Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:11:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các loại máy bay do Dassault thiết kế(1947 - 1986)  (Đọc 31199 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2009, 07:47:09 am »

Dassault Mirage III 1956



Về cơ bản theo phép ngoại suy thì Mirage I vẫn giữ lại 5% thickness/chord, 60% cánh máy bay hình tam giác, thực chất Mirage III lớn hơn và nặng hơn 30%. Nó sử đụng dộng cơ phản lực SNECMA Atar 101G-1 với thùng chất đốt phụ cung cấp 4400kg và được bổ trợ thêm 1500kg của động cơ rocket SEPR 66. Lần cất cánh đầu tiên vào ngày 17 tháng 11 năm 1956, nguyên mẫu đã đạt được tốc độ Mach=1.52 ở độ cao 11.600m trong thời gian sau lần bay tới ngày 30 tháng 1 năm 1957. Sau đó nó được lắp đặt động cơ rocket SEPR, đạt tốc độ Mach=1.8 trong cuộc thử nghiệm ngày 19 tháng 9 năm 1957. Có seri 10 chiếc Mirage IIIAs, tăng thêm 17.3% tiết diện cánh, thu nhỏ đuôi “thickness/chord ratio to 4.5%” và sử dụng động cơ Atar 9B với bộ phận đốt nhiên liệu hai lần tăng sức đẩy lên 6000kg. Trang bị động cơ rocket SEPR 84 tăng thêm sức đẩy 1500kg, Mirage IIIA bay lần đầu vào ngày 12 tháng 5 năm 1958, đây là mẫu đã đạt được tốc độ Mach=2.2 và đây là bản thứ mười và nó tham gia chương trình thử nghiệm ngày 15 tháng 12 năm 1959. Một seri khác của Mirage IIIA sử dụng động cơ Roll-Royce Avon 67 với sức đẩy 7258kg giống với nguyên mẫu Mirage IIIO dùng cho Australian và bay lần đầu vào ngày 13 tháng 2 năm 1961, nhưng Avon không bao giờ được sản xuất hay lắp đặt. Mirage IIIB và Mirage IIIC theo thứ tự là máy bay huấn luyện hai chỗ ngồi và máy bay đánh chặn một chỗ ngồi đã được sản xuất, mẫu thử nghiệm đầu tiên bay lần đầu ngày 9 tháng 10 năm 1960. Mirage IIIC sử dụng động cơ Atar 09B-3 và bổ trợ bởi động cơ rocket SEPR 841, và mang vũ khí gồm hai pháo 30mm, để thực hiện nhiệm vụ đánh chặn, nó được tăng thêm một tên lửa Matra R 511 và hai tên lửa đối không AIM-9 Sidewinder. Khoảng 95 chiếc Mirage IIIC đã được chuyển giao cho Armee de I’Air, một IIICS cho Thụy Sĩ, 72 chiếc IIICJ cho Israel và 16 chiếc IIICZ cho Nam phi. Tháng 12 năm 1982, 19 chiếc Mirage IIICJ, tất cả đều sử dụng động cơ phản lực Atar 9C được Israel nhượng lại cho Argentina, những chiếc còn lại đều phục vụ cho đến đầu những năm 90 và sau đó lần lượt IIIC đều bị thay thế bởi các kiểu khác của Mirage.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 9727kg
Trọng lượng rỗng 5922kg
Sải cánh 8.22m
Dài 14.73m
Cao 4.25m
Tiết diện cánh 34.85m2
Tốc độ tối đa 2230km/h
Tầm hoạt động 600km
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2009, 08:48:35 pm »

Dassault Etendard IV 1956



Dassault đã tiến hành việc phát triển song song Etendard II và VI, Etendard IV là máy bay chiến đấu đánh chặn hạng nhẹ sử dụng động cơ SNECMA Atar 101E-4 3400kg, bay lần đầu ngày 24 tháng 7 năm 1956. Về căn bản đã có những khoảng cách về các phiên bản động cơ khác nhau của thiết kế cơ bản này, Etendard IV có đường nét lớn hơn kể cả kích thước, bao gồm tiết diện cánh thêm 1.4m2, cabin có sự điều áp và bộ càng bánh đáp của máy bay có trục dài hơn, với khoảng cách càng trước và càng sau và giữa hai càng lớn hơn. Ngoài ra còn tăng khả năng mang nhiên liệu trong thân. Từ sự bắt đầu của thiết kế, một vài phiên bản của Etendard IV đã được đoán định trước, bao gồm phiên bản huấn luyện hai chỗ ngồi, kiểu máy bay trinh sát chiến thuật và phiên bản máy bay chiến đấu cất hạ cánh trên tàu sân bay. Phương án về loại máy bay này sau đó đã thu hút được sự chú ý của Aeronavale, Dassault đã nhận được hợp đồng để phát triển hơn nữa loại chiến đấu cơ này, đó chính là sự ra đời và phục vụ của Etendard IVM. Vũ khí trang bị của nguyên mẫu Etendard IV là hai pháo 30mm DEFA.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 7850kg
Trọng lượng rỗng 5060kg
Sải cánh 9.04m
Dài 13.40m
Rộng 4.30m
Tiết diện cánh 25.60m2
Tốc độ tối đa 1100km/h

Cảm ơn bác chiasang đã giúp đỡ, dòng chữ nghiêng phía trên là đoạn được sửa lại. Các bài khác em cũng muốn sửa lại nhưng không được Grin
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Hai, 2009, 07:53:05 am gửi bởi trinhlenam_89 » Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
chiangshan
Thành viên
*
Bài viết: 3405


No sacrifice, no victory


WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 18 Tháng Hai, 2009, 09:56:06 pm »

Dassault M.D.450 Ouragan 1949

12 chiếc (sau tăng them 14 chiếc) pre-series máy bay tiếp theo ‘’by 350 production Ouragans’’. Năm sau đó, 50 chiếc đầu tiên được hoàn thành với tiêu chuẩn tạm thời là loại M.D.450A

Twelve (later increased to 14) pre-series aircraft were followed by 350 production Ouragans. Of the latter, the first 50 were completed to an interim standard as MD.450As, subsequent aircraft embodying modifications and equipment changes as MD.450Bs.

12 (sau đó được tăng thành 14) chiếc ra lò trước khi 350 chiếc khác đi vào sản xuất hàng loạt. Nằm trong số ra sau (350 chiếc), 50 chiếc đầu tiên...


Dassault M.D.550 Mirage I 1955

Với nguyên bản chính delta “vertical tail replaced by swept back surfaces” và lắp đặt động cơ rocket SEPR 66

With the original delta vertical tail replaced by swept back surfaces and the SEPR 66 rocket installed

Với đuôi đứng ban đầu dạng delta được thay bằng đuôi vát xuôi về phía sau và lắp rocket trợ lực SEPR 66...


Dassault Mirage III 1956

Về cơ bản theo phép ngoại suy thì Mirage I vẫn giữ lại 5% thickness/chord, 60% cánh máy bay hình tam giác, thực chất Mirage III lớn hơn và nặng hơn 30%.

Essentially an extrapolation of the Mirage I and retaining the 5% thickness/chord ratio 60° delta wing, the Mirage III was substantially larger and some 30% heavier.

Cánh delta 60 độ có tỉ số độ dày (lớn nhất) của cánh/dây cung cánh = 5%...

Dassault Etendard IV 1956

bộ càng bánh đáp của máy bay với…(longer-stroke main undercarriage members with larger wheelbase and track). “Furthermore, there was provision for increased internal fuel capacity”.

Apart from having substantially more power than the other versions of the basic design, the Etendard IV featured larger overall dimensions, including 1.4m2 more wing area, cabin pressurisation and longer-stroke main undercarriage members with larger wheelbase and track. Furthermore, there was provision for increased internal fuel capacity.

Bộ càng có trục dài hơn (nôm na là cao hơn) với khoảng cách càng trước với càng sau (wheelbase) và giữa 2 càng (track) lớn hơn. Ngoài ra còn tăng khả năng mang nhiên liệu trong thân.
Logged

Dân ta phải biết sử ta
Cái gì không biết cần tra Gúc gồ
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #13 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2009, 08:59:34 am »

Dassault Etendard VI 1957



Được dự định trở thành máy bay chiến thuật chiến đấu hạng nhẹ cung cấp cho NATO, Etendard VI bay lần đầu vào ngày 15 tháng 3 năm 1957, ba nguyên mẫu của nó được hoàn thành vào tháng 7 năm 1955. Ban đầu, nguyên mẫu đầu tiên sử dụng động cơ phản lực Bristol Siddeley Orpheus BOr 1 cung cấp sức đẩy 1700kg, nhưng sau đó được thay thế bởi BOr 3 cung cấp sức đẩy 2200kg. Trang bị vũ khí bao gồm bốn súng máy 12.7mm và 540kg vũ khí treo trên cánh. Nguyên mẫu thứ hai, sử dụng động cơ BOr 3, mở rộng cửa hút khí trên thân và ban đầu vũ khí gồm hai pháo 30mm, và bay lần đầu vào ngày 14 tháng 9 năm 1957. Hai Etendard VI đều tham gia vào NATO COncours ở Bretigny-Chateauroux, nhưng nó đã bị Fiat G.91 đánh bại. Họ tiếp tục chế tạo nguyên mẫu thứ ba, sử dụng động cơ BOr 12 2700kg với sự hỗ trợ của thùng chất đốt phụ, nó được hoàn thành vào tháng 6 năm 1957. Cả hai nguyên mẫu sau đó đều tham gia vào trong chương trình phát triển Etendard IVM.

Thông số kĩ thuật:
Mẫu Etendard VI (nguyên mẫu thứ hai)
Trọng lượng cất cánh 5860kg
Trọng lượng rỗng 3720kg
Sải cánh 8.16m
Dài 12.40m
Tiết diện cánh 21.0m2
Tốc độ tối đa 1116km/h
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #14 vào lúc: 20 Tháng Hai, 2009, 08:21:03 am »

Dassault Etendard II 1956



Vào khoảng giữa những năm 50, NATO (North Atlantic Treaty Organisation-Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương) đã bắt đầu đưa ra các tiêu chí kĩ thuật cho một loại máy bay chiến đấu động cơ phản lực hạng nhẹ. Ở Pháp, đã có sự cố gắng của Ministere de I’Air (drew up a parallel specification for an aircraft which differed essentially from that called for by NATO in having paired lightweight turbojets). Dassault cũng đã chuẩn bị một thiết kế đơn giản để phù hợp với yêu cầu của hai bên, và đã có một vài ý kiến công khai ra bên ngoài về đặc điểm kĩ thuật (would result in underpowered, evolved a third version of the design as a private venture). Cả ba phiên bản của máy bay được thiết kế là Etendard (bản tiêu chuẩn) II, IV và VI, và lần đầu tiên đã tiến hành chương trình bay thử nghiệm với Etendard II. Ba nguyên mẫu đều nằm trong đơn đặt hang của chính quyền Pháp và bay thử vào ngày 23 tháng 7 năm 1956. Để đua tranh với Breguet 1100, Etendard II sử dụng hai động cơ phản lực Turbomeca Gabizo 940kg và trang bị vũ khí bao gồm hai pháo 30mm cùng với đó là rocket 32 Matra 108 68mm. Nó được lắp đặt động cơ Gabizo với thùng chất đốt phụ, nhưng với các sản phẩm thì sức đẩy ít hơn 160kg và hiệu suất máy móc của chiếc máy bay không cao, chương trình bị đình chỉ tháng 11 năm 1956, nguyên mẫu thứ hai và thứ ba bị hủy bỏ. Nguyên mẫu thứ hai dùng động cơ SNECMA R-105 1200kg.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 5650kg
Trọng lượng rỗng 4210kg
Sải cánh 8.74m
Dài 12.89m
Cao 3.80m
Tiết diện cánh 24.2m2
Tốc độ tối đa 1054km/h
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #15 vào lúc: 21 Tháng Hai, 2009, 08:02:46 pm »

Dassault Mirage IV 1959



Có tiếng là theo chính sách chủ nghĩa dân tộc rất cao, năm 1954 Pháp đã quyết định phải chế tạo ra vũ khí hạt nhân của riêng họ để ngăn chặn sức mạnh này. Một lần nữa thì sự ưu tiên phát triển nền tảng vũ khí này lại được giao cho Dassault cùng với sự liên kết của một số công ti khác. Với yêu cầu của nhiệm vụ phù hợp thì cần có tốc độ cao và tầm hoạt động dài, thì Dassault ban đầu đã xem xét phát triển Vautour nhưng sau đó họ đã có hướng đi mới khi chú ý tới loại máy bay chiến đấu ban đêm hai động cơ của thiết kế 1956. Đấy là mẫu cơ bản Mirage III, dự án này đã được tính toán lại với nhiều sự thay đổi ở kích cỡ và động cơ, tốc độ, sức tải và tầm hoạt động phù hợp với công thức đặt ra, (but the solution became clearer when it was decided to make extensive use of inflight-refuelling). Nguyên mẫu đầu tiên của Mirage IVA bay ngày 17 tháng 6 năm 1959, sử dụng hai động cơ phản lực 6000kg SNECMA Atar 09 đã có yếu tố tăng sức. Lần thử nghiệm bay thứ 14 vào tháng 7 năm 1959 nó đã vươn tới tốc độ Mach 1.9, và đạt được tốc độ Mach 2 vào lần thử nghiệm thứ 33. Có ba nguyên mẫu đã được sản xuất, chiếc đầu tiên bay ngày 12 tháng 10 năm 1961. Sử dụng hai động cơ 6400kg Atar 9C. Đây là mẫu máy bay lớn và nó đại diện cho thế hệ sản xuất Mirage IVA.

Mẫu đầu tiên được sản xuất của máy bay được sử dụng thử nghiệm mang bom và nó phát triển ở Colomb-Bechar, tương tự mẫu thứ hai được sử dụng để phát triển hệ thống điều khiển và tiếp nhiên liệu trên không. Mẫu thứ ba được hoàn thiện với kiểu hoạt động động cơ mới Atar 9K, được trang bị đầy đủ bao gồm một bộ phận ở phía trên mũi máy bay để tiếp nhiên liệu và vũ khí, bay lần đầu ngày 23 tháng 1 năm 1963. Hài lòng với cuộc thử nghiệm, không quân Pháp đã đặt sản xuất 50 chiếc và chuyển giao vào năm 1964-1965.

Mặc dù là mẫu máy bay hạng nặng và hoạt động khá “hot”, Mirage IV của không quân Pháp vẫn duy trì sự cảnh giác cao độ. Chúng có thể cất cánh ngay lập tức từ chỗ chứa máy bay. Có thể cất cánh trên đường băng ngắn không lát với sự hỗ trợ cất cánh của rocket.

Cuối cùng thì chín đơn vị máy bay chiến lược Mirage IVA cũng bị giải tán vào tháng 7 năm 1988,(with passing of the French nuclear deterrent to silo-based S-3 strategic missiles). Dù thế thì hai đơn vị Mirage IVP vẫn tiếp tục hoạt động, đấy là 18 phiên bản cải tiến từ giữa tháng 6 năm 1983 đến tháng 12 năm 1987 để mang tên lửa không đối đất tầm trung có đầu đạn hạt nhân ASMP. Mirage IVP sử dụng radar Arcana pulse Doppler, hệ thống dẫn đường quán tính, vỏ bảo vệ đặc biệt Thomson CSF Barem, BOZ-100 chaff/flare pod và radar cảnh báo Thomson-CSF Serval (Serval-mèo rừng châu phi). 8 chiếc Mirage IVA đã không được cải tạo mà chỉ đưa vào kho dự trữ.

Thông số kĩ thuật:
Mirage IVA

Trọng lượng cất cánh 33475kg
Trọng lượng rỗng 14500kg
Sải cánh 11.85m
Dài 23.49m
Cao 5.4m
Tiết diện cánh 78.0m2
Tốc độ tối đa 2340km/h
Tốc độ tuần tra 1966km/h
Trần bay 20000m
Tầm hoạt động 2480km
Động cơ: hai động cơ phản lực SNECMA Atar 9k 7000kg
Phi hành đoàn: 2
Trang bị vũ khí: một bom hạt nhân 60kt và 7260kg vũ khí
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #16 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2009, 08:23:36 am »

Dassault Mirage IIIE 1961



Vào đầu giai đoạn phát triển của Mirage, họ đã cân nhắc đến việc phát triển một phiên bản máy bay chiến đấu đa nhiệm vụ, nhấn mạnh khả năng tấn công của nó. Cuối cùng nó đã được cụ thể hóa thành Mirage IIIE. Một trong ba nguyên mẫu bay lần đầu vào ngày 5 tháng 4 năm 1961. Về bản chất thì cấu trúc máy bay không giống với Mirage IIIC, phần trước thân được mở rộng thêm 30cm cho phép có thêm một khoang chứa thiết bị điện tử hàng không đằng sau buồng lái. Nó có radar Dual-role và động cơ Atar 09C-3, cung cấp sức đẩy 6200kg và được bổ trợ thêm sức đẩy 1500kg của động cơ phụ rocket SEPR 841.

Lô sản xuất đầu tiên của Mirage IIIE được chuyển giao vào ngày 14 tháng 1 năm 1954, và có tất cả 192 chiếc sau đó được chuyển giao cho France Armee de I’Air. Nó được trang bị vũ khí bao gồm hai pháo 30mm và có khả năng mang tới 4400kg trên năm mấu treo trên cánh thân máy bay.

Phiên bản được sản xuất cho Australia và Thụy Điển theo thứ tự lần lượt là Mirage IIIO và IIIS. Có sự khác nhau giữa Mirage IIIE và Mirage IIIO về mức độ hạn chế ở thiết bị điện tử hàng không, cả hai phiên bản này đều được chuyển giao cho RAAF, những chiếc IIIO (F) chủ yếu đóng vai trò đánh chặn còn IIIO(A) thì làm nhiệm vụ tấn công. Dassault đã cung cấp hai mẫu IIIO(F), bay lần đầu ngày 14 tháng 3 năm 1963, và đã có 48 chiếc IIIO (F) và 50 chiếc IIIO (A) được sản xuất cho RAAF bởi Government aircraft factory và Commonwealth Aircraft. Tất cả Mirage IIIO(F) đã được cải tiến theo cấu hình của Mirage IIIO(A) từ 1967-1979 và sau đó nó đã rút lui khỏi thành phần phục vụ từ 1988, có khoảng 50 chiếc còn lại đã được Pakistan mua năm 1990. Sau khi mua được bản thử nghiệm Mirage IIIC, Thụy Điển tiếp tục gom góp tập hợp được 36 máy bay đánh chặn Mirage IIIS (thêm vào 18 chiếc trinh sát Mirage IIIRS), đi vào phục vụ năm 1966 với Flugwaffe, và sau đó đến đầu những năm 90, 30 chiếc chiến đấu cơ IIIS được đưa vào chương trình nâng cấp ở Emmen. (bao gồm việc cung cấp Canards)

Mirage IIIE được xuất khẩu tới nhiều quốc gia trên thế giới với các phiên bản khác nhau: Argentina (17 IIIEAs), Brazil (20 IIIEBRs), Lebanon (10 IIIELs), Pakistan (18 IIIEPs), Nam Phi (17 IIIEZs), Tây Ban Nha (24 IIIEEs), Venezuela (10 IIIEVs). Phiên bản IIIEBR của Brazil được cung cấp năm 1970, nó đã được cải tiến với Canard, pressure refuelling,..etc, từ năm 1989, và toàn bộ số còn lại 4 chiếc của Armee de I’Air chuyển giao năm 1988 đều được nâng cấp. Phiên bản IIIEZ của Nam Phi cũng được nâng cấp lên tiêu chuẩn Cheetah EZ bởi hãng máy báy Atlas. Năm 1989, hãng hàng không Dassault đã tiến hành việc nâng cấp các máy bay cũ của Armee de I’Air thành Mirage IIIEX, với Canards, khả năng tiếp nhiên liệu trên không và kéo dài được phần mũi.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 13700kg
Trọng lượng rỗng 7050kg
Sải cánh 8.22m
Dài 15.03m
Cao 4.25m
Tiết diện cánh 34.85m2
Tốc độ tối đa 2350km/h
Tầm hoạt động 2400km
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #17 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2009, 11:03:49 am »

Dassault Balzac 1962



Dassault bắt đầu công việc thiết kế loại máy bay cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) từ những năm 1960 và quyết định sửa đổi nguyên mẫu Mirage III-001 để nghiên cứu VTOL. Máy bay được thay thế động cơ Atar 101 bằng động cơ 2270kg Bristol-Siddeley Orpheus 3, trong khi 8 động cơ 1000kg Rolls-Royce RB.108s cung cấp được sự nâng lên thẳng đứng. (These lift engines featured retractable intake grilles and the exhausts were covered by fairing doors during normal forward flight).

Sau đó nó được đưa vào thử nghiệm, Balzac-đây là tên mới của III-001 – lần đầu tiên nó được tự do tung cánh vào ngày 13 tháng 10 năm 1962 và cũng là lần đầu tiên chuyển tiếp tới ngày 18 tháng 3 năm 1963. Trong chương trình đã xảy ra sự gián đoạn khi nó gặp phải tai nạn khi hạ cánh vào ngày 10 tháng 1 năm 1964, nhưng rồi sau đó nó đã được hồi phục và bay trở lại. Balzac đã được Dassault cung cấp sự ổn định rất tốt khi bay.
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #18 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2009, 08:06:32 am »

Dassault Mystere-Falcon 20/200 1963



Phát triển một loại máy bay hành khách hạng nhẹ hai động cơ phản lực đã được khởi xưởng bởi Dassault và họ đã kết hợp với Aerospatiale (khi đó là Sud-Aviation), với sự chế tạo ra nguyên mẫu đầu tiên vào tháng 1 năm 1962. Flacon là loại máy bay cánh dưới và (tail surfaces), nguyên mẫu có phần thân được chế tạo bởi Dassault và phần cánh và đuôi do Sud-Aviation sản xuất. Mặc dù vậy, sau đó đã được thay đổi khí sản xuất phần cánh được thực hiện bởi Dassault và Aerospatiale làm phần thân và đuôi.

Lần tung cánh đầu tiên vào ngày 4 tháng 5 năm 1963, và ở thời gian này nó được lắp hai động cơ tuốc bin phản lực Pratt&Whitney JTF12A-8 cung cấp sức đẩy 1497kg, động cơ được lắp đặt ở mỗi bên sườn bộ phận đằng sau thân, máy bay mới được nhận dạng là Dassault Mystere-Falcon 20 (gọi là Mystere ở Pháp, và phiên bản xuất khẩu gọi là Falcon). Sau này nó được lắp loại động cơ mới là động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy General Electric CF700, từ đấy nó đã trở thành động cơ tiêu chuẩn. Những chiếc máy bay này đã được chứng nhận cấp giấy phép bởi Business Jets Division của hãng hàng không thế giới Pan American (ngày nay được biết đến với cái tên Falcon Jet Corporation-tập đoàn máy bay Falcon) tại đó chúng đã được bán với cái tên Fan Jet Falcon. Mystere-Falcon 20 được sử dụng trong cả hai mục đích dân dụng và quân sự.

Chiếc máy bay đầu tiên được sản xuất bay vào ngày 1 tháng 1 năm 1965 và seri ban đầu này được nhận dạng là bản tiêu chuẩn Falcon 20. Từ đấy họ tiếp tục phát triển phiên bản mới với khả năng mang thêm được nhiên liệu, đó chính là Falcon 20C với động cơ General Electric CF700-2C cung cấp sức đẩy 2041kg giống với bản tiêu chuẩn Falcon, hoặc Falcon 20D với động cơ CF700-2D với sức đẩy 1928kg. Sau đó họ tiếp tục thiết kế một phiên bản mới Falcon 20E với động cơ CF700-2D-2 cung cấp 2041kg, và thêm vào đó là sự cải tiến khi cất cánh giúp tăng lực nâng và hạ cánh và tăng thêm khả năng mang nhiều nhiên liệu, nó được nhận dạng là Falcon 20F.

Việc phát triển phiên bản cải tiến Falcon 20G được sự khởi xướng và giúp đỡ từ Falcon Jet Corporation để phục vụ cho nhu cầu từ lực lượng tuần duyên bờ biển Mĩ về loại máy bay tuần tra tầm trung. Đây là hợp đồng cung cấp 41 chiếc, với mẫu thiết kế HU-25 Guardian, được quyết định vào năm 1977. Về cơ bản thì nó giống với Falcon 20F, chúng chỉ khác ở một vài điểm cải tiến, khi mà HU-25 được trang bị thêm một vài thiết bị phù hợp với nhiệm vụ, được lắp đặt mới động cơ phản lực cánh quạt đẩy Garrett ATF 3-6-2C sức đẩy 2512kg. Phục vụ trong USCG thì HU-25A được sử dụng để tìm kiếm và cứu nạn, HU-25B là phiên bản dùng để phát hiện khu vực ô nhiễm, và HU-25C được cải tiến trang bị thêm FLIR, đóng vai trò tìm kiếm các chất bị cấm, dùng radar tìm kiếm APG-66.

Gần đây họ đã phát triển Falcon 200 để thay thế Falcon 20F, bắt đấu sản xuất từ năm 1983, sau đó đã có 473 Falcon 20 được chuyển giao. Bắt đầu thiết kế lại Falcon 20 thành nguyên mẫu 200, mang động cơ ATF 3-64-4C sức đẩy 2360kg, có bồn nhiên liệu lớn nằm ở đằng sau thân máy bay, một vài hệ thống đã có sự thay đổi và được thiết kế lại, bay lần đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1980. Nó được biết đến năm 1981 ở triển lãm hàng không Paris, Falcon 200 được cấp giấy chứng nhận bởi DGAC vào ngày 21 tháng 6 năm 1981 và bắt đầu chuyển giao năm 1982. Năm 1989 đã có 35 chiếc được chuyển tới 11 quốc gia. Phiên bản tuần tra biển của Falcon 200 được bán với cái tên Gardian 2, nó có radar tìm kiếm Thomson-CSF Varan, hai tên lửa không đối hạm Exocet được lắp trên giá treo trên cánh máy bay, nó được trang bị thiết bị điện tử đối phó trả đũa và theo dõi và mang được target-towing. Năm chiếc đang được phục vụ trong không quân Pháp.

Thông số kĩ thuật: Mystere-Falcon 20F
Trọng lượng cất cánh 13000kg
Trọng lượng có tải 7530kg
Sải cánh 16.3m
Dài 17.15m
Cao 5.32m
Tiết diện cánh 41.0m2
Tốc độ tối đa 863km/h
Tốc độ hành trình 750km/h
Trần bay 12800m
Tầm hoạt động 3300km
Động cơ: hai động cơ phản lực cánh quạt đẩy General Electric CF-700-2D-2, mỗi động cơ cung cấp 2041kf
Hành khách 8-12
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
trinhlenam_89
Thành viên
*
Bài viết: 155


« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 05:30:27 pm »

Dassault Mirage IIIV



Mirage III đã được chọn vào để phát triển công nghệ cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL), Mirage IIIV đã được phát triển để phù hợp với yêu cầu của NBMR 3 (NATO Basis Military Requirement), và nguyên mẫu đầu tiên trong hai nguyên mẫu đã được cất cánh thử nghiệm lần đầu vào ngày 12 tháng 2 năm 1965. Về cơ bản thì thân máy bay được mở rộng hơn so với Mirage III (không phải là VTOL), nguyên mẫu đầu tiên IIIV sử dụng động cơ SNECMA cải tiến từ động cơ phản lực cánh quạt đẩy Pratt&Whitney JTF10 được thiết kế lại với tên TF-104B và cung cấp thêm sức đẩy cho hành trình, lực nâng thẳng đứng được cung cấp bởi tám bộ động cơ 1600kg Rolls-Royce RB162-1 với hai cặp một nằm ở trung tâm thân máy bay. Cánh của nó được tăng thêm khi đem đi so sánh với các kiểu Mirage không phải là VTOL, đây là kết quả của sự pha trộn. Sau này nó đã được thay thế động cơ TF-104 6300kg bởi TF-106A3 7600kg, IIIV đã đạt được hiệu quả ấn tượng khi chuyển đổi sang trạng thái nằm ngang khi bay vào ngày 24 tháng 3 năm 1966 và sau đó đạt được tốc độ Mach 1.35. Nguyên mẫu thứ hai bay ngày 22 tháng 6 năm 1966. Nó được sử dụng động cơ phản lực cánh quạt đẩy TF-30 8400kg. Ngày 12 tháng 9 năm 1966, chiếc máy bay thứ hai đạt được tốc độ Mach 2.04 khi bay, nhưng 11 tuần sau đó, ngày 28 tháng 11 nó đã bị phá hủy hoàn toàn khi gặp phải một tai nạn. Việc sản xuất Mirage IIIV được mong đợi sẽ sử dụng động cơ TF-306 9000kg (sản xuất bởi SNECMA) với 8 động cơ nâng thẳng đứng RB162-31 2200kg, và người ta đã lạc quan nghĩ rằng nó sẽ đóng vai trò là máy bay tấn công chiến thuật, với tốc độ tấn công Mach 0.92 và bán kính chiến đấu 467km với 907kg “nuclear payload” (đầu đạn hạt nhân…?Huh?). Chương trình phát triển sau đó đã bị treo vì tai nạn của chiếc máy bay thứ hai và cuối cùng dự án đã bị hủy bỏ.

Thông số kĩ thuật:
Trọng lượng cất cánh 13440kg
Trọng lượng rỗng 10000kg
Sải cánh 8.72m
Dài 18.00m
Cao 5.55m
Logged

trên đe dưới búa, bầm dập chả lụa, méo mó bánh bao
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM