Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 08:43:25 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sa - Tập văn thơ  (Đọc 39939 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:02:45 am »


Tên sách: Trường Sa
Tập Văn-thơ
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2002
Số hoá: ptlinh, phonglan



LỜI NÓI ĐẦU


       Quần đảo Trường Sa, được mệnh danh là "quần đảo bão tố", nằm rải rác trên biển Đông, cách đất liền gần 500 hải lý... là đất đai của Tổ quốc - miền đất hết sức đặc biệt, có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Cán bộ và chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa, từ thế hệ này sang thế hệ khác, lớp lớp kế tiếp nhau phát huy truyền thống cha ông, truyện thống bộ đội Cụ Hồ, vượt qua mọi gian lao, nắng, gió, bão tố, bệnh tật, thiếu thốn và xa  cách ngày đêm canh giữ cho Tổ quốc bình yên. Một phần máu thịt của nhân dân đang hàng ngày hy sinh quả cảm trên những hòn đảo nhỏ !

          Nhưng những hòn đảo đặc biệt này cũng luôn luôn nằm trong trái tim của cả nước, của toàn Đảng, toàn dân toàn quân ta. Đất liền đã làm tất cả để bộ đội trên đảo không những bớt đi những khó khăn gian khổ về vật chất, mà còn ngày một phong phú hơn về đời sống tinh thần. Hàng năm, hàng chục đoàn cán bộ các ban ngành, các địa phương, tỉnh thành, các đoàn thể... đã thay mặt đất liền, vượt sóng gió ra tận những hòn đảo nhỏ đến với các chiến sĩ... Trong số đó có rất nhiều những nhà văn, nhà báo, những ca sĩ, nhạc sĩ... mang lời ca tiếng hát phục vụ bộ đội không mệt mỏi, và bày tỏ tình cảm xúc động của mình trong những sáng tác văn học viết về Trường Sa.

         Tập sách này chọn lọc những tác phẩm truyện ngắn, ký sự, tùy bút, thơ trong số hàng nghìn trang viết về Trường Sa đã đăng tải trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội hàng chục năm qua của các nhà văn quân đội và một số nhà văn cộng tác viên của Tạp chí, từ những chuyến đi đến "quần đảo bão tố".
 
         Xin được chuyển đến bộ đội Trường Sa và bạn đọc món quà nhỏ nhưng nặng tình nghĩa này...





                                                                                                 TẠP CHÍ VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI




« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2009, 03:35:05 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #1 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:06:04 am »


Nguyễn Xuân Thủy


HOA BIỂN

                                                                                                                               Truyện ngắn


Ý thấy mình rời khỏi mặt đất, bay lơ lửng trên biển cả cùng mây, cùng gió, lướt trên những con sóng bạc đầu, cùng những chú hải âu chao lượn, nghịch đùa trên bọt  nước. Bỗng trong đám bọt tung trắng xóa, phía đảo san hô ngầm, rẽ sóng hiện lên một thiếu nữ, không, một nàng tiên cá nhìn anh với ánh mắt nửa thiết tha, gần gũi nửa như hờ hững, xa xăm. Trong giây lát anh cảm thấy có một  luồng hơi lạnh thổi tới khiến toàn thân lạnh toát, tê cóng. Nàng tiên cá cứ nhấp nhô, ẩn hiện theo từng con sóng, lấp ló trong đám bụi nước bạc mờ như sương, như khói, như  mời gọi, như thách thức...

Giấc mơ chợt đến khiến khuôn mặt anh lúc co lại,  lúc giãn ra, hai khóe môi nhênh nhếch cái cười của người đang đón nhận niềm vui nho nhỏ. Vài sợi tóc ngả màu vàng lòa xòa trên trán, đôi lông mày đen và dày mọc lan sang nhau thành hai đường vòng cung trên khuôn mặt phảng phất chút lãng mạn phong trần...

Một làn gió từ biển thổi tới xô những tán phong ba vốn  đã ít ỏi giạt về một phía tạt vào nhau tành tạch rồi chui xuống mái tôn khiến chúng rung lên khe khẽ. Hơi nóng phả xuống ràn rạt làm cho Ý choàng tỉnh, mồ hôi vã ra đầm đìa hai bên thái dương và vai áo. Buổi trưa ở đảo thường  như thế. Phải như mọi ngày thì anh đã  dậy lấy khăn lau cho đỡ khó chịu nhưng hôm nay thì không, anh vẫn nằm đấy, đôi mắt lim dim nhấp nháp dư vị ngọt ngào của giấc mơ thoảng qua. Rồi đôi mắt lại khép, có lẽ để tìm lại hình  ảnh nàng tiên cá, nhưng không thể, anh đã tỉnh hẳn.

Ồ! Mà cần gì phải mơ nữa: Không cần phải mơ nữa anh cũng sẽ gặp nàng tiên cá hiện hữu bằng xương bằng thịt, chỉ vài ngày nữa thôi khi con tàu cập cảng Nha Trang nhất định anh sẽ gặp được Hà, anh sẽ gặp... Mới nghĩ đến đấy Ý đã thấy rạo rực, anh mỉm cười một mình rồi bật dậy, vươn vai mấy cái cho tỉnh táo, trong đầu tự tính mấy việc mình sẽ làm để chuẩn bị cho chuyến đi ngày mai - ngày mai anh sẽ vào đơn vị trong đất liền dự hội nghị tổng kết phong trào thi đua quyết thắng kết hợp nghỉ phép, một lý do đáng để vui lắm chứ...

Vừa xếp mấy thứ linh tinh vào chiếc túi du lịch. Ý vừa khe khẽ hát. Đồ đạc cũng chẳng có gì nhiều, hai bộ quần áo, một số sách vở giấy tờ, các thứ đồ dùng cá nhân thì  đều để lại cho anh em, một cành san hô, mấy chiếc vỏ ốc biển xinh xinh. Ngoài ra còn dăm hộp thịt tiêu chuẩn ăn không hết và một bọc thư to tướng anh em nhờ gửi về. Tất cả được cho vào một cái túi ni lon lớn và dày loại thường dùng chứa đồ đi biển để tránh bị ướt.

Đã đến giờ báo thức, anh em bắt đầu dậy. Trạm trưởng đi kiểm tra các bộ phận dừng lại trước cửa phòng Ý:
- Thế nào ! Sắp về thăm em không ngủ được hả ?
 - Dạ, em có ngủ đấy chứ ạ.
 Mấy chú lính trẻ thì tỉa tót: 
 - Anh Ý mảnh khảnh thế kia chắc bị em chê rồi. 
Ý cười tươi rói: 
- Sút có ba kilôgam, vẫn phong độ chán!
- Này ! Trong ấy bây giờ đang mốt tóc vàng đấy nhá ! 
-  Ừ mốt cả xe "viva" nữa đấy, liệu mấy cái vỏ ốc, vỏ sò có ăn thua gì không? 
- Chỉ so sánh vớ vẩn, lính phòng không mình lả... .hơi bị có giá đấy ! 

Một lúc sau anh đã đứng trên mỏm đá lặng lẽ nhìn ra biển, đã thành thói quen những hôm không mắc trực, anh thường ra đây ngám bình minh lên. Lúc này còn sớm lắm, sớm đến mặt trời cũng chưa mọc: Biển hiền hòa quá, những con sóng lao xao trên mặt nước như vỗ vào lòng  người một cảm giác yên bình êm ái. Buổi sáng trên đảo chưa phải chịu cái nóng như rang của ban trưa, không khí còn mát và trong trẻo lắm. Nhưng nếu cứ như vậy mãi thì đảo sẽ buồn và biển cũng chỉ như một bản nhạc với  những nốt trầm đều đều buồn tẻ. Không! Biển cũng như con  người. Biển cũng có cái ồn ào khi chiều về, thét gào khi  giông đến. Biển cũng có lúc nhạt nhòa sắc đỏ trong buổi   hoàng hôn hay một màu xanh ngọc lấp lánh lúc ban trưa. Nắng và gió làm nên sự diệu kỳ của biển, nhưng cũng nắng  và gió ấy đã hóa phép những mái tóc đen chuyển sang màu vàng hoe và màu da gì cũng thành đen bóng. Lo gì, quân  đội đẹp ở sự thống nhất, tất cả đều như thế chứ mình ai  đâu mà sợ, thằng Tuấn vẫn "ca" câu ấy: Mấy ông có vợ thì  luôn mồm dọa tụi lính trẻ về "ế người yêu". Thằng Hùng văng lại: Thế mà trong ấy khối thằng còn phải đi nhuộm  tóc từ đen sang vàng đấy thôi. Còn da đen? À! Đen thì càng đỡ mối mọt chứ sao - Sơn "Cọc Sáu" chống chế. Vậy là cười, cười như át tiếng sóng. Được cái cũng đơ mệt, đỡnhớ đất liền. Thằng nào mà chả nhớ đất liền, đứa nào bảo không nhớ là nói phét. Cánh lính trẻ bảo thế. Mà đúng thế. Thì ti vi đấy vào mà xem. Không, tao đi đọc thư. Gớm, làm như mình ông có thư, quý như rau ấy. Đây này tôi cũng khối, có đến mấy cân ấy chứ. Thế đổi lấy mấy cân rau có đổi không? Đợi đấy, còn lâu nhé. Chỉ được cái "tinhvi", không có mấy dòng kết bạn trên "Tiền phong" thì có  khối đấy. Biết thế sao không gửi, địa chỉ lính đảo lúc nào cũng được ưu tiên. Đừng có mà lợi dụng, đăng cho lắm rồi  lại nhờ hồi âm hộ. Ừ, mà nhiều quá cơ, những mấy trăm lá, tha hồ mà gặm nhấm. Đây, rau tinh thần đấy, ăn đi. Mấy ông có vợ (lại mấy ông trời đánh) châm chọc: Chung quy là tốn tiền tem" thôi, mấy chú đừng hy vọng. "Bất mãn" vừa thôi, mà tem, phong bì cũng của đất liền cả, toàn quà tặng chứ mất gì. Thế thì viết đi, rồi xem. Xem à, đây này thư chị Hà gửi anh Ý đây này "Em nghĩ đến cái ngày anh được về đất liền và chúng mình gặp nhau. Ôi! Em  không dám nghĩ tiếp nữa, mong sao ngày ấy đừng đến sớm quá... ". Ái chà, thằng này tán giỏi ghê, nghe “lâm ly bi đát"  ra phết, đưa đây tao đọc tý. Tránh ra, lấy thư vợ mà đọc.

Ý miên man nghĩ đến nhũng ngày sống trên đảo, anh em đồng đội gắn bó bên nhau như trong một gia đình giữa trời nước bao la bốn bề sóng vỗ. Đôi mắt anh mở to nhìn  ra biển có vẻ chăm chú lắm, nhưng thực ra anh chẳng nhìn vào đâu hết, dáng điệu như thi sĩ sắp làm thơ. Trạm phó chính trị bảo thế. Mà thi sĩ thì đa tình lắm, đã yêu là yêu phải biết. "Nhưng mà hay gặp trắc trở", thằng Hùng "cổ cánh" đế thêm. Chả biết có đúng không?

Ý quen Hà cũng từ những lá thư kết bạn, trong hàng trăm bức thư náo "áo tráng sân trường", "Giảng đường đại học", theo đúng như câu "Rất mong được làm quen với các nữ sinh sư phạm" của "những người lính phòng không trên đảo", giữa những nét chữ nắn nót màu mực tím học trò được cánh lính trẻ vồ như bắt được vàng, Ý bỗng chú ý đến lá thư ấy, lá thư đầu tiên của "cô giáo Hà", nét chữ cứng cỏi và từng trải lắm: "Xin cho em được sẻ chia với các anh một chút nắng, một chút gió và những khó khăn thường ngày nơi đảo xa..." và gây chú ý hơn là dòng địa chỉ cuối thư: 49- Phan Chu Trinh - Nha Trang. Ồ, nó chỉ cách hậu cứ của đơn vị anh ở đất liền chưa đầy hai kilômét. Ngoài bì thư lại chọn đúng tên "Nguyễn Như Ý" làm địa chỉ người nhận. Ý đọc xong lá thư cứ thấy một cái gì lưu luyến, bâng khuâng đối với người con gái chưa từng quen biết, anh đặt bút hồi âm ngay. Tuy nhiên lá thư ấy phải đợi một tháng sau mới có tàu vào.

Vậy mà đã được hai năm, thư đi rồi thư đến. Một cánh thiệp gửi ra, một chiếc lá phong ba ép khô gửi về. Trong  anh có hình cô gái với bộ cánh thiên thần .khoanh tay đứng tựa lan can. Ở em có hình anh lính ôm đàn ghi ta dưới gốc cây bàng vuông trước biên. Tập thư ngày càng dày lên, tình cảm của họ dành cho nhau như tự lúc nào đã mặn mòi hơi nước biển thấm vào từng nét chữ. Ý nôn nao nhắc đến  ngày về để được thấy luôn cả "hình lẫn tiếng". Hà không nói gì chỉ gửi ra một câu châm ngôn cắt từ báo "Tình yêu trong xa cách như ngọn lửa trước gió. Gió sẽ thổi tắt ngọn lửa nhỏ và thổi bùng ngọn lửa lớn". Chả lẽ Hà không mong  có ngày đó sao? Hà cứ muốn xa cách mãi sao? Thế có tiểu thuyết quá không? Nhiều lúc Ý tự hỏi không biết tình cảm giữa hai người có phải tình yêu thực sự? Tại sao anh cứ thấy một cảm giác bất ổn len lỏi trong những dòng chữ của  Hà. Anh cố xua đi nhưng ý nghĩ ấy cứ quanh quẩn lẩn khuất trong tâm trí anh. Hà tỏ ra tinh tế, trải đời và rất chân thành qua nhưng lá thư song hình như vẫn còn điều gì bí ẩn trong đôi mắt thông minh gợi buồn kia. Anh linh cảm thấy thế và cứ day dứt trong trạng thái phấp phỏng, liệu linh cảm của mình có đúng không? Nếu đúng thì điều ấy là điều gì ? Những lúc đọc thư Hà anh cũng ngồi đây mỗi khi đọc xong anh thường hướng về phía trùng khơi như muốn tìm kiếm điều gì quen thuộc của đất liền. Anh  muốn ngắm biển kỹ hơn, muốn nhìn thấu qua những con sóng kia xem trong lòng biển có gì . Những đảo san hô, những con cá mập nguy hiểm bên cạnh những chú cá voi hiền lành, những chú ốc chú trai vô hại. Biển pha trộn cả dữ dằn và hiền dịu, cả sự cao thượng bao dung và lòng ích kỷ nhỏ nhen. Biển thật phức tạp. "Đời là biển cả, ai không bơi sẽ chìm" Hà bảo thế, đúng hơn là viết thế. Vậy thì tất  cả mọi người đều phải "bơi" và "bơi" nhiệt tình để không ai bị chìm, không có cơ hội cho lũ cá mập dưới đáy biển. Có phải Hà muốn nói như thế?

- Này! Cậu nghỉ phép, mỏm đá này nó nhớ lắm đấy. Bộ đội mà lãng mạn quá, vào nhà chuẩn bị đi một tiếng nữa tàu chạy rồi.
Tiếng trạm phó chính trị sau lưng làm Ý giật mình quay lại cười trừ. Hai người cùng đi về phía nhà ở.
Trên biển bình minh đang lên rực rỡ ánh vàng, đàn hải âu chao liệng trong nắng sớm.

***

Bốn mươi bảy, bốn mươi tám - Ý lẩm nhẩm - bốn mươi chín: "Cà phê Tigôn". Ý hơi sững lại. Chiếc xe mini vẫn trôi chầm chậm, gặp cái ổ gà nó xóc lật sật làm mấy chiếc vỏ ốc trong chiếc hộp bọc giấy bóng màu nơi giỏ xe kêu  lọc cọc, chiếc nơ xinh xinh gài trên "món quà đảo xa" khẽ rung rung. Ý bị hẫng, hình ảnh khuôn mặt ngỡ ngàng của  Hà khi đón nhận điều bất ngờ vẫn ngự trị trong đầu giờ biến mất. Đi quá một đoạn anh mới phân vân quay xe lại. Lúc đó khoảng tám giờ sáng, quán đã vắng khách: Một dãy  bàn xen kẽ giữa những cây cảnh lâu năm, đoạn giữa là một khoảng vườn vừa phải với những bộ bàn ghế chỉ để dành cho hai người kê ý tứ dưới những tán cây có gắn bóng đèn màu. Trong cùng là ngôi nhà có lẽ được xây dựng khá lâu xong lối kiến trúc nhìn vân hợp mất, khu nhà - vườn - quán được bố trí tương đối hài hòa, nét cổ điển chưa bị các yếu tố hiện đại phá vỡ. Phía sau quầy có bóng mấy cô gái thấp thoáng.

Không lẽ Hà ở trong ngôi nhà đó, cô giáo của anh ở trong đó sao? Tự nhiên trong Ý xuất hiện hình ảnh cô chủ quán với ánh mắt đa tình giữa những nàng tiếp viên mắt xanh mỏ đỏ, áo quần cũn cỡn, trái ngược với hình ảnh cô gái với bộ áo dài trắng tha thướt mà anh hằng ấp ủ, Ý thấy ngại ngại ... Anh rẽ vào quán nước đối diện gọi một ly cà phê đá, mắt vẫn không rời tấm bảng có dòng chữ màu xanh giữa thẳng hàng dây leo nho nhỏ.

Chị chủ quán gợi chuyện:
- Anh mới ở Trường Sa về?
 
Ý bị ngắt ra khỏi dòng suy nghĩ ngước lên nhìn người phụ nữ với vẻ ngạc nhiên xong chợt nhớ tới mái tóc và nước da mình anh trả lời khe khẽ, mắt nhìn làm bộ lơ đãng: 
-Vâng! 
 - Ngoài đó ... vui không anh?
- Vui. À, cũng bình thường.
 Anh trả lời qua loa rồi đột ngột chuyển đề tài.
- Bữa ni lắm quán cà phê mới ghê chị à ?
Chị bán hàng như được gãi trúng chỗ ngứa:
-Úi dào! Đua nhau mở, đoạn này trước đây chỉ có tiệm này với tiệm Tigôn, dăm ba năm lại đây cà phê karaôkê mọc lên như nấm thành ra những quán như chúng tôi cũng ít khách.
Ý chộp luôn:
- Quán Tigôn có cô chủ quán xinh lắm cơ mà !
- Đâu có, chỉ có ông bà chủ thôi.
 - Thế cô con gái ?
- Cô ấy đi nước ngoài lâu rồi.
Ý thăm dò:
- Hình như bên đó có cô tên Hà ?
- À, có ! Chị chủ quán nhìn anh ngờ ngợ.
- Cô ấy là giáo viên phải không chị ?
Anh đi sâu hơn.
- Làm gì ra. Tiếp viên. Ủa! Mà anh quen cô ta sao?
Ý gượng gạo:
- Vâng! Trước đây cũng có biết.

Ngụm cà phê trong miệng Ý đắng nghét. Chiếc bàn trước mặt chòng chành. Chị chủ quán đã lui vào phía trong. Có sự nhầm lẫn nào ở đây chăng? Hay nhầm địa chỉ ? Nhưng bên kia tấm biển quảng cáo với những chùm hoa li ti vẫn cứ rùng rình như sắp rơi xuống trong cái nắng đầu hè. Hà tiếp viên. Hà giáo viên. Ừ, mà tên Hà thì nhiều  lầm. Nhưng Ý bỗng nhớ lại những lá thư: Tại sao những  câu hỏi của anh về gia đình, về mái trường và trẻ thơ" Hà  đều né tránh trả lời. Có lần anh gặng hỏi thì Hà ghi mỗi  một câu: "Rồi có ngày em sẽ kể cho anh biết". Và bây giờ là lúc anh được biết ư? Thế nhưng Hà đã ghi thư kết bạn, đã tự nguyện đến với anh, vậy Hà nói dối anh để làm gì  chứ? Tại sao Hà phải làm thế? Có đúng Hà ở đây không?

Ý dắt xe xuống đường, anh đi như theo quán tính, ánh nắng chiếu vào ba chiếc sao trên cầu vai nhấp nhóa, những câu hỏi cứ nhảy múa trong đầu. Liệu anh có nên tìm gặp người con gái ấy không ?

Ý trở về chỗ Mạnh. Ý và Mạnh vốn cùng họcmột lớp tại trường chỉ huy kỹ thuật thông tin cũng tại thành phố này. Ra trường hai người lại cùng về nhận nhiệm vụ tại một đơn vị. Thế rồi Ý tình nguyện ra công tác ở đảo còn Mạnh ở lại đây. Hôm qua cả hai người đều được đi dự "hội nghị thi đua" của Trung đoàn. Tuy Mạnh sống sôi nổi và mạnh mẽ, Ý có phần trầm hơn song họ khá thân nhau. Cả ngày hôm đó Ý như từ trên trời rơi xuống, anh lấy tấm ảnh ra nhìn như đốt cháy người con gái trong đó, hình ảnh  một cô giáo hiền dịu và một cô gái nhà hàng cứ lẫn lộn, ám ảnh. Mạnh bảo: Thì mày cứ tìm hiểu cho rõ đã nào. Phải rồi, anh sẽ chưa quyết định khi mọi chuyện còn mập mờ. Anh phải làm rõ tất cả.

Mới sẩm tối Ý đã kéo Mạnh:
- Đi với tao !
- Xả hơi hả ? - Mạnh liếc Ý tinh nghịch.
- Không, có việc - Ý trả lời rồi nói như ra lệnh - Thay đồ đi.
 - Dân sự cơ mà! Ừ thì đi.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2009, 03:36:42 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #2 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:10:18 am »


Trong chiếc quần thô màu tàn thuốc lá và chiếc áo sơ mi trắng trông Ýkhông được tự nhiên lắm. Mấy năm ở đảo toàn đóng quân phục giờ "cắm thùng" vào cứ thấy nó thế nào. Tuy thế nhìn hai người vẫn khác hẳn lúc mặc đồ lính.
- Hai anh dùng gì ạ. - Một giọng miền Trung dễ thương.
- Cho hai cà phê ! - Mạnh nhanh nhẩu.
- Đen hay nâu ạ?
- Đen.

Cô gái bưng khay đặt hai ly cà phê xuống rồi kéo ghế ngồi cạnh hai người. Chiếc quần "Jin" bó sát cặp giò thon thả, cái áo thun màu tối làm nổi bật làn da trắng khác hẳn  những cô gái miền biển. Trông cô đẹp và kín đáo. Phía  trong chiếc cát sét mở vừa phải, giọng Thanh Lam da diết:

" Em vẫn từng đợi anh
Như hoa từng đợi nắng ..."

Ánh đèn màu làm khoảng không gian ấm cúng hơn. Ý nhìn bao quát một lượt. A, đúng rồi, chỗ lan can kia là cảnh trong tấm anh, không lẫn được. Vậy là đích xác rồi.  Nhưng còn Hà, Hà đâu? Ý quay sang nhìn cô gái ngồi cạnhnhư ông bố lần đầu tiên tiếp xúc với người yêu của con mình, khuôn mặt dễ coi được trang điểm khéo léo, giọng nói nhỏ nhẹ, đứng đắn, đôi mắt to, khá giống cô gái trong tấm ảnh của anh.
- Hai anh mới đến đây lần đầu ?
- Không hẳn thế.
Cô gái lại hỏi:
- Các anh là bộ đội ?

Ý hơi chột dạ. Mạnh mỉm cười xác nhận. Mạnh không ngạc nhiên. Với những cô gái bán hàng có kinh nghiệm thì việc nhận diện và phân loại khách chẳng mấy khó khăn. Nhất là đối với thành phần như hai người. Vả lại ở cái nơi khá nhiều đơn vị bộ đội này thì hình như các cô cũng dễ nhận ra hơn.
- Quán đông khách không em? - Mạnh hỏi.
- Cũng tương đối.
- Dạ cũng đều đều. Tối thứ bảy thì có đông hơn, ở đây chúng em đón khách quen là chính.
- Nhiều khách quen vậy sao ? - Bây giờ Ý mới vào cuộc.
Ý thăm dò:
- Lần trước anh tới chưa thấy em ? .
- Là bao giờ ạ?
- Năm ngoái! - Cô gái tròn xoe mắt đưa tay lên che miệng cười khúc khích - Năm ngoái thì không gặp là phải: Em mới ở đây đầu năm nay.
Ý nghĩ thầm: Vậy là không phải. Nhưng sao giống thế nhỉ?
 Cô gái tiếp: 
- Mà ở đây chúng em làm ổn định chứ như mấy tiệm trên kia các anh đến tuần trước có khi tuần sau đã không thấy nữa rồi à.
- Vì sao vậy? - Mạnh thắc mắc.
- Chủ cho nghỉ vì không đạt yêu cầu hoặc tự xin nghỉ vì không thích nghi được. Nhiều lý do lắm. Mà xin nghỉ làphải. 
- Sao em lại nói vậy? - Mạnh hỏi
- Thì anh cứ thử đến đấy khắc biết. Nói chung phức tạp lắm. 
Ý xen vào: 
  - Thế còn ở đây .
 - Ở đây khác - Cô gái nói hết sức nghiêm túc. 

Quán bắt đầu đông khách, cô gái xin phép đứng lên. Các bàn lần lượt có người. Vài đôi trai gái sánh vai bước vào phía trong, nơi dành cho họ. Trong ấy đèn không sángbằng ngoài này và hình như tiếng nói chuyện cũng ít hơn. Có lẽ họ nói nhiều nhưng không ai nghe thấy. Phía quầy phục vụ xuất hiện thêm hai cô gái nữa, họ tất bật bưng bê tới các vị trí. Câu chuyện bị ngắt quãng.

Ý nín thở nhìn theo các cô gái đi lại như con thoi trong quán: dáng người họ khá giống nhau, và cả khuôn mặt nữa, sao cứ hao hao người trong ảnh. Liệu trong họ có ai là Hà không? Không. Nhìn cử chỉ họ ngây thơ và vô tư lắm. Hà không như thế.

Cho đến khi mấy vị khách "độc thân" mới vào sau đã yên vị thả hồn theo làn khói thuốc mỏng như sương bay la đà và như thường lệ sau vài câu xã giao mấy cô gái lui về phía quầy bên. Ý thấy vững tâm hơn. Anh gọi một gói thuốc, vẫn cô gái khi nãy mang lại. Nhìn bao thuốc "Jét" còn khá nhiều trên bàn cô hơi ngạc nhiên. Hai người tiếp tục gợi chuyện. Ý vờ hỏi: 
- Ba người làm có bận lắm không em?
- Dạ, cũng có lúc vội. Có bốn người nhưng một chị mới về quê. 
- Sao vậy? - Mạnh có vẻ tò mò.
- Chị ấy về chuẩn bị để thi.
- Thi gì ? Mạnh ngạc nhiên hỏi pha chút đùa cợt -Thi hoa hậu hả ? 
Cô gái miễn cưỡng ngồi xuống: 
- Không. Chị ấy thi... Cao đẳng sư phạm.

Đến lượt Ý sững sờ. Có lẽ vì những chuyện như thế người ta ít tin nó có thể xảy ra tại những nơi như thế này chăng. Linh cảm thấy điều gì về người con gái mà cô gái ngồi trước mặt vừa nhắc đến, anh buột miệng: 
- Chị ấy tên... tên Hà phải không ? 
- Vâng, chị Hà. Mà sao anh biết ? - Cô gái ngạc nhiên nhìn Ý.

Ý không nghe thấy gì nữa, nơi lồng ngực tức nghẹn như vừa ăn một quả nốc ao, mặt anh thần ra. Cô gái không nhận thấy sự thay đổi trên gương mặt anh. Cô nhìn anh từ đầu đến chân như muốn giải đáp điều gì. 
Ý bình tĩnh trở lại, anh hỏi cô gái: 
- Hà về lâu chưa em ? 
- Cũng được nửa tháng. Anh... Anh  quen chị Hà?
Cô gái nghi hoặc: 
- Ừ. Cũng gần như thế. 
- Nghĩa là sao ? 
- Là bạn.
 - Vậy sao hôm nay em mới thấy anh ? 
- À... Anh đi công tác ghé qua. 
Ý nói dối một cách vụng về. Cô gái cũng nhận ra sự không trung thực đó nhưng không hỏi tiếp, cô chỉ nhếch mép khe khẽ:
 -Thế ạ! 
Ý bỗng hỏi: 
- Mà em có  rảnh không?
Cô gái ngước mắt lên: 
- Để làm gì ạ? 
Ý nhìn thẳng vào mắt cô gái: 
- Anh muốn hỏi em một chuyện. Liệu có phiền không?

Thoáng một chút khó hiểu nhưng hình như nhận thấy vẻ quan trọng trong lời đề nghị, cô hỏi:
- Nhưng chuyện gì cơ ạ ? 
- Chuyện về Hà. 
- Về chị Hà? Anh là bạn sao lại phải hỏi em.
 Cô gái nghi ngờ thốt lên. 
  - Nhưng chuyện này... chỉ em mới biết.
  Lại có hai người khách nữa bước vào. Suy nghĩ một lát cô gái nói:
- Thật vậy sao ? Thôi được, nếu thế anh có thể đến vào sáng mai. Nhưng nếu về chuyện riêng tư thì em không biết đâu đấy.
- Cám ơn em. Mai anh đến. Tám rưỡi được chứ 
- Vâng - Cô đáp nhanh rồi đứng lên đón khách.   
-Hai người rời quán để lại phía sau ánh mắt chưa hết vẻ tò mò của cô gái mà họ chưa kịp hỏi tên. 
 

***


 Đúng hẹn Ý lại có mặt tại quán Tigôn, anh mặc bộ quân phục sáng hôm qua bởi nghĩ nếu đóng kịch tiếp có lẽ thừa  hay đúng hơn anh vào vai cũng không đạt lắm.

Cô gái đang thu dọn ly cốc trên bàn, thoáng chút ngỡ ngàng cô bỗng reo lên một tiếng "A" như vừa phát hiện ra điều thú vị lắm. Ánh mắt cô rất sắc:
- Trông anh khác tối qua quá !
Ý chỉ mỉm cười. Cô gái nói một mình nhưng rất to:
- Tại sao tối qua mình lại không nghĩ ra nhỉ ?
Ý không hiểu cô gái muốn nói gì .
Cô gái cũng vừa thu dọn xong quay ra bảo anh
- Anh ngồi chờ em chút xíu.
Rồi cô đi về phía quầy, một lát sau quay ra. Trong quầy hai cô kia cứ nhìn anh cười tủm tỉm. Bây giờ Ý mới thấynét khác nhau giữa họ. Buổi tối họ thật giống nhau.
- Anh có dùng gì không ?
- Không. Cám ơn em.
Khoảng cách giữa họ xích lại, có vẻ thân mật hơn.

Cô gái ngồi xuống đối diện anh, hai tay khoanh trước ngực chờ đợi. Y không biết nên bắt đầu như thế nào, sự bối rối làm khuôn mặt anh ửng đỏ. Dường như hiểu điều đó cô gái giúp anh: 
- Anh quen chị Hà lâu chưa ?
Ý được gỡ bí: 
 - Cũng được hai năm.
 - Tại đây chứ ? 
 - Không. Tại... Bưu điện - Ý lấy lại vẻ tự nhiên bằng câu hài hước. 
  - Và hai người chưa từng gặp nhau? 
 - Đúng thế. 
 - vậy bây giờ anh muốn biết điều gì? 
- Em kể về Hà đi 
- Nhưng về cái gì mới được chứ?
- Về chuyện đi thi chẳng hạn, mà nói chung là những gì em biết. 
 Cô gái tinh nghịch:
 - Nhưng em toàn biết cái xấu thôi - Rồi cô hỏi dồn dập:
- Chả lẽ chị Hà không kể gì với anh ? Mà sao anh có thể tin em ? 
- Tin.
 Cô gái im lặng một lát rồi hạ giọng:
 - Thôi được. - Cô kể giọng đều đều...
Chị Hà làm ở đây đã gần ba năm. Quê chị mãi ngoài Quảng Nam cũng ở ven biển như thế này. Chị học giỏi nhưng nhà nghèo lắm. Bố mẹ nuôi chị học hết phổ thông  đã là cố gắng quá sức, dưới chị còn bốn đứa em nữa. Thi tốt nghiệp được một tháng bố chị Hà gọi chị đến và bảo: "Ba biết con rất muốn học tiếp nhưng nhà mình như thế...Ba đã xin được việc làm cho con, con cố gắng làm vài năm kiếm phút vốn rồi tính sau".

Chị vô đây làm nhờ sự giới thiệu của một người bà con xa, khi đi còn mang theo mấy cuốn sách.

Đấy là em nghe bà chủ kể lại. Ông bà chủ đều là cán bộ tỉnh nghỉ hưu. Cô con gái đã theo chồng sang Pháp. Có lẽ họ muốn giữ lại cái tiệm này cho vui nhà hay vì mọi người đã quá quen với sự tồn tại của nó. Ông bà chủ hiểu  hoàn cảnh và quý chị lắm. Chị sống lặng lẽ nhưng có bản lĩnh. Chúng em ai cũng nể phục. Biết chị có ý định đi thi ông bà chủ đều động viên, ủng hộ. Nghề dạy học vốn là ước mơ từ lâu cửa chị. Từ ngày vào làm đến nay cũng nhiều người muốn kết bạn nhưng chị chỉ cười trừ, thời  gian rảnh chỉ thấy chị đọc sách. Em làm cùng chị thời gian chưa lâu nên cũng không biết nhiều.

Mọi người bảo người yêu chị ở Trường Sa, hai người thư cho nhau nhiều lắm.
Kể đến đó cô ngừng lại nhìn thắng vào mặt Ý rồi buông một câu như vô tình:
- Mà anh ấy có tên nghe hay ghê cơ. Chị ấy bảo lúc đầu chị ghi thư kết bạn cũng vì cái tên ấy.

Cô gái vẫn nhìn vào mắt Ý như muốn thử dây thần kinh anh. Ý lảng tránh, khuôn mặt lại đỏ lên. Cô gái cười khanh khách nhưng vẫn chưa buông tha. Cô đột ngột đổi giọng:
- Chắc anh chưa nhận được lá thư chị Hà gửi hôm đi ?
Ý trả lời như một sự thừa nhận: 
- Chưa. Ngoài đó thư ra chậm lắm.
 Vừa nói anh vừa tự nhủ: "Cô gái này quái quỷ thật".
 Cô gái trở lại giọng nghiêm túc: 
- Em cũng nghe chị Hà nói vậy. À! Mà bữa nay lẽ ra chị ấy vô rồi, nhưng sao chưa thấy?
- Hà về có việc gì nữa không em ?
- Chị ấy về lo chuyển hộ khẩu vô đây để thi. Cũng gấp, còn có ba tháng nữa. ông bà chủ nói cứ ở đây ngày đi học tối về giúp bà phụ bán hàng. 
- Ra thế: Cám ơn em. 
- Anh nói "thế" là thế nào? 
- À! Không.
Cô gái bỗng thay đổi nét mặt, giọng buồn buồn:
- Nghề như tụi em dễ bị hiểu lầm lầm đúng không anh?
- Không ! Không ! Em đừng nghĩ thế.
Ý vội trả lời. Anh định nói thêm điều gì nữa nhưng không sao cất lên được. Từ hôm qua tới giờ anh đã đón  nhận biết bao sự bất ngờ. Anh thấy ân hận vì những ý nghĩ của mình khi trước. Cô gái lại nhìn anh: - Anh không  ngại khi làm bạn với tiếp viên nhà hàng sao ?

Cô nhấn mạnh cụm từ "tiếp viên nhà hàng" giọng pha chút mỉa mai chua chát. Thái độ cô thay đổi quá nhanhkhiến Ý không biết xử trí thế nào cho phải.
- Sao lại ngại. Chẳng có gì xấu nếu việc đó là chân chính - Ý an ủi cô gái nhưng cũng nhận thấy câu nói hơi sáo.

Phía quầy tiếng chuông điện thoại reng reng. Cô gái đứng bên nhấc máy rồi reo toáng lên: "A! Cái Hà nó gọi vô này". Ý và cô gái cùng ngoái đầu lại rồi quay sang nhau. Ánh mắt Ý pha lẫn ngạc nhiên và vui sướng. Cô gái cũng vui vẻ trở lại:
- Đấy mà ! Vừa mới nhắc xong đã thấy ngay. Chắc chị ấy biết có người mong đấy.
Qua một hồi đối thoại cô kia đặt ống nghe, gọi với sang chỗ họ:
- Này Trân ! Cái Hà nó nói chiều nay em đi đón nó đó.
Cô gái còn lại xen vào:
- Nhưng chỉ được đi một mình thôi nghe không!
Mấy cô gái cười giòn tan. Ý cũng cười theo. Vài giọt nắng xuyên tán cây nhảy nhót trên vai áo anh ...

***

Ý tạm biệt Trân và hai cô gái, không quên hẹn năm giờ chiều sẽ quay lại để cùng ra ga. Anh đạp xe hòa vào dòng  người trên phố. Đi được một đoạn khá xa mới nhận ra mình đã nhầm đường, anh bật cười về sự lẩn thẩn ấy  nhưng không quay lại mà dong xe theo đường Trần Phú dọc bãi biển.

Những con sóng ào ạt đuổi nhau liếm vào bờ cát như cử chỉ của một anh chàng si tình tham lam. Mặt biển xanh và êm như ru, Ý nhớ tới sự so sánh của Hà giữa cuộc đời và biển cả.

Bên lề đường cứ một đoạn lại xuất hiện một chồng phao tắm dành cho khách du lịch thuê. Rất nhiều người ngồi ngắm biển, tuy nhiên không phải ai có mặt ở đây cũng đều  là du khách. Anh dừng xe trước quảng trường "Mùng hai tháng Tư "cạnh đài liệt sĩ, ngồi xuống chiếu ghế đá dưới bóng cây. Mấy anh phó nháy  qua lại mời chào. Bây giờ Ý mới nhận thấy sự đông vui náo nhiệt của thành phố biển.

Trên đường về Ý vào hiệu sách mua một cuốn "Danh ngôn tình yêu" nho nhỏ và chọn một bộ tài liệu hướng dẫn ôn thi đại học.


                                                                                                      Tháng 01-2000
                                                                                                              N.X.T
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:14:33 am »


Lê Thành Nghị


TRƯỜNG SA
THÁNG TƯ NĂM 2000

                                                                                                                 Bút ký


Hà Nội cuối tháng ba, mây mù hệt như một thứ kem sữa, ai đã pha loãng và đem phun thành những hạt bụi trắng li ti lên khắp phố phường, cây lá, mặt hồ, trên cả ban công nơi những cánh cửa sổ còn khép kín, vì gió lạnh. Cả tháng không nhìn thấy mặt trời. Cả tháng quần áo, chăn màn luôn đẫm hơi nước. Cả tháng nền nhà luôn ướt rượt... Nhưng vừa tạm biệt Hà Nội mây mù chỉ một giờ bay, và chỉ một ngày sau đó, khi con tàu HQ-996 đang băng băng với tốc độ tối đa nhằm thẳng quần đảo Trường  Sa, nhằm thẳng hướng đông, đã thấy không gian loáng bạc trước mũi tàu, thứ ánh sáng trực tiếp của mặt trời cộng với sự phản chiếu của mặt biển và sóng trắng. Tất cả dào dạt, huy hoàng, tráng lệ và chói lòa trước một không gian vô tận .

Bây giờ thì bạn, và cả con tàu khổng lồ của bạn, chỉ nhỏ như một chiếc cúc áo, động đậy như không hề chuyển động trước một đại dương xanh bát ngát đến mỏi tầm nhìn, và dưới một mặt trời đưa tay với được - một mặt trời hầu như chỉ biết có mỗi một việc là chiếu sáng và thiêu đốt.

18h 30 chiều hôm qua, khi tiếng xích sắt neo tàu và ba hồi còi vang động trên mặt biển, mọi người đổ lên boong  vẫy chào đất liền. Đất liền! Là gì mà Critxtốp Côlômbô lênh đênh mấy nghìn ngày trên biển, mỏi mắt với chân trời đã gào lên khi nhìn thấy nó. Đất liền! Là gì mà cô gái - ngôi sao biển kia vừa chỉ rời bến mấy chục sải nước, đã  không thể kìm nổi những giọt nước mắt của mình ... ? Rồi chắc chắn chúng ta còn trở lại với hai tiếng "đất liền" trong chuyến hành trình này.

Ngày hôm sau thì sóng to. Những đợt gió mùa muộn màng, đã làm mặt biển nổi giận, sóng cồn lên và tàu chồm lên. Cốc chén trên bàn lúc đầu rung lên nhè nhẹ, về sau hết dạt bên này lại cả loạt xô về bên kia. Bữa cơm trưa  trong câu lạc bộ thủy thủ, có mấy mâm không có người ngồi. Đoàn trưởng, đoàn phó thấy tình hình có vẻ hơi trầm,  liền đến tận từng khoang tàu động viên. Lát sau đã thấy hô vang trong nhà ăn: "Một, hai, ba ! Zô ! Zô ! Zô !". Một sĩ  quan trẻ, nói: "Thà say rượu chứ nhất định không chịu say sóng". Lại nói: Muốn không say sóng thì hãy say rượu trước đi !" Đoàn phó, đại tá Nguyễn Văn Tình, nguyên là một chiến sĩ đặc công nước, có thể bơi cả ngày trên biển, có  thể lặn bộ sâu 7,8 thước nước, nâng cốc rượu lên ngangmày: "Chúc cho chuyến đi sóng yên biển lặng. Mà nếu sóng không yên, biển không lặng thì chúng ta sẽ đè sóng xuống mà đi. Trường Sa đang chờ chúng ta! Nào! Các bạn. Zô!Zô! Zô ..."

Thế là tan hết mọi váng vất vì sóng biển.

***

 Con gái anh bạn tôi không biết đã đọc Những mẩu chuyện nước Ý của Macxim Goocki từ bao giờ, liền bắt chước cô bé trong cuốn sách, đưa cho anh một gói quà nhỏ xíu gói bọc rất cẩn thận, tiễn bố ra xe và dặn: "Bố hãy trao cho một người nào đó mà bố gặp đầu tiên (nhớ là gặp đầu tiên) trên Trường Sa". Người đầu tiên anh gặp trên hòn đảo đầu tiên,  đảo Song Tử Tây, không ai khác là một chàng trai trẻ, mặc  quân phục lính biển. Anh chàng có mái tóc như nhuộm gôm  nâu, da đen cháy và nụ cười lóa nằng. Bạn tôi kéo người lính trẻ đến gốc bàng vuông. Những cây bàng mùa này xanh mướt lá, lác đác lấp ló những nụ hoa trắng như hoa sở, và lủng lẳng buông treo những chùm quả, ngang tầm tay.
- Này cháu, cháu tên gì ? - Dạ cháu tên là Minh ạ.
- Minh có quà đây.
- Chú vừa ghé qua nhà mẹ cháu phải không ạ ?
- À ! Không ... 
Bạn tôi trao cho người lính trẻ gói quà nhỏ và biết rằng anh chàng đang nhớ mẹ. Rõ ràng là một anh chàng chưa có người yêu để nhớ, vì thế nếu nhận được một điều gì đó tử đất liền là anh nghĩ ngay điều gì đó chỉ có thể đến từ tay mẹ.
- Cám ơn chú nhiều ! Rồi anh chạy về phía căn nhà của phân đội.

Bấy giờ chúng tôi mới có dịp quan sát. Gà, vịt, ngan, ngỗng kêu quàng quạc, chạy tóa lóa vì bỗng nhiên đảo có nhiều khách lạ. Riêng những chú chó thì cho dù ở góc bể chân trời nào cũng khó mà thay đổi tính nết: hễ gặp mộtngười nào đó mặc quân phục, thế là rối rít vẫy đuôi mừng,hệt như mừng chủ nhà đi xa về. Trước đó, thấy tàu đến, chúng lặng lẽ ra ngồi trên những phiến đá nhìn ra hệt như những pho tượng Spanh trên bờ biển Ai Cập cổ đại. Lác đác dưới những cây phong ba là những chú lợn đang ủi đất tìm ăn. Một người trong đoàn liền nghĩ ngay đến những cô lợn nái trong Đảo chìm mà Trần Đăng Khoa kể. Những cô lợn, lính ta đặt cho cái tên vừa mỹ miều, vừa kiêu sa là Oantanamêla mà Trần Đăng Khoa hết sức thích thú. Và kia là mấy chú bò mộng đang ung dung gặm cỏ, mải mênhư trên đời này chúng chỉ biết có cỏ, ngoài ra không cógì quan trọng hết. Mùa này, cũng chỉ độ vài ba tháng, cỏ lên xanh um trên đảo. Các chú bò béo mượt. "Thế còn mùa đông?". Ai đó hỏi các chiến sĩ hải quân. “Mùa đông, gió mặn làm cỏ chết hết. Chúng gầy trơ xương. Thương lắm.Chúng ăn bất cứ thứ gì vớ được, có khi là giấy báo, có khi là bao tải và khoái khẩu nhất là... quần áo lính. Có lẽ nó nhận ra mùi mồ hôi lính chú ạ". "Ừ! Quần áo suy cho cùng cũng bắt nguồn từ thực vật, từ cây bông phải không cháu? Giống như có đoàn thủy thủ Nga chìm tàu, lênh đênh lâu ngày trên biển, phải luộc cả giày lên để... ăn, và suy cho cùng giày da cũng có nguồn gốc từ động vật ăn được!". "Nhưng mà vừa nhai, chúng vừa giàn nước mắt chú ơi!”.
Anh lính nói đến đó liền quay đi, im lặng.

Tôi nghĩ, trên quần đảo bão tố, giữa muôn trùng xa cách, hình như mọi cơ thể đều phải ráng sức, gồng mìnhlên, và vì vậy rất dễ nhận ra cải rắn rỏi, quyết liệt bên ngoài, cũng như cái mỏng manh dễ bị tổn thương bên trong của từng cơ thể sống. Cứ nhìn những cây phong ba, những cây bàng vuông thì biết. Bao nhiêu cơn bão, bao nhiêu sóng thần quăng lên, quật xuống, xô dạt, bẻ quẹo, đè bẹp, xé nát ... để lại chứng tích tưởng đến tàn phế, biến dạng trên từng cành cây, ngọn lá ! Vậy mà chúng vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt", lại còn thỉnh thoảng trổ một nụ hoa trắng xinh. Quả là lãng mạn ngay trong giông bão.

Nắng tràn trên mặt đảo. Nắng và gió mặn ràn rạt làm bỏng rát không phải chỉ bên ngoài, mà sâu vài ly trong làn da, đến mức không phải chỉ cảm thấy nóng, mà còn cảm thấy xót và buốt nhất là với những ai lần đầu ra đảo. Bởi vì mặt trời thì nung, và gió mặn thì chan và bào ! Mới ra đảo vài hôm, da đã bắt nắng đen loang lổ, màu da của một thứ đồ gốm nung không đều lửa. Còn những anh chàng lính thuỷ ở lâu trên đảo thì đen cháy. Nếu vẽ anh, chỉ cần ba màu, màu xanh của áo, trắng của nụ cười và đen củada... Nhưng mùa nắng, là mùa thích nhất, vì biển lặng, cóthể . ra bãi cát lượm những cành san hô nhỏ, trắng ngà hoặc đỏ tím, mà sóng đưa lên từ tối qua; có thể mang bóngra tận bãi cát cuối đảo chơi đến khi mặt trời xuống biển. Và khi mặt trời đội biển nhô lên là tiếng gà vang từ đầu đảo đến cuối đảo, sau đó là tiếng ngan, ngỗng, lợn, bò đòi ăn cùng lúc vang lên. Hệt như buổi sáng sớm ở đất liền. Và vì vậy đỡ nhớ đất liền. Anh bạn, phóng viên của báo  Tin tức, chứng kiến cảnh đó liền triết lý: Đấy chính là những âm thanh làm định hình đất nước!

Mùa nắng cũng là mùa lính đảo có thể trồng rau để cải thiện. Rau ử đảo là cả một vấn đề thường được giải quyết ở những cuộc họp quan trọng của lính đảo. Rau được trồng khắp nơi, trong những chiếc nồi quân dụng bỏ đi, trong  những chiếc mũ sắt, hộp kẹo hỏng, trong những chiếc  máng gỗ mang ra từ đất liền. Hái rau được xem là hành vi tỉa cây cảnh và chỉ có thể đối xử với rau xanh như một  thứ cây canh quý giá ở Trường Sa. Hôm ở đảo chìm Lan Đao, ngồi quây quần giữa ác chiến sĩ hải quân, có người hỏi:"Nếu được ao ước điều gì lúc này đồng chí sẽ ước điều gì ?"."Một bữa thỏa thuê rau, bất cứ đó là rau gì. Rau muống luộc, nước dầm sấu... thì trên cả tuyệt vời!”. Bạn thấy không, đã xa một trăm tám mươi độ với bạn, - nếu trong một bữa tiệc phòng lạnh nào đó trên đất liền, bạn cầm Menu "đi chợ" đấy !

Mùa nắng là mùa đầy hồi hộp. Trời trong veo, tịnh không một gợn mây. Biển thanh sạch thở hào hễn mấp mé  tận doi cát. Đang luyện tập trong chiến hào, đang tăng gia sản xuất, đang ngồi tiếp chuyện mấy chú nhà báo ngay cạnh bể nước to, trên thành bể có hai chữ viết bằng sơn đỏ Máu Đấy (sơn nhễu xuống hệt như máu khô) bỗng dưng, toàn đảo náo động cả lên. Lúc đầu là những bước chân chạy, sau đó là loảng xoảng những máng tôn, xoong, chậu va nhau. Chỉ một 'loáng, tất cả những máng to, máng nhỏ, nồi to, chậu nhỏ, ngửa mặt lên trời, há hốc chờ mưa. "Mưa đi! Mưa đi, chúng tôi chờ mưa!...". Nhưng chỉ là mưa bóng mây, lắc thắc vài giọt rồi thôi. Những giọt mưa hiếm hoi gõ lanh canh xuống máng tôn, bốc khói, khô ngay trong tích tắc, và không gian vì vậy càng trở nên bức bối. "Chả bù cho cách đây một tuần, anh lính kể, lúc đầu cũng lắc thắc như vậy, sau đó gió nổi lên, nước ập xuống, tất cả mù mịt, òa vỡ, lụt ngập, giập nát. Nước từ mái tôn ào ào trút xuống, chảy như vỡ cống vào các bể ngầm, lan tràn ra biển. Đi cách nhau vài mét cũng không nhìn thấy nhau. Tất cả như bị chìm vào cơn cuồng nộ man dại của chàng Thủy Tinh si tình, giận cá chém thớt!".
 
Mùa nắng cũng là mùa ngóng những chuyến tàu ra. Chao ôi! Những chuyến tàu còn vượt xa khuôn khổ của những - chuyến - tàu. Đó là cả đất liền. Đó là những lá  thư của mẹ, của người thân. Đó là tấm lòng bao la như biển cả của đất liền. Một hồi còi vang động trên mặt biển  dội vào đảo. Những bóng người túa ra trên bãi cát. Ở trên  tàu một tốp người sốt ruột trèo lên boong gọi to, hệt như người ta hú nhau khi lạc rừng. Còn xa lắm, chỉ nhìn thấy mà không nghe thấy. Bỗng dưng ai cũng trào nước mắt! Một phần đất đai của Tổ quốc đã hiện ra kia, mỗi lúc một gần, một phần xương thịt của đồng bào mình - những chiến sĩ hải đảo vừa thấy bóng dáng con tàu đã vội ùa ra chờ đón kia. Những thủy thủ của con tàu vội vã, lập cập hạ xuồng, họ hiểu sự sốt ruột của ke ở trên tàu và người chờ trên đảo. Vì vậy những thao tác trở nên thoăn thoắt,  thuần thục, cốt sao mau chóng đưa đất liền cập vào đảo.

Và khoảnh khắc gặp gỡ, có thể nói đó là những đợt sóng xô từ biển. Sau phút nghi lễ nghiêm trang đón đoàn quân sự cấp cao ra làm việc và thăm đảo, là sự phá vỡ mọi luật lệ, mọi người ôm chầm lấy nhau: Vui mừng và nước mắt. Người ta quên ngay con tàu ngoài xa. Chủ nhà lôi kéobằng được khách đến thăm "nhà" của mình, rồi hỏi han đủ điều về đất liền, chỉ sợ mấy năm đi xa như anh chàng Từ Thức, lúc trở về quê hương không nhận ra đường đi, lối lại. Chuyện không đâu và rất dễ bị bỏ qua trên đất liền, nhưng còn rất lâu trong nỗi nhớ của những người lính đảo.

Con tàu mang ra đảo tất cả những gì có thể mang được. Trong đoàn còn có cả đại biểu của thanh niên, phụ nữ,  các cơ quan đoàn thể, văn công, các nhà văn, nhà báo. Phút gặp gỡ ồn ào một lúc, mừng mừng tủi tủi một lát, và, khi công việc đã tạm xong, đến phút chia tay. Một khoảng trống mênh mông hơn cả mặt biển đã hiển hiện trên gương mặt những người ở lại. Hôm ở đảo Đá Nam, cuộc chia tay bịn rịn, dùng dằng kéo dài mãi. Xuồng vừa quay mũi, mấy chiến sĩ nhào xuống biển bơi theo. Con xuồng dùng dằng vòng đi vòng lại một lúc rồi đành phảira đi. Tôi không biết là các anh sẽ bơi theo xuồng như thế đến bao giờ.

Có lần tôi hỏi một hạ sĩ trên nhà giàn DK1. Anh nói: "Buồn nhất là lúc tàu nhổ neo!". Trở lại tàu sau một hồi còi trầm nặng, tôi vội trèo lên buồng lái, nhờ ống nhòm của thiếu tá thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Thành hướng vào đảo. Cả mấy anh em nhà giàn, xếp hàng một trên lan can ở lưng chừng trời đứng nhìn theo tàu đi, nhìn mãi cho đến khi họ chỉ còn là những chấm nhỏ bất động, cho tới lúc cả mắt tôi và cả chiếc ống nhòm cự ly xa của thuyền trưởng Thành đều hoàn toàn trở nên bất lực. Họ sẽ đứng như thế đến bao giờ ?...

Ở đảo Song Tử Tây hôm đó sóng to khác thường. Chỉ  huy vùng 4 Lê Công Vi hạ lệnh cho tàu nhổ neo chuyển  về phía sau đảo để tránh sóng. Khoảng thời gian chờ tàu di chuyển không ngờ lại hết sức có ý nghĩa đối với anh bạn tôi. Số là chàng trai trẻ đầu tiên anh gặp trên quần đảo Trường Sa mà anh đã chuyển tới gói quà nhỏ xíu của  con gái anh, bỗng dưng hiện ra trước mặt. Không thể quên được cái dáng vóc anh, với mái tóc - gôm - nâu, nước da  đen cháy và nụ cười lóa nắng: "Chú ạ ! Hãy chuyển dùm  chúng cháu bức ảnh của phân đội, cả thư và địa chỉ bọn cháu cho các bạn nữ lớp 11c trường PTTH Thăng Long -Hà Nội ! Hôm qua trong hộp quà chú chuyển cho chúngcháu, nhóm nữ "tứ quái” 11c gồm... đã gửi chúng cháu nào kẹo cao su, dao cạo râu, tem thư và đề nghị phân đội cháu kết nghĩa. Toàn phân đội đồng ý và đây là ảnh chúng cháu!". À! Ra thế, từ những cô học trò nhỏ xíu, xanh gầy, mảnh mai tận Hà Nội mây mù kia đến những chàng trai nắng gió này, trái tim họ đang đập cùng một nhịp. Và anh bạn tôi hiểu, Trường Sa đã ở trong trái tim cả nước. 

Liếc nhìn bức ảnh, tôi nhận ra một số gương mặt quen trong phân đội cơ động hôm qua vừa gặp trong công sự. Bức ảnh mới chụp, nước ảnh còn sáng, những nụ cười rạng rỡ trên những khuôn mặt rắn rỏi và góc cạnh. Từ những  gương mặt này có thể bất chợt nghĩ tới sự gân guốc của những cành phong ba hoặc cái góc cạnh của chùm bàng vuông, thủng thẳng buông xuống từ cành cao, mà sóng gió dù quăng quật đến đâu, vẫn nguyên vẹn là thứ quả duynhất gan lỳ trên quần đảo bão tố. Có điều khác lạ ở đảo:  gương mặt người cũng như hình dáng cây thì rắn rỏi, góc cạnh ra, còn những hòn đá thì bị sóng mài đi mài. lại, gió gọt đi gọt lại ... đến nhẵn tròn. Rất có thể trước đây đá cũng góc cạnh, gân guốc, nhưng thời gian đã làm đá không thể khác. Những chàng trai trẻ trong ảnh thuộc phân đội án ngư hướng chính của hỏa lực. Họ hầu như thành thạo tất cả vũ khí họ có trên đảo. Hôm qua, lúc chứng kiến họ  triển khai phương án chống đổ bộ lên đảo, nhìn những tấm bia nửa người, cắm từ ngoài xa mấp mé mặt nước, hệt như những tên cướp biển, chỉ chốc lát sẽ bị những loạt đạn mạnh mẽ làm cho tan xác, tôi hiểu hòn đảo đã trở nên bất khả xâm phạm với những gương mặt "quả bàng vuông" góc cạnh và gan lỳ này!

"Ừ, chú sẽ chuyển thư và ảnh về lớp 11c và chắc chắn các cháu sẽ nhận được ảnh vả thư của họ trong chuyến tàu sau”. Còn cái này tặng nhóm "tứ quái" nữa!. Nhìn thấy xuồng đã cập bến, người lính trẻ dúi vào tay bạn tôi  một cành san hô đỏ tím, và một quả bàng vuông. Anh bạn đón nhận, hứa sẽ chuyển rồi bắt tay tạm biệt và vừa đi vừa nghĩ miên man đến món quà nhỏ gửi  về đất liền. Họ  thật mơ mộng và họ thật rắn rỏi ! 
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2009, 08:28:00 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #4 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:17:50 am »


Đảo Nam Yết là một trong những hòn đảo xinh đẹp nhất trên biển Đông. Nếu như đảo Sơn Ca hệt như một nàng công chúa thắt lưng xanh, ngủ quên trên tấm nhung xanh của biển, thì Nam Yết mang vóc dáng của một công viên giữa biển khơi. Một con đường láng xi măng, có vỉa hè sạch bóng chạy ngang xuyên qua đảo, giữa những bóng cây cổ thụ xanh rợp. Những hàng dừa ngả nghiêng, lúc lỉu quảNhững khóm hoa mười giờ đỏ rực trên những tham cỏ xanh non... Tất cả đều tinh tươm, gọn ghẽ, chứng tỏ chủ nhân là những nhà sinh thái có kinh nghiệm. Ngay giữa trung tâm đảo là một gốc bàng vuông có lẽ đã có từ  xưa lắm. Cây chính đã mất từ lâu để lại gốc, và từ đó mấy chục cây phụ hậu sinh mọc chen chúc nhau làm thành một "đại gia đình" bàng, bóng rợp cả một vùng. Những gốc cây cổ thụ này có thể được cha ông chúng ta trồng từ hồi hậu Lê, hoặc từ thời nhà Nguyễn khi các cụ chèo thuyền, chèomảng ra đây đánh cá. Bởi vì, vị trí của những gốc cổ thụ này được sắp xếp rất có ý, và cho dù thời gian biến thiên, bão tố xê dời, mà cây mọc vẫn khá hàng lối.

Cuối hòn đảo là phân đội thông tin. Nghe giọng nói trọ trẹ, tôi biết ngay người lính trẻ quê ở miền Trung. Anh là  Trần Hưu Dũng. Lúc nãy hình như tôi gặp anh ở gốc bàng  cổ thụ, bên cạnh cô văn công mặc áo dài đỏ, ngôi sao biển,  mà tôi sẽ nói dưới đây. Hình như lúc đó anh muốn chụp ảnh với cô văn công áo dài đỏ, nhưng nghĩ thế nào đó lại thôi. Cử chỉ ấy kích thích trí tò mò của tôi, và tôi lặng lẽ theo dõi anh. Chính vì thế, khi anh vừa bước vào căn nhà của phân đội thông tin, thì liền sau đó tôi cũng có mặt. Biết có khách lạ, cả phân đội thông tin đang dở dang công việc liền tạm bỏ đó, chạy về. Một lúc đã thấy bảy tám gương mặt, những Trần Hữu Dũng, Mai Huy Điệp, Trần Văn Đông, Chu Đình Dũng, Vũ Hoàng Phong, Phan Bá Dũng, v.v ... tíu tít, bận rộn, pha nước, kéo ghế rồi quây quần bên chiếc bàn nhỏ, rôm rả cười nói, không hề có một khoảng cách giữa khách và chủ. Anh chàng ngồi cuối ghế là Trần Hữu Dũng. Một khuôn mặt có những đường nét thật nhẹ, khác hẳn với những anh lính khác trên quần đảo Trường Sa. Dũng học hết lớp 12 thì ra đảo. Mai Huy Điệp,  phân đội trưởng, quê Thanh Hóa cho biết: "Hắn đang mong thư chị Chung, thấy tàu ra nên cứ thẩn tha chờ đợi!". Cả phân đội cười vang, còn tôi thì không hiểu lý do gì đã khiến họ cười. Điệp. kể: "Hân có người yêu đang làm ở tổng đài thông tin Nha Trang. Yêu nhau qua điện thoại. Hò hẹn, mong nhớ, thề thốt cũng trên điện thoại. Đến khi gặp nhau Dũng hơi bị choáng vì Chung xinh quá, lại hơn Dũng một tuổi. Thế là mặc cảm. Nhưng Chung quyết yêu Dũng, nhất là từ khi Dũng ra Trường Sa. Chung quê ở miền Trung. Những  cô gái miền Trung đã nói chờ, là chờ đến mòn cả đá. Nhưng hắn vẫn mặc cảm!". À, tôi bỗng hiểu vì sao đồng đội lại phá lên cười khi biết Dũng đang thắc thỏm chờ ... thư "chị Chung", và vì sao Dũng lại không muốn chụp ảnh với cô văn công áo đó ở gốc bàng. Điệp nói đến đấy thì vào phòng  trong lấy ra hai bức thư đã nhàu nát, đưa cho tôi:. .Thư "chị Chung" gửi Dũng, nhưng cả phân đội nói đại là thư chung và tất cả đều thuộc, nhưng cuối cùng giao cho phân đội trưởng Điệp quản. Quả là, không thể giấu nhau điều gì ở đảo. Thư viết: "Nha Trang ngày 03-12-99... Biển, đảo và con tàu đã trở thành ruột thịt với anh và những người lính thủy quân khác phải không anh? Những lúc không gặp và không được nói chuyện cùng anh, Chung cảm thấy tâm trạng mất mát và buồn tẻ vô cùng!".  "Nha Trang ngày 13-12-99...Em  muốn lang thang ra bãi biển để ngắm những làn sóng và những con tàu. Chung luôn luôn nghĩ rằng anh sẽ là con tàu còn em là những làn sóng biển ...".

Nét chữ cứng cáp, diễn đạt ý tứ, tâm hồn trong trẻo và  thư sau mạnh mẽ hơn thư trước. Chàng lính trẻ thông tin trên đảo đã ở trong "tầm ngắm" của cô gái tổng đài. 

Nhưng vì sao người chiến sĩ thông tin ấy lại không muốn chụp ảnh cùng cô văn công áo dài đỏ nhỉ?

Đêm qua, lúc văn công biểu diễn, thì đúng phiên gác của anh. Đó là một đêm trăng sáng. Sân khấu dựng giữa trời. Lính ngồi ngay trên thảm cỏ xem biểu diễn. Ánh đèn pha hắt từ phía trước, làm cô gái phải hơi ngẩng cao, và lập tức cô nhận ra ngoài vọng gác một anh lính hải quân  ôm súng đang lặng lẽ bám theo mặt biển, làm nhiệm vụ  canh giữ đảo. Bóng anh và bóng khẩu súng nhô lên giữa một nền trời chi chít những ngôi sao. Vì công việc, anh không thể vào tham gia đêm giao lưu văn nghệ, mặc dù anh đã chờ đợi hàng năm trời. Điều đó đã làn cô gái trắc ẩn. Cô gọi to ra “ Anh có nghe được em hát hôông?!". Rồi cô hát thật to, như chỉ hát cho một mình anh lính ngoài vọng gác nghe.

Bài hát có tên là Sao biển của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, người đang hát là ca sĩ Thanh Thúy - cô gái mảnh dẻ, có đôi mắt sáng và mái "tóc - Võ Thị Sáu" ( chính cô đã sắm vai Võ Thị Sáu trong phim Người con gái đất đỏ của đạo diễn Lê Dân). Giọng ca vang dội khắp hòn đảo làm  tất cả như nín thở, kể cả có cây, hoa lá, kể cả gió và sóng biển ngoài xa:

Sao biển
Sao thương ai mà sao chẳng nói
Sao nhớ ai mà sao chẳng nói
Hãy  nói đi. Hãy nói đi
Một lời nồng nàn!


Một khoảnh khắc đặc biệt của người nghệ sĩ đã mách bảo trái tim cô, và ngay lúc đó, trước  mặt cô, không còn là bãi cỏ, không cỏn là ánh điện, không còn là mặt nước.

chỉ còn là ngôi sao biển sáng lung linh ngoài vọng gác! Tôi để ý nền trời đêm ấy: Vô vàn những ngôi sao đanglấp lánh một thứ ánh sáng của hạnh phúc. Và trên sân cỏ, trong những cặp mắt của những người lính đảo đang mở to kia, cũng có vô vàn những ngôi sao, kể cả ngôi sao biển mặc áo dài đỏ quyến rũ, đang hát như thôi miên họ. "Sao biển, hát lại đi! Sao biển, hát tiếp đi!". Những người lính trẻ nồng nhiệt gọi tên bài hát hay gọi tên cô gái?

Có thể giải thích rằng, anh lính trẻ không muốn chụp ảnh chung với cô gái áo dài đỏ này, vì anh sợ có thể không giữ được tình yêu của mình với người con gái ở tổng đài thông tin Nha Trang mà anh đang thắc thỏm chờ thư chăng?

***

Buổi sớm, mặt biển tĩnh lặng khác thường. Con tàu từ đảo Lan Đao đi Cô Lin có gì đó cũng rất khác thường. Mọi hôm cứ khoảng 4 giờ sáng là tiếng trợ lý tác chiến vang lên: báo thức toàn tàu ! Toàn tàu báo thức. Hôm nay thì không. Hôm nay, từ rất sớm, ai nấy đều lặng lẽ thức dậy, ăn mặc chỉnh tề lên boong, nhìn xuống biển. Biển muôn đời vẫn thế, sâu thẳm, huyền bí, và khỏa lấp biết bao điều bí ẩn trong lòng biển. Một vòng hoa trắng nghi ngút khói hương. Một đĩa trái cây mang từ đất mẹ còn tươi nguyên. Nhưng cây nến cháy lung linh soi bóng xuống làn nước chảy nhẹ, in rõ những đám mây trắng, lang thang không biết đã tụ tập về đây từ bao giờ. Một cánh hải âu mềm mại, trắng muốt đang vẫy ngoài xa... Con tảu tắt máy chầm chậm đi như trôi... Tất cả trở nên lặng lẽ, khẽ khàng. Đólà phút tưởng niệm 64 anh hùng liệt sĩ Trường Sa, đã mãi mãi đi vào lòng đại dương, cách đây tròn 12 năm, trong buổi sáng nghiệt ngã 14-3-1988. Đâu đây, từ sâu thẳm trong làn nước xanh đen kia, từ sâu thẳm dưới thủy cung âm u kia, vọng về lời nói của liệt sĩ anh hùng Trần Văn Phương: "Không được lùi bước. Hãy lấy máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc". Hôm ấy, anh tiến lên ôm hôn lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trên đảo, và một loạt súng đê hèn của đối phương đã bắn anh từ sau lưng... Vòng hoa từ từ hạ xuống, quẩn  quanh nơi thân tàu một lúc rồi trôi đi, mang theo những  ngọn nến cháy. Những cánh hoa nhỏ xíu, trắng muốt vừa  kịp gửi xuống cũng đang trôi miên man về phía chân trời. Một đàn cá chuồn không biết theo tàu từ bao giờ, cũng  nhất loạt bay lên ràn rạt, để lại những vòng sóng to dần, to dần rồi biến mất trên mặt biển. Biển trở lại khép kín, sâu thẳm, huyền bí, như lỉnh cảm được những giọt nước mắt rơi xuống làm biển thêm mặn. Và chính phút ấy biển trở nên mênh mang buồn không biết chia sớt cho ai!

***

Người chiến sĩ trên quần đảo bão tố, sống cách biệt với đất liền, là hình ảnh choán hết tâm trí của những cô gái  trẻ, văn công Quân khu VII dọc suốt cuộc hành trình. Các cô hình như sẵn sàng làm tất cả những gì có thể làm để giúp đỡ họ trong những lần gặp gỡ vội vàng. Vừa đặt chân   lên đảo Sơn Ca, đã thấy mấy cô vừa ngồi vá áo cho mấy anh lính hải quân, vừa đặn dò tỉ mỉ như những người chị xa những đứa em. trai lâu ngày. Đến đảo chìm Cô Lin, mọi người vừa lên tầng hai ngắm nhưng vuông rau cải mọc xanh tốt ngoài ban công, đã thấy nghệ sĩ múa Thanh Hương đang hí hoáy thái rau làm cơm giúp mấy anh lính trẻ: Những thùng trái cây mang từ đất liền, các cô dành  dụm chia mỗi đảo một ít. "Em thật kinh ngạc khi biết các  anh ấy quanh năm, suốt tháng chỉ quanh quẩn trên hòn  đảo vài chục mét vuông kia, mặc dù em cũng đã từng đọc sách báo viết về điều đó. Còn chúng em, chưa hết cuộc đi Trường Sa, đã phải nghĩ đến chuyến đi biểu diễn ở Tây Ninh liền ngay à !". "Từ đây nghĩ về đất liền, em thấy có  những chiều ở thành phố, ngồi một mình trong quán cà  phê ruột ở Hồ Con Rùa thật trở nên lạc lõng quá chừng!”.  Cô gái bỗng vỡ ra một điều những buồn vui của cô, cả  tiếng hát của cô, căn nhà ba má và thành phố huyên náo của cô, cả một dải đất liền bình yên trong kia ... đã gắn bó máu thịt biết bao với những người lính trên những hòn đảo nhỏ này. Hôm nhìn thấy người lính thuỷ ngoài vọng gác phải làm nhiệm vụ, không được nghe hát, cô đã cảmthấy rất cụ thể về sự hy sinh của họ. Khi cần họ có thể"lấy máu mình để tô thắm lá cờ cua Tổ quốc" như thiếu úy anh hùng liệt sĩ Trần Văn Phương và đồng đội, và cũng những người chiến sĩ ấy vì công việc lại có thể hy sinh một buổi giao... lưu văn nghệ mong chờ hàng năm trời ! Cô gái đã lặng đi hàng giờ trong sự lay động sâu xa của những  ý nghĩ vừa đến rồi đi, hệt như những làn sóng biểnvỗ miên man vào chân đảo nhỏ.

Thiếu tướng Phùng Khắc Đăng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, trưởng đoàn công tác cũng đã lặng đi vì thương cảm khi ông bám thang dây leo lên nhà giàn cao chót vót sục vào tận kho bếp, vốc ra một nam gạo trong thùng gạo lính ăn hàng ngày, bị mốc và mọt. Có lẽ đó là điều duy nhất ông không bằng lòng, làm ông day dứt suốt chuyến đi. "Giá như không có chuyện đó thì chúng  ta yên tâm biết bao!". Đã bao nhiêu năm trong chiến tranh, cầm quân ở núi rừng Tây Nguyên, rồi chiến trường Khu V, trải  qua những mùa mưa rừng đói quay, đói quắt.... ông hiểu nhưng ao ước giản dị nhất của người lính. Chuyến đi này đối với ông cũng là một điều đặc biệt. Giữa tháng  4-1975, đang cùng với đơn vị truy quét kẻ thù dọc theo vùng biển  miền Trung, ông được lệnh xuống quân cảng, chỉ huy một mui nhọn vượt biển ra giải phóng Trường Sa. Tàu sắp nhổ neo, lại có lệnh lên bờ, trở về chiến trường cũ, tiêu diệt  những tàn quân nguỵ còn sót lại trong rừng sâu. Và đúng  hôm nay, chuyến đi tới Trường Sa, tưởng bắt đầu từ 25   năm trước, mới được thực hiện. Chỉ vài hôm, sau khi lên  đảo, xuống tàu da dẻ ông đã bắt nắng đen sạm. Nhưng  ông rất vui khi thấy bộ đội khỏe, lạc quan và đầy quyết  tâm trong tập luyện, trong việc bảo vệ vững chắc quần đảo. Hôm ông điều khiến một buổi sinh hoạt dân chủ trên đảo  Sinh Tồn, ông hài lòng khi thấy các chiến sĩ binh nhất,  binh nhì, ai cũng thuộc 10 lời thề danh dự của người chiến  sĩ, ai cũng nắm vững những quy định của người lính trên  đáo, ai cũng có thể sử dụng thành thạo tất ca các trang bị  kỹ thuật. Thế còn khi hỏi đồng chí có nhớ phụ cấp hàng  tháng cua đồng chí được bao nhiêu không?" Không ai nhớ. Không ai trả lời chính xác. Ông phê bình nhẹ các chiến sĩ,  nhưng sau đó ông nói riêng với cánh nhà báo: Chiến sĩ  chúng ta như vậy đấy. Lạc quan ngay cả trong tình huống gian khố nhất. Nắm vững mọi nhiệm vụ của mình, và không mấy quan tâm đến những gì dành cho họ". Và điều đó làm ông thêm tin tưởng ở những người lính trẻ.
 
Trường Sa, ngổn ngang biết bao điều. Một vùng đất đai đặc biệt cua Tổ quốc, nắng gió, bão táp và gian khổ, một phần máu thịt của đồng bào vẫn đang ngày đêm chong mắt canh giữ cho làng xóm, phố phường bình yên trong ánh nắng hòa bình của tháng tư  năm hai nghìn này.


                                                                             Trường Sa - Hà Nội, cuối tháng 4-2000
                                                                                                    L.T.N
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2009, 08:29:51 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #5 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:20:52 am »


Phạm Đình Ân


NHÀ BÁO ĐẾN TRƯỜNG SA


                                                                                                                  Bút ký

Trường Sa đã quen thuộc đối với nhiều người ở đất liền. Hai mươi hai năm qua, hàng trăm lượt tàu của Bộ Tư  lệnh Hải quân đã đưa nhiều nghìn lượt người ra Trường Sa. Cán bộ ngoài quân đội làm việc ở các ban, ngành khác nhau, được tổ chức thành đoàn, đã ra Trường Sa khảo sát, nghiên cứu, nhằm góp phần giảm bớt khó khăn cho bộ đội,  nâng cao hiệu quả công tác huấn luyện sản sàng chiến đấu,  bảo vệ một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Giới nhà báo, giới văn nghệ sĩ đến Trường Sa khá sớm Trước hết phai kể đến những phóng viên quân đội, phóng viên các tờ báo hàng ngày, các cơ quan thông tin quan trọng: Quân đội nhàn dân, Nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam v.v... Cách nay mười mấy năm, nghệ sĩ nhiếp ảnh Băng Sâm có nhiều ảnh đẹp" về Trường Sa khiến nhiều người ở đất liền vô cùng ngỡ ngàng, xúc động. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Lê Đức Do, sĩ quan hải quân, mười lần đến Trường Sa, chụp hàng nghìn kiểu ảnh. Nhà thơ quân đội Trần Đăng Khoa đến Trường Sa sớm hơn nhiều bạn đồng nghiệp, anh ở lại lâu, có chùm thơ  đoạt giải cao trong một cuộc thi. Những năm  gần đây, cán bộ, chiến sĩ Trường Sa cũng đã được đón tiếp các nhà văn quân đội. Nguyễn Thị Như Trang, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai.  Các nhà báo Hồng Vinh, Phạm Đạo báo Nhân dân, Kim Cúc Đài Tiếng nói Việt Nam, Trần Bình Minh, Thu Uyên Đài Truyền hình Việt Nam,  Lê Quang Vinh báo Lao động, Phạm Thu Thủy báo Tuần Tin tức, cùng các nhà thơ kiêm nhà báo Đỗ Bạch Mai báo Văn Nghệ, Dương Thuấn báo Thiếu niên tiền phong cũng mới đến Trường Sa.

Đảo Trường Sa Lớn còn nhắc mãi sự kiện cầu truyền hình thực hiện vào giao thừa Tết Đinh Sửu, giúp cán bộ, chiến sĩ được đón giao thừa cùng nhân dân. Thủ đô Hà Nội  và thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Cần Thơ. Trung tá Trần Đình Trạc, chỉ huy trưởng đảo này là người có may mắn nhất, hạnh phúc nhất ở giây phút năm cũ qua, năm mới đến: trên màn ảnh nhỏ, anh được gặp vợ con mình đang ở đất liền xa xôi, được nói chuyện với cả nước.

Nhà báo đến Trường Sa theo nhiều cách, đi lẻ hoặc theo đoàn. Khác hẳn các cuộc đi riêng trên đất liền, đến Trường Sa không dễ dàng, nhà báo phải đi ghép vào đoàn quân đội. Đoàn đông, được tổ chức chính quy, thì chỉ đi vào mùa sóng yên, biển lặng, quãng tháng 4 dương lịch. Canh sóng to bão lớn chỉ có trong tưởng tượng. Nhà báo, văn nghệ  sĩ nào may mắn được ở Trường Sa mùa bão tố thì hẳn là  đi đoàn lẻ, nương  vào một đơn vị quân đội nào đó hoặc ởlại đảo từ trước. Một số nhà báo trở lại Trường Sa đến lần thứ hai, thứ ba. Đông nhất vẫn là nhà báo quân đội vì họ có điều kiện hơn. Đến nay, số nhà báo được đến Trường Sa có tới hàng trăm, số lượt tất nhiên nhiều hơn thế.

Chưa có tài liệu nào thống kê, nhưng chắc chắn đã có  nhiều bài, tin về Trường Sa, trong đó có những bài đạt chất lượng cao, ảnh cũng vậy. Báo ảnh, báo nói, báo nghe - nhìn cũng có công lớn. Các báo địa phương, báo nội bộ như báo Hải phòng, báo của Quân chủng Hải quân, báo của tỉnh nhà Khánh Hòa nói nhiều về Trường Sa. Giới nhạc sĩ đóng  góp nhiều bài hát hay về Trường Sa mà hiện nay còn lưu  lại được một số bài cảm động.

Tháng 4 năm 1997, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương  tổ chức một đoàn nhà báo đến Trường Sa, do ông Đặng Quang Ngọc, giám đốc Trung tâm thông tin công tác tư tưởng làm trưởng đoàn. Đoàn có các anh: Trần Lê báo Nông thôn ngày nay, Song Hà báo Nhân dân, Phạm Ngọc Nghiêm báo Hải Phòng, Lê Thanh Phong báo Lao động, Nguyễn Trọng Dụng đài Truyền hình Việt Nam, Phạm Đình Ân báo Văn nghệ. Đoàn nhà báo này cùng một số  đoàn ngoài quân đội, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia về  nước sạch và vệ sinh môi trường, Văn phòng Trưng ương  Đảng ghép vào đoàn Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng, tất cả hơn trăm người, do trung tướng, anh hùng không quân Phạm Thanh Ngân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm trưởng đoàn. Đây là  lần thứ tư (mỗi năm một lần) Ban Tư tưởng Văn hóa  Trung ương tổ chức đoàn nhà báo đến Trường Sa. Từ năm 1997 trở đi, cuộc họp mặt hàng năm những nhà báo đã đến Trường Sa sẽ được tổ chức thường kỳ.

Trong chuyến đi hàng năm, như đã biết, đoàn Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương là đoàn nhà báo ngoài quân đội. Nếu kể cả sĩ quan thì chuyến đi vừa rồi có khoảng mười lăm nhà báo (một phần tám số thành viên toàn đoàn). Mỗi năm không chỉ có một chuyến tàu đưa các nhà báo đến Trường Sa. Tàu ra phía bắc, tàu vào phía nam, tàu nào cũng có chiến sĩ tuyên truyền và văn nghệ sĩ.   

Khi còn ở đất liền, người đi được hướng dẫn chuẩn bị hành lý, phương tiện nghề nghiệp, sức khỏe, quà tặng và nhiều điều tỉ mỉ khác cần thiết cho sinh hoạt và làm việc trên biển, trên đảo. Các nhà báo tìm đọc tài liệu, tìm gặp người đi lần trước để hỏi kinh nghiệm. Việc vặt không  những cần cho sinh hoạt mà còn có thể ảnh hưởng xấu hoặc tót đến hiệu quả làm báo. Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân cho mượn dép rọ và túi vải nhựa. Lội trên bãi đá san hô hoặc đi trên đảo, chỉ loại dép này mới chịu được. Đi dép lê thì tụt ngay. Đi giày thì cát lọt vào gan bàn chân, không thoát ra được, đau như kim châm. Túi nhựa để đựng đồ dùng khi đi lại, tránh ướt. Nhiều người có máy ảnh tự động (với hàng chục hoặc vài chục cuộn phim), mang máy chuyên dụng cồng kềnh nặng nề, độ nhạy cao, đắt tiền, cho  nên phải luôn luôn lưu ý giữ gìn cẩn thận. Biết trước sẽ  di chuyển từ tàu xuống xuồng cứu sinh để ra đảo rồi ngược lại, dễ xảy ra rủi ro đối với máy móc, mà vẫn có nhà báo phạm sai lầm. Tham việc, ngồi trên xuồng quay phim, chụp ảnh nước biển ập tới làm ướt nhũn cả người cùng máy. Sơ ý thì chính cái túi nhựa giúp bảo vệ máy lại trở thành cái thùng, ngâm thỏa thuê máy trong nước mặn! Vài nhà báo đi vào các đợt trước đã làm hỏng máy ảnh, máy quay phim, thiệt hại lớn. Làm việc trên hơi nước mặn đủ làm giảm thọ của máy rồi, nói chi đến nước biển xối vào. Thợ chụp anh ở các bai biển du lịch cho biết, mỗi mùa hè hành nghề, họ mất không một chiếc máy.

Trước khi đi, ông trưởng đoàn thay mặt đoàn xin đất bên rặng tre cạnh Lăng Bác Hồ. Đoàn nhà báo dùng đất quý thiêng này trồng cây phong ba trên đảo Trường Sa, số đất còn lại trân trọng đặt tại phòng Hồ Chí Minh của đảo. Trong mười ngày, đoàn đến mười một đảo: Đá Lát (đảo chìm), Trường Sa (đảo nổi), Đá Tây (chìm), Trường Sa Đông (nổi), Đá Đông (chìm), Phan Vinh (nổi), Tiên Nữ (chìm), Núi Le (chìm), Tốc Tan (chìm), Thuyền Chài (chìm), An Bang (nổi) và Ba Kè, trạm dịch vụ khoa học, kỹ thuật trên thềm lục địa. Tàu HQ 996 là tàu khách loại lớn, sức chở hàng chục nghìn tấn, với hai trăm giường nghỉ, đã 10 chuyến ra Trường Sa. Ba mươi sĩ quan, thuyền viên của tàu phục vụ đoàn tận tình, tận sức. 800 tấn nước ngọt đủ dùng cho một trăm rưỡi người trong gần hai tuần lễ. Ngày ăn bốn bữa, no và ngon. Không thể vào sát đảo, tàu neo đậu tại mép san hô, ở rìa ngoài của bãi chìm, cách đảo khoảng một hải lý (1.850m). Đoàn nhà báo được ưu tiên hưởng thời gian nhiều nhất: xuống xuồng trước để ra đảo trước, lên xuồng sau để về tàu sau. Sau ít phút chào thăm, các đoàn tặng quà. Rồi người nào việc nấy, rất khẩn trương vì thì giờ rất hiếm hoi. Bộ đội làm việc của quân đội. Nhà báo làm việc của báo chí. Chụp ảnh kỷ niệm bên cột mốc chủ quyền là việc cần nhớ trước tiên (nơi đảo hẹp, cột mốc là bức tường công sự, ở đó có tên đảo, hình vẽ cờ Tổ quốc). Tiếp đến, chụp ảnh làm báo, quay phim vidéo, thu băng ghi âm, hỏi - đáp rồi ghi ghi chép chép... Đi đi, lại lại, xem xem, ngó ngó, cố khắc ghi vào tâm khảm cảnh và người, cả chi tiết rất nhỏ, nơi đảo xa heo hút để đem về đất liền, thông báo với nhân dân, lưu giữ lâu bền mãi mãi. Đối với ai thì không biết, còn đối với các nhà báo, giờ giấc sao mà trôi nhanh đến vậy. Tại nhiều đảo, khách chỉ ở vài giờ hoặc nửa giờ. Các nhà báo hay bị nhắc mời ra xuồng để về tàu. Có lần, suýt nữa thì vài vị bị rớt lại vì quá say sưa công việc, quá quyến luyến chủ nhà. Chuẩn bị rất kỹ mà làm việc lại quá nhanh. Người làm báo viết còn có thể hỏi thêm, đọc tài liệu khi về đất liền, còn những ai làm báo ảnh, báo nói, báo nghe - nhìn thì việc đã qua là xong hẳn, không phép thần nào có thể giúp làm lại, làm mới được. Nhiều anh bộ đội trẻ lần đầu gặp nhà báo, còn e ngại, rụt rè. Vả lại, họ mong gặp diễn viên, ca sĩ hơn. Nhà báo có lúc phải nhường. Khi văn công làm việc thì nhà báo chơi. Ai ham phỏng vấn, để lính trẻ ngồi với mình quá lâu khi tiếng hát vọng lại, liền bị bạn đồng nghiệp nháy mắt nhắc  khéo, rồi sau đó gặp riêng phê bình: “Ông thương chúng nó một chút, hành chúng nó nhiều quá”. Cán bộ chỉ huy, tuổi  cao hơn chiến sĩ, chịu thiệt thòi trong trường hợp cần thiết, có thể ngồi thêm với nhà báo. Không ai bảo ai, tất cả đều tránh khai thác tài liệu trùng nhau, viết trùng vấn đề và tránh công bố dồn dập vào một dịp. Mỗi cơ quan báo được cử đi một người, có nhà báo còn là văn nghệ sĩ, cho nên cách thâm nhập thực tế, cách nhìn, cách nghĩ không ai giống ai, sản phẩm tinh thần khác nhau, khác cả về nội dung và thể loại. Ít người chịu lắng nghe đọc báo cáo dài mà thường là mau chóng gặp bộ đội, hỏi tỉ mỉ nhiều điều, săn tìm sự việc, chi tiết, tình huống.

Những nhà báo trẻ ước ao được nghỉ lại đêm trên đảo để tâm sự với bộ đội, để hiểu cặn kẽ hơn sinh hoạt của chủ nhà hiếu khách có căn nhà lạ lùng này. Song, để bảo đảm môi trường trong sạch, hạn chế tối đa dịch bệnh ở nơi quá xa đất liền, niềm ao ước chính đáng và thơ mộng kia vẫn là viển vông. Có bãi ngầm quá nông, xuồng mắc cạn, nhà báo phải lội vào đảo, ướt đến bụng, đá san hô cứa vào chân tóe máu. Lại chính vì lội quá lâu, mà vừa bước đến thềm đảo, chào hỏi vài câu, bắt tay vài cái lại phải quay trở ra liền cho kịp đến đảo khác đúng hẹn. Đành khai thác tài liệu khi sĩ quan chỉ huy đảo ra tàu báo cáo công tác với cấp trên. Thời gian ở đảo Trường Sa - nơi được coi là trung tâm, đầu mối của cả quần đảo là lâu nhất, khoảng non một ngày. Thế nhưng, chính nơi đây các nhà báo từng đến nhiều, cuộc sống gần giống ở đất liền, không còn mấy chuyện mới.Nhàbáokhó tính, mong có bài thật hay, thì không bằng lòng với tài liệu ghi chép trong ít phút. Họ tìm hiểu nhiềunguồnvừaxa, vừa gần, vừa trực tiếp vừa giántiếp, tìm hiểu từ khi chưa đi và khi đã về. Cuốn sổ tay chiến sĩ Trường Sa, do Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân  xuất bản, giúp họ nhiều. Đoàn bộ đội cùng đi, trong đó có một số sĩ quan chỉ huy, nắm giữ những đầu mối công việcquan trọng, cũng cung cấp cho các nhà báo nhiều điều, giúp giải đáp nhiều thắc mắc.

Bài, tin được làm ngay, thậm chí xuất bản khi con tàu chở đoàn công tác còn lênh đênh trên đại dương. Vừa bước chân lên đảo Trường Sa, nơi có đủ phương tiện kỹ thuật,nhà báo Trương Cộng Hòa liền hối hả tổ chức cuộc phỏng vấn ghi tiếng nói vào máy chuyên dùng đặc biệt để chuyển ngay về báo nhà - Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình thời sự của đài chiều hôm đó đã phát kịp thời. Bộ đội sung sướng, hồi hộp và tỏ lòng cam ơn nhà báo khi được nghe tiếng nói của chính mình, họ càng lấy làm thú vị khi tác giả bài phỏng vấn kia lại đang ngồi lù lù bên cạnh. Anh Trần Lê, tuổi gần sáu mươi mà sức khỏe, phong thái, thần  Sắc còn trẻ trung, cởi trần ngồi trên giường tầng, kê tập  giấy lên đùi, cặm cụi viết sáu bài liền. Mấy nhà báo trẻthức trong đêm, loay hoay với bài viết dang dở. Anh Nguyễn Trọng Dụng dùng hất băng vi đéo mang theo. Anh  thì nhiều vô kể. Toàn đoàn có khoảng 30 máy ảnh, hai  phần ba số đó luôn luôn trên tay các nhà báo trong và  ngoài quân đội. Anh Vũ Duy Nghĩa, phóng viên ảnh, đa đen như người nước ngoài, bấm máy mỏi tay, sử dụng hết ba  chục cuộn phim, Trường Sa dư  thừa ánh nắng, thuận lợi lắm cho những ai sử đụng máy ảnh. Tuy nhiên, không dễ dàng có ảnh ưng ý nhất ở Trường Sa. Trên trời, dưới biển, xanh một màu đơn điệu, đảo thì khác chi cồn cát nhỏ, ít cây xanh, nhà ít vả thấp, rất khó tạo đường nét độc đáo, trừ khi cầm máy đến tất cả một trăm hòn đảo của huyện Trường Sa mênh mông rộng 180.000km2 này. Dẫu sao thì những khoảnh khắc bất ngờ, những góc độ hiếm hoi hiện đến, vắn giúp nhà báo có được một số bức ảnh đẹp, mang tính báo chí cao, có hồn, gay xúc động sâu xa đối với nhân  dân ở đất liền. Đoàn trưởng cựu chiến binh Đặng Quang Ngọc từng chiến đấu ở chiến trường miền Nam thời thanh  xuân, nay làm công tác chính trị, cũng xúc động đến mềm lòng như một nghệ sĩ. Tìm được tứ thơ hay do liên hệ thực tế đẹp mà đời mình đã trải, trong suốt cá chuyến đi, ônglẩm nhẩm làm bài thơ Từ Trường Sa  đến Trương Sa.

Nhân đây, cũng xin nhắc đất liền cần lưu ý cung cấp  nhiều báo, tạp chí, sách cho bộ đội ở quần đảo Trường Sa.  Nhiều chiến sĩ ngơ ngác khi được hỏi về báo nọ, báo kia, khiến nhà báo ngượng ngùng, lúng túng. Ở một số đảo  không hiếm thì giờ rỗi có thể dùng đọc báo giải trí đồng   thời nâng cao hiểu biết. Nước ta hiện nay có khoảng 400 tên báo, tạp chí, số hay có ở quầy báo, nhiều người đọc, có   đến vài chục tờ, ấy thế mà ở Trường Sa chỉ loáng thoáng  dăm ba tên báo, số bản rất ít, cho nên rách rất nhanh vì qua quá nhiều lượt sử dụng. Đến Trường Sa, đoàn nhà báo mới thấy tiếc không đem theo nhiều báo hơn nữa làm quà.

Tàu đến nhóm đảo phía bắc, khi trở về hay cập quân cảng Cam Ranh, tàu đến phía nam cập quân cảng Sài Gòn. Tàu HQ 996, tháng 4 năm 1997 đưa các nhà báo đi du ngoạn và làm việc trên một quãng đường biên dài 1015 hải lý (1981 km), cập quân cảng Sài Gòn khi chiều muộn. Vừa lên bờ, các nhà báo nháo nhào chạy tìm nơi tráng phim, in ảnh. Thuyền viên giúp chuyển ảnh đến bộ đội đảo vào  chuyến đi sắp tới của họ. Có người mua thêm quà nhờ gửingay. Hàng trăm bức thư lập tức được thả vào thùng bưu điện, đáp ưng kịp thời niềm hy vọng và sự nhờ cậy của sĩ quan, chiến sĩ. Trong cặp của mỗi nhà báo đều có hàng chục tên kèm địa chỉ những xóm làng đô thị, nơi đất liền quê hương đang có anh em, con cháu ở Trường Sa.

Cuộc họp tổng kết đợt công tâm diễn ra thân mật, gọn  nhanh. Vui, nhưng thoáng nhẹ tiếc nuối, nhớ thương, ngậm  ngùi. Sắp rã đoàn, xa rồi Trường Sa, mong trở lại lắm vùng  quê một trăm hòn đảo. Niềm mong ước đó là thiếu chắc chắn, vì còn phải nhường suất cho bạn đồng nghiệp.
 
Buổi đầu gặp nhau đông đủ tại quân cảng Cam Ranh, rất ít các nhà báo biết nhau từ trước, dẫu cư trú, làm việc  tại một thành phố không lớn lắm là Hà Nội. Chỉ chục ngày  đêm ở cùng buồng, đến cùng nơi, họ đã thân quý nhau, hợp lý hợp lòng, kẻ tung người hứng, cứ như là thân thiết vài chục năm rồi. Vài tuần lễ sau khi tạm biệt, lác đác có bài đăng. Rồi đồn dập. Bạn đồng nghiệp, đồng hành mừng rỡ tìm đọc của nhau, thông báo cho nhau, bình luân. Nỗi nhớ Trường Sa dào lên tận đáy lòng, da diết.

Đến Trường Sa làm báo, phóng viên nào cũng coi đó là kỷ niệm nghề nghiệp sâu sắc nhất của đời mình.

 
                                                                                                                                      P.Đ.A
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2009, 08:34:23 am gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #6 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2009, 08:21:57 am »


Phương Đông

TRƯỜNG SA - NHỮNG THỜI KHẮC THIÊN NHIÊN

   
                                                                                                                     Tùy bút
 

Nằm giữa biển Đông, quần đảo Trường Sa án ngữ đường hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình Dương với ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Là quần đảo có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế, chính trị, phòng tuyến tiền tiêu bảo vệ sườn phía Đông Nam của Tổ quốc

Ai đã từng tìm hiểu về quần đảo Trường Sa và đặc biệt đã công tác ở Trường Sa đều biết rằng: Khí hậu của vùng  biển quần đảo này khác biệt lớn so với các vùng ven bờ. Một số hiện tượng thời tiết diễn ra theo những quá trình cũng khác. Ở quần đảo Trường Sa có thể chia làm hai mùa, mùa khô và mùa mưa. Mỗi mùa đều có một nét riêng biệt, tạo ra những khung cảnh thiên nhiên rất khác nhau và rất Trường Sa.
 
Mùa khô ở Trường Sa chỉ kéo dài trong hai tháng hoặc hơn, từ đầu tháng hai cho tới cuối tháng tư trong năm. Mùa này lính Trường Sa đen nhất, vui nhất (vì trời yên biển lặng các đoàn nghệ thuật và các đoàn thể xã hội ra thăm) và cũng nóng nhất. Nắng chang chang suốt ngày, bầu trời trong xanh cao vời vợi, không một gợn mây, có chăng cũng chỉ có một vài gợn mây nhỏ mỏng tanh, trôi hờ hững lười nhác. Gió hầu như không thổi, biển cả mênh mông giờ đây như một chiếc gương lớn phẳng lỳ, trơn bóng. Ngày trôi đi là hành trình của mặt trời lên từ phía đông và lặn về phía tây chiếc gương. Tâm trạng bạn sẽ như thế nào nếu đứng trước một buổi hoàng hôn trên đảo? Toàn phần chiếc gương nhuộm màu hưng đỏ, mặt trời như một chảo lửa đỏ lừ cứ từ từ chìm xuống, biển hắt ánh chiều nhuộm đỏ không gian.

Rồi đêm dần buông xuống. Trăng mười sáu tròn trịa, như người thiếu nữ e thẹn cứ rụt rè đội biển mà lên, gió bắt đầu thổi nhẹ mang hơi mặn mùi ngai ngái. Bóng người lính gác in trên bờ cát san hô, nước triều xuống, đảo như cao hơn bởi rừng san hô lấp lánh ánh trăng. Trăng sáng, biển sóng sánh màu bạc, con sóng khẽ khàng trườn lên hôn thật nhẹ, thật êm vào bờ cát. Mùa nắng rất nóng, cả ngày lẫn đêm nước ngọt thiếu, sinh hoạt khó khăn, tắm thì chỉ toàn tắm khô (tức là cứ lấy tay miết vào da cho bong ghét ra). Thời gian này da người lính đen rít lại vì hơi mặn và nắng, tóc cứng đơ, vàng hoe như lông bò, thế mà vẫn vui cười lộ hai hàm răng trang muốt. Bữa ăn có thịt  hộp, cá tươi nhưng xoong canh rau muống “ đại dương” bao giờ cũng hết trước.

Mùa khô hãy xuống thăm Thủy Cung. Dưới làn nước trong xanh, có thể nhìn xa và nhìn sâu được vài chục mét là thế giới Thuỷ Cung thực sự. Từng đàn cá tôm đủ màu sắc, hình dạng, kiểu cách, kích cỡ bơi lượn, những con bạch tuộc (mùa này rất nhiều bạch tuộc) bò chậm chạp hoặc ngồi chồm hỗm trên nền đáy san hô như những bà già khó tính. Rừng rong biển thướt tha phèo néo, dưới lớp rong mềm bún là các loại ốc cảnh không kém phần quyến rũ, thỉnh thoảng lại gặp một vùng san hô đủ màu từ xanh,   đỏ tím vàng, nâu, bạc cùng với sự đa dạng về màu sắc  lâm sự đa dạng về hình dạng và chủng loại. Một vài con đồi mồi từ đâu tới liệng qua liệng lại như những chiếc đĩa bay. Những con vích biển to đùng và thô kệch rẽ mái chèo chậm chạp, giương đôi mắt nhìn có vẻ dò xét. Người nhẹtâng (bơi trong nước biển người nổi hơn nước ngọt) ta như nổi trên một thế giới của màu sắc, tâm hồn như trẻ lại, khỏe khoắn sống trong thế giới cổ tích của bà ngày xưa. Hải san Trường Sa rất dồi dào, nếu các ngư trường ven bờ (đo khai thác bừa bãi, không hợp lý, ô nhiễm, v.v...) hiện nay đang cạn kiệt thì ngư trường Trường Sa luôn rộng mở và dồi dào hải sản. 

Gió mùa Tây Nam đã thổi thay cho gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng tư có cảm giác một cơn mưa bất chợt bằng hiện tượng từng đàn cá heo nổi lên mặt biển, biểu diễn tiết  mục nhào lộn. Hoanhôcá heo! Hoan hô trời mưa! Cá càngnổi nhiều, càng nhảy lộn, trời càng mau mưa. Nhưng đừng  tương mưa dễ dàng gì, giông tố, gió quay tít mù đấy, nhưng  chẳng hề có một giọt nước nào, có chăng cũng chỉ thoáng  qua một vài hạt như trêu tức. Rồi đột nhiên không gian  vỡ òa bơi tiếng sấm rền, tiếng mưa. Mưa! Mưa. Mưa  Trường Sa ... Mưa như trút nước. Đảo chìm trong mưa Trong phút chốc trời và biển hòa làm một: Từng tốp línhĐảo tắm, họ tắm như chưa bao giờ được tắm. Những tấm lưng trần đen bóng, những tiếng cười nói sảng khoái vô tư. Mùa mùa đến, các phương tiện chứa nước được huy động tối đa, để dự trữ nước cho mùa khô. Có một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú xuất hiện ở Trường Sa trong mùa mưa  mà có  lẽ rất ít người được chứng kiến (và người viết bài  này nếu không vinh dự là người lính đảo thì cũng không được chiêm ngưỡng). Đó là hiện tương cầu vồng xuất hiện  trước và sau cơn  mưa. Ồ! cầu vồng ư? Cầu vồng thì có gì  là lạ và hấp dẫn? Có đấy! Ở Trường Sa về mùa mưa ngày nào cũng có cầu vồng xuất hiện, không chỉ một hai lần mànhiều lần. Có hôm cầu vồng xuất hiện, một chân ở bên cực Bắc, chân kia vắt sang mép sóng phía cực Nam của đảo. Bạn tưởng tượng ra gì chưa? Toàn đảo chìm trong thế giới của bảy sắc lung linh huyền ảo đến ngỡ ngàng. Đừng cho đây là lời lẽ của một makétting du lịch mà đó là sự thật.
Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #7 vào lúc: 31 Tháng Tám, 2009, 03:46:47 pm »


Tuy nhiên chỉ là trong một khoảnh khắc thời gian rất ngắn rồi cầu vồng lại di chuyển cho tới khi mất hẳn. Một điều kỳ thú nữa là hiện tượng cũng một lúc xuất hiện hai cầu vồng gần như xếp chồng lên nhau. Không gian lúc đó thật là hùng vĩ, một bên không có cầu vồng bầu trời u ám xám xịt, một bên xuất hiện cầu vồng đôi, trời sáng rực bảy sắc đến hoa mắt. Những khoảnh khắc này mà có được một cái máy ảnh để ghi lại hình thì độc nhất vô nhị. Ai đó đã thốt lên như thế. Vậy đấy! Người lính đảo tự hào và vinh dự với nhiệm vụ giữ đảo và cũng tự hào vinh dự được thiên  nhiên ban tặng những phút giây kỳ thú.

Mùa mưa ở Trường Sa gắn liền với mùa bão. Có người ví Trường Sa "là cái rốn của bão". Thật đúng! Quần đảo và vùng biển lân cận là nguồn gốc sinh ra các cơn bão trên biển Đông, nên đôi khi còn gọi là quần đảo bão tố. Nếu ai đã từng chịu đựng sự nóng nực, ngột ngạt, lặng ngắt, đến buồn tẻ của biển về mùa khô thì sẽ hiểu sự cực khổ của con người là sự hung dữ của biển cả về mùa mưa. Gió cấp bảy cấp tám suốt ngày, kéo dài có khi hơn nửa tháng, trong một thời gian nào đỏ bất chợt gió giật cấp mười hai và trên cấp mười hai. Nhà lâu bền đóng chặt cửa mà có cảm tưởng như đang bị gió đẩy trôi đi. Gió ào ào rát mặt, tiếng gió rít nghe vù vù, se sé, ngồi trong nhà mà đầu óc cứ u u tiếng gió. Ngoài kia, biển gầm gào dựng sóng, cào đá và san hô dưới đáy biển hất lên mặt đảo. Những con sóng cao như những quả núi đổ sập vào thành đảo, tung bọt trắng xóa, hơi nước mặn theo gió bay cao và bay xa. Người ở trong nhà mà da cứ nhơm nhớp, lấp lánh tinh thể muối, rau xanh phải bê cả bồn vào tận xó nhà "cất giấu" vậy mà  hơi mặn vẫn còn hỏi thăm đến. Thế mới biết sự phá hủy  ghê gớm của hơi mặn và sự khó khăn vất vả trong công tác  giữ gìn vũ khí và các trang thiết bị trên đảo. Gió to quá, ngoài thời gian kiếm ăn ngoài biển, đàn chim hải âu liều  lĩnh chui cả vào nhà, đậu trên nóc các lô cốt đẻ trứng lăn  lóc mặc cho thời gian, thời tiết ấp trứng. Đôi khi như muốn  thể hiện mình chẳng kém gì trời, biển, chúng đuổi nhau  chạy khắp nhà kêu inh ỏi, cắn nhau loạn xạ. Cái giốngchim này cũng lạ, gió to mấy vẫn bay được, lượn qua lượn  lại trên đỉnh các con sóng tìm bắt cá chuồn. Thiên nhiên sinh ra chim hải âu xem thường bão biển thì thiên nhiên lại cũng sinh ra giống cá chuồn lấy sự giận dữ của biển làm trò đùa, và thú vì làm sao là hai loài này lại ở thế đối  kháng sinh tồn với nhau. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi biển động mà thôi, vì chỉ khi biển động xuất hiện sóng bạc đầu cá chuồn mới lựa chiều các con sóng để bay vọt và hải  âu mới lao xuống chộp được. Người ta đã tính được rằng: cá chuồn bay với tốc độ 16m/s, độ cao cách đỉnh sóng là 3m, độ dài cho một "cú nhảy" là 200m. Hải âu cũng không chịu lép vế và người ta cũng tính. được rằng: hải âu bay trong một tháng (30 ngày) đạt 10000km, tính ra mỗi ngày trung bình chim bay được 300km. Quả là trong thế giới của trời và biển, cá chuồn và hải âu, hai loài này có những kỷ lục kỳ diệu.

Khi Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi bản tin đầu tiên về  không khí lạnh ngoài miền Bắc thì ở Trường Sa cũng bắt  đầu xuất hiện từng đàn chim đầu tiên di cư tới. Trường Sa  là một "trạm nghỉ" trên đường bay thiên lý của chúng về  phía Nam. Thời gian này Trường Sa đầy tiếng chim của nhiều loài chim. Lính đảo chỉ biết một vài loại quen thuộc như họ nhà cò, giang, vạc, cắt, cú mèo, gõ kiến, én, v.v... còn lại là những loại khác rất lạ, chỉ có các nhà điểu học mới biết được. Những loài xưa nay bay yếu như chim sâu, chim chích cũng bay được ra đây. Đa số các loài bay yếu  không tiếp tục bay được nữa, hoặc môi trường và điều kiện  thức ăn ở đây phù hợp với cuộc sống "tạm trú" của chung,  nên chúng sinh sống ngay trên đảo. Chúng thực sự có ích cho công việc làm sạch môi sinh ngoài đảo. Ví như, sau một năm chui rúc, sinh sản tăng số lượng thì nay đàn chuột bị  họ nhà cú mèo lùng bắt, số lượng giảm hẳn. Họ nhà chim  chích, chim sâu, gõ kiến rất được coi trọng. Ở quần đảo Trường Sa (cả đảo chìm lẫn đảo nổi) có rất nhiều gián, nhiều nhất là các khu vực kho tàng, hầm hố, lô cốt, công  sự. Cái loài sinh vật này thuốc diệt gián không có hiệu quả  cho lắm, vì đa số chúng đã nhờn thuốc mà lại có tốc độ  sinh sản chóng mặt. Nhưng từ khi xuất hiện loài cò, chim âu, chim chích, gõ kiến, số gián nhanh chóng giảm xuống, có lúc tưởng chừng như không còn (nhưng thực sự vẫn còn).Ham mồi, các loài chim chui cả vào kho, vào các ngóc  ngách, lính không đuổi, không bắt nên lâu ngày chúng đâm  ra dạn cả với người. Các "anh chó" đao nuôi chỉ dám bắt  nạt các "em chim bé" còn các chị cò, chị giang thì phải  tránh cho xa, lơ mơ lại gần sẽ bị "ban" cho một dùi cốc vào  đầu đau điếng. Trong cuộc sống, nếu ai đã từng nuôi chim ít ra cũng là vài con sáo, két chẳng hạn, thì sẽ cảm nhận được niềm vui của những người lính đảo chúng tôi đối với việc đàn chim ở lại đảo.

Đàn chim ở đảo cho đến khi mùa xuân tới. Chúng thưa đần và vắng hẳn, chúng đã trở lại nơi chúng ra đi để sum  họp cùng mùa xuân, để kết đôi, làm tổ, sinh sản phát triển giống nòi. Đã nghe đâu đây làn gió xuân ấm áp. Năm đã gần hết, tết đã gần kề, hoa đào Nhật Tân đã điểm nụ hồng. Rừng mận Tây Bắc đã nở trắng núi đồi. Ở miền Nam hoa  mai cũng đã nở cánh đầu tiên vàng rực. Tất cả đang hướng  về mùa xuân, người lính đảo cũng chuẩn bị đón tết trên đảo xa. Cuối năm có người lính đảo ở lại, có người về sum họp với gia đình đón tết trên đất liền, có người lại ra với đảo đón nhận cái tết đầu tiên trên đảo. Cuộc chia tay cuối  năm đầy lời chúc và thắm tình đồng chí và... xúc động làm sao khi một người lính đảo, một người bạn, đã thốt lên khi chia tay với tôi trên con xuồng nhỏ. "Mày vào đất liền, về quê ăn tết rồi, còn ta ở lại biết lấy ai mà cãi nhau". Tôi mỉm cười trong nước mắt. "Hãy cố gắng lên, tao hẹn mày ngưng cãi nhau, còn bây giờ hãy tạm cho mày thắng đã nhé". Trường Sa cứ vững vàng nơi sóng gió, lớp người này  kế tục lớp người kia, tiếp bước cha anh gìn giữ phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Họ, những con người không ngại gian khổ, họ không đơn độc giữa biển khơi. Luôn luôn có bên họ là Đảng, quân đội và nhân dân cả nước. Đặc biệt, xung quanh họ thiên nhiên còn bao điều hấp dẫn, kỳ thú, tìm hiểu và khám phá thiên nhiên phải chăng, họ tìm được ở đó một cái gì quen thuộc như ở chính quê hương mình và chính thiên nhiên giúp họ vượt qua tất cả. 

Mùa xuân  này Trường Sa tràn nắng!   



                                                                                                                P.Đ

Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #8 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2009, 04:02:36 pm »


Cao Duy Thảo


KHOẢNH KHẮC TRƯỜNG SA


                 
                                                                                                                      Bút ký


Tàu HQ-931 mải miết suốt một ngày trên biển. Đi mãi, đi mãi, phía trước mặt vẫn là đường chân trời bằng bặn. Rồi đêm lại sập xuống, những ngôi sao chốc chốc lóe sáng  trên nền trời đầy mây... Ngôi sao số mệnh nào dẫn lối  những dân đinh nghèo khổ một vài ... thế kỷ trước, trên  những con thuyền nan mỏng mảnh vượt qua cả đại dương đầy bão tố? Họ là những người đầu tiên tìm ra hoang đảo, đặt cột mốc, vẽ địa đồ, là những người đầu tiên cho ta khái  niệm về một nền văn hóa biển mà ngày nay người ta đang  lưu ý tới đặt con người vào giữa những giao tiếp của các nền văn minh.

Trên đài quan sát, chúng tôi không ai ngủ được. Giấc ngủ chờn vờn đến rồi đi. Chỉ còn một đêm nữa... Đêm thăm thẳm bốn bề, chỉ có tiếng sóng ầm ào và tiếng máy tàu đều đều. Quá nửa đêm trời trở gió, mưa lắc rắc, đôi ba hạt mưa bắn vào da thịt mát lạnh. Mặc, chúng tôi cố ngồi thu mình lại, chờ đợi.
 
Rồi bình minh lên... Một vùng sáng hừng lên chầm chậm sau dải mây xám đục hướng mũi tàu. Biển lặng và xanh thẫm một sắc kỳ ảo. Đảo đâu? Chỉ thấy phía trước cái chấm nhỏ chiếc tàu dẫn đường khi đi ngang qua dải mây bỗng đậm lên sắc nét, như thể đang bày trên mặt nước.
- Đảo kia !
Tất cả chạy ùa về phía mũi tàu.

Chưa có gì thật chắc chắn. Lúc đầu chỉ là một vệt mờ như khói rất khó nhặn biết. Rồi hiện dần lên cái vệt xanh của cây và lằn cát trang, rồi cái vọng gác và chiếc cổng  chào chăng vải đỏ... Đảo đấy! Đảo Song Tử Tây đấy! Và trong khi anh bạn nhạc sĩ bên cạnh tôi rót cho mỗi người một ly rượu nhỏ mang tử đất liền ra, con tàu rúc lên hồi còi dài chào đảo...

***

Lính đảo vốn quý văn nghệ, nhất là trong thành phần ra thăm đảo còn có thêm hai nữ đơn ca nghiệp dư của thành phố Nha Trang. Chúng tôi vì thế mà trở nên "có giá" hẳn. Ngôi nhà chẳng mấy chốc đầy ắp những lính vòng trong vòng ngoài. Vả hai cô gái của chúng tôi thì hết sức bận rộn: tiếp chuyện, hát tặng... Cả một góc đảo chốc chốc lại ồn lên tiếng cười, tiếng vỗ tay, cứ thế kéo dài suốt trưa giữa cái nắng hừng hực của vùng áp thấp nhiệt đới.

Nhân lúc ít người chú ý đến mình, tôi rủ Lê Trọng Thơ, phó đại đội trưởng chính trị đại đội 3, đi một vòng quanh đảo. Anh chàng Thơ này thật lạ, người cứ đen sắt lại, hoạt bát, ngay từ phút đầu gặp gỡ anh tự giới thiệu ngay quê quán - vùng Đông Sơn, Thanh Hóa, nơi xuất phát của chiếc trong đồng cổ nổi tiếng... Rồi rất tự tin, anh chìa ra một tờ giấy có ghi  lời bài hát do anh sáng tác nhờ tôi góp ý. 

- Nhưng phần nhạc của nó đâu ? - Tôi hỏi.- Bài hát này chỉ có lời, tôi cho anh em học thuộc rồi  cứ thế xướng lên hát. Mà cũng rập ràng lắm, tối nay anh  sẽ được nghe dàn đồng ca của đại đội hát chào mừng đoàn.
 
Tất nhiên anh ta nói rất nghiêm chỉnh. Anh còn đưa ra  một dẫn chứng khá thuyết phục: "Bài "Phất cờ Nam tiến"  hồi tiền khởi nghĩa cũng do một chỉ huy quân đội (về sau trở thành tướng) sáng tác, lúc đầu chỉ có lời mà thôi. Theo Lê Trọng Thơ thì người ta cứ phải hát lên cái đã rồi nhạc sẽ ghi sau... Tôi hứa sẽ chuyển những ý kiến của anh đến  một nhạc sĩ trong đoàn, đại để diễn ý rằng, nhạc vốn đã có sẵn như những quy ước bên trong của đời sống, mà người nhạc sĩ có khao khát ghi lại. Nghe xong, Thơ vỗ tay  kêu to: 
- Anh nói trúng ý tôi rồi! 

Còn bây giờ anh đang nhảy thoăn thoắt qua các đường giao thông hào, thỉnh thoảng quay lại nháy mắt với tôi như ngầm bảo đằng kia còn lắm điều bí mật. Thực ra phía trước  vẫn là cái màu trắng chói chang cửa những mảnh san hô vỡ vụn, đôi ba vạt cây gồm dương liễu, phong ba rải dọc theo bãi đá không lấp nổi cái trống vắng khô khát của mặt  đảo.
- Tại sao gọi là cây phong ba?
- Có lẽ đó là giống cây chịu được bão tố ở vùng này. Như anh thấy thân cành nó nghiêng ngả, gấp khúc chẳng khác nào chiếc lò xo biết đàn hồi. Không ai biết tên của nó là gì, lính ta cứ nhìn cây mà đặt.

Tiện tay Thơ níu xuống một cành lá nơi chúng tôi đi qua, xòe ra trước mặt: Chùm lá bụ bẫm, phiến đá to và dày, từ nách là một vài ngồng hoa ngoi lên những bàn tay bé tí xíu màu vàng nhạt.

- Đây là loại lá nhám - Thơ  nói - Phong ba lá trơn thì nhỏ cây, ở dạng gần giống như dây leo. Chừng một tháng nữa mà anh tới, đúng mùa hoa nở rộ, có thể bắt gặp những con ong tìm đến hút mật.
 -Từ đâu tới, những con ong ấy?
- Không rõ. Nhưng mỗi lần thấy ong về, lính đảo mừng lắm. Nó gợi nhắc đến những vườn xoài, vườn nhãn trong quê... Chim chóc thì mùa mưa có chim sâu, sáo cắt. Mùa hè hải âu về ít bữa lại đi. Có những đêm chim vào kêu vang quanh đảo, sáng ra lại không thấy đâu nữa, lính ta anh nào cũng ngơ ngẩn ...

Ôi! cái anh chàng Thơ này. Tự nhiên anh ta trở nên đằm thắm đến không còn nhận ra nữa.

Đang đi, bỗng có ai đó gọi giật từ phía sau, chúng tôi cùng quay cả lại. Dưới hào công sự, một anh lính đang đứng nghiêm nhìn lên, khẩn khoản:
- Báo cáo... Mời hai thủ trưởng ghé chỗ chúng em. 
- Có việc gì thế? - Thơ vừa nói vừa nhảy xuống hào công sự, bỗng anh "à" lên một tiếng khi bắt gặp một anh lính khác đang ngồi bên dưới, tay thoăn thoát lau súng nhưng mặt lại cúi gằm - Vẫn lại chuyện ấy phải không ?
- Báo cáo, đồng chí ấy muốn xin lỗi thủ trưởng đâu!  Anh lính đang đứng chỉ vào tôi. ....
- Sao là tôi ? Chưa kịp hiểu sự thể ra sao thì Thơ đã xổ một tràng dài:
- Cái hành động của đồng chí khiến cả đại đội phải đau lòng. Rồi anh chị em người ta vào báo cáo lại với đồng bào trong đất liền như thế nào, bảo rằng khi đặt chân lên đảo chìa tay ra bắt, thì có một chiến sĩ của  đại đội 3 vội rụt tay mình lại, mặt quay đi chỗ khác, nghe như thế có được không? 

Thì ra chính anh lính đang ngồi lau súng này đây, lúc sáng đi đón đoàn, đã để xảy ra một sự cố: Khi hai cô gái  được xuồng cao su đưa vào bờ, giữa đám lính đông đặc ra  đón, cô T.Th yêu kiều của chúng tôi không biết nổi hứng làm sao lại chìa bàn tay của mình về phía một anh lính trẻ. Anh chàng như bị điện giật, mặt bỗng tái xám đến không còn đủ sức nhấc nổi cánh tay lên nữa, bèn nép mình sau lưng một anh bạn... Bây giờ trông anh thật đau khổ sau cái hành động có thể hiểu là bất nhã ấy.
- Chuyện cũng bình thường thôi, anh bạn trẻ ạ - Tôi nói với người lính - Đừng có quá lo lắng, để rồi tôi nói lại cho cô ấy biết !

Anh lính ngẩng lên nhìn tôi, cặp mắt lộ vẻ biết ơn.

Một lúc sau, khi trở lại chỗ bãi đá, Thơ nói như thanh minh: 
- Đã là bộ đội thì phải nghiêm. Mà anh ạ, hắn bảo lúc ấy tự dưng hắn thấy cả người nổi hết da gà.
Tôi lại bắt gặp một thoáng tư lự trên nét mặt Thơ. 
- Anh bạn ấy ra  đảo bao lâu rồi ? 
- Trên hai năm... Kể cũng tội, mình có khác chi hắn. Nhớ lần phép hồi năm ngoái, mấy ngày đầu về nhà tôi cứ  như người nhả trời rơi xuống, không làm sao quen được với nếp sống bình thường trước đây. Ngay mấy cô bạn đến thăm, nhìn họ đi đứng, nói cười, mình vẫn thấy lạ lẫm ngài ngại thế nào, quen lắm mà cứ ngỡ gặp lần đầu.

Rồi Thơ kể trong lần về phép ấy mẹ anh lại giục anh lấy vợ: Hai mươi chín tuổi đời, mười một tuổi quân với bốn lần ra  đảo cả thảy, bây giờ lấy vợ cũng chẳng phải sớm sủa gì. Nhưng anh đã tìm cách thoái thác dù biết mẹ đang sống neo đơn với cậu em út chưa học xong lớp mười. Thấy vậy mẹ lại tưởng anh quá nhút nhát, càng thúc giục ráo riết.
- Nhưng con lấy ai được hả mẹ ? - Anh cười cười hỏi.
Mẹ anh chỉ vào đám bạn gái đến thăm:
- Cứ trong đám ấy mày ưng ai cứ bảo. 
- Con ưng tất ! 
- Mả bố mày ! - Bà mẹ biết ngay anh con trai chỉ nói cho qua chuyện - Lấy một chứ có ai lại thế. 
Lần khác dẫn anh ra xem lợn, bà lại ướm lời: 
- Mày xem thế nào con ạ, chứ cả hàng núi tuổi trên đầu rồi. Có con bé ở xóm dưới mẹ thấy được nết, hay làm...
- Nhưng lợn còn bé quá mẹ ạ. Phải chờ nó lớn đã chứ?
Bà mẹ nhìn anh nghi hoặc.
- Nhỏ thì hai con không được hẳn ?
- Ai lại thế. Bộ đội chúng con muốn thịt, phải chờ lợn nặng đến hàng tạ. 
Mẹ anh thở dài. Thương quá, anh ôm chầm lấy mẹ:
- Mẹ ạ, con đang là lính đảo - Anh thì thầm vào tai bà -  Lính ở ngoài đảo ấy, xa lắm, mẹ biết không? Chúng con không muốn ai phải khổ vì mình... Giá của sự hy sinh phải  đo bằng gì? Câu hỏi bật ra giữa cái nắng khốc liệt. Từ khi  đặt chân lên đảo tôi đã nghe kể về một Tống Văn Quang ngã xuống bưởi loạt đạn bắn lén của kẻ thù vào giây phút cuối cùng trận đánh ngày quân ta giải phóng đảo, một Trần Đình Hòa cứu bạn trong cơn bão tố và vĩnh viễn nằm lại...Bia mộ các anh nép khiêm nhường bên bờ đảo mà mỗi  ngày đồng đội đi qua đều như có lời nhắn nhủ gửi gắm về những gì mình từng khao khát, có thể trong đó có cả một  mảnh của đời thường mà suốt thời tuổi trẻ chưa kịp sống trọn nhưng vì nó các anh ngã xuống. Vâng, một giây phút của đời thường, rất bình thường cho mọi nơi và cho mỗi chúng ta, thì tại đây với người lính còn là sự hy sinh.
 
Cuối cùng Thơ cũng đưa được tôi lên tới cải vọng gác đứng chông chênh ở một đầu đảo. Đây là chỗ cao nhất của  địa hình, mát, có nước uống. Hai lính đảo vừa giao ban trực chiến xong, thấy chúng tôi lên đứng nghiêm chào, rồi  kéo nhau ra chỗ cầu thang nói nho nhỏ cái gì đấy.
- ... Thế nào ? 
- Cằm hơi lẹm mày ạ. Thôi, chạy quàng lên.
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 08:52:19 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
phonglan
Thành viên
*
Bài viết: 500


Nụ hoa và cây súng


« Trả lời #9 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2009, 04:03:48 pm »


Anh lính vừa được thay thế tụt vội xuống cầu thang, loáng sau đã thấy bóng anh chạy đâm bổ về phía dãy nhà tôn, nơi không ngừng phát ra trầm bổng tiếng đàn, tiếng hát. Bất giác, tôi mỉm cười một mình.

Đứng trên đài trực chiến có thể nhìn thấy trọn vẹn đảo bên dưới. Nó gần giống một chiếc đĩa tráng men hình ô van nổi bập bềnh giữa bốn bề sóng nước. Sóng trùng trùng từ ngoài khơi kéo vào bỗng vỡ ra trắng xóa nơi mép thềm san hô gấp khúc, bên ngoài bãi cạn. Xa hơn chút nữa, đối  diện với chúng tôi chừng ba hải lý trên mặt biển là cái vệt mờ của đảo Song Tử Đông vốn là anh em sinh đôi với đảo Song Tử Tây, xanh xám một vẻ bí hiểm lạnh ngắt - Những gì nấp sau cái mặt ngụy trang đó? Thơ bo ống nhòm quan sát xuống, quay lại nói:
 - Mình có hai tàu cập bến bên này, bên kia "nó" cũng đưa ra hai tàu đối lại. Anh bạn láng giềng định chơi trò cân bằng. Nhưng cân bằng là thế nào khi vào năm 1974 trước sức tấn công như vũ bão của quân và dân ta trên chiến trường, đám lính bạc nhược của Nguyễn Văn Thiệu ở đó đã "tùy nghi di tản" thì anh đem quân nhảy lên chiếm đảo? Cân bằng hay công bằng? Anh triệt phá làm sao được những dấu tích ở đó mà từ xa xưa từng được ghi vào sử sách, họa lại hình dáng và đánh dấu tọa độ ? Vậy mà nghe nói có ông tổng thống nọ đã cất công ra đảo, tuyên bố biên giới mình phải kéo dài ra đó, và để cho lời nói có thêm sức nặng, ông ta kêu trực thăng quần ngặt trên biển, lượn qua tận bên này... Bữa đó chúng tôi nhìn rõ những chứ NAVY trên thân máy bay, còn khuôn mặt của những thằng lái thì đỏ gay lấc láo nhòm qua cửa sổ, cúi gằm xuống khi thấy ta bắn pháo hiệu cảnh cáo...

Chúng tôi cũng ngồi trệt xuống sàn. Thơ nhấc bình tông rót cho tôi một ly nước - những giọt nước hiếm hoi dành cho lính trực chiến. Thật yên tĩnh. Từ bên dưới mặt đất lại vọng lên văng vẳng đâu đó tiếng hát. Tự dưng Thơ ngồi ngẩn ra một lúc, rồi bỗng anh đập tay xuống sàn, kêu lên:
- Anh nghe thấy không, lính dại đội 3 đang vợt bài Hát với đảo nhỏ do tôi sáng tác đó ! Anh thấy sao ?
Tôi cố chăm chú lắng nghe, nhưng quả thật là rất mờ tỏ. Dường như bài hát có nhịp hành khúc, nhấn đều theo tiếng vỗ tay. Tuy vậy cũng không khó khăn lắm khi tôi nhớ lại lời bài hát mà Thơ đã cho xem, để ướm vào nét nhạc kia: "... Sóng tung bay trên quần đảo Trường Sa. Cây súng AK anh canh giữ đảo này: Yêu biết mấy tấm lòng người chiến sĩ dũng cảm kiên cường xây dựng đảo lâu dài. Đây đất nước nở ngàn bông hoa thắm. Có chúng tôi canh giữ Trường Sa ...". Những lời thật trong sáng rõ ràng, và tôi muốn nói với Thơ rằng, đó là bài hát hay nhất mà tôi được nghe.

***

Trong đoàn chúng tôi ra đảo có anh H.P.L là nhạc sĩ, anh rất nổi tiếng ở đất liền với bài hát "Gần lắm Trường Sa" và "Gặp anh trên đảo Sinh Tồn"... Văn nghệ có những quy luật thật oái ăm, những thành công đôi khi khiến ta  hết sức bất ngờ: Anh H.P.L sáng tác những bài hát đó khi  chưa hề đặt chân lên đất và biển của Trường Sa. Cảm xúc của anh chủ yếu dựa trên những tư liệu gián tiếp, nghe kể lại hoặc đọc qua sách báo, và điều ấy đã làm cho anh bứt  rứt không yên. Vậy mà bây giờ, sau một ngày "trầm mình" trên đảo, anh lại đâm ra run tay, rụt rè quá đỗi. 
- Viết thế nào với từng ấy kiêu hãnh và khắc nghiệt ?- H.P.L khàn khàn nói với tôi - Chẳng lẽ rồi chẳng còn bài nào hay hơn "Gần lắm Trường Sa"...

Cũng như tôi, anh đang lâm vào cơn "sốc" do buổi đầu gặp gỡ. Nhưng mà tôi nói: 
- Nhạc thì tôi không sành lắm. Nhưng trong văn học còn có một chỗ dành cho trí tưởng tượng, cái khả năng này xét ra có phần ưu thế thuộc về tuổi trẻ. Anh từng khao khát tới miền đảo này phải không? Vậy thì anh có quyền viết về nó. Còn bây giờ, trong nhận thức, chúng ta đang ở vào một cấp độ khác.

Dù khắt khe với mình, nhũng bài hát trước đây về Trường Sa của H.P.L vẫn được chính ngay lính đảo Trường Sa hoan hô nhiệt liệt. Thêm một điều oái oăm nữa  không ai biết tác giả của những bài hát đó hiện ở ngay trên đảo. Tất cả vinh quang mà bài  hát gặt hái được lại dồn hết về người biểu diễn là cô T.Th trong đoàn. Một số lính còn quả quyết rằng chính cô T.Th là người sáng tác ra nó, nếu không thì cô chẳng thể hát được hay đến như vậy, cứ như rót vào lòng người nghe! Vâng, chuyện ấy vẫn thường khi xảy ra. Một tác phẩm hay chưa bao giờ là tài sản riêng của một người.

Buổi tối sau cuộc liên hoan văn nghệ trở về, chúng tôi cùng một số lính đảo ngồi quây quần trên mảnh sân lổn nhổn những mẩu san hô vụn trước hiên nhà. Hôm nay trời quang, về khuya trăng rất sáng. Chỉ còn đêm nay nữa, thực ra chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa thôi, vì chúng tôi được thông báo sẽ trở lại tàu vào lúc 2 giờ sáng. Và tôi thì đã có thêm nhiều bạn bè.... Chép thơ, chép bài hát, rồi thư gửi về đất liền, những nhành san hô trúc làm quà tặng... cứ hối hả líu ríu sợ không kịp với thời gian. Giữa lúc ấy thì cô T.Th từ đâu chạy về kéo nhà văn N.G.N ra một góc,  tha thiết đề nghị anh làm giúp cho bốn câu thơ, vì có một anh lính nào đó thiết tha xin thơ và chữ lưu niệm của cô. Tưởng chuyện gì chứ việc như vậy với anh N.G.N không khó. Anh gật đầu đồng ý ngay và ngồi sà xuống mặt sân kê giấy lên đầu gối phóng bút. Loáng sau cô T.Th đã có tờ  giấy trên tay, hớn hở biến về phía bờ biển. Tôi mỉm cười: chắc chắn rồi anh lính sẽ rất cảm động, vì với anh ta T.Th yêu kiều của chúng tôi chẳng những hát hay mà làm thơ cũng rất có tài nữa! 

Trong khi đấy thì Đoàn, một anh lính - đại - học tôi vừa quen, trong lúc chờ tôi chép cho mấy câu danh ngôn của Gớt tranh thử trao đổi nho nhỏ với cô N.D một đơn ca thứ hai nữa của chúng tôi. Đoàn vốn là sinh viên khoa Nga văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, vừa tốt nghiệp xong được gọi nhập ngũ, tình nguyện ra phục vụ tại đảo. Và đêm nay thì - lại tình nguyện kéo xuồng đưa chúng tôi ra tàu. Phải nói cuộc trao đổi của hai người có một cái gì đó hết sức dịu dàng trong ngữ điệu khiến tôi chú ý. Bắt đầu là cô gái: 
 -  Anh có hay viết thư cho chị không ? 
 - Có chuyến tàu nào ra tôi cũng viết.
 - Chị có đẹp không? 
 - Cũng tùy người nhìn. Với tôi thì đẹp. Nhất là từ đây nhớ về lại càng đẹp.
Bất ngờ một anh lính ngồi bên cạnh xen ngang: 
- Chị hỏi như vậy là khó cho anh Đoàn của tôi lắm! 
Đoàn hơi cúi mặt xuống một chút, chỉ một chút thôi, anh ta lập tức ngẩng lên như vừa hiểu ra giá trị của mình: 
- Nói như vậy hóa ra tôi nghi ngờ cô ta rồi còn gì. Cùng  phụ nữ với nhau, trong trường hợp cô ấy là chị, chị nghĩ thế nào ?
Im lặng mấy giây, rồi giọng cô gái: 
- Chị ấy sẽ chờ... Tuy nhiên không loại trừ trường hợp ít may mắn hơn. Chuyện này chỉ có hai người mới biết rõ về nhau.

Tôi chép xong mấy câu danh ngôn của Gớt, trong đó có một câu triết luận về Cây đời, chuyển đến cho Đoàn. Để đáp lại, như được chuẩn bị từ trước, Đoàn rút từ sau lưng ra hai nhánh san hô trúc xòe rộng hình đuôi công, trao cho tôi một và N.D một.
- Lúc đầu em cột chung làm một - Đoàn nói với tôi -  Nhưng tới đây sẵn gặp hai người...

Tôi nhìn vào đôi mắt ngờm ngợp của Đoàn thấy như có một giọt sáng trong đó.
 
Mấy phút sau chúng tôi có mặt trên bến. Tôi nấn ná đi chậm lại sau cùng để lúc lên xuồng được nắm bàn tay Đoàn lâu lâu hơn khi anh đưa ra dìu đỡ. Rồi xuồng từ từ tách bến...Nhìn những lính đảo đang còn ngồi trên bờ nhìn  theo, tôi có cảm giác mình là kẻ trốn chạy. Xuồng cứ lùi dần, lùi dần theo đường dây cáp và cảm giác ấy mỗi lúc ruột se thắt. Đoàn vẫn mải miết gồng mình lên kéo sợi dây xù xì thẳng căng. Sao lại là anh, con người mảnh khảnh và mềm mại một cách quyến rũ ấy ? Một nhà ngôn ngữ có tài, biết đâu đấy. Và tôi có quyền gì hưởng nhiều may mắn hơn anh, được trọng vọng hơn anh, được "thoải mái" hơn, ít ra là trong lúc này?
- Chào nhé! Hy vọng năm sau gặp lại anh thì rất vui !
 
Đoàn nói như thế khi xuồng cập vào thành tàu. Nhưng  anh nói gì vậy, vì một năm nữa anh sẽ hết thời hạn nghĩa  vụ quân sự và cũng đúng thời gian ấy cô gái yêu anh đang  lưu học tại Cộng hòa Dân chủ Đức sẽ trở về... Nhưng với  Đoàn, tôi tin anh không hề nói dối bao giờ.


                                                                                               Nha Trang, tháng 7-1985
                                                                                                         C.D.T
« Sửa lần cuối: 10 Tháng Chín, 2009, 08:57:16 pm gửi bởi phonglan » Logged

Những loài hoa nở ban ngày thường có màu sắc rực rỡ, những loài hoa nở ban đêm lại có hương thơm ngào ngạt
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM