MiG-23 FLOGGER Giữa những năm 1960, các nhà thiết kế của Liên Xô đã bắt tay vào nghiên cứu chế tạo một dòng máy bay chiến đấu mới để thay thế cho các máy bay MiG-21 đã lỗi thời. MiG-23, với mật danh của NATO là Flogger, được phát triển với tính năng là loại máy bay tiêm kích phòng thủ điểm với radar mạnh đi kèm với hệ thống bắt bám và tìm kiếm tia hồng ngoại, có trần bay cao, tốc độ nhanh, sử dụng các loại vũ khí có điều khiển để tiêu diệt các mục tiêu ngoài tầm nhìn. MiG-23 được thiết kế trong những năm 1964-1966 dựa trên sự thành công của dòng MiG-21. Cùng với động cơ mạnh hơn, một điểm mới đặc biệt là nó có đôi cánh cụp cánh xòe. Giống như dòng F-111 của không quân Mỹ, các cánh của máy bay có thể thay đổi góc độ mở hoặc gấp khi đang bay. Nhờ đôi cánh này, MiG-23 có thể cất cánh trên đường băng ngắn hơn và mang được trọng lượng vũ khí nhiều hơn. Khi cánh cụp tối đa, MiG-23 có thể bay với tốc độ lớn, góc cụp hay xòe có 3 chế độ lựa chọn là: 16, 45 hay 72 độ. Mẫu đầu tiên đã bay thử tháng 4 năm 1967 và MiG-23 bắt đầu được đưa vào trang bị từ năm 1971.
Ngoài không quân Liên Xô, MiG-23 được sử dụng khá phổ biến ở các nước Đông Âu và Trung Đông. Các nước khác như Libya, Syria, Ai Cập, Ấn Độ, Cuba, Algeria, Iraq, Afghanistan và Bắc Triều Tiên cũng nhập khẩu dòng máy bay này. Ngoài nhiệm vụ tiêm kích phòng không, MiG-23 cũng có khả năng tiến công mặt đất. Có hai biến thể MiG-23BN và MiG-27 là các phiên bản tiêm kích bom. Flogger B là phiên bản tiêm kích tiêu chuẩn, các phiên bản khác gồm: C – 2 chỗ ngồi dùng cho huấn luyện; G – được nâng cấp khả năng tiêm kích phòng không và E – dùng cho xuất khẩu. MiG-23MLD Flogger K là bản cải tiến của MiG-23ML và là phiên bản hiện đại nhất của dòng máy bay này. Điểm nổi trội của nó là được cải tiến tính năng bay, có hệ thống nhận dạng ta – địch (friend-or-foe) và có tên lửa hiện đại hơn. Ước tính đã có khoảng trên 4000 chiếc MiG-23/27 được xuất xưởng.

Với số lượng xuất xưởng lớn và được không quân nhiều nước sử dụng như vậy, nhưng khả năng không chiến của MiG-23 không có gì xuất sắc. Lý do thì có nhiều, nhưng về kết quả không chiến thì thật đáng ngại. Rất nhiều MiG-23 đã bị bắn hạ bởi các máy bay F-15 của không quân Israel trong cuộc xung đột Lebanon năm 1982. Các máy bay F-14 của Mỹ đã nhiều lần dễ dàng bắn hạ MiG-23 của Libya trong các lần trạm chán hồi giữa những năm 1980. Dù vậy, MiG-23 cùng phiên bản tiêm kích bom MiG-27 vẫn được sử dụng rộng rãi và phải đến tận giữa những năm 1990 mới được Không quân Nga loại ra khỏi trang bị. Có nhiều chuyên gia cho rằng MiG-23 khá hạn chế trong việc thực hiện các nhiệm vụ chiến thuật khác nhau và có vẻ như nó không được nghiên cứu một cách thấu đáo về các tính năng mà đáng ra một chiếc máy bay tiêm kích phải có.
Hệ thống điện tử hàng khôngMiG-23 được thiết kế để có thể bắn hạ các mục tiêu ngoài tầm nhìn, nó được trang bị radar đa hệ Saphir-23 dải sóng J, vốn được biết đến với cái tên “High Lark” trong NATO. Loại radar này có thể phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 70km và bám từ khoảng cách 55km. Tuy nhiên, hệ thống radar sử dụng công nghệ analogue này lại có nhiều vấn đề, sai số lớn, và hệ thống làm mát bằng chất lỏng của radar chỉ hoạt động được trong vòng 2 năm.

MiG-23 là loại máy bay đầu tiên của Liên Xô được trang bị hệ thống sục sạo và bắt bám tia hồng ngoại, giúp nó có thể làm nhiệm vụ tiêm kích phòng không ở mọi độ cao, bất kể điều kiện thời tiết, đêm hay ngày. Để mặt đất cung cấp thông tin và hướng dẫn máy bay hoạt động trên không, tiếp cận mục tiêu, hệ thống chỉ huy bằng radio Lazur đã được lắp đặt. Ngoài ra, MiG-23 cũng được trang bị hệ thống tác chiến điện tử thụ động để đối phó với các tên lửa tầm nhiệt và tên lửa có điều khiển bằng tia hồng ngoại.
Vũ khíNhiệm vụ chính của MiG-23 là tiêm kích phòng không nên nó mang chủ yếu là các tên lửa R-23/24 Apex được điều khiển bởi radar bán chủ động hoặc tia hồng ngoại. Tầm bắn hiệu quả của các tên lửa này là từ 30-35km. Đối với khoảng cách gần hơn, MiG-23 có thể dùng các tên lửa AA-2 hoặc AA-8 Aphid. Khi làm nhiệm vụ tiêm kích bom, MiG-23 có thể sử dụng tên lửa không đối đất Kh-23M, rocket 57 hoặc 80mm, bom tù 100 đến 500kg, tổng trọng lượng vũ khí mang theo có thể lên tới tối đa 2 tấn.
Động cơMiG-23MLD được trang bị một động cơ R-35 có lực đẩy 8.550kgf và khi tăng lực là 13.000 kgf. Nhiên liệu mang bên trong là 4.200 lít. Ngoài ra nó có thể tới 3 thùng dầu phụ, nâng tổng số nhiên liệu mang theo lên đến 6.600 lít.
Các thông số chínhNước xuất xứ: Liên Xô
Máy bay tương tự: MiG-27 Flogger D, Tornado, Su-24 Fencer, F-111
Kíp lái: 1 người (đối với loại huấn luyện là 2 người)
Chiều dài 16,71m
Sải cánh: 13,695m
Cao: 4,82m
Diện tích cánh: 27,3m
Trần bay: 18.600m
Tầm bay hành trình: 1800km
Tầm bay tối đa: 2800km
Tiếp dầu trên không: không có
Trọng lượng rỗng: 10.200kg
Trọng lượng cất cánh tối đa: 17.800kg
Tốc độ tối đa: 2500km/h (Mach 2,35) ở độ cao lớn
Khả năng leo cao: 15.250m trong 1 phút
Giới hạn G: +7.5G
Các nước sử dụng: Afghanistan • Algeria • Angola • Belarus • Bulgaria • CIS • Cuba • Czech Republic • Germany • Ethiopia • Hungary • India • Iraq • Kazakhstan • Libya • North Korea • Poland • Romania • South Yemen • Sudan • Syria • Ukraine