Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:44:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lược sử quân sự các nước Đông Nam Á  (Đọc 106731 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #50 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:24:29 am »

Như vậy, đến cuối 1965, trong lực lượng lục quân Quân đội quốc gia Malaixia, ngoài các đơn vị thường trực chính quy còn có các đơn vị bộ đội địa phương và lực lượng dự bị, với quân số lên tới hàng vạn người, được triển khai đều khắp ở tất cả các vùng lãnh thổ. Thời kỳ 1963-1965 cũng là thời kỳ chứng kiến sự phát triển vượt bậc của lực lượng hải quân Malaixia. Trong hai năm 1963 và 1964, ngoài số tàu hiện có, Malaixia còn mua thêm 14 tàu tuần tiễu xa bờ tốc độ cao Vosper Thornycroft và 1 tàu khu trục Hang Tua, đưa tổng số tàu hải quân lên 24 chiếc. Với số tàu đó Malaixia không những có khả năng làm chủ hoàn toàn được vùng lãnh hải của mình mà còn được coi là một trong những nước có tiềm lực về hải quân so với nhiều nước trong khu vực.


Cũng như lực lượng hải quân, lực lượng không quân Malaixia thời kỳ này phát triển khá nhanh. Nếu như đến cuối 1963, lực lượng này chỉ mới có khoảng 12 máy bay trực thăng Alouette III, với chức năng chủ yếu là vận tải hoặc yểm trợ cho lực lượng bộ binh trong các cuộc truy kích các nhóm vũ trang đột nhập từ Inđônêxia, thì đến tháng 7 năm 1965 họ đã có tới 7 phi đội máy bay, bao gồm 5 phi đội máy bay tiêm kích, 1 phi đội máy bay vận tải tầm trung Dart Heald và 1 phi đội máy bay trực thăng.


Việc Chính phủ Malaixia ưu tiên phát triển lực lượng hải quân và không quân vào những năm 1963-1965 không chỉ bị tác động bởi cuộc "đối đầu” với Inđônêxia, mà còn do nước này muốn tăng cường khả năng duy trì và bảo vệ các vùng chủ quyền của mình trên đảo Calimantan, nơi mà lực lượng lục quân chưa có khả năng với tới, lại cách xa phần lãnh thổ chính của đất nước (Tây Malaixia) tới hàng trăm hải lý.


Vào những năm cuối thập niên sáu mười, đầu thập niên bảy mươi thế kỷ XX, do những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước, khu vực và quốc tế, Quân đội quốc gia Malaxia đã có những bước thay đổi lớn theo xu hướng tăng cường quy mô phát triển.


Tháng 9 năm 1965, Xingapo tách ra khỏi Liên bang Malaixia và trở thành quốc gia độc lập. Ngay sau đó, quan hệ hai nước trở nên căng thẳng, đặc biệt là sau khi Chính phủ Xingapo quyết định tăng nhanh ngân sách quốc phòng, mở rộng và tăng cường khả năng tác chiến cho lực lượng không quân và hải quân bằng việc mua thêm các tàu chiến và máy bay tiêm kích hiện đại của Anh.


Tiếp đó, năm 1967, Chính phủ Anh tuyên bố rút toàn bộ lực lượng quân đội của họ ra khỏi khu vực Đông Xuyê và Malaixia, đặt Chính phủ Malaixia trước một nhiệm vụ mới, phải tự quyết hoàn toàn trong việc nâng cao khả năng phòng thủ đất nước. Ngoài yếu tố trên, diễn biến của cuộc "Chiến tranh lạnh" ở châu Á, các cuộc xung đột tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải xảy ra triền miên giữa các nước trong khu vực, mâu thuẫn sắc tộc trong nội bộ Malaixia... cũng là những nguyên nhân khiến Chính phủ Malaixia phải thay đổi chính sách quân sự và quốc phòng của mình.


Trong chiến lược quốc phòng, nếu như trước đây Malaixia coi chính sách trung lập là cơ sở đảm bảo ổn định quốc gia, thì vào những năm đầu thập niên bảy mươi, giới lãnh đạo quân sự Malaixia luôn coi việc mở rộng liên minh, liên kết với Mỹ, Anh và các nước trong khối Thịnh vượng chung là hướng ưu tiên trong việc nâng cao tiềm lực quốc phòng, là nền tảng cho việc thực hiện học thuyết quân sự "Phòng thủ toàn diện", đồng thời giúp Malaixia bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ.


Năm 1971, Malaixia tham gia khối quân sự ANZUK (Hiệp ước 5 nước về phòng thủ Malaixia và Xingapo, gồm Anh, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Malaixia và Xingapo). Thực chất đây là Hiệp ước bảo hộ quân sự thay thế cho Hiệp ước Anh - Mã Lai trước đây. Theo hiệp ước này, Anh, Ôxtrâylia Niu Dilân có quyền can thiệp bằng quân sự vào Malaixia và Xingapo khi các nước này có nguy cơ bị đe doạ hoặc bị đe doạ từ bên ngoài. Việc Malaixia tham gia ANZUK và chấp thuận các điều khoản của nó được coi là "bước đi mới" trong chính sách đối ngoại quân sự của Malaixia, bởi đó không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp sự can thiệp quân sự của Anh, Ôxtrâylia và các nước phương Tây ở Malaixia trong trường hợp "cần thiết”, mà còn là sự "cự tuyệt" hoàn toàn với chính sách trung lập mà Malaixia đã từng theo đuổi trong hơn một thập niên trước.


Trong chiến lược phát triển quân đội quốc gia, nếu như trong giai đoạn 1948-1965, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, Malaixia chỉ chủ yếu tập trung phát triển lực lượng bộ binh nhằm đói phó với các cuộc chiến tranh du kích, thì nay họ chuyển trọng tâm sang xây dựng một quân đội có cơ cấu và thành phần hợp lý hơn, từng bước thích ứng và có khả năng đói phó với các cuộc chiến tranh hiện đại.


Với chiến lược trên, trong giai đoạn tiếp theo, Quân đội quốc gia Malaixia đã có những bước phát triển vượt bậc. Lục quân tiếp tục được tăng cường cả về quân số lẫn trang bị. Số tiểu đoàn và lữ đoàn tăng nhanh, chỉ tính riêng trong năm 1966, Malaixia đã phát triển thêm được 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn trinh sát, 2 tiểu đoàn cơ động địa phương và 2 tiểu đoàn đặc công.


Do số tiểu đoàn và lữ đoàn tăng nhanh, tháng 7 năm 1966, sư đoàn bộ binh đầu tiên của Malaixia đã được thành lập tại Xaraoắc. Sư đoàn này có nhiệm vụ chỉ huy, điều hành toàn bộ hoạt động tác chiến của các đơn vị quân đội Malaixia đóng ở Đông Malaixia, đồng thời tiếp quản Bộ chỉ huy quân Anh ở Borneo. Tiếp đó, tháng 1 năm 1969, Sư đoàn 2 được thành lập tại Kuala Lămpơ.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:26:32 am gửi bởi nhinrathegioi » Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #51 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:30:37 am »

Sự xuất hiện tổ chức cấp sư đoàn là bước nhảy vọt về chất trong Quân đội Malaixia, nó không chỉ đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong quá trình chuyển đổi phương thức tác chiến, từ phương thức tác chiến chiến tranh du kích là chủ yếu sang phương thức tác chiến chiến tranh thông thường. Nó còn kéo theo sự thay đổi căn bản chất lượng hàng ngũ sĩ quan, binh sĩ trong Quân đội Malaixia. Nếu so với những năm chiến tranh "chống nổi dậy", phần đông sĩ quan, kể cả sĩ quan cấp cao trong Quân đội Malaixia đều trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu, thì nay lớp sĩ quan trẻ bắt đầu được đào tạo khá cơ bản trong các trường, các trung tâm huấn luyện quân sự trong và ngoài nước. Cho đến thời điểm đầu những năm bảy mươi, gần 60% sĩ quan chỉ huy từ cấp tiểu đoàn trở lên trong Quân đội Malaixia đã qua các lớp đào tạo trung và dài hạn. Điều đáng nói hơn cả là hàng ngũ sĩ quan cấp tướng trong Quân đội Mạlaixia đã tăng lên đáng kể. Nếu như trước năm 1968, Quân đội Malaixia chỉ mới có 1 đại tướng là ông Tunku Osman thì đến cuối năm 1969, số đại tướng đã lên tới 3 người cùng hàng chục trung tướng, thiếu tướng.


Hàng ngũ hạ sĩ quan và binh sĩ cũng được tuyển chọn và huấn luyện tương đối kỹ. Trong quá trình huấn luyện họ bắt đầu được tiếp xúc với các loại vũ khí, khí tài mới, được bồi dưỡng những kiến thức về kỹ thuật, chiến thuật phù hợp với phương thức tác chiến hiện đại.


Về trang bị, đến đầu những năm bảy mươi, phần lớn các đơn vị bộ binh Quân đội quốc gia Malaixia đều được trang bị các loại súng bộ binh hiện đại, như súng tiểu liên 7,62mm của Bỉ, súng máy 5,56mm của Mỹ, HK33 của Đức, v.v... Năm 1971, Malaixia đã chi hàng chục triệu đô la để mua sắm các phương tiện cơ giới quân sự, như xe thiết giáp Panhard M3/VTT, V100, V150 của Mỹ, đánh dấu sự ra đời của các đơn vị bộ binh cơ giới trong Quân đội Malaixia.


Song song với việc phát triển và mở rộng lực lượng lục quân, lực lượng không quân Malaixia trong giai đoạn này cũng có những bước phát triển nhảy vọt. Chính phủ Malaixia đã đầu tư hàng chục triệu đô la, mua sắm các trang thiết bị hiện đại cho lực lượng không quân như máy bay huấn luyện vũ trang CL-41 Tebuan, máy bay cất hạ cánh trên đường băng ngắn Caribou và trực thăng vận tải S-61A Sikorsky. Quan trọng hơn cả là trong giai đoạn này, Malaixia đã mua và trang bị cho lực lượng không quân các máy bay chiến đấu siêu âm F-86 Sabre của Ôxtrâylia. Hàng loạt các căn cứ không quân đã được xây dựng và nâng cấp.


Hải quân cũng có những bước phát triển quan trọng, trong đó đáng chú ý là việc mua sắm 2 tàu hộ tống và tốc hạm tiến công có trang bị tên lửa Exocet, một loại tên lửa có khả năng tiêu diệt mục tiêu của đối phương với độ chính xác cao và tầm hoạt động tới 104 hải lý.


So sánh cơ cấu lực lượng và sự phát triển của
Quân đội Malaixia 1963-1973





Như vậy trong vòng 10 năm, từ năm 1963 đến năm 1973, Quân đội Malaixia đã có những bước phát triển hết sức nhanh chóng cả về lượng và chất. So với năm 1963, lực lượng lục quân tăng hơn gấp 2 lần, hải quân tăng gần gấp 3 lần. Giai đoạn này còn được coi là giai đoạn phát triển "bứt phá” trong lực lượng không quân Malaixia. Chỉ trong 10 năm, từ điểm xuất phát gần như chưa có gì, lực lượng không quân Malaixia đã vươn lên ngang hàng với lực lượng không quân của nhiều nước trong khu vực, kể cả Việt Nam cộng hoà, trong khi Malaixia hoàn toàn không có chiến tranh.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #52 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:31:43 am »

Vào những năm cuối thập niên bảy mươi, đầu thập niên tám mươi, do bối cảnh chiến lược và nhận thức về mồi đe doạ thay đổi, Quân đội Malaixia đã có những thay đổi quan trọng trong định hướng và chiến lược phát triển. Lần đầu tiên trong lịch sử, Malaixia gần như chuyển hoàn toàn trọng tâm sang xây dựng một quân đội chính quy, hiện đại, đủ khả năng đói phó với các cuộc chiến tranh thông thường.


Sự thay đổi trong định hướng, chiến lược và quy mô phát triển Quân đội Malaixia trong giai đoạn này không phải và cũng không có nghĩa là những nguy cơ dẫn đến sự mất ổn định trong nước đã hoàn toàn chấm dứt, hay các phương thức tác chiến được áp dụng trong thời kỳ chiến tranh "Chống nổi dậy" đã lạc hậu, hoặc không còn ý nghĩa đối với lực lượng vũ trang Malaixia nói chung, quân đội quốc gia nói riêng. Trái lại, trên thực tế nó vẫn đang được duy trì và phát triển để đối phó với cái mà chính giới Malaixia gọi là "mối đe doạ lâu dài" của các phe nhóm cộng sản trong nước, và khả năng "câu kết" của nó với lực lượng cộng sản ngoài nước.


Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trên là do Malaixia bắt đầu coi các mối "đe doạ" từ bên ngoài là nhân tố chủ yếu tác động trực tiếp đến sự ổn định và toàn vẹn chủ quyền quốc gia. Vào thời điểm đó, dựa trên những quan điểm cơ bản của "học thuyết đôminô”, không ít các chính trị gia và các nhà hoạch định chính sách quân sự cấp cao Malaixia đã chỉ ra hàng loạt các nhân tố mà theo họ là những "đe doạ tất yếu” và "cực kỳ nguy hiểm" đối với an ninh và chủ quyền của Malaixia. Họ cho rằng, sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn do Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam là điểm khởi đầu cho sự sụp đổ của các quân cờ đôminô tiếp theo ở khu vực Đông Nam Á và cả châu Á. Đó là mối đe doạ trước mắt đối với Malaixia.


Các chiến lược gia Malaixia coi Trung Quốc là mói đe doạ “lâu dài" và "nghiêm trọng" đối với sự tồn vong của Malaixia. Nhận thức về Trung Quốc như là mối đe doạ từ bên ngoài còn được Malaixia gắn hến với mối đe doạ từ bên trong, tức là từ Đảng Cộng sản Malaixia, một tổ chức có số lượng đảng viên người Hoa chiếm đa số và được Trung Quốc “hậu thuẫn" về tinh thần.


Ngoài hai mối "đe doạ" trên, quan hệ Trung Quốc và Thái Lan đang ngày càng được thắt chặt cũng trở thành mối quan tâm và lo ngại lớn đối với Malaixia.


Với cách nhận thức và các mối lo ngại như vậy, trong chính sách đối ngoại quân sự, Malaixia tăng cường mở rộng và thắt chặt quan hệ hợp tác quân sự với nhiều nước phương Tây. Mỹ trở thành nước cung cấp vũ khí và trang thiết bị quân sự lớn nhất cho Malaixia; đổi lại, Malaixia tiếp tục ủng hộ sự có mặt về quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á, đặc biệt là các căn cứ hải quân và không quân của Mỹ tại Philippin. Với Anh, Malaixia tiếp tục mở rộng sự hợp tác thông qua các hiệp định, hiệp ước quân sự; cho phép Anh được cử các đoàn cố vấn quân sự tới Malaixia, giúp đỡ Malaixia hiện đại hoá quân đội, đào tạo sĩ quan, huấn luyện binh sĩ, cung cấp vũ khí trang bị, v.v... Ngoài Mỹ và Anh, Malaixia còn mở rộng hợp tác, với nhiều nước khác như Cộng hòa Liên bang Đức Pháp, Italia,v.v...


Trong chiến lược phát triển quân đội, giới quân sự Malaixia bắt đầu xem xét đến các khía cạnh cải tổ quân đội nhất là về mặt tổ chức, cơ cấu và trang thiết bị. Năm 1978, Malaixia đưa ra chương trình PERISTA cải tổ và mở rộng lực lượng vũ trang. Với chương trình này, lực lượng lục quân Malaixia đã tăng nhanh đáng kể, từ 50.000 quân năm 1978 lên 80.000 vào năm 1983, với 9 lữ đoàn bộ binh (gồm 36 tiểu đoàn), 3 trung đoàn kỵ binh, 4 trung đoàn pháo mặt đất, 1 trung đoàn xe bọc thép chở quân, 2 trung đoàn pháo phòng không, 1 trung đoàn đặc nhiệm, 5 trung đoàn công binh, 5 trung đoàn thông tin và một số đơn vị hành chính1 (Lực lượng vũ trang Malaixia thập kỷ 90, Tạp chí Quốc phòng thế giới (LDR), số 4/1992. tr.6).


Do số lữ đoàn tăng nhanh, tháng 2 năm 1976, Sư đoàn bộ binh số 3 đã được thành lập. Tiếp đó, tháng 1 năm 1981 Sư đoàn 4 được thành lập tại Phang. Với 4 sư đoàn bộ binh ra đời (3 sư đoàn đóng ở tây Malaixia và 1 sư đoàn đóng tại đông Malaixia), cuối năm 1981, Bộ Quốc phòng Malaixia quyết định thành lập Quân đoàn lục quân đầu tiên với Bộ chỉ huy đóng tại Kuala Lămpơ.


Ngoài việc tăng quân số, lục quân Malaixia còn tập trung mua sắm nhiều loại vũ khí, trang thiết bị hiện đại theo hướng đối phó với các cuộc chiến tranh thông thường. Năm 1981, Malaixia đặt mua 186 xe cơ giới quân/sự bánh xích và bánh hơi loại Sibmas kiểu (6x6) và xe AFSV-90 (xe yểm trợ hoả lực bọc thép có tháp pháo CN-90 Coekerill và pháo 90mm Mk III) trị giá 75 triệu đô la. Tiếp đó, năm 1984 lục quân Malaixia mua thêm 450 xe bọc thép chở quân loại Condor do hãng Thyssen Henchen của Đức chế tạo.


Song song với việc phát triển lực lượng lục quân, hải quân và không quân Malaixia cũng được tăng cường đầu tư. Trong tổng số 1,9 tỉ đô la Malaixia (tương đương 812 triệu USD) dành cho ngân sách quốc phòng giai đoạn 1979-1983, lục quân được đầu tư 580 triệu, trong khi đó hải quân được đầu tư tới 803 triệu đô la Malaixia1 (Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (Fareast Economy Review), số 42, tập 122, ngày 20 tháng 10 năm 1983, tr.1). Và nếu như năm 1978, hải quân Malaixia chỉ mới có khoảng 6.000 quân thì đến 1983, con số này đã lên tới 11.000. Ngoài việc tăng quân, trong vòng 4 năm. (từ 1982 đến đến 1986), Malaixia đã đầu tư hàng trăm triệu vào việc xây dựng và phát triển các căn cứ hải quân, đặc biệt là căn cứ hải quân Luật ở Pêrêch, thay thế cho căn cứ hải quân Utlan ở Xingapo do Anh xây dựng trước đây. Trong thời gian trên, hải quân Malaixia còn mua sắm và trang bị thêm nhiều tàu tiếp vận, tàu hộ tống, tàu dò mìn hiện đại của Nam Triều Tiên, Tây Đức và Anh, v.v...; đồng thời thoả thuận vôi một số nước để mua một số tàu ngầm hiện đại. Theo Đatac Môhamet Sanle Zain, Phó đô đốc hải quân Malaixia, mục tiêu của kế hoạch phát triển hải quân Malaixia trong giai đoạn 1982-1986, là từ một lực lượng ven biển phải trở thành một hạm đội đại dương.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #53 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:32:34 am »

Cũng như lực lượng hải quân, lực lượng phòng không - không quân Malaixia thời kỳ này phát triển khá nhanh, khả năng tác chiến vì thế cũng được cải thiện rõ rệt. Trong 5 năm, từ 1978 đến 1983, lực lượng không quân Malaixia đã tăng quân số từ 6.000 lên 11.000; mua thêm 32 máy bay chiến đấu, trong đó chủ yếu là máy bay ném bom A-4 Skyhawks cải tiến, máy bay vận tải-chiến đấu MB 339 cùng một số máy bay vận tải C-130, máy bay trinh sát RF-5 và máy bay tiêm kích F-5E. Năm 1983, Malaixia đặt mua một dàn ra đa loại mới nhất của Mỹ, trị giá 42 triệu đô la, để tăng cường khả năng kiểm soát không phận cho lực lượng phòng không. Trong kế hoạch phát triển lực lượng phòng không - không quân, Malaixia còn dự định xây dựng một căn cứ không quân lớn nhất khu vực Đông Nam Á và mở rộng 2 phi đội máy bay chiến đấu F-5E. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó phải kể đến sự suy thoái kinh tế, đặc biệt là sự phản đối của dư luận trong và ngoài nước, nên các dự án trên đều phải tạm ngưng.


Song song với việc mở rộng và phát triển lực lượng hải, lục và không quân, vào những năm tám mươi, Malaixia còn đầu tư đáng kể cho việc phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Năm 1982, Chính phủ Malaixia ban hành "Chính sách nội địa hoá ngành công nghiệp quốc phòng", trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải dựa vào các nguồn nội lực và tài nguyên trong nước để sản xuất các mặt hàng thiết yếu chiến lược phục vụ quốc phòng nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp, viện trợ từ nước ngoài.


Với chính sách trên, hàng chục nhà máy công nghiệp quốc phòng đã được xây dựng trên hầu hết các bang của Malaixia. Lúc đầu, các nhà máy này chỉ có khả năng duy tu bảo dưỡng, sửa chữa vũ khí trang thiết bị quân sự. Về sau, đến giữa những năm tám mươi, đã có khả năng sản xuất được phần lớn các loại đạn và súng bộ binh thông thường. Đến đầu những năm chín mươi thế kỷ XX, phần lớn các nhà máy này đã tự sản xuất được các loại đạn và pháo cỡ lớn như đạn cối 60mm, 81mm, thậm chí cả một số pháo phòng không tự hành.


Nhằm đẩy nhanh sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng, thời kỳ những năm tám mươi thế kỷ XX, Chính phủ Malaixia đã vận dụng linh hoạt hàng loạt các chính sách. Ngoài tập trung đầu tư cho các lĩnh vực công nghiệp quốc phòng then chốt mà họ có tiềm năng và thế mạnh như ngành công nghiệp đóng tàu, hàng không, công nghiệp vũ khí đạn, v.v... Malaixia còn thực hiện chính sách "tư nhân hoá", kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài cho một số lĩnh vực, khâu nhằm thu hút tối đa nguồn vốn và tiềm lực công nghệ cho ngành công nghiệp này.


Do thực hiện các chính sách được coi là "mềm dẻo" và "linh hoạt", chỉ trong hơn một thập niên, ngành công nghiệp quốc phòng Malaixia từ chỗ phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài đã tiến tới có khả năng tự trang bị được cho quân đội phần lớn các loại vũ khỉ và trang bị thông thường. Ngoài ra, trong một số lĩnh vực như đóng tàu, dịch vụ sửa chữa hàng không quân sự Malaixia đã vươn lên đạt trình độ của các nước tiên tiến, đủ sức tham gia cạnh tranh trong các hợp đồng lớn.


Việc mở rộng và phát triển nhanh lực lượng vũ trang của Malaixia trong những năm tám mươi thế kỷ XX đã thu được những thành quả nhất định, diễn ra theo đúng ý đồ của các nhà hoạch định chính sách quốc phòng, căn bản đã đưa Quân đội Malaixia thoát khỏi tình trạng “du kích" và "lạc hậu”. Tuy nhiên, quá trình đó cũng đã làm nảy sinh hàng loạt vấn đề. Theo nhận định của không ít tướng lĩnh cấp cao trong Quân đội Malaixia, giai đoạn này quân đội đã phát triển mất cân đối trầm trọng, tăng về số lượng nhưng không chú ý đến củng cố về chất lượng; phát triển nhanh các đơn vị chiến đấu nhưng không chú ý đầy đủ đến các đơn vị hậu cần và tiếp tế, mở rộng nhanh lực lượng nhưng lại thiếu sĩ quan chỉ huy thành thạo và có đủ kinh nghiệm. Giai đoạn này, theo như cách nói của nhiều nhà phân tích chính trị Malaixia, Quân đội Malaixia đã được quy hoạch phát triển nhằm đối phó và chống lại một "kẻ thù ảo".


Kết thúc Chiến tranh lạnh, do bối cảnh chiến lược thay đổi, an mình trong nước đã có những dấu hiệu tiến bộ, Chính phủ Malaixia đã thực thi hàng loạt cải cách nhằm khắc phục những hạn chế do hếch sử để lại, đồng thời từng bước xây dựng Quân đội Malaixia thành một quân đội hiện đại, tinh nhuệ, hiệu quả, đủ sức đối phó với các cuộc chiến tranh thông thường. Cùng với quá trình cải cách, Malaixia cũng đã đưa ra một chiến lược quốc phòng mới, trong đó nhấn mạnh đến ba yếu tố cơ bản là: nội lực, hợp tác khu vực và sự giúp đỡ của bên ngoài. Trong ba yếu tố trên thì nội lực là yếu tố được các nhà hoạch định chính sách quốc phòng Malaixia coi là then chốt và quyết định.


Yếu tố nội lực trong chiến lược quốc phòng của Malaixia được hiểu trên hai bình diện:

Thứ nhất, Malaixia sẽ huy động tói đa nguồn lực trong nước để lực lượng vũ trang nói chung và quân đội quốc gia nói riêng có đủ khả năng hành động một cách độc lập trong những tình huống có liên quan đến an ninh trong nước mà không cần đến sự can thiệp quân sự của nước ngoài.

Thứ hai, Quân đội Malaixia phải từng bước được hiện đại hoá, đủ sức độc lập đối phó với bất kỳ mối đe doạ nào từ bên ngoài, ở bất kỳ cường độ nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia.


Đối với vấn đề hợp tác quân sự và quốc phòng với các nước trong khu vực, Malaixia chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác song phương với các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), coi Diễn đàn hợp tác khu vực ASEAN (ARF) là cơ sở và là điều kiện quan trọng cho hoà bình và ổn định trong nước, khu vực và trên toàn thế giới. Bên cạnh đó, họ cũng coi trọng sự giúp đỡ và hợp tấc quân sự của các nước ngoài khu vực, đặc biệt trong các lĩnh vực như chuyển giao công nghệ, đào tạo đội ngũ sĩ quan tham mưu, chỉ huy và ủng hộ Malaixia trong các vấn đề có liên quan đến quân sự và quốc phòng trên trường quốc tế.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #54 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:33:41 am »

Dựa trên nền tảng của chiến lược quốc phòng mới và chương trình cải cách quân đội, năm 1993 Malaixia đã thông qua kế hoạch phát triển quân đội đến năm 2000, theo đó lực lượng lục quân sẽ được quy hoạch và phát triển theo các hướng sau:

- Cắt giảm quân số từ 114.000 quân (1993) xuống còn khoảng 80.000, thay vào đó, lực lượng này sẽ từng bước được hiện đại hoá nhằm nâng cao khả năng cơ động và trình độ hiệp đồng tác chiến.

- Giữ nguyên số đơn vị hiện có, chuyển một số đơn vị bộ binh thành các đơn vị đặc biệt như các tiểu đoàn dù, tiểu đoàn bộ binh cơ giới, v.v... Các đơn vị này sẽ đóng vai trò là lực lượng hạt nhân cho lực lượng phản ứng nhanh sau này.

- Cơ cấu lại tổ chức cấp trung đoàn theo hướng binh chủng hợp thành để trong tương lai mỗi trung đoàn bộ binh phải có đủ các đơn vị tăng, thiết giáp, đơn vị bộ binh cơ giới đơn vị pháo và các đơn vị đảm bảo.

- Mở rộng các đơn vị pháo và bộ binh cơ giới nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu chi viện hoả lực và tính cơ động cho các đơn vị bộ binh.

- Hiện đại hoá các đơn vị pháo bằng các loại vũ khí, khí tài hiện đại như các hệ thống ra đa định vị, các loại pháo tầm trung và các dàn pháo tự động nạp đạn.

- Nâng cấp và hiện đại hoá các đơn vị công binh bằng các loại trang thiết bị, khí tài tiên tiến.

- Tổ chức lại các đơn vị thông tin theo hướng gọn nhẹ, cơ động, bí mật, an toàn và có độ chính xác cao. Trong kế hoạch phát triển các đơn vị thông tin đến năm 2000, Malaixia chủ trương nâng cấp Trung đoàn thông tin không quân yểm trợ, đồng thời thành lập Trung đoàn chiến tranh điện tử của lực lượng lục quân.
 
- Hiện đại hoá và mở rộng các đơn vị quân báo bằng các trang thiết bị hiện đại, tiến tới trong tương lai mỗi sư đoàn bộ binh sẽ được biên chế một đơn vị quân báo.

- Tinh giản và tổ chức lại các đơn vị hậu cần, đơn vị đảm bảo trong lực lượng lục quân nhằm nâng cao tính hiệu quả, sự cân đối về lực lượng. Thành lập Cục Hậu cần bộ binh, cải tổ và nâng cấp hệ thống các nhà máy công nghiệp quốc phòng, phát huy và sử dụng hiệu quả khả năng tự sản xuất trong nước của các nhà máy này, từng bước và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài.

- Ưu tiên nâng cấp hệ thống các nhà trường, trung tâm huấn luyện quân sự hiện có, xây dựng thêm các trường, các trung tâm huấn luyện quân sự mới với các trang thiết bị hiện đại nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng tăng của đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ trong các cuộc chiến tranh thông thường, chiến tranh điện tử.


Thực hiện kế hoạch phát triển lực lượng lục quân theo hướng cơ giới hoá, vào giữa những năm 90 thế kỷ XX, Malaixia đã thành lập Lữ đoàn bộ binh cơ giới số 4 gồm 2 trung đoàn 19, 23 và tiểu đoàn biệt kích cơ giới số 7. Cùng với việc thành lập Lữ đoàn 4, từ 1995 đến 1998, Malaixia còn thành lập thêm 3 trung đoàn xe tăng và mua thêm hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp của các tập đoàn công nghiệp quốc phòng nổi tiếng trên thế giới. Như vậy, cho đến cuối những năm 90 thế kỷ XX, mỗi lừ đoàn bộ binh cơ giới của lực lượng lục quân Malaixia đã được biên chế 1 trung đoàn tăng và 2 tiểu đoàn bộ binh cơ giới cùng một số đơn vị đảm bảo khác.


Cũng trong khuôn khổ kế hoạch cơ giới hoá lực lượng lục quân, ngày 10 tháng 3 năm 1995, không quân Hoàng gia Malaixia đã chuyển giao 10 trực thăng Alouette III SA-316B cho lực lượng lục quân, đánh dấu sự ra đời của không đoàn không quân đầu tiên thuộc lực lượng lục quân. Những năm tiếp theo, lực lượng này đã phát triển rất nhanh. Năm 1997, Không đoàn 881 được thành lập, tiếp đó nhiều phi đội không quân yểm trợ và vận tải đã ra đời, đủ sức đảm đương và thay thế hoàn toàn các nhiệm vụ của lực lượng không quân Hoàng gia trước đây, giải phóng lực lượng này khỏi nhiệm vụ yểm trợ cho lục quân, tập trung vào các hoạt động tác chiến phòng không.


Mặc dừ được đầu tư theo hướng cơ giới hoá, nhưng do điều kiện địa hình rừng núi và sông hồ nhiều nên đến nay trong cơ cấu của lực lượng lục quân Malaixia, bộ binh vẫn chiếm đa số và đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động tác chiến.


Đến năm 2000, tổng quân số trong lực lượng lục quân Malaixia là 120.000 quân, trong đó lực lượng thường trực là 80.000, dự bị là 40.000, được chia thành 4 sư đoàn, nằm trong đội hình của 2 quân khu. Quân khu I (phía tây Malaixia) gồm Sư đoàn 2 đóng ở Penang, Sư đoàn 3 đóng ở Malăcca và Sư đoàn 4 đóng ở Kuatan. Quân khu II (phía đông Malaixia) gồm Sư đoàn 1 đóng ở Kuching và 3 lữ đoàn. Trong 4 sư đoàn lục quân của Malaixia có 10 lữ đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn không vận, 1 lữ đoàn bộ binh cơ giới Trong 12 lữ đoàn trên có tổng cộng 34 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn phòng không, 5 trung đoàn công binh, Trung đoàn đặc nhiệm 21 gồm 3 tiểu đoàn), lực lượng phản ứng nhanh (khoảng 1 trung đoàn).


Trung đoàn đặc nhiệm 21 cùng 10 lữ đoàn bộ binh nằm dưới sự chỉ huy và điều hành trực tiếp của Tư lệnh lục quân. Lữ đoàn 11 nằm dưới sự chỉ huy và điều hành trực tiếp của Tư lệnh lực lượng dã chiến, có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tác chiến ở khu vực thủ đô Kuala Lămpơ và bang Selangor.


Cùng với sự phát triển cả về lượng và chất, nhiệm vụ của quân đội, đặc biệt là của lực lượng lục quân cũng mở rộng đáng kể. Nhiệm vụ hiện nay của lực lượng lục quân Malaixia là bảo vệ biên giới và ranh giới quốc gia trước các các cuộc xâm lược hoặc đe doạ xâm lược từ bên ngoài. Sẵn sàng đối phó với các lực lượng thù địch cả trong và ngoài - nước. Tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của Chính phủ, dưới bất kỳ hình thức nào, trong trường hợp đất nước bị đặt trong tình trạng khẩn cấp. Cùng với lực lượng cảnh sát và các lực lượng khác của Chính phủ tham gia bảo vệ và giữ gìn trật tự công cộng, chống lại các hoạt động khủng bố. Tham gia các hoạt động cứu trợ và khắc phục hậu quả thiên tai. Tham gia phát triển quốc gia. Tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc nhiệm vụ này đã được lực lượng vũ trang Malaixia nói chung và lực lượng lục quân nói riêng thực hiện từ những năm 60 thế kỷ XX, cụ thể là: năm 1960-1963 Quân đội Mã Lai đã tham gia vào cuộc nội chiến ở Công Gô, năm 1988-1991 tham gia vào cuộc chiến tranh Iran-Irắc, 1989-1990 vào cuộc nội chiến ở Namibia, 1991 vào cuộc chiến tranh Irắc-Côoét, năm 1991-1994 ở Campuchia, năm 1993 ở Xômali, v.v...
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #55 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:34:26 am »

Đối với lực lượng không quân Hoàng gia Malaixia, trong những năm tiến hành cải cách quân đội, lực lượng này đã được tập trung đầu tư và có những bước phát triển nhảy vọt. Trong 8 năm, từ 1990 đến 1998, Malaixla đã đầu tư gần 770 triệu đô la Mỹ cho chương trình phát triển không quân, đưa lực lượng này từ chỗ chỉ là lực lượng yểm trợ cho lục quân trở thành một lực lượng tác chiến hiện đại có đủ trang thiết bị, cơ số và chủng loại máy bay, kể cả các loại máy bay tiêm kích hiện đại. Ngoài ra, lực lượng này còn được trang bị các hệ thống ra đa, hệ thống thu tín hiệu từ vệ tinh hiện đại của Mỹ, Anh, v.v... Cho đến giữa những năm chín mươi thế kỷ XX, không quân Malaixịa vẫn phải mua thông tin và số liệu từ các vệ tinh SPOT của Pháp, Radarsat của Canađa, NOAA của Mỹ và Thái Lan. Nhưng theo kế hoạch phát triển lực lượng không quân, năm 1998 Malaixia đã chi 4 tỉ ringit để chế tạo vệ tinh riêng và xây dựng thêm các trạm thu tín hiệu ở Temerloh và Phang.


Như vậy, sau gần 10 năm tập trung đầu tư và phát triển, đến năm 2000 lực lượng không quân Hoàng gia Malaixia đã có khoảng 12.400 quân, 80 máy bay chiến đấu các loại và 50 máy bay trực thăng, được chia thành 4 sư đoàn, gồm 22 phi đội.

Phi đội 17 và phi đội 19 đóng tại Quan tan, được trang bị các loại máy bay chiến đấu hiện đại của Nga như MIG-17MAPO, MIG-29N và MIG-29UN.

Phi đội 18 đóng tại Butterworth, được trang bị các loại máy bay hiện đại của hãng Boeing, như máy bay tiêm kích ban đêm F/A-18D. Các máy bay này đều có thể mang nhiều loại tên lửa khác nhau như Raytheon AIM/RIM-7M Sparrow, AIM-9S và tên lửa dẫn đường chống tàu ngầm AGM-84A Harpoon,v.v...

Phi đội 12 (phi đội Chiến binh) đóng tại Butterworth, được trang bị 13 máy bay đánh chặn Northrop-grumman F-5E Tiger II, 4 máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi F-5F, 2 máy bay RF-5E Tigereyes (Mắt hổ) và 11 máy bay phản lực huấn luyện Aermacchi MB-339A.

Phi đội 9 đóng tại Quantan, được trang bị chủ yếu các loại máy bay tiêm kích Hawk Mk-208 và máy bay huấn luyên Hawk Mk-108.

Phi đội 6 đóng tại Quantan, được trang bị các loại máy bay tiêm kích đa năng hạng nhẹ Hawk Mk-208.

Phi đội 1 đóng tại Labuan. Đây là phi đội máy bay vận tải được trang bị chủ yếu là các loại máy bay Havilland DHC-4 Caribou.

Phi đội 2 (phi đội Vẹt đuôi dài) đóng tại Subang, được trang bị 2 máy bay phản lực loại 2 động cơ Fokker F28-1000, 2 máy bay phản lực loại 3 động cơ Dassault Falcon 900 và 1 máy bay ném bom CL-600. Phi đội 8 (phi đội Bò hoang) đóng tại Subang, được trang bị chủ yếu là các loại máy bay vận tải chiến thuật DHC-4 Caribou.

Phi đội 14 (phi đội Hoà bình) đóng tại Subang, được trang bị 7 máy bay vận tải C-130H/H-30.

Phi đội 20 được trang bị 3 máy bay vận tải C-130H-30 và KC-130B. Phi đội 4 (phi đội Đám mây) là phi đội thám không và tuần tra biển, được trang bị 12 máy bay Cessna 402Bs và C- 130H-MPS.

Phi đội 16 đóng tại Subang, được trang bị 4 máy bay trinh sát biển B-200T.

Phi đội 3 (phi đội Anh hùng) được trang bị các loại máy bay trực thăng S-61A-4 và máy bay trực thăng Alouette III SA.316B.

Phi đội 5 (phi đội Mãnh hổ) được trang bị chủ yếu máy bay trực thăng S-61A-4.


Ngoài ra còn có các phi đội: phi đội 7 (phi đội Tê giác), đóng tại Kuching, phi đội 10 (phi đội Vòi voi) đóng tại Sungai Besi, phi đội 11, phi đội 15, phi đội phòng không 321 đóng tại Banting, phi đội phòng không 322 đóng tại Bukit Ibam, cùng một số đơn vị ra đa phòng không ở Xaraoắc, Penang, Senai và Johore,v.v...


Cũng như lực lượng lục quân và không quân, trong những năm tiến hành cải cách quân đội và sau khi Malaixia tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế, lực lượng hải quân Malaixia đã có những thay đổi lớn trong xu hướng và quy mô phát triển. Năm 1997 hải quân Malaixia đã xây dựng được binh chủng không quân riêng, đủ sức đảm đương các nhiệm vụ mà trước đây vẫn do lực lượng không quân Hoàng gia đảm trách. Ngoài ra, trong các năm từ 1995-2000, Malaixia đã mua thêm và trang bị cho lực lượng hải quân hàng chục tàu chiến, tàu tuần tiễu xa bờ cùng một số tàu ngầm, tàu nổi hiện đại của Thụy Điển, của Anh; được trang bị các loại tên lửa đất đói đất, đất đối không như MM-40 Exocet, Otomat. v.v...


Cho đến cuối những năm chín mươi, trong cơ cấu lực lượng hải quân Malaixia đã có đủ ba binh chủng là hải, lục và không quân, tất cả các binh chủng đều được trang bị tương đối hiện đại, không chỉ đủ sức bảo vệ vững chắc các vùng lãnh hải quốc gia, mà còn đủ khả năng tham chiến trong các cuộc chiến tranh thông thường và chiến tranh hiện đại.


Nhiệm vụ hiện nay của lực lượng hải quân Malaixia là: bảo vệ vững chắc lãnh hải và các nguồn lợi ngoài khơi của Malaixia trước các cuộc tiến công từ bên ngoài; bảo vệ tuyến giao thông trên biển; tiến hành các hoạt động thăm dò và điều tra địa - thủy văn; cùng với các lực lượng khác tiến hành chống hải tặc, bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và tiến hành các hoạt động cứu hộ, cứu nạn trên biển, v.v...
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #56 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 07:34:57 am »

III. Hệ thống tổ chức quốc phòng Malaixia hiện nay

Theo Hiến pháp năm 1957 của Malaixia, Thủ tướng là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Malaixia, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia. Hội đồng này thuộc Văn phòng Chính phủ, có nhiệm vụ hoạch định các chính sách liên quan đến an ninh và quốc phòng, định hướng phát triển và xây dựng lực lượng vũ trang Malaixia. Thành phần của Hội đồng an ninh quốc gia ngoài Thủ tướng giữ chức Chủ tịch, Bộ trưởng Quốc phòng - Phó chủ tịch còn có đại diện của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục. Hội đồng an ninh quốc gia họp định kỳ mỗi năm một lần, trong trường hợp khẩn cấp họp theo sự triệu tập bất thường.


Bộ trưởng Quốc phòng Malaixia là nhân vật dân sự, trực tiếp chịu trách nhiệm trước Chính phủ đối với tất cả các vấn đề có liên quan đến quốc phòng.


Bộ Quốc phòng Malaixia đóng ở Kuala Lămpơ, gồm 2 cơ quan là cơ quan dân sự và cơ quan quân sự.


Đứng đầu cơ quan dân sự là Tổng thư ký, có 2 phó tổng thư ký giúp việc. Nhiệm vụ của cơ quan dân sự là hoạch định các chính sách có liên quan đến tài chính và luật pháp của quân đội; soạn thảo và thực thi các chương trình, kế hoạch nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng, dựa trên khả năng của nền công nghiệp quốc phòng quốc gia; thực hiện các hợp đồng mua sắm vũ khí, trang bị từ nước ngoài; giải quyết các vấn đề về chính sách xã hội cho sĩ quan, binh lính trong Quân đội Malaixia và cho các cựu chiến binh.


Cơ quan quân sự trong Bộ Quốc phòng Malaixia do tư lệnh các lực lượng vũ trang Malaixia đứng đầu, hoạt động dưới sự giám sát và điều hành trực tiếp của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân.


Hội đồng tham mưu trưởng liên quân là cơ quan điều hành tập thể mọi hoạt động của quân đội, gồm Tổng tham mưu trưởng liên quân (giữ chức Chủ tịch) cùng các tham mưu trưởng của các binh chủng, Cục trưởng Cục Cán bộ và hậu phương. Nhiệm vụ của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân là soạn thảo và đệ trình lên Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Malaixia các vấn đề có liên quan đến chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, đến sử dụng và phát triển lực lượng vũ trang, v.v...


Sau hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, mặc dù bị tác động bởi các yếu tố lịch sử và phụ thuộc rất nhiều vào các nước phương Tây, nhưng Quân đội Liên bang Malaixia đã có những bước phát triển và lớn mạnh không ngừng. Từ một đại đội lính bản xứ do người Anh thành lập năm 1932, với vẻn vẹn vài chục người có chức năng bảo vệ các cơ quan, văn phòng đại diện của Anh ở Mã Lai, đến nay đã trở thành một lực lượng hùng hậu, với đủ ba thứ quân, được trang bị hiện đại, có cơ cấu và thành phần hợp lý, đủ sức đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #57 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:03:06 am »

QUÂN ĐỘI LIÊN BANG MIANMA


I. Khái quát về đất nước Mianma

Liên bang Mianma, trước đây gọi là Miến Điện, là một quốc gia lâu đời ở Đông Nam Á, phía tây bắc giáp Ấn Độ, phía tây giáp Bănglađét và vịnh Bengan, phía tây nam giáp biển Anđaman, phía bắc giáp Trung Quốc, phía đông giáp Lào và Thái Lan.


Mianma là một quốc gia đa dân tộc, gồm hơn 40 dân tộc khác nhau, trong đó đa số là người Bama (thường gọi là người Miến, chiếm khoảng 70% dân số Mianma); các dân tộc ít người gồm người Karen (8%), người Chin (2%), người Môn (1,5%), người Kachin (1,5%)... Dân số Mianma tính đến tháng 11 năm 2005 có 49.362.000 người, trong đó số có khả năng phục vụ quân đội khoảng 6.600.000 người1 (Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới... Sđd, tr.305). Phật giáo được coi là quốc giáo của Mianma với số người theo đạo Phật là 89%; ngoài ra còn có đạo Cơ đốc (5% dân số), đạo Hồi (4%) và các tôn giáo khác (2%). Thủ đô Mianma là Yangun. Tổng thu nhập quốc dân năm 2003 là 128,3 tỷ kiệt (khoảng 20,4 tỷ USD). Mianma được chia làm 7 khu vực hành chính là Yangun, Bao, Manđalay, Maguê, Sagaing, Iraoađy và Tenaserim và 7 bang là Rakhain, Chin, Kachin, Karen, Kaya, San, Môn. Cư dân Mianma sử dụng hơn 100 ngôn ngữ khác nhau, nhưng tiếng Miến được coi là ngôn ngữ chính thống, tiếng Anh được sử dụng rộng rãi.


Địa hình Mianma khá phức tạp; có núi, cao nguyên, đồng bằng và một số đảo nhỏ, trải rộng trên diện tích 678.580km2. Các dãy núi cao bao bọc xung quanh những vùng đồng bằng giàu có là thành lũy tự nhiên che chở cho các địa bàn chiến lược của Mianma. Ba con sông Iraoađy, Chinđuyn, Thanluyin1 (Trước đây thường viết là Salween) chảy dọc theo đất nước, tạo nên các vùng đồng bằng phì nhiêu của Mianma và là một hệ thống đường giao thông quan trọng đi tới các vùng này.


Những đặc điểm tự nhiên trên đây đã tạo cho Mianma một vị trí chiến lược quan trọng, án ngữ con đường từ phía tây phía bắc đi xuống biển Anđaman, Ấn Độ Dương và ngược lại. Vì thế, trong nhiều năm, Mianma luôn là đối tượng nhòm ngó của nhiều nước lớn.


Lịch sử Mianma trải qua nhiều giai đoạn thống nhất, chia rẽ rất phức tạp. Vào khoảng đầu công nguyên, trên lãnh thổ Mianma ngày nay đã tồn tại một số vương quốc nhỏ: phía bắc có nước San do người San thành lập, vương quốc này thường giao hảo với nhà Hán của Trung Quốc. Ở phía nam có 2 vương quốc nhỏ của dân tộc Môn, một dân tộc có nền văn hoá sớm phát triển. Ở miền trung và nam còn có nước Pyu; vào thế kỷ VII, nước này đã phát triển thành một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn, có nền văn hoá rất phát triển và có chữ viết riêng. Đầu thế kỷ thứ IX, nước Pyu dần dần suy yếu. Từ vùng bình nguyên miền trung Mianma, người Miến bắt đầu bành trướng xuống vùng lưu vực sông Iraoađy; năm 849, họ xây dựng thành Pagan làm trung tâm chính trị. Năm 1044, vị thủ lĩnh của dân tộc Miến là Anôratha thành lập Vương triều Pagan-quốc gia phong kiến thống nhất đầu tiên của người Miến Điện. Dưới thời Anôratha, Pagan không chỉ có nền kinh tế phát triển mà còn có lực lượng quân sự hùng mạnh. Ngoài bộ binh và tượng binh là những binh chủng truyền thống, Anôratha còn xây dựng đội kỵ binh là loại binh chủng mới, nhờ đó, khả năng tấn công của quân đội được tăng lên rất nhiều. Với sức mạnh vượt trội so với các tiểu vương quốc ở Mianma, Anôratha đã chinh phục các vương quốc nhỏ của người Môn ở phía nam và phía bắc; các thổ ti và lãnh chúa phong kiến người San cũng lần lượt quy phục Pagan. Lãnh thổ Pagan được mở rộng, bao gồm vùng thượng Mianma, vùng đất cũ của nước Pyu; của người Môn ở vùng hạ Mianma và một vùng rộng lớn ở phía bắc Malaya và Xiêm (Thái Lan). Năm 1287, Vương triều Pagan sụp đổ trước sức mạnh của quân xâm lược Nguyên - Mông.


Sau khi vương triều Pagan sụp đổ, các tộc người San ở phía bắc, người Môn ở phía nam, người Rakhain ở phía tây đua nhau tự lập, hình thành cục diện có nhiều tiểu vương quốc cùng tồn tại, đó là "thời kỳ chiến quốc" trong lịch sử Mianma (1287-1531). Năm 1287, người Môn ở phía nam nổi lên, xây dựng Vương triều Bago. Năm 1364 hình thành Vương triều Ava ở Thượng Mianma. Đến năm 1386, hai vương triều này giao chiến với nhau; cuộc chiến tranh kéo dài 40 năm đã làm cho cả hai vương triều suy yếu và Vương triều Tanga dần dần hưng thịnh. Khi Vương triều Tanga bước vào thời kỳ phồn thịnh (1531-1550) cũng là lúc bùng nổ các cuộc chiến tranh nhằm tái thống nhất Mianma. Năm 1569, Vương triều Tanga hoàn thành sự nghiệp tái thống nhất Mianma; nhưng đến năm 1752 thì vương triều này bị người Môn ở phía nam đánh bại. 5 năm sau (1757), một hào trưởng tên là Alaun Pai đánh đuổi người Môn ra khỏi cửa sông Iraoađy, chinh phục các tiểu vương quốc San, Manipua. Alaun Pai lên làm vua, sáng lập triều đại Cônbaun, xây dựng thành phố Yangun (theo tiếng Miến có nghĩa là kết thúc chiến tranh) làm thủ đô. Triều đại này tồn tại cho đến nửa cuối thế kỷ XIX.


Dưới thời phong kiến, do thường xuyên tiến hành các cuộc chiến tranh, Mianma là một quốc gia có quân đội vào loại hùng mạnh với các binh chủng có sức cơ động cao, được trang bị hoả lực mạnh, kể cả đại bác của Bồ Đào Nha (1584). Quân đội Mianma đã nhiều lần tấn công xâm lược Xiêm (thế kỷ XVI); từng đánh bại quân Bồ Đào Nha (năm 1617), quân xâm lược Mãn Thanh (giữa thế kỷ XVIII)...


Sau khi thôn tính Mianma (1885), thực dân Anh thống nhất Mianma thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh (2.1886). Người Miến không còn quân đội riêng; người Anh không tuyển binh lính người Miến vào quân đội. Tuy không có quân đội riêng nhưng những người yêu nước và dân tộc chủ nghĩa Mianma vẫn tìm mọi cách chống lại đế quốc Anh, đòi độc lập dân tộc.


Đầu thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Hội thanh niên phật tử (thành lập năm 1906) và các lãnh tụ sinh viên Trường Tổng hợp Yangun, đặc biệt là tổ chức Thakin, phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc ngày càng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân Mianma. Trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào đấu tranh ở Mianma cũng như sức ép từ trong nước, ngày 2 tháng 3 năm 1935, Anh quyết định tách Mianma ra khỏi Ấn Độ, thành lập Chính phủ Mianma thuộc Anh kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1937.


Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mianma bị phát xít Nhật chiếm đóng. Aung San - một anh hùng dân tộc Mianma đã lãnh đạo cuộc chiến đấu của nhân dân chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản. Sau khi Nhật thất trận, Anh trở lại thống trị Mianma. Trước sức ép của phong trào đòi độc lập ở Mianma, Anh buộc phải trao trả độc lập cho nước này vào ngày 4 tháng 1 năm 1948; Liên bang Miến Điện được thành lập với các bang gồm đông đảo là người Miến (vốn chiếm đa sô) và 4 bang vùng Thượng Mianma. Các bang này được hứa hẹn quyền tự trị, nhưng trên thực tế, quyền lực lại nhanh chóng tập trung vào chính quyền trung ương. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng bất ổn kéo dài ở Mianma với các cuộc nổi dậy đòi quyền bình đẳng dân tộc của người San, Kachin, Karen...


Sau cuộc đảo chính ngày 2 tháng 3 năm 1962, lực lượng quân đội do tướng Nê Uyn cầm đầu lên nắm quyền điều hành đất nước, tuyên bố xây dựng Mianma theo con đường xã hội chủ nghĩa. Năm 1974, bản hiến pháp mới được thông qua và Mianma trở thành Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Miến Điện do Đảng Cương lĩnh xã hội chủ nghĩa Miến Điện là đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo. Tuy nhiên, do thực thi chính sách đối ngoại đóng cửa không thành công, Mianma liên tục rơi vào tình trạng hỗn loạn với các cuộc bạo loạn, biểu tình, tiến công quân chính phủ. Năm 1988, Nê Uyn buộc phải từ chức. Chính phủ mới được thành lập do Hội đồng Luật pháp và Trật tự quốc gia (SPDC) điều hành đã chính thức đổi tên đất nước thành Liên bang Mianma, tuyên bố từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa (5.1989).


Hiện nay, Mianma là một nước cộng hoà liên bang. Chủ tịch Hội đồng hoà bình và phát triển quốc gia là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang.


Mianma là thành viên Liên hợp quốc vào ngày 19 tháng 4 năm 1948; chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) ngày 25 tháng 7 năm 1997. Mianma và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao từ khi Việt Nam đặt Cơ quan thường trú tại Yangun (năm 1947), năm 1948 nâng lên thành Cơ quan đại diện và ngày 28 tháng 5 năm 1975 nâng lên cấp Đại sứ. Liên bang Mianma là một trong những nước tích cực ủng hộ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #58 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:04:13 am »

II. Lịch sử xây dựng và phát triển của Quân đội Mianma

1. Sự ra đời của Quân đội Mianma

Cũng như quân đội hầu hết các nước Đông Nam Á, Quân đội Mianma ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân phương Tây. Ở Mianma, cơ sở xã hội của phong trào đấu tranh là giai cấp tư sản dân tộc, giai cấp công nhân và nông dân. Tuy nhiên, với đặc điểm là một quốc gia Phật giáo, phong trào giải phóng dân tộc Mianma được bắt đầu từ việc đấu tranh để bảo vệ và phục hưng Phật giáo. Nhiều tổ chức bảo vệ Phật giáo lần lượt ra đời.


Năm 1897, ở Manđalay xuất hiện tổ chức đầu tiên bảo vệ Phật giáo lấy tên là Hội Phật giáo; năm 1902, một tổ chức tương tự ra đời ở thành phố Batxanh; năm 1904, Hội Liên hiệp Phật giáo của Trường Đại học Yangun được thành lập. Các tổ chức này đã tạo cơ sở để thành lập một tổ chức toàn quốc bảo vệ Phật giáo là Hội Liên hiệp thanh mền Phật giáo (1906). Cùng với sự ra đời của các tổ chức bảo vệ Phật giáo, ở một số địa phương đã xuất hiện các đội du kích. Trong lúc những người theo chủ nghĩa quốc gia tư sản chủ yếu đấu tranh bằng các biện pháp chính trị thì các đội du kích phát động nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân Anh; đặc biệt là hoạt động của các đội du kích ở vùng Pagan đo Bô trô lãnh đạo kéo dài cho đến năm 1920.


Cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mianma chưa có quân đội quốc gia mà chỉ có quân đội do chính quyền Anh xây dựng, được gọi là Đội phòng vệ Miến Điện với 3.669 quân, trong đó chỉ có 472 người Miến, còn lại là người Karen, người Chin và người Kachin1 (D.G.E Hall, Lịch sử Đông Nam Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1997, tr.1168). Để thành lập quân đội của mình, ban đầu, những người theo chủ nghĩa quốc gia Mianma dựa hoàn toàn vào người Nhật.


Vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XX, Nhật Bản có sức hấp dẫn mạnh đối với nhiều người theo chủ nghĩa quốc gia Mianma. Bên cạnh các khẩu hiệu như "châu Á của người châu Á", "Cộng đồng cùng thịnh vượng"...; việc người Nhật khuyến khích những người bản xứ nắm giữ vai trò điều hành chính quyền ở mức cao hơn so với dưới thời thực dân cai trị, việc khuyến khích dùng ngôn ngữ bản xứ; đặc biệt, vấn đề huấn luyện và phát triển quân đội... không chỉ hấp dẫn mà còn góp phần tạo nên sự tự tin trong những người theo chủ nghĩa quốc gia ở Mianma.


Để chuẩn bị cho việc thành lập quân đội, năm 1941, nhóm "Ba mươi đồng chí", gồm 29 đảng viên Thakin và một sinh viên (người già nhất 35 tuổi, trẻ nhất 19 và tuổi trung bình là 24) đến Tôkyô và sau đó chuyển đến Trung tâm huấn luyện của hải quân Nhật tại trại San thải Nam) để huấn luyện sơ bộ. Thiếu tướng lục quân Nhật Bản Fukuike cùng phụ tá là Đại úy Kaoasina chịu trách nhiệm huấn luyện cho nhóm các chiến sĩ người Mianma. Nhóm này được chia thành 3 tổ để học chuyên sâu từng vấn đề quân sự. Nhóm thứ nhất gồm Dung San, Lek Ya, Zei Ja, Sek Tya, Nê Uyn, Hun Oup được đào tạo để trở thành chỉ huy cao cấp và điều hành công việc dân sự. Nhóm thứ hai học về chiến thuật du kích và tình báo. Số thanh niên trẻ còn lại được huấn luyện để chỉ huy cấp phân đội.


Sau khi kết thúc khoá huấn luyện tại trại San (7.1941), "Ba mươi đồng chí" được chuyển đến Tamazoto (Đài Loan) để học tiếp. Tháng 11 năm 1941, bốn người trong nhóm "Ba mươi đồng chí" được phái về Băng Cốc (Thái Lan) để thành lập quân đội và tổ chức lãnh đạo phong trào du kích. Với sự giúp đỡ của Đại tá tình báo Nhật Suzuki, ngày 28 tháng 12 năm 1941, Quân đội Độc lập Miến Điện (Burma Independence ARMY-BIA) chính thức được thành lập tại Thái Lan với khoảng 200 người, gồm thanh niên kiều dân Mianma, nhóm "Ba mươi đồng chí" và một số người Nhật thuộc tổ chức tình báo Minami Kikan. Cờ của Quân đội Độc lập Miến Điện có ba màu với hình con công xanh ở giữa. Ngay sau ngày thành lập, Quân đội Độc lập Miến Điện bắt đầu tiến hành các đợt tuyển quân, chủ yếu từ kiều dân Mianma ở Thái Lan, nhanh chóng đưa tổng số quân lên 3.776 người (cuối tháng 12 năm 1941). Tuy có tên gọi là Quân đội Độc lập nhưng đội quân này bị Nhật Bản khống chế và đã đi theo Quân đội Nhật đánh về Mianma theo kế hoạch đánh chiếm châu Á của phát xít Nhật. Ngày 31 tháng 12 năm 1941, Quân đội Độc lập Miến Điện dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Nhật tiến quân trở về Mianma. Quân đội Độc lập Miến Điện nhanh chóng phát triển lên 50.000 người, nhưng ít lâu sau, chính quyền Nhật Bản cắt giảm xuống còn 3.000 người1 (Từ Thiên Ân, Hứa Bình, Vương Hồng Sinh, Lịch sử thế giới, Tập 5. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 2002, tr.408). Cuối tháng 5 năm 1942, quân Nhật chiếm được hầu hết các lãnh thổ Mianma và đưa Ba Mô, một lãnh tụ của giai cấp tư sản Mianma ra thành lập cơ quan hành chính.


Ngày 27 tháng 7 năm 1942, Quân đội Độc lập Miến Điện cải tổ thành Quân đội phòng thủ Mianma (Burma Defense ARMY-BDA) với nhiệm vụ chính thức là phòng thủ vùng biên giới và trong nước. Ba tiểu đoàn đầu tiên của Quân đội phòng thủ Miến Điện được thành lập do Nê Uyn, Yan Naing và Ze Ya làm tiểu đoàn trưởng. Không lâu sau có 4 tiểu đoàn nữa ra đời. Đến cuối năm 1942, Quân đội phòng thủ Miến Điện đã có 7 tiểu đoàn với khoảng 3.000-4.000 quân, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tá, Tổng tư lệnh Dung San. Những người thuộc nhóm "Ba mươi đồng chí" đều thành sĩ quan chỉ huy của các đơn vị này. Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và nâng cao trình độ quân sự cho đội ngũ sĩ quan, tháng 9 năm 1942, Quân đội phòng thủ Miến Điện thành lập Trường quân sự đầu tiên đóng tại Mingaladon (ngoại ô Yangun); chương trình đào tạo của trường được áp dụng theo chương trình của Học viện quân sự Nhật Bản.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1062



« Trả lời #59 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2008, 08:05:12 am »

Trước tình hình chiến tranh thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho phát xít Nhật, để tranh thủ sự ủng hộ của Mianma trong chiến tranh, ngày 1 tháng 8 năm 1943, Nhật Bản tuyên bố trao trả độc lập cho Mianma, nhưng trên thực tế Mianma vẫn thuộc quyền chiếm đóng của Quân đội Nhật.


Ngày 15 tháng 9 năm 1943, Hội đồng quốc phòng tối cao của Mianma "độc lập" đã triệu tập phiên họp đầu tiên. Tại cuộc họp này, Aung San được bầu làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tá Nê Uyn được cử làm Tổng tư lệnh; đồng thời tuyên bố đổi tên Quân đội phòng thủ Miến Điện thành Quân đội quốc gia Miến Điện (Burma National ARMY-BNA). Aung San nuôi tham vọng xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, hiện đại, gồm đủ các binh chủng bộ binh, thiết giáp, pháo binh, không quân, hải quân..., đồng thời đề cao tinh thần khổ luyện, coi trọng kỷ luật, động viên tinh thần binh sĩ và tăng cường liên hệ với dân. Tuy nhiên, người Nhật chỉ cho phép xây dựng bộ binh cùng một lực lượng nhỏ ky binh và đào tạo một số phi công trẻ ở Nhật.


Mặc dù được Nhật trao độc lập nhưng nền độc lập của Mianma chỉ là giả hiệu. Những hành động ngang ngược của quân Nhật trên đất nước Mianma gây cho nhân dân Mianma biết bao tai hoạ. Aung San và những người theo chủ nghĩa dân tộc Mianma sau khi nhận rõ bộ mặt xâm lược của Nhật Bản đã nhanh chóng gia nhập mặt trận chống Nhật. Một số sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn và đại đội trong Quân đội quốc gia Miến Điện có quan hệ với Đảng Nhân dân cách mạng đã thành lập Nhóm Kháng chiến trẻ chống lại Anh và Nhật; họ bắt đầu rải truyền đơn chống Nhật và lấy sở chỉ huy của Nê Uyn làm nơi gặp gỡ, cất giấu vũ khí cũng như in ấn, phát tán tài liệu. Trong khi đó, những người cộng sản Mianma cũng đã triển khai chiến tranh du kích tại vùng châu thổ sông Iraoađy.


Năm 1944, cuộc đấu tranh vũ trang chống Nhật của các lực lượng dân tộc, yêu nước Mianma phát triển lên một bước mới; các căn cứ địa được thành lập tại vùng núi Rakhain và vùng Manđalay. Ngày 22 tháng 6 năm 1944, lợi dụng quân Nhật đang bị sa lầy chiến trận ở Imphan, Nhóm Kháng chiến dự định phát động một cuộc nổi dậy nhằm lật đổ sự thống trị của phát xít Nhật nhưng không nhận được sự chấp thuận của Aung San. Aung San không tán thành quan điểm vừa chững Nhật vừa chống Anh. Chủ trương của Aung San và một số nhà lãnh đạo Quân đội quốc gia Miến Điện lúc này là quay sang tìm kiếm sự giúp đỡ của người Anh để đánh đuổi phát xít Nhật.


Tháng 8 năm 1944, Aung San và các thành viên chủ chốt của Quân đội Mianma ra lời kêu gọi thống nhất các lực lượng quốc gia và thành lập Liên minh nhân dân tự do chống phát xít (Anti Fascist People's Freedom League - AFPFL) với khẩu hiệu "Đuổi giặc Nhật, xây dựng chính phủ nhân dân, tiêu diệt phát xít, liên hiệp với quân đồng minh dân chủ”... Liên minh này bao gồm Đảng Cộng sản Miến Điện (do Aung San làm Chủ tịch, Thakin Than Tun làm Tổng bí thư) và tất cả các đảng phái, đoàn thẻ dân chủ. Phong trào kháng chiến đã phát triển mạnh mẽ Ơ vùng Hạ Mianma, thu hút được sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt của các tổ chức chính trị như Liên đoàn thanh mền Miến Điện, Quân đội phòng thủ và lực lượng du kích của người Rakhain, Karen, San, Kachin,...


Vào những năm cuối của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Quân đội quốc gia Miến Điện là lực lượng nòng cốt trong phong trào đấu tranh chống phát xít Nhật ở Mianma. Để chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa, Quân đội quốc gia Miến Điện tăng cường huấn luyện về kỹ thuật, chiến thuật, trang bị thêm vũ khí. Theo đề nghị của Aung San, nhiều cán bộ cộng sản đã tham gia quân đội. Cuối tháng 8, Aung San tổ chức gặp gỡ, động viên họ phấn đấu xây dựng Quân đội quốc gia Miến Điện thành lực lượng kháng chiến của dân tộc, phong quân hàm và cử họ làm chính ủy ở nhiều đơn vị. Aung San nói: "Quân đội phải trở thành cánh tay, nắm đấm, lưỡi gươm của nhân dân, những thứ sẽ giáng đòn vào kẻ thù của nhân dân và giành quyền lợi cho nhân dân"1 (Liên bang Mianma, tài liệu lưu trữ tại Trung tâm thông tin Khoa học - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng, Hồ sơ TL-1556).


Tháng 9 năm 1944, các lực lượng kháng chiến do Aung San lãnh đạo đã kêu gọi toàn thể nhân dân Mianma nổi dậy đánh đuổi phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân. Tuy nhiên, lúc này thời cơ chưa chín muồi nên cuộc khởi nghĩa phải hoãn lại.


Sau khi quân Đồng minh từ Ấn Độ đánh vào Mianma, ngày 1 tháng 3 năm 1945, Ban lãnh đạo Liên minh nhân dân tự do chống phát xít lập tức họp bàn khởi nghĩa với sự tham dự của 3 đại diện Đảng Cộng sản, 4 đại diện Đảng Nhân dân cách mạng và 14 sĩ quan Quân đội quốc gia Miến Điện. Trên cơ sở nhận định phát xít Nhật đang đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn, hội nghị đã quyết định chớp thời cơ phát động khởi nghĩa. Hội nghị cũng quyết định đổi tên Liên minh nhân dân tự do chống phát xít thành Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít và Quân đội quốc gia Miến Điện đổi thành Quân đội nhân dân. Một ủy ban thường trực có quyền tói cao trong thời kỳ nổi dậy được bầu ra gồm Dung San là lãnh tụ quân sự, Thakin Xu là lãnh tụ chính trị và Than Tun phụ trách việc hợp tác giữa Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít với chính quyền Anh. Ngày 8 tháng 3 năm 1945, Ba Tút, Tư lệnh lực lượng Quân đội quốc gia ở Manđalay tuyên chiến với Nhật, tiếp theo đó là một loạt các hoạt động của Quân đội quốc gia công khai chống Nhật. Ba Tút đã chỉ huy một đơn vị quân đội tiếp xúc với lực lượng Đồng minh. Ngày 27 tháng 3, Liên đoàn tự do nhân dân chống phát xít đã phót hợp với quân Đồng minh phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Nhật.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM