Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:48:35 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các loại máy bay quân sự của Liên Xô và Nga  (Đọc 130072 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2007, 10:47:21 am »

MiG-15 Fagot



Mikoyan-Gurevich MiG-15 được phát triển làm nhiệm vụ tiêm kích đánh chặn, nó có 1 pháo 37mm và 2 pháo 23mm. Sở dĩ nó được trang bị mạnh như vậy là nhờ kinh nghiệm rút ra được từ chiến tranh thế giới II rằng phải cần pháo cỡ lớn hơn 20mm thì mới có thể bắn hạ các máy bay ném bom hạng nặng có 4 động cơ. Mẫu MiG-15 đầu tiên bay thử vào tháng 12 năm 1947. Được đưa vào phục vụ từ năm 1949 và cho tới năm 1952, MiG-15 đã có mặt ở nhiều nước cộng sản "vệ tinh" của Liên Xô, trong đó có Bắc Triều Tiên. Trong chiến tranh Triều Tiên, MiG-15 đã tung hoành đối đầu với các máy bay của Không lực Hoa Kỳ. Lần chạm trán đầu tiên giữa MiG-15 với Không quân Hoa Kỳ xảy ra vào tháng 11 năm 1950. Ngày 8/11/1950, trung úy Russell Brown, bay trên chiếc F-80 đã bắn hạ 1 chiếc MiG-15, đây được coi là trận cận chiến (dogfight) đầu tiên trong lịch sử của 2 chiếc máy bay phản lực. Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, MiG-15 đã chứng tỏ được những điểm ưu việt của nó so với các máy bay mà Không quân Mỹ có trong tay. Sau những trận không chiến, các chuyên gia Liên Xô đã rút kinh nghiệm và có những cải tiến nhất định, và dòng MiG-15bis ra đời. Động cơ VK-1 của MiG-15bis có lực đẩy lớn hơn so với động cơ RD-45 trước đó. Mặc dù MiG-15bis có khả năng leo cao nhanh hơn và trần bay cao hơn F-86, nhưng khả năng xoay trở kém cộng với tốc độ vượt âm nhưng thiếu ổn định đã giới hạn khả năng dogfight của nó. Trong không chiến với F-86, MiG-15 bị tổn thất khá nhiều, tuy nhiên nó lại tỏ ra rất hiệu quả trong việc đánh chặn các máy bay ném bom hạng năng như B-29 trong thời tiết tốt, ban ngày.
Những thông số chính
Sải cánh: 33 ft. 1 1/2 in. 
Chiều dài: 33 ft. 3 5/8 in. 
Chiều cao: 11 ft. 2 in. 
Trọng lượng: 11,270 lbs. max. 
Vũ khí: 2 pháo 23mm và 1 pháo 37mm, ngoài ra nó có thể mang rocket hoặc tới 2,000 lbs. bombs 
Động cơ: VK-1 lực đẩy 6,000 lbs. (copy từ động cơ Rolls-Royce "Nene" của Anh) 
Tốc độ tối đa: 670 mph. 
Tốc độ hành trình: 525 mph. 
Tầm bay: 500 miles 
Trần bay: 51,000 ft. 

« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười Một, 2007, 10:49:33 am gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #1 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2007, 02:06:03 pm »

MiG-17 FRESCO
J-5 FRESCO



Năm 1949, Văn phòng thiết kế Mikoyan-Gurevich (MiG) bắt tay vào việc thiết kế một loại máy bay mới nhằm thay thế cho MiG-15. MiG-17 có các đặc điểm tương tự như MiG-15, có tốc độ cao hơn và là loại máy bay chiến đấu đầu tiên của Liên Xô có động cơ tăng lực. MiG-17 có cánh mỏng hơn và thuôn về phía sau hơn, cánh đuôi cũng được thiết kế lại để tăng sự ổn định và giúp điều khiển máy bay được dễ dàng hơn. Tốc độ của nó có thể đạt tới Mach 1. Mẫu đầu tiên của MiG-17 bay thử tháng 1/1950 và được báo cáo là đã đạt tới ngưỡng Mach 1. Việc sản xuất hàng loạt được triển khai vào cuối năm 1951, nhưng rất tiếc là số lượng chưa đủ lớn để có thể tham gia một cách có hiệu quả trong chiến tranh Triều Tiên. Năm 1952, Không quân Liên Xô bắt đầu đưa vào sử dụng những chiếc MiG-17. Đã có tất cả 5 biến thể khác nhau của MiG-17 được sản xuất. Biến thể đầu tiên của MiG-17 được lắp động cơ VK-1, copy từ mẫu Rolls-Royce Nene của Anh. Năm 1955, những chiếc MiG-17PF (Fresco D) được trạng bị radar bắt đầu được đưa vào trang bị và có khả năng hoạt động trong mọi thời tiết, cho dù tính năng còn rất hạn chế. MiG-17PFU bắt đầu được trang bị 4 quả tên lửa không đối không điều khiển bằng radar AA-1 Alkali và trở thành loại máy bay tiêm kích đầu tiên của Liên Xô mang được tên lửa. Tới giữa những năm 1960, MiG-17 có thành tích khá tốt trong chiến tranh Việt Nam. Rất nhiều phi công hàng đầu của Bắc Việt Nam đa bay trên những chiếc MiG-17, trong đó có đại tá Toon hay Tomb (thực ra đây là một hình mẫu phi công siêu hạng được các phi công Mỹ dựng nên dựa trên các phi công giỏi của Bắc Việt. Đây là một cách gọi hài hước nhưng cũng thể hiện sự nể vì của các phi công sừng sỏ của Mỹ đối với các phi công của Bắc Việt).
MiG-17 đã từng phục vụ trong không quân của gần 30 quốc gia trên khắp thế giới với trên 6,000 chiếc đã xuất xưởng. Ngoài ra nó cũng được sản xuất theo giấy phép ở Ba Lan (tên goi Lim-5P) và ở Trung Quốc (với tên gọi J-5/F-4).

Những thông số chính

Kíp lái: 1 người
Tải trọng: 650kg
Chiều dài: 11.1m
Sải cánh: 9,64m
Trọng lượng: 14,770 lbs
Vũ khí: 3 pháo 23mm NR-23, 4 thùng rocket 8x57mm hoặc 2 quả bom 250kg, bình nhiên liệu phụ 2x400L
Động cơ: 1 động cơ VK-1 lực đẩy 5952 lbs
Tốc độ tối đa: 696mph
Trần bay: 15850m
Nhiên liệu mang bên trong: 1143kg
Các nước đã sử dụng: •  Afghanistan •  Albania •  Algeria •  Angola •  Congo •  Cuba •  thiopia •  Guinea Republic •  Guinea-Bissau •  Madagascar •  Mali •  Mongolia •  North Korea J-5) •  North Yemen •  People’s Republic of China (J-5) •  Romania •  Sri Lanka •  Somalia •  outh Yemen •  Sudan •  Tanzania •  Vietnam

Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
dongadoan
Administrator
*
Bài viết: 7256


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 14 Tháng Mười Hai, 2007, 10:13:15 pm »

Chú Trai-ầm mở topic ra rồi để nó mốc meo thế này à? Viết tiếp đê!
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Mười Hai, 2007, 05:08:17 pm »

MiG-21 FISHBED
J-7 (Jianjiji-7) / F-7
YF-110




MiG-21F là mẫu máy bay tiêm kích tầm gần đầu tiên được sản xuất của dòng máy bay MiG-21. Mẫu E-5 của dòng MiG-21 đã bắt đầu bay thủ năm 1955 và xuất hiện lần đầu trước công chúng tại sân bay Tushino ở Max-cơ-va tháng 6 năm 1956. Trong chiến tranh Việt Nam, các MiG-21 được các phi công Bắc Việt sử dụng để tiêu diệt các máy bay của Hoa Kỳ. Mặc dù MiG-21 không có radar và tên lửa tầm xa, cũng như chỉ có bán kính tác chiến nhỏ, nhưng nhờ được dẫn đường rất tốt từ mặt đất, các phi công của Bắc Việt đã tiến công rất hiệu quả các tốp máy bay cường kích F-105 của Hoa Kỳ bằng chiến thuật đánh nhanh, rút nhanh (hit and run). Không những thế, các máy bay tiêm kích F-4 cũng nhiều lần bị MiG-21 cho đo ván. Ch ính v ì kết quả không chiến tồi tệ giữa F-4 và F-105 với MiG-21 nên khiến Không quân Mỹ thiết lập cái gọi là “Chương trình huấn luyện không chiến đặc biệt” và Không quân hải quân Mỹ có “Chương trình Top Gun” để nâng cao khả năng không chiến của các phi công Mỹ. Các máy bay A-4 và F-5 được sử dụng làm “quân xanh” vì có những tính năng khá tương đồng với MiG-17 và MiG-21.
Ngày 26 tháng 12 năm 1972, phi công Phạm Tuận bay trên chiếc MiG-21MF đã bắn rơi chiếc máy bay B-52 của Mỹ đầu tiên và duy nhất tính đến nay.

MiG-21 cũng được không quân các quốc gia như Ai Cập, Syria và Iraq sử dụng khá phổ biến trong các cuộc xung đột ở Trung Đông hồi những năm 1960 và 1970 để chống lại không quân Israel. Lần đầu tiên MiG-21 giáp mặt Mirage-IIIC của Israel vào ngày 7 tháng 4 năm 1967. Trong ngày này, đã có 6 chiếc MiG-21 của Syria bị các máy bay Mirage của Israel bắn hạ.


Theo Fas.org, trong khoảng thời gian từ 26 tháng 4 năm 1965 đến 8 tháng 1 năm 1973, các máy bay F-4 và B-52 đã bắn rơi 68 chiếc MiG-21. Hơn 30 quốc gia trên thế giới, kể cả những nước than thiện với Hoa Kỳ đã sử dụng MiG-21. Có ít nhất 15 biến thể của MiG-21 đã được sản xuất, một số nước được sản xuất theo giấy phép. Đến nay, ước tính đã có hơn 10000 chiếc MiG-21 được xuất xưởng, một con số mà khó có dòng máy bay hiện đại nào có thể vượt qua. Số liệu tham khảo về số lượng MiG-21 đã được sản xuất tại Liên Xô ở các nhà máy: 5278 (hay 5765) ở Gorky, 3203 chiếc ở Moscow và 1677 ở Tbilisi.

Liên Xô đã cho phép Trung Quốc sản xuất MiG-21F cùng động cơ của loại máy bay bày từ năm 1961, và chiếc J-7 đầu tiên sử dụng các linh kiện được sản xuất tại Trung Quốc bắt đầu được lắp ráp từ đầu năm 1964. Chuyến bay đầu tiên của J-7 do nhà máy ở Shenyang sản xuất được thực hiện vào ngày 17 tháng 1 năm 1966 và chiếc J-7I do nhà máy ở Chengdu sản xuất bắt đầu bay từ tháng 6 năm 1967. Cả 2 biên thể này đều được sản xuất hang loạt với số lượng lớn. Tiếp đó, các biến thể mới hơn là J-7II/J-7B được phát triển từ năm 1975 và đưa vào sản xuất tử tháng 9 năm 1979. Các mẫu F-7M và J-7III được bắt đầu thực hiện từ năm 1981. Các chuyên gia đánh giá là mẫu J-7III có tính năng tương đương với biến thể MiG-21MF của Liên Xô. J-7III bay thử lần đầu ngày 26 tháng 4 năm 1984. Những chiếc J-7III được phát triển dưới sự hợp tác của các nhà máy ở Chengdu và Guizhou (GAIC) bắt đầu được trang bị cho Không quân và Không quân hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa từ năm 1992. Một nỗ lực phát triển nữa được tập trung vào biến thể F-7M Airguard và bắt đầu sản xuất từ tháng 12 năm 1984. Năm 1988, 20 chiếc đầu tiên trong tổng số 60 chiếc F-7M Skybolt đã được Trung Quốc chuyển giao cho Pakistan. Việc nâng cấp phát triển dòng Super-7 của Trung Quốc dưới sự trợ giúp kỹ thuật của Hoa Kỳ đã bị đình lại sau khi diễn ra Sự kiện Thiên An Môn năm 1989.
Cho tới năm 1989, mỗi tháng Trung Quốc sản xuất được tới 14 chiếc, chủ yếu là để xuất khẩu.  J-7 là mẫu đượẩtTung Quốc sản xuất và sử dụng rộng rãi nhất, thay thế cho mẫu J-6 (biến thể của MiG-19 của Trung Quốc) cũ hơn. Tới năm 1995 vẫn có nhiều máy bay J-7 được xuất xưởng và tính đến 2005, Không quân Trung Quốc có trong biên chế tới gần 1000 chiếc cho dù thực tế chỉ khoảng 500 chiếc còn bay được.

Những thông số chính:
Kíp lái: 1 người
Chiều dài: 51ft. 9  in.
Sải cánh: 23ft. 6 in
Chiều cao: 15ft. 9 in.
Trọng lượng tối đa: 18.080 lbs
Vũ khí: 1 pháo 30mm NR-30, tên lửa AA-2 Atoll, rocket, bom FAB-250/500, bình nhiên liệu phụ 391kg hoặc 631kg.
Động cơ: 1 động cơ Tumansky R-11F-300 @ 12,675 lbst w/afterburner
Tốc độ tối đa: 1300mph
Tốc độ hành trình: 550mph
Trần bay: 15850m
Tầm bay: MiG-21 = 650km; MiG-21bis = 1100lm
Nhiên liệu mang bên trong: MiG-21 PFS = 2277kg; MiG-21bis = 2364kg
Các nước đã sử dụng: •  Afghanistan •  Albania (J-7) •  Algeria •  Angola •  Azerbaijan •  Bangladesh •  Bulgaria •  Burma •  Cambodia •  China (J-7) •  Congo •  Croatia    •  Cuba •  Czech Republic •  Republic •  Egypt •  Ethiopia •  Finland •  Germany •  Guinea •  Hungary •  India •  Iran •  Iraq    •  Kazakhstan •  Laos •  Libya •  Madagascar •  Mali •  Mongolia •  Mozambique •  Nigeria •  North Korea •  North Yemen •  Pakistan (J-7) •  Poland    •  Romania •  Slovakia •  South Yemen •  Sri Lanka •  Sudan •  Syria •  Tanzania •  Vietnam •  Yugoslavia •  Zambia •  Zimbabwe

MiG-21-93 bản nâng cấp của MiG-21
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Ngocvancu
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 580



« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Mười Hai, 2007, 09:43:29 pm »

Còn mig 19 nữa bạn ơi
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #5 vào lúc: 31 Tháng Mười Hai, 2007, 03:21:09 pm »

Con MiG-21 này khá đặt biệt.
Điểm đặc biệt đầu tiên của nó là máy bay đầu tiên của MiG đạt điểm vượt trội hoàn toàn. Các máy bay dòng cánh xuôi sau như MiG-15, MiG-17, MiG-19 chưa trội lắm, nhưng không maý bay cánh tam giác nào ưu thế như MiG-21. Đây cũng là điểm nhấn, các mẫu thử nghiệm và phát triển của MiG-21 đã cho ra đời MiG-25, máy bay chiến đấu trên không kiểu mẫu.
Điểm đặc biệt thứ 2 là thời của MiG-21 rất ngắn. Đây là máy bay cuối cùng của MiG dùng dogfight. Các máy bay MiG-23 và MiG-25 đều dùng ngắm-dẫn bắn bắn điện tử. Những MiG-21 đầu tiên dùng súng. Nhưng ngay lập tức súng được thêm tên lửa và tên lửa thành vũ khí chính. Nhưng vẫn là tên lửa tầm ngắn ngắm bắn mắt thường.
MiG-21 và các mẫu thử cũng cho thấy nhiều nhu cầu điều chỉnh khí động với máy bay chiến đấu: nhu cầu ổn định tự động, lái tự động, điều chỉnh luồng khí vào động cơ... Có mẫu thử như YE-8 đã cố gắng giải quyết điều đó bằng cơ khí. Nhưng tự động hóa cơ khí rất nhanh thay bằng tự động hóa điện tử, điều này cũng dẫn đến thời của MiG-21 hết nhanh chóng.
Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #6 vào lúc: 10 Tháng Giêng, 2008, 11:22:36 am »

MIG-21-93 VÀ MIG-21-2000

Cùng với các công ty chuyên phát triển các thế hệ radar phát hiện mục tiêu trên không, công ty Phazotron-NIIR là nhà thiết kế radar và hệ thống điều khiển hỏa lực dùng trên các máy bay chiến đấu hàng đầu của Nga. Công ty này cũng phát triển một số loại radar chuyên dùng để nâng cấp các loại máy bay chiến đấu hay máy bay tiêm kích bom. Đặc điểm của các loại radar này là trọng lượng nhẹ, kích thước nhỏ và được đồng bộ với hệ thống máy tính mạnh hơn. Hệ thống radar Kopyo được phát triển từ năm 1988 đến năm 1990. Về cơ bản, Kopyo là loại radar đa hệ được dung để điều khiển các loại tên lửa và bom hiện đại. Hiện nay, radar Kopyo được sử dụng để nâng cấp các máy bay MiG-21 hoặc Su-25, trong đó MiG-21 là lựa chọn hàng đầu.

Ở Liên Xô (cũ), MiG-21 được sản xuất từ cuối những năm 1950 đến giữa những năm 1970 và cũng được sản xuất ở các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ. Đến nay, MiG-21 là loại máy bay chiến đấu được sản xuất nhiều nhất (12000 chiếc đã xuất xưởng) và có hệ thống khung – airframe có tuổi thọ cực bền (tới 40 năm). Chính vì lẽ đó, hiện vẫn còn tới hàng nghìn chiếc MiG-21 đang được khoảng 40 quốc gia trên khắp thế giới sử dụng.

Ngày nay, MiG-21 đang trên đà lập một kỷ lục thế giới mới: số lượng máy bay được nâng cấp nhiều nhất. Không chỉ Phazotron-NIIR đưa ra các gói nâng cấp mà các công ty hàng đầu thế giới khác, đến từ nhiều quốc gia khác nhau cũng tham gia vào thị trường đầy tiềm năng này. Một chiếc máy bay tiêm kích thuộc thế hệ 2 với radar có tính năng hạn chế cùng bán kính tác chiến nhỏ, nay được thay thế bằng hệ thống radar cùng máy tính hiện đại và tăng thêm lượng dầu mang bên trong, MiG-21 phần nào đó sánh được với các máy bay chiến đấu thế hệ 4, mang được các loại tên lửa không đối không, không đối đất, không đối hạm hiện đại và bom có điều khiển.

Dù có rất nhiều hãng đưa ra các gói nâng cấp MiG-21, tuy nhiên hiện chỉ có 2 dự án đang cạnh tranh nhau và được rất nhiều khách hàng quan tâm. Dự án thứ nhất là MiG-21-93, dựa trên radar Kopyo, được phát triển bởi một nhóm các công ty của Nga như Rosvoorouzhenie State Corporation, Sokol Aircraft Manufacturing Plant (Nizhni Novgorod), Phazotron-NIIR Company, MAPO-MIG, và GosNIIAS. Các mẫu nâng cấp thử đã chứng minh được tính năng vượt trội của MiG-21-93. Ấn Độ là khách hang đầu tiên khi ký hợp đồng nâng cấp 125 chiếc MiG-21bis lên chuẩn MiG-21-93 tại tổ hợp HAL (của Ấn Độ) theo giấy phép của Nga.

Dự án đối thủ của MiG-21-93 là MiG-21-2000, được đưa ra bởi hàng Elbit của Israel. Khách hàng đầu tiên của dự án này là Rumania khi họ đặt hàng nâng cấp 110 chiếc MiG-21 lên chuẩn MiG-21 Lancer (tên gọi của Rumania). Theo đó, sẽ có 85 chiếc (trong đó có 10 chiếc huấn luyện 2 chỗ ngồi MiG-21UM) được nâng cấp với radar đo xa (rangefinder) EL/M-2001 và 25 chiếc khác được nâng cấp với radar EL/M-2032 sản xuất bởi công ty Elta cũng của Israel.
So sánh về đặc tính kỹ thuật cho thấy radar Kopyo có tính năng tốt hơn so với EL/M-2001 rangefinder và radar EL/M-2032:
- Có tầm trinh sát phát hiện mục tiêu phía trước xa hơn (57km so với 46km của radar EL/M-2032) và có khả năng điều khiển các tên lửa không đối không tiêu diệt mục tiêu xa hơn nhờ sử dụng các tên lửa tầm nhiệt bán chủ động R-72R1 (AA-10 Alamo) và chủ động RVV-AE (AA-12 Adder).


 
- Có khả năng tiến công các mục tiêu mặt đất chính xác với chức năng quét bản đồ với độ phân giải cao, giúp phi công điều khiển máy bay tiến công mục tiêu với góc thuận lợi bằng các vũ khí có điều khiển, bao gồm cả bom KAB-500KR.
- Ở chế độ track-while-scan, MiG-21-93 có khả năng theo dõi tới 10 mục tiêu và tự động tiêu diệt 2 mục tiêu cùng lúc bằng tên lửa tầm xa. Trong khi MiG-21-2000/Lancer chỉ theo dõi được 8 mục tiêu và tiêu diệt 1 mục tiêu trong số đó.
- MiG-21-93 có thể dung tên lửa diệt radar Kh-25MP để tiến công các trận địa radar hoặc các trận địa tên lửa, pháo phòng không điều khiển bằng radar. 
- MiG-21-93 sau khi được nâng cấp sẽ có khả năng không chiến tầm xa tăng gấp 10 lần và tính năng tổng hợp tăng gấp 3 lần so với khi chưa nâng cấp.



Trong khi MiG-21-93 cố gắng nâng cấp khả năng tác chiến của máy bay và có rất ít thay đổi trong buồng lái (cho dù có lắp thêm màn hình LCD) thì MiG-21 Lancer lại chủ yếu tập trung vào việc làm sao cho phi công thoải mái hơn mà ít tập trung vào cải thiện hiệu quả chiến đấu.

Radar Kopyo



MiG-21-2000



MiG-21-2000 cockpit



MiG-21-93 cockpit

« Sửa lần cuối: 10 Tháng Giêng, 2008, 01:47:43 pm gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
architecto
Thành viên
*
Bài viết: 26


« Trả lời #7 vào lúc: 11 Tháng Giêng, 2008, 04:01:46 pm »

Theo Fas.org, trong khoảng thời gian từ 26 tháng 4 năm 1965 đến 8 tháng 1 năm 1973, các máy bay F-4 và B-52 đã bắn rơi 68 chiếc MiG-21.
Triumf check lại chỗ B52 bắn rơi MIG 21 cái.
Logged
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #8 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2008, 03:14:19 pm »

MiG-23 FLOGGER

Giữa những năm 1960, các nhà thiết kế của Liên Xô đã bắt tay vào nghiên cứu chế tạo một dòng máy bay chiến đấu mới để thay thế cho các máy bay MiG-21 đã lỗi thời. MiG-23, với mật danh của NATO là Flogger, được phát triển với tính năng là loại máy bay tiêm kích phòng thủ điểm với radar mạnh đi kèm với hệ thống bắt bám và tìm kiếm tia hồng ngoại, có trần bay cao, tốc độ nhanh, sử dụng các loại vũ khí có điều khiển để tiêu diệt các mục tiêu ngoài tầm nhìn. MiG-23 được thiết kế trong những năm 1964-1966 dựa trên sự thành công của dòng MiG-21.  Cùng với động cơ mạnh hơn, một điểm mới đặc biệt là nó có đôi cánh cụp cánh xòe. Giống như dòng F-111 của không quân Mỹ, các cánh của máy bay có thể thay đổi góc độ mở hoặc gấp khi đang bay. Nhờ đôi cánh này, MiG-23 có thể cất cánh trên đường băng ngắn hơn và mang được trọng lượng vũ khí nhiều hơn. Khi cánh cụp tối đa, MiG-23 có thể bay với tốc độ lớn, góc cụp hay xòe có 3 chế độ lựa chọn là: 16, 45 hay 72 độ. Mẫu đầu tiên đã bay thử tháng 4 năm 1967 và MiG-23 bắt đầu được đưa vào trang bị từ năm 1971.
Ngoài không quân Liên Xô, MiG-23 được sử dụng khá phổ biến ở các nước Đông Âu và Trung Đông. Các nước khác như Libya, Syria, Ai Cập, Ấn Độ, Cuba, Algeria, Iraq, Afghanistan và Bắc Triều Tiên cũng nhập khẩu dòng máy bay này. Ngoài nhiệm vụ tiêm kích phòng không, MiG-23 cũng có khả năng tiến công mặt đất. Có hai biến thể MiG-23BN và MiG-27 là các phiên bản tiêm kích bom. Flogger B là phiên bản tiêm kích tiêu chuẩn, các phiên bản khác gồm: C – 2 chỗ ngồi dùng cho huấn luyện; G – được nâng cấp khả năng tiêm kích phòng không và E – dùng cho xuất khẩu. MiG-23MLD Flogger K là bản cải tiến của MiG-23ML và là phiên bản hiện đại nhất của dòng máy bay này. Điểm nổi trội của nó là được cải tiến tính năng bay, có hệ thống nhận dạng ta – địch (friend-or-foe) và có tên lửa hiện đại hơn. Ước tính đã có khoảng trên 4000 chiếc MiG-23/27 được xuất xưởng.



Với số lượng xuất xưởng lớn và được không quân nhiều nước sử dụng như vậy, nhưng khả năng không chiến của MiG-23 không có gì xuất sắc. Lý do thì có nhiều, nhưng về kết quả không chiến thì thật đáng ngại.  Rất nhiều MiG-23 đã bị bắn hạ bởi các máy bay F-15 của không quân Israel trong cuộc xung đột Lebanon năm 1982. Các máy bay F-14 của Mỹ đã nhiều lần dễ dàng bắn hạ MiG-23 của Libya trong các lần trạm chán hồi giữa những năm 1980. Dù vậy, MiG-23 cùng phiên bản tiêm kích bom MiG-27 vẫn được sử dụng rộng rãi và phải đến tận giữa những năm 1990 mới được Không quân Nga loại ra khỏi trang bị. Có nhiều chuyên gia cho rằng MiG-23 khá hạn chế trong việc thực hiện các nhiệm vụ chiến thuật khác nhau và có vẻ như nó không được nghiên cứu một cách thấu đáo về các tính năng mà đáng ra một chiếc máy bay tiêm kích phải có.

Hệ thống điện tử hàng không
MiG-23 được thiết kế để có thể bắn hạ các mục tiêu ngoài tầm nhìn, nó được trang bị radar đa hệ Saphir-23 dải sóng J, vốn được biết đến với cái tên “High Lark” trong NATO. Loại radar này có thể phát hiện mục tiêu từ khoảng cách 70km và bám từ khoảng cách 55km. Tuy nhiên, hệ thống radar sử dụng công nghệ analogue này lại có nhiều vấn đề, sai số lớn, và hệ thống làm mát bằng chất lỏng của radar chỉ hoạt động được trong vòng 2 năm.



MiG-23 là loại máy bay đầu tiên của Liên Xô được trang bị hệ thống sục sạo và bắt bám tia hồng ngoại, giúp nó có thể làm nhiệm vụ tiêm kích phòng không ở mọi độ cao, bất kể điều kiện thời tiết, đêm hay ngày. Để mặt đất cung cấp thông tin và hướng dẫn máy bay hoạt động trên không, tiếp cận mục tiêu, hệ thống chỉ huy bằng radio Lazur đã được lắp đặt. Ngoài ra, MiG-23 cũng được trang bị hệ thống tác chiến điện tử thụ động để đối phó với các tên lửa tầm nhiệt và tên lửa có điều khiển bằng tia hồng ngoại.

Vũ khí
Nhiệm vụ chính của MiG-23 là tiêm kích phòng không nên nó mang chủ yếu là các tên lửa R-23/24 Apex được điều khiển bởi radar bán chủ động hoặc tia hồng ngoại. Tầm bắn hiệu quả của các tên lửa này là từ 30-35km. Đối với khoảng cách gần hơn, MiG-23 có thể dùng các tên lửa AA-2 hoặc AA-8 Aphid. Khi làm nhiệm vụ tiêm kích bom, MiG-23 có thể sử dụng tên lửa không đối đất Kh-23M, rocket 57 hoặc 80mm, bom tù 100 đến 500kg, tổng trọng lượng vũ khí mang theo có thể lên tới tối đa 2 tấn.




Động cơ
MiG-23MLD được trang bị một động cơ R-35 có lực đẩy 8.550kgf và khi tăng lực là 13.000 kgf. Nhiên liệu mang bên trong là 4.200 lít. Ngoài ra nó có thể tới 3 thùng dầu phụ, nâng tổng số nhiên liệu mang theo lên đến 6.600 lít.

Các thông số chính
Nước xuất xứ: Liên Xô
Máy bay tương tự: MiG-27 Flogger D, Tornado, Su-24 Fencer, F-111
Kíp lái: 1 người (đối với loại huấn luyện là 2 người)
Chiều dài 16,71m
Sải cánh: 13,695m
Cao: 4,82m
Diện tích cánh: 27,3m
Trần bay: 18.600m
Tầm bay hành trình: 1800km
Tầm bay tối đa: 2800km
Tiếp dầu trên không: không có
Trọng lượng rỗng: 10.200kg
Trọng lượng cất cánh tối đa: 17.800kg
Tốc độ tối đa: 2500km/h (Mach 2,35) ở độ cao lớn
Khả năng leo cao: 15.250m trong 1 phút
Giới hạn G: +7.5G
Các nước sử dụng:  Afghanistan •  Algeria •  Angola •  Belarus •  Bulgaria •  CIS •  Cuba •  Czech Republic •  Germany •  Ethiopia •  Hungary •  India •  Iraq •  Kazakhstan •  Libya •  North Korea •  Poland •  Romania •  South Yemen •  Sudan •  Syria •  Ukraine
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Giêng, 2008, 03:23:35 pm gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Ngocvancu
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 580



« Trả lời #9 vào lúc: 16 Tháng Giêng, 2008, 03:35:29 pm »

Hèn gì nước ta không thèm đặt vấn đề mua Mìg 23 với LX
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM