh em phải gọt vỏ, thái mỏng, sau đó luộc chín cho vào giỏ tre đem ngâm xuống suối qua một ngày hoặc một đêm mới có thể nấu ăn được. Củ măng được chế biến (thức ăn chính) cùng với các món ăn thịt thú rừng, cá suối, măng tre nứa, môn thục, rau tàu bay... không chỉ giúp duy trì sự sống mà còn tiếp sức cho bộ đội mở đường, tiến lên phía trước. Nhờ tinh thần đoàn kết vượt khó, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ bàng mọi giá, sau hơn một tháng bám tuyến dọc sông Đồng Nai, Đội C200 đã đi sâu vào địa phận phía Nam tỉnh Lâm Đồng giáp biên giới Campuchia.


Ở miền Nam, sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, phong trào cách mạng có bước phát triển mới. Xứ ủy Nam Bộ quyết định xây dựng khu vực phía Bắc huyện Dương Minh Châu và huyện Châu Thành (Tây Ninh) thành căn cứ chung của Miền. Do việc tiếp tế bảo đảm cho các cơ quan đơn vị trong Căn cứ Dương Minh Châu hết sức cấp thiết, đồng chí Nam Ninh được giao nhiệm vụ thiết lập đường dây tiếp tế, đưa đón cán bộ từ Campuchia về nước; đồng thời, trực tiếp mở các cửa khẩu thu mua, trước hết là lương thực, vải, muối về cung cấp cho bộ đội. Qua một thời gian, bộ phận này lựa chọn địa bàn Trảng Chiên làm nơi đứng chân và mở các cửa khẩu Chốt Chanh, Cà Tum, suối Nước Trong... Sang năm I960, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy, ta đã tổ chức một số cánh quân nhu vận tải, chuyên trách mở cửa khẩu thu mua lương thực thực phẩm và vận chuyển, dự trữ, tiếp tế cho các cơ quan đơn vị thuộc Miền, chủ yếu tại biên giới Campuchia - Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #5 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:55:24 pm »

Bên cạnh tổ chức các phân đội quân nhu làm công tác thu mua, tại Căn cứ Khu B bước đầu xây dựng một số cơ sở sản xuất quân trang. Ngày 22 tháng 12 năm 1960, xưởng may đầu tiên của Quân đội ta ở miền Nam ra đời. Xưởng mang phiên hiệu A5 gồm sáu người, trang bị bốn máy khâu do đồng chí Ba Sơn phụ trách, đứng chân ở suối Trà Vông (Bắc Tây Ninh). Cùng thời gian, Căn cứ Khu B thành lập thêm Xưởng may B9 gồm 12 người do đồng chí Phong phụ trách, đứng chân ở khu vực Suôi Mây (Tây Bắc Tây Ninh). Xưởng A5 và Xưởng B9 buổi đầu có quân số và máy móc, thiết bị ít. Lực lượng tham gia xây dựng xưởng chủ yếu mới biết may vá hoặc biết sử dụng máy khâu được lựa tuyển trong số chị em đang làm nhiệm vụ xay giã gạo của quân nhu. Sau đó, các xưởng trên tiến hành tuyển thêm chị em từ các địa phương Củ Chi, Hóc Môn, Bình Dương, Tây Ninh... Ngoài ra, còn có một số chị em Việt kiều từ Campuchia về tham gia xây dựng xưởng.


Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tháng 2 năm 1961, Hội nghị quân sự miền Nam quán triệt nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam với tên gọi công khai là "Quân Giải phóng miền Nam", là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam. Các bộ tư lệnh quân khu được thành lập. Nam Bộ được chia thành bốn quân khu. Đến tháng 7 năm 1961, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Quân khu 6 được thành lập1 (Quân khu miền Đông Nam Bộ (Khu 7) mang mật danh T1 gồm các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Biên Hòa, Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Bình Tuy, Long An, Hậu Nghĩa và Phước Tuy. Quân khu miền Trung Nam Bộ (Khu 8 ) mật danh T2 gồm các tinh Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, An Giang, Mỹ Tho, Gò Công và Bến Tre. Quân khu miền Tây Nam Bộ (Khu 9) mật danh T3 gồm các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu và Cà Mau. Quân khu Sài Gòn - Gia Định mật danh T4. Cục Nam Trung Bộ (Khu 6) gồm các tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Tuyên Đức và Lâm Đồng. Khu 5 gồm các tinh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai và Kon Tum).


Với việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo chỉ huy quân sự toàn miền Nam, hệ thống tổ chức hậu cần quân sự từng cấp được hình thành. Đồng chí Phạm Văn Xô - ỦY viên Thường vụ Trung ương Cục kiêm ủy viên Ban Quân sự Miền (sau đổi thành Bộ Chỉ huy Quân sự Miền) được phân công phụ trách công tác hậu cần, sản xuất, đường dây, xây dựng căn cứ địa... Ban Quân sự Miền phân công các đồng chí: Võ Văn Lân (Mười Thiên) - phụ trách kế hoạch hậu cần, Trịnh Văn Tước (Tám Cường) - phụ trách chính trị, Trần Công An (Hai Cà) - phụ trách sản xuất, Lưu Dương - phụ trách quân giới, Sáu Ngọc - phụ trách đường dây, Năm Bằng - phụ trách tài vụ. Ban Quân sự Miền tăng cường xây dựng hai khu căn cứ A và B để tổ chức tạo nguồn vật chất bảo đảm hậu cần cho bộ đội chủ lực Miền và các cơ quan miền Đông Nam Bộ; đồng thời, chỉ đạo và giúp đỡ các lực lượng vũ trang quân khu, tỉnh đứng chân trong phạm vi căn cứ của Miền đẩy mạnh việc xây dựng căn cứ của mình. Đầu năm 1962, Trung ương Cục quyết định thành lập Phòng Hậu cần thuộc Ban Quân sự Miền do đồng chí Võ Phát (Tư Võ) làm Trưởng phòng. Phòng có các bộ phận chính là Quân nhu, Quân y Quân giới. Ngoài chức năng làm tham mưu hậu cần cho Ban Quân sự Miền, Phòng còn có nhiệm vụ chỉ đạo đối với hai khu căn cứ A và B.


Cùng với việc tạo nguồn vũ khí trang bị tại chỗ và nhận sự chi viện từ miền Bắc vào, ta còn tổ chức mua sắm vũ khí từ Campuchia chuyển về nước. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục, năm 1961, Ban Cán sự Việt kiều ở Phnôm Pênh thành lập Ban Tiếp liệu ngoại, lấy phiên hiệu là B20. Nhiệm vụ của Ban là xây dựng cơ sở cách mạng trong Việt kiều ở Campuchia, vận động nhân dân quyên góp ủng hộ cách mạng trong nước, thu mua hàng (chủ yếu là vũ khí) theo yêu cầu của Miền và tổ chức vận chuyển về Khu B. ở Khu B, Hậu cần Miền tổ chức ra bộ phận B21 đứng chân ở Chàng Riệc, nối liền với đường dây của B20. Bộ phận B21 đón hàng của B20 đưa xuống Đường số 7 (Mi Mốt) cất giấu và vận chuyển về kho Khu B, đồng thời B21 còn tổ chức thu mua một số loại vũ khí đưa về nước. Cuối năm 1962, do một số cơ sở của B21 bị địch phát hiện, bộ phận này phải di chuyển lên thị trấn Snuôl, tỉnh Kra-chê (Campuchia), sau đó đứng chân ở Ca-ba-chàm tiếp tục làm nhiệm vụ thu mua trang bị kỹ thuật vận chuyển về nước.


Khi Xứ ủy Nam Bộ thành lập, Ban Tài chính Xứ ủy cũng được ra đời với một số ít tiền "Đông Dương ngân hàng" và tạo một số cơ sở kinh doanh hợp pháp để làm bình phong hoạt động. Địch đánh phá ráo riết các cơ sở cách mạng nên hoạt động tài chính Nam Bộ rơi vào hoàn cảnh rất khó khăn. Vì vậy, giữa năm 1958, Ban Tài chính cùng Xứ ủy chuyển sang đất Campuchia, xây dựng lại lực lượng để phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lâu dài ở miền Nam Việt Nam.


Sau Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (1.1959), bộ đội chủ lực Miền và bộ đội địa phương phát triển mạnh ở miền Nam, việc bảo đảm hậu cần cho các đơn vị trở thành vấn đề cấp bách. Một trong những phương pháp bảo đảm là chi viện tiền cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ bằng cách chuyển ngoại tệ (chủ yếu là đồng đô la Mỹ) cho "Tổ chức tài chính đặc biệt" do đồng chí Mười phụ trách. Tại Ngân hàng Trung ương ở Hà Nội có giữ "quỹ mật" bằng ngoại tệ do nước bạn viện trợ, dành cho miền Nam. Đồng chí Phạm Hùng - Phó Thủ tướng Chính phủ là người quyết định sử dụng quỹ này. Công việc chuyển tiền được thực hiện bằng cách: Khi cần đưa tiền đi, đồng chí Phạm Hùng điện gọi người từ Campuchia về Hà Nội làm việc. Nhận xong, tiền được gói dưới dạng hàng mẫu đưa vào Cơ quan đại diện thương mại của ta ở Phnôm Pênh bằng máy bay. Tiền đến Phnôm Pênh được giao lại cho bộ phận của đồng chí Mười, sau đó được Trung ương Cục xác nhận.


Cuối năm 1961, Ban Kinh tài (Ban Tài chính đã được đổi tên) Trung ương Cục di chuyển về Khu C (Tây Ninh). Đồng chí Mười đi thẳng lên Phnôm Pênh gặp đồng chí Nam Cường - Giám đốc Công ty Tân Á là đầu mối nhận và chế biến ngoại tệ từ nguồn chi viện của Trung ương chuyển vào. Sau chuyến đi Phnôm Pênh, đồng chí Mười đưa về một số con em Việt kiều ở Campuchia xin theo kháng chiến làm "Lính Kinh tài". Tháng 8 năm 1962, ta triển khai bộ phận chuyên trách tài chính và đô thị bên cạnh Ban Kinh tài, lấy phiên hiệu là C153. Sau đó, bộ phận này tiếp tục tiến hành chế biến ngoại tệ dựa vào những tổ chức có sẵn mối quan hệ với vùng đô thị miền Nam, hoặc dựa vào các cơ sở Việt kiều Hoa kiều ở Campuchia.


Tiếp tục chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, tháng 3 năm 1964 Tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông qua Kế hoạch Giôn-xơn - Mắc Na-ma-ra nhằm tăng cường sự chỉ huy trực tiếp của quân Mỹ, tăng viện trợ cho quân ngụy, cố gắng ổn định tình hình miền Nam trong hai năm 1964 - 1965; dùng không quân đánh phá miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế và buộc ta phải ngừng chi viện cho miền Nam. Tháng 4 năm 1964, đế quốc Mỹ lập kế hoạch đánh phá các con đường thâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam qua biên giới Lào và Campuchia.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #6 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:57:10 pm »

2. Hoạt động hậu cần quân sự trên chiến trường Campuchia, góp phần đánh thắng cuộc phản công chiến lược mùa khô làn thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 -1966)

Sang năm 1965, cuộc chiến đấu của nhân dân ta trên hai miền Nam - Bắc có những chuyển biến quan trọng. Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mỹ bị phá sản, cách mạng miền Nam đứng trước thời cơ giành thắng lợi mới. Để cứu vãn thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải ồ ạt đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam; đồng thời, mở rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực kinh tế quân sự của hậu phương lớn miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam.


Nhận rõ địch đánh phá miền Bắc chính là nhằm cứu vãn nguy cơ thất bại ở miền Nam nên Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tăng cường chỉ đạo công tác giao thông vận tải, xác định rõ nhiệm vụ giữ vững giao thông vận tải là công tác trung tâm đột xuất của cả nước. Tháng 4 năm 1965, Cục Vận tải thuộc Tổng cục Hậu cần được thành lập lại, đảm nhiệm toàn bộ tuyến vận tải quân sự trên miền Bắc, đảm bảo "chân hàng" cho Đoàn 559. Bộ Tư lệnh 559 (Đoàn 559) được tổ chức như một quân khu, trực thuộc Quân ủy Trung ương. Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Phan Trọng Tuệ - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải làm Tư lệnh kiêm Chính ủy, Đại tá Vũ Xuân Chiêm - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Phó Chính ủy, Thượng tá Võ Bẩm - Phó Tư lệnh, Thượng tá Vũ Văn Đôn - Cục trưởng Cục Quản lý xe máy giữ chức Tham mưu trưởng Đoàn 559.


Trước đòi hỏi của nhiệm vụ mới, Đoàn 559 tiến hành mở 400km đường mới; trong đó, đường từ Bạc đến Tà Xẻng vào khu vực biên giới ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, đáp ứng nhiệm vụ vận chuyển trong mùa khô. Đầu tháng 5 năm 1965, đường bị bom, mưa tàn phá càng hư hỏng nặng. Từ ngày 25 tháng 5 năm 1965, phía Tây Trường Sơn bắt đầu mưa lũ lớn, nước dâng cao có chỗ hơn 6m. Ở đoạn đường từ Bạc đi Tà Xẻng gặp nhiều khó khăn. Thời gian thi công triển khai chậm do ít máy móc, thiếu thuốc nổ, lại phải sử dụng lao động thủ công. Gặp những đoạn núi đá, các đơn vị phải thi công sang đoạn khác chờ khi có thuốc nổ mới quay lai làm tiếp. Nhiều chỗ đèo dốc hiểm trở, vách núi cao, Bộ đôi Công binh phải nối thêm cán xẻng để đào "ta luy" hoặc phải bám dây treo người ở lưng sườn núi để làm việc. Lương thực thực phẩm rất thiếu nên bộ đội phải đào củ mài, củ chuối hái măng, lá sắn để ăn. Thuốc sốt rét và các loại vi-ta-min đều thiếu. Sinh hoạt kham khổ, trong khi lao động rất căng thẳng, sức khỏe của lực lượng công binh giảm sút, quân số ốm cao. Tuy vậy, cán bộ, chiến sĩ các đơn vị vẫn động viên nhau quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.


Trước tình hình trên, để đảm bảo cho quân và dân ta có thể đánh bại các cuộc phản công chiến lược của địch, vấn đề đảm bảo hậu cần được quan tâm hàng đầu của các cấp, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, hành lang vận chuyển chi viện Nam Đông Dương được củng cố và mở rộng. Giữa năm 1965, theo sự chỉ đạo phương thức hoạt động mới, Đoàn 559 được tổ chức lại thành ba tuyến, mỗi tuyến tương đương cấp lữ đoàn: Trong đó, tuyến III gồm Trung đoàn Công binh 98 làm nhiệm vụ mở đường, lực lượng vận chuyển, giao liên từ Bạc vào đến Tà Xẻng, gồm cả Đường B46 từ Chà Vằn đi Khâm Đức và Đường C4 từ ngã ba Phi Hà đi Tà Ngâu (biên giới Campuchia) do Trung tá Nguyễn An - Chỉ huy trưởng, Trung tá Phạm Hương (sau là đồng chí Lê Xy) - Chính ủy Tuyến III. Sở Chỉ huy tuyến bố trí ở Bạc. Đầu tháng 11 năm 1965, nhờ Nhà nước và Bộ Quốc phòng bổ sung lực lượng, Tuyến III có hai tiểu đoàn bộ binh (4, 9) và hai trung đoàn công binh (98, 279), Tiểu đoàn Vận tải ô tô 56, Tiểu đoàn Tàu thuyền 161, Tiểu đoàn Thồ 10, có ba đại đội thồ trên đất Campuchia từ Xiêm Pạng về Phi Hà (Đường C4), chín đại đội súng máy phòng không 12,7mm. Tháng 1 năm 1966, Đoàn 559 mở đường cơ giới vào đến Tà Xẻng, tạo thành tuyến vận tải cơ giới liền mạch từ Mụ Giạ vào ngã ba biên giới Campuchia - Lào - Việt Nam và từ đó vươn sâu hơn về phía Nam. Tuy vậy, đây chỉ là đường quân sự làm gấp, mặt đường và bán kính quay vòng hẹp, gồ ghề, độ dốc rất cao, cần phải tiếp tục cải tạo mới sử dụng có hiệu quả và an toàn. Như vậy, mạng đường do Đoàn 559 quản lý được phát triển bằng phương tiện cơ giới về phía Nam, qua Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia, đến chiến trường Nam Đông Dương, góp phần quan trọng đẩy mạnh chi viện cho bộ đội chiến đấu.


Bên cạnh việc tăng cường năng lực tiếp nhận và vận chuyển hàng chi viện từ chiến trường miền Bắc qua Đường 559 và quá cảnh qua Campuchia, quân và dân ta trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ tích cực tham gia xây dựng hậu phương tại chỗ, nhanh chóng xây dựng thêm các khu vực hậu cần, cảng tuyến vận tải trước đó và mở thêm các hành lang ngang dọc tạo nên thế liên hoàn từ biên giới Campuchia tiến lên thông với tuyến 559. Tại miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền (thành lập tháng 10.1963) chỉ đạo tổ chức, phát triển các đoàn hậu cần khu vực 81, 82 83 và 84, mở rộng hành lang vận chuyển, xây dựng thêm căn cứ hậu cần tại chỗ, bám chắc địa bàn quan trọng. Các đoàn hậu cần khu vực được bổ sung lực lượng, hoàn chỉnh tổ chức thành phần đảm bảo và mở rộng phạm vi hoạt động trên đất Campuchia sẵn sàng phục vụ nhiệm vụ chiến đấu.


Cuối năm 1965, Bộ Quốc phòng điều hai tiểu đoàn vận tải của Đoàn 559 cùng đoàn cán bộ của Tổng cục Hậu cần vào Tây Nguyên thành lập Cửa khẩu VQ5 (Tân Lập), với nhiệm vụ tiếp nhận nguồn hàng của Trung ương qua đất Campuchia và tổ chức mua thêm hàng tại chỗ cung cấp cho chiến trường. Đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam qua Tây Nguyên được củng cố, thông suốt để tiếp nhận vật chất từ miền Bắc đưa vào và lương thực thực phẩm tại nội địa Campuchia chuyển sang.


Tháng 10 năm 1965, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công Plây Me (19.10 - 26.11.1965) tại khu vực Đức Cơ - Bàu Cạn - Plây Me (tỉnh Gia Lai). Địa bàn tác chiến chủ yếu của chiến dịch được xác định là khu vực từ Bàu Cạn - Plây Me đến Đức Cơ - Ia Đrăng (cách Tây Nam thị xã Pleiku khoảng 30km) thuộc tỉnh Gia Lai, diện tích 600km2. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có ba trung đoàn bộ binh 320, 33 và 66, Tiểu đoàn Đặc công 952, Tiều đoàn Pháo binh 200, Tiểu đoàn Cao xạ 32; lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai cùng tham gia phối hợp có một tiểu đoàn bộ binh, một đại đội đặc công, một đại đội súng cối và lực lượng du kích Huyện 5... Lực lượng quân Mỹ trên địa bàn chiến dịch có Lữ đoàn kỵ binh bay 3; quân ngụy có một chiến đoàn (gồm Trung đoàn 42 và hai tiểu đoàn biệt động quân 21,22), hai tiểu đoàn thuộc lực lượng đặc biệt do cố vấn Mỹ chỉ huy đóng đồn ở Plây Me và Đức Cơ, Chiến đoàn thiết giáp 3 thuộc Biệt khu 24 sẵn sàng ứng cứu cho lực lượng ở Plây Me. Thiếu tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #7 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:57:57 pm »

Để đảm bảo hậu cần cho chiến dịch, lực lượng hậu cần hoạt động trên hành lang Cánh Nam Tây Nguyên, bao gồm các kho dự trữ, Viện Quân y 2, Tiểu đoàn Vận tải bộ, Trạm Sửa chữa quân giới được sử dụng làm hậu cần chiến dịch. Một bộ phận hậu cần của khu vực Cánh Nam được tổ chức thành căn cứ hậu cần phía trước đứng chân tại vùng H5 - Ba Bỉ, bao gồm kho đạn, bệnh viện tiền phương, lực lượng dân công, hai trung đội vận tải và hơn 100 dân công trực tiếp đảm bảo vận chuyển hàng cho lực lượng chiến đấu. Giữa căn cứ hậu cần chiến dịch và bộ phận căn cứ hậu cần phía trước tổ chức Trạm tiếp chuyển T2. Các địa phương cũng tổ chức huy động nhân dân xây dựng những kho dự trữ hậu cần phục vụ cho bộ đội tác chiến. Tổng nhu cầu vật chất phục vụ chiến dịch là 202 tấn lương thực thực phẩm, 50 tấn đạn. Trong đó, đạn dược chủ yếu được chuyển từ Hậu cần Cánh Bắc xuống; lương thực thực phẩm chủ yếu chuyển từ Hậu cần Cánh Nam lên.


Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên yêu cầu lực lượng hậu cần Cửa khẩu VQ5 và hậu cần cấp trên đẩy mạnh chi viện vật chất từ phía Nam qua đất Campuchia cho chiến dịch. Trên tuyến hành lang, nhân dân phối hợp cùng lực lượng vận tải tích cực đẩy mạnh vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến dịch Cán bộ, chiến sĩ hậu cần hoạt động trên đất Campuchia nêu cao quyết tâm phục vụ đầy đủ vật chất cho chiến dịch không kể ngày đêm. Tuy nhiên, lúc này đang là mùa mưa, phương thức vận tải chủ yếu là gùi, thồ, sử dụng xe bò, đường vận chuyển xấu, lại bị địch đánh phá liên tục nên đến giữa tháng 10 năm 1965, Hậu cần Chiến dịch mới vận chuyển được 30 tấn đạn (nhu cầu cần 50 tấn), lương thực thực phẩm cũng chưa đủ số lượng yêu cầu. Trước tình hình đó, lực lượng hậu cần đã đẩy mạnh thu mua và vận chuyển. Nhiều chiến sĩ vận tải và lực lượng dân công thực hiện gùi thồ hàng liên tiếp trong nhiều ngày, sức khỏe đã suy kiệt nhưng vẫn không rời vị trí. Nhiều anh chị em còn vượt cung, tăng chuyến đẩy hàng lên chiến trường.


Ngày 26 tháng 11 năm 1965, chiến dịch kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 3.000 quân địch (có 1.700 quân Mỹ), tiêu diệt một chiến đoàn bộ binh cơ giới hỗn hợp của quân ngụy, diệt và đánh thiệt hại hai tiểu đoàn quân Mỹ, phá hủy 89 xe quân sự, bắn rơi 59 máy bay; phía ta có hơn 1.200 cán bộ, chiến sĩ thương vong. Chiến dịch thắng lợi có đóng góp của lực lượng hậu cần, vận tải trên đất Campuchia. Sau chiến dịch này, tuyến hành lang tiếp tục được củng cố, mở rộng, đường cơ giới vươn sâu vào chiến trường phía Nam.


Chiến trường Đông Nam Bộ ở xa hậu phương miền Bắc, công tác chi viện chiến trường gặp nhiều khó khăn; xác định phương hướng công tác hậu cần trong thời gian tới là tổ chức thu mua tại chỗ, tiếp nhận vận chuyển hàng đến các đơn vị kịp thời nên Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập hai đoàn hậu cần 85 và 86:


Đoàn hậu cần 85 (thành lập tháng 10.1965) với nhiệm vụ: Tiếp nhận hàng chi viện chiến lược, bảo đảm kho tàng dự trữ lâu dài, phục vụ chiến đấu, phục vụ thương bệnh binh tuyến sau của các đơn vị và của các đoàn hậu cần phía trước đưa về, nuôi dưỡng tân binh vào, cung cấp lương thực, thuốc men, bổ sung quân trang cho các đơn vị, tạo cơ sở vật chất hậu cần tại chỗ (chủ yếu là lương thực thực phẩm). Phạm vi hoạt động của Đoàn ở phía Đông và Tây Đường số 13, giáp biên giới Campuchia - Việt Nam; đồng thời, Đoàn thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận gạo của trên và tổ chức thu mua lương thực thực phẩm ở khu vực Đường số 13 trên đất Campuchia. Chỉ huy Đoàn có đồng chí Sáu Sâm - Đoàn trưởng kiêm Chính ủy và đồng chí Mười Tùng - Phó Chính ủy đặc trách biên giới Campuchia - Việt Nam.


Đoàn hậu cần 86 (thành lập đầu năm 1966) được xây dựng thành một trong những căn cứ hậu phương vững chắc của các tỉnh Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, hoạt động dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam, khu vực từ tỉnh Phước Long đến sát sông Sê-rê-pốc của tỉnh Quảng Đức, với nhiệm vụ: Tiếp nhận hàng của Trung ương do Đoàn 559 đưa vào và hàng của Đoàn hậu cần 17 hoạt động trên đất Campuchia đưa sang, xây dựng và mở rộng đường vận tải nối liền với chiến trường Tây Nguyên từ phía Nam sông Sê-rê-pốc đến Đoàn hậu cần 81, tổ chức thu mua lương thực thực phẩm phục vụ cho chiến đấu. Chỉ huy Đoàn có đồng chí Lâm Quốc Đăng - Cục phó Cục Hậu cần Miền trực tiếp làm Đoàn trưởng, đồng chí Ba Đăng - Chính ủy.


Thời gian này, hành lang chi viện Bắc - Nam từ Nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ dần chuyển sang khu Vực giáp biên giới Campuchia - Việt Nam do Đoàn hậu cần 86 trực tiếp phụ trách. Phối hợp với các đoàn hậu cần khu vực Đoàn hậu cần 86 tổ chức thành năm tuyến hành lang vận tải (cánh hậu cần) hoạt động trên các địa bàn: Cánh V1 hoạt động ở khu vực Ba Khê, Cánh V2 hoạt động tại khu vực Ô Răng, Cánh V3 hoạt động tại ngã ba biên giới Việt Nam, Lào và Campuchia, Cánh V4 hoạt động tại Đức Lập, Cánh V5 hoạt động ở phía Nam sông Sê-rê-pốc và Bản Đôn tiếp giáp với Mặt trận Tây Nguyên. Trên mỗi cánh, các đơn vị sử dụng cả phương tiện vận tải thô sơ và cơ giới.


Ngoài việc tiếp nhận hàng chi viện của Đoàn hậu cần 17 và qua tuyến 559, Đoàn hậu cần 86 còn có nhiều cửa khẩu đề thu mua lương thực thực phẩm trên đất Campuchia nhằm dự trữ nguồn hàng phục vụ cho các chiến dịch lớn. Đặc biệt, Đoàn hậu cần 86 đã xây dựng tuyến vận tải đến hai đoàn hậu cần 81 và 84 với tổng chiều dài 118km, sử dụng phương tiện vận chuyển bằng cơ giới là chủ yếu. Trên tuyến vận tải này, có hệ thống các kho, trạm liên lạc, trạm quân y thu dung điều trị thương bệnh binh trên đường hành lang. Đây là một trong những tuyến vận tải hoạt động tốt nhất, thực hiện vận chuyển được khối lượng hàng hóa lớn ngay cả trong mùa mưa phục vụ nhu cầu chiến đấu của các đơn vị. Đoàn hậu cần 86 có tới bốn bệnh viện; mỗi bệnh viện có khoảng 300 giường bệnh, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sĩ trong Đoàn và các đơn vị khác. Điển hình là các bệnh viện đứng chân trên đất Campuchia như Bệnh viện K79A ở Ka Tum do đồng chí Huỳnh Văn Đại làm Viện trưởng; Bệnh viện K79E ở ô Răng do bác sĩ Đỗ Kim Doanh làm Viện trưởng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #8 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:58:44 pm »

Mùa khô 1965 - 1966, đế quốc Mỹ đã đưa hơn 200.000 quân viễn chinh cùng hơn 30.000 quân các nước chư hầu vào trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Việt Nam; địch gấp rút chuẩn bị cuộc phản công mùa khô để tìm diệt chủ lực ta. Để thống nhất chỉ đạo công tác vận tải quân sự, phối hợp chặt chẽ giữa tuyến trước và tuyến sau, Quân ủy Trung ương quyết định chuyển Đoàn 559 trực thuộc sự chỉ đạo của Tổng cục Hậu cần và chỉ định Đại tá Hoàng Văn Thái - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần làm Tư lệnh Đoàn; Đại tá Vũ Xuân Chiêm làm Chính ủy Đoàn. Tháng 12 năm 1965, Đảng ủy Đoàn 559 tổ chức Hội nghị quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương với quyết tâm: Đầu tháng 1 năm 1966 phải thông đường đến Tà Xẻng, đường rộng từ 4,5 đến 5m, tốc độ xe chạy được 100km trong một đêm và cơ động được xe kéo pháo. Từ Bạc đi Tà Xẻng phải chống lầy từng đoạn để đến mùa mưa xe tranh thủ chạy từng chuyến đảm bảo được 8 tấn/ngày. Khảo sát đường từ Tà Xẻng về phía Nam dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam; cải thiện Đường C4 (đường thồ) từ Tà Ngâu trên đất Campuchia về Phi Hà. Tuyến III kết hợp vận chuyển cơ giới và thô sơ, nhận hàng ở Bạc đưa vào Tà Ngâu theo nhu cầu của Bộ. Khối lượng cả năm phải đảm bảo 17.766 tấn.


Sau 4 tháng mùa khô 1965 - 1966, Đoàn 559 mới giao cho các chiến trường được 10% kế hoạch. Riêng với |ực lượng nội bộ của các binh trạm từ Sa Khe vào Tà Xẻng và chiến trường Tây Nguyên chưa vận chuyển được, gây thiếu đói nghiêm trọng, bộ đội không đủ gạo đề nấu cháo. Trước tình hình trên, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần chỉ thị cho Đoàn 559 tổ chức rút hàng ở Tà Ngâu ra Tà Xẻng, Chà Vằn cứu đói cho chiến trường Khu 5, Tây Nguyên và các binh trạm phía trong; đồng thời, chỉ thị cho bộ phận thu mua của Tổng cục Hậu cần do đồng chí Đức Phương phụ trách khai thác nguồn hàng ở Đông Bắc Campuchia và Nam Lào khoảng 10.000 tấn gạo và thực phẩm, 1.000 tấn xăng dầu giao cho Đoàn 559. Do đường từ Campuchia về Việt Nam còn là đường thồ nên khối lượng vận chuyển được không nhiều. Cuối tháng 1 năm 1966, Đoàn 559 điều Trung đoàn Công binh 98 cơ động gấp sang mở Đường C4 từ Phi Hà đi Tà Ngâu thành đường cơ giới (gọi là Đường số 49), kế hoạch phải hoàn thành vào tháng 3 năm 1966 để đưa xe vận chuyển hàng ra Tà Xẻng, Chà Vằn. Chỉ trong 38 ngày đêm, ngày 3 tháng 4 năm 1966, Trung đoàn Công binh 98 hoàn thành Đường số 49 với 204km từ Phi Hà qua bãi đá Lâm Phu, vượt dốc 200 đến Xiêm Pạng (Campuchia) đáp ứng kịp thời kế hoạch đưa hàng từ Campuchia và Hạ Lào về. Với việc mở Đường số 49, các lực lượng "xẻ dọc Trường Sơn" đã góp phần cùng toàn tuyến vận tải chiến lược mở được 720km đường mới với tổng khối lượng 1.908.000m3 đất đá và tạo nên trục vận chuyển cơ giới chiến lược Bắc - Nam với tổng chiều dài 920km đi từ Mụ Giạ và Phong Nha vào Tà Xẻng, Hạ Lào, nối sang Tà Ngâu, Xiêm Pạng trên đất Campuchia. Trục đường này đã hình thành hệ thống đường huyết mạch nối liền các chiến trường ba nước Đông Dương, bảo đảm phát triển vận chuyển chiến lược bằng cơ giới và phục vụ cho việc cơ động các lực lượng chiến đấu, binh khí kỹ thuật.


Khi ta đang vận chuyển cơ giới trên đất bạn Campuchia (hướng Tà Ngâu) thì máy bay địch phát hiện đánh phá. Các trọng điểm "Chín suối", Lâm Phu, suối "Hai ông bà" bị địch kiểm soát chặt chẽ. Càng ngày địch càng đánh sâu vào Lanh Tanh, Nậm Công, Tà Ngâu. Vì ta chưa có lực lượng phòng không ở các khu vực này nên máy báy địch tự do đánh phá, buộc xe phải dừng tránh địch suốt đêm, tỷ lệ xe hàng đến đích rất thấp. Đến tháng 5 năm 1966, Đoàn 559 mới chuyển hàng từ Tà Ngâu ra, giao cho Khu 5 được 250 tấn, chiến trường Tây Nguyên được 300 tấn và chuyển cho các binh trạm từ Bạc trở vào được gần 1.000 tấn. Tình hình trên phản ánh khó khăn lớn trong bước chuyển từ vận tải thô sơ sang vận tải cơ giới trên địa bàn rừng núi Campuchia xa hậu phương, trong điều kiện địch đánh phá ác liệt.


Cuối tháng 2 năm 1966, nhằm tăng cường sự chỉ huy trực tiếp, Đoàn 559 giải thể các tuyến vận tải, thành lập bảy binh trạm 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 8. Binh trạm 8 là binh trạm cuối cùng hoạt động chủ yếu trên đất Campuchia, từ Phi Hà đến Tà Ngâu cung cấp cho hành quân, nội bộ và Tây Nguyên do đồng chí Nguyễn Chúc - Binh trạm trưởng, đồng chí Nguyễn Danh - Chính ủy. Giữa năm 1966, Binh trạm 8 đổi thành Binh trạm 5 phụ trách Đường C4 từ biên giới Campuchia về Phi Hà do đồng chí Vũ Văn Đôn - Tham mưu trưởng Đoàn 559 làm Binh trạm trưởng và đồng chí Lê Nghĩa Sĩ - Phó Chủ nhiệm Chính trị Đoàn 559 làm Chính ủy Binh trạm.


Trong tuyến hành lang Bắc - Nam đến miền Đông Nam Bộ, đoạn qua địa bàn tỉnh Quảng Đức đóng một vai trò quan trọng. Trước sự đánh phá ác liệt của địch, đường hành lang qua địa bàn tỉnh có sự thay đổi. Được sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam với sự ủng hộ của Chính phủ Hoàng gia Campuchia do Quốc vương Xi-ha-núc đứng đầu, từ năm 1966, đường hành lang chuyển dần dọc theo biên giới Campuchia - Việt Nam. Nhiều trạm giao liên đặt trên đất Campuchia. Đường hành lang chiến lược Bắc - Nam qua địa bàn Quảng Đức được tổ chức thành sáu trạm dọc theo biên giới. Tháng 3 năm 1967, hệ thống các trạm trên tuyến hành lang được chuyển giao toàn bộ cho Ban Giao - bưu - vận thuộc Trung ương Cục trực tiếp chỉ huy hệ thống các trạm hành lang, chủ yếu là đưa đón bộ đội từ Sê-rê-pốc về đến căn cứ Trung ương Cục.


Tại miền Đông Nam Bộ, các hành lang vận chuyển của các đoàn hậu cần khu vực vượt qua nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên, sự đánh phá của địch tích cực hoạt động phục vụ chiến đấu. Một số cánh của các đoàn hậu cần khu vực vượt qua biên giới Campuchia - Việt Nam thu mua lương thực tự phát không giữ được bí mật hành lang vận chuyển nên địch phát hiện và tiến hành tổ chức đánh phá gây nhiều khó khăn cho ta. Bên cạnh đó, địch tích cực gây sức ép đối với Chính phủ Vương quốc Campuchia về kiểm soát chặt chẽ biên giới. Nhu cầu chiến đấu của quý I năm 1966 cần đến 3.000 tấn gạo, nhưng do gặp khó khăn về thu mua và vận chuyển nên những ngày đầu, các đoàn hậu cần thu mua được từ 3 - 5 tấn, cao nhất trong quý I năm 1966 cũng chỉ thu mua được 450 tấn, mới đủ cung cấp cho hai sư đoàn sử dụng trong một tháng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 2816



« Trả lời #9 vào lúc: 10 Tháng Sáu, 2026, 08:59:52 pm »

Trước tình hình trên, yêu cầu đặt ra là phải tổ chức việc thu mua và vận chuyển hàng có sự chỉ đạo thống nhất để giữ bí mật, an toàn cho các tuyến hành lang. Ngày 15 tháng 5 năm 1966, Bộ Tư lệnh Miền quyết định thành lập Ban Biên giới để chỉ đạo các đơn vị và đề ra một số quy chế hoạt động như: Những đơn vị công tác gần biên giới Campuchia - Việt Nam tuyệt đối không được vào làng mua bán trao đổi trực tiếp với nhân dân; phải tổ chức thành đơn vị hành chính (xã, huyện) thống nhất quản lý và chỉ huy, tổ chức tuần tra canh gác cẩn thận. Ban Biên giới và Cục Hậu cần Miền phối hợp chặt chẽ trong việc thu mua, vận chuyển. Hậu cần Miền có trách nhiệm bảo đảm hậu cần cho Ban Biên giới và các đồn biên phòng hoạt động. Từ đó, hoạt động của các cánh hậu cần vùng biên giới Campuchia - Việt Nam thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long và Quảng Đức hoạt động có hiệu quả, đường hành lang vận chuyển được an toàn, về thu mua, ta đã tổ chức thu mua thêm tại bốn cửa khẩu: Ngã tư Sở Sao, Vĩnh Tường, Tân Uyên và Bàu Hàm. Riêng cửa khẩu Vĩnh Tường, hằng ngày có hàng trăm người của ta đi mua gạo ở các vùng địch kiểm soát. Trong hai năm 1965 - 1966, ta tổ chức thu mua được 6.250 tấn gạo. Việc tổ chức thu mua đã khó, việc vận chuyển đưa gạo về vùng căn cứ và đến các đơn vị còn khó khăn hơn. Để đảm bảo việc vận chuyển, bên cạnh việc tổ chức lực lượng làm đường, bảo vệ đường, Hậu cần Miền và các đoàn hậu cần còn nâng cao khả năng vận chuyển bằng cách phát triển các phương tiện và phương thức vận chuyển. Hậu cần Miền thành lập thêm một đại đội xe ô tô (22 chiếc). Hàng hoá nhận được từ Campuchia về biên giới Vĩnh Tường ngay lập tức được chuyển về Bình Mỹ bằng xe ô tô, sau đó từ Bình Mỹ về sông Bé bằng nhiều phương tiện vận tải khác. Nhờ có nhiều tuyến vận tải được mở ra trên đất Campuchia để liên kết giữa các cánh trong một đoàn hậu cần, giữa các đoàn hậu cần tuyến trước và tuyến sau đã tạo nên một mạng đường vận chuyển đảm bảo cho hàng chi viện đến các chiến trường các đon vị, phục vụ cho việc đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất 1965 - 1966 của địch.


Sau sự kiện Vũng Rô (2.1965), tuyến vận tải chi viện bằng đường biển qua Biển Đông của ta bị phát hiện, quân Mỹ và quân ngụy tăng cường kiểm soát ngặt nghèo; đồng thời, đánh phá bằng không quân và hải quân, tuyến vận tải đường biển không còn khả năng hoạt động hiệu quả (tháng 2.1968 tuyến phải tạm dừng hoạt động). Trước tình hình trên, cùng với sự phát triển ngày càng lớn mạnh của chiến tranh giải phóng, đòi hỏi phải nhanh chóng tăng cường lực lượng vật chất kỹ thuật cho cách mạng miền Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng ra sức khắc phục khó khăn, tìm mọi con đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường, nhất là các chiến trường ở xa trong thời điểm mà tuyến 559 đang vươn vào nhưng chưa bảo đảm được vững chắc thường xuyên. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương chuyển hàng đến chiến trường Nam Đông Dương băng đường biển qua cảng Xi-ha-núc Vin và đường bộ do các đoàn vận tải thuộc Bộ Tư lệnh Miền phụ trách. Nhờ chính sách khôn khéo và các phương án đã chuẩn bị từ trước, Việt Nam qua con đường ngoại giao đã tranh thủ được chính quyền trung lập Vương quốc Campuchia đồng ý cho ta qua đường biển quốc tế đưa hàng hóa viện trợ quân sự (chủ yếu là vũ khí) vào cảng Xi-ha-núc Vin với điều kiện Việt Nam phải đóng góp cho phía Campuchia một tỷ lệ nhất định và tuyệt đối giữ bí mật; Quân đội Hoàng gia Campuchia có trách nhiệm bảo vệ, hộ tống số hàng quân sự này đưa về biên giới Việt Nam dưới danh nghĩa vận chuyển tiếp tế cho các đồn binh của Quân đội Hoàng gia Campuchia. Ngoài ra, Việt Nam còn tranh thủ vận chuyển lương thực thực phẩm, quân trang, ô tô, xe đạp thồ mà các đoàn hậu cần tổ chức thu mua, chế biến từ nội địa Campuchia về các hướng dọc biên giới Việt Nam - Campuchia giao hàng cho ba quân khu (7, 8, 9) và chiến trường Nam Tây Nguyên.


Để thực hiện nhiệm vụ vận chuyển trên, công tác tổ chức hoạt động hậu cần là vấn đề rất lớn và phức tạp, từ việc định ra biên chế các đơn vị, tổ chức lãnh đạo chỉ huy chung và từng hướng cửa khẩu; tổ chức lực lượng và phương tiện sửa chữa; tổ chức tuyến đường, bến bãi, kho tàng trên đất Campuchia. Đầu tiên, ta xây dựng tổ chức đại diện Quân Giải phóng miền Nam trong Quân đội Hoàng gia Campuchia tại Phnôm Pênh do hai đồng chí Hai Đạt và Trần Chính phụ trách. Tổ chức này có nhiệm vụ quan hệ, trao đổi, hợp đồng với đại diện Quân đội Hoàng gia trong việc tiếp nhận và vận chuyển hàng. Hoạt động của tổ chức hoàn toàn bí mật, kể cả các bộ, ngành dân sự của Campuchia cũng không được biết. Tiếp đó, ta xây dựng các đơn vị trực tiếp tiếp nhận, vận chuyển. Các bộ phận tiếp liệu của Hậu cần Nam Bộ đứng chân trên đất Campuchia, trước đó hoạt động thông qua Việt kiều là chủ yếu, nay đã phát triển mở rộng tổ chức, chuyển sang hoạt động công khai hợp pháp dưới danh nghĩa công ty kinh doanh và vận tải, được giao dịch trực tiếp với Quân đội Hoàng gia và chính quyền Vương quốc Campuchia. Hoạt động giao dịch bằng cách trả tiền cho mỗi tấn hàng quá cảnh và tiền cước thuê lực lượng, phương tiện của Quân đội Hoàng gia trong việc tiếp nhận, lưu giữ, vận chuyển, hộ tống hàng quân sự từ cảng Xi-ha-núc Vin về kho trung chuyển tại thị xã Kông-pông Spư và các điểm tiếp nhận của Việt Nam trên đất Campuchia.


Đơn vị trực tiếp làm nhiệm vụ tiếp vận này là Đoàn hậu cần 17 (được thành lập cuối năm 1965 tại Phnôm Pênh, tương đương cấp trung đoàn) do đồng chí Võ Phát (Tư Võ) - Cục phó Cục Hậu cần Miền làm Đoàn trưởng, các đồng chí Năm Thành, Ba Vũ, Tám Thanh và Bảy Bình làm Đoàn phó. Dưới Đoàn, ta tổ chức các ban chỉ huy (tương đương cấp tiểu đoàn). Đoàn hoạt động dưới danh nghĩa Công ty Thương mại và Vận tải Hắc Lỷ do đồng chí Bảy Cà Phê làm chủ hãng xe vận tải, các đồng chí khác đóng vai kế toán, thủ quỹ, giúp việc. Công ty có nhiệm vụ tổ chức tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc Việt Nam bằng đường biển qua cảng Xi-ha-núc Vin và Đoàn K201 (Đoàn K20, thành lập cuối năm 1965, hoạt động ở địa bàn Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Đồng chí Đức Phương, nguyên là Đoàn trường Đoàn 763 trực tiếp làm Đoàn trưởng Đoàn K20. Lúc đầu K20 trực thuộc Quân ủy Trung ương, sau thuộc Đoàn 559. Đầu năm 1966, Đoàn trực thuộc Tổng cục Hậu cần. Đoàn có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, trang bị kỹ thuật và giao cho Đoàn hậu cần 17 và nhận lương thực, thuốc men cung cấp cho Cánh Bắc của chiến trường Tây Nguyên và Hạ Lào. Cuối năm 1968, Đoàn tạm ngừng hoạt động do đế quốc Mỹ gây sức ép với Vương quốc Campuchia) ở Đường C4 hướng tỉnh Stung Treng ở Đông Bắc Campuchia; đồng thời, khai thác nguồn vật chất hậu cần trên đất Campuchia bảo đảm cho Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và chuyển ra Mặt trận Tây Nguyên, Đoàn 559 trên đất Việt Nam; tạo ra một hậu phương kế cận có vị trí rất quan trọng đối với chiến trường Tây Nguyên, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Công ty có từ 40 - 50 xe vận tải loại 10 tấn, từ 30 - 40 xe vận tải GMC, nhiều xe Landrover, xe Jeep, du lịch, một văn phòng, hai xưởng sửa chữa xe, nhiều cơ sở chế biến thực phẩm, thu mua lương thực, may mặc, sản xuất xe đạp trên đất Campuchia. Khi vận chuyển nhiều, công ty thuê thêm hàng trăm xe vận tải; ở mỗi cánh được bố trí từ 5 - 10 xe vận tải GMC túc trực để sẵn sàng tiếp chuyển giao hàng tận kho của quân ta. Hàng chi viện nhận bàn giao tại cảng Xi-ha-núc Vin chuyển tới kho trung chuyển ở thị xã Kông-pông Spư lượt vận chuyển giao tận các cửa khẩu biên giới Việt Nam theo yêu cầu của từng chiến trường.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM