Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 11:56:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam  (Đọc 108128 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #140 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 04:44:03 pm »

Sự trao đổi công điện này chứng tỏ thêm sự bất đồng quan điểm giữa Sài Gòn và Washington về vụ tấn công Tết. Đối với sự chỉ đạo trên từ Washington, Tướng Westmoreland đã phát biểu như sau: “tôi đã hơi bối rối. Hình như đã có một sự hơi mâu thuẫn. Tại đây tôi đang bị buộc tội xin quân tiếp viện trên cơ sở tình trạng khẩn cấp nhưng tuy vậy người ta lại đang bảo tôi đừng lạc quan khi tôi đang cố thực hiện một sự đánh giá khách quan về tình hình" (41).

Trong khi đó, ông Clirford được yêu cầu ra điều trần trước ủy ban Fulbright tiếp theo ngay sau cuộc điều trần của Bộ trưởng ngoại giao. Nhưng ông Clifford vẫn chưa nắm vững được chiều sâu của sự ràng buộc của ông đối với chính sách Việt Nam của chính quyền, đã xin miễn cho ông phải điều trần, với lý do là ông vừa nhận nhiệm vụ quá mới và quá bận rộn về vấn đề Việt Nam để có thể đưa ra những nhận xét chín chắn đối với chương trình viện trợ quân sự, vấn đề này có vẻ là mục đích của cuộc điều trần.

Biết rõ sự hoài nghi của ông Clifford đang tăng lên, Tổng thống cũng không mong muốn thấy ông ra điều trần trước diễn đàn của một Thượng viện chống đối và được truyền hình đi khắp nơi trên toàn quốc. Được sự đồng ý của Thượng viện, Tổng thống Johnson và ông Bộ trưởng Clifford đã thuận để ông Nitze, Trợ lý Bộ trưởng quốc phòng ra điều trần:

Ông Nitze rất am hiểu cuộc điều trần sẽ đòi hỏi ông phải bênh vực chính sách của chính quyền cho nên ông đã từ chối không ra điều trần dựa trên cơ sở là ông không có đủ tư cách để biện hộ cho những chính sách này. Ông đã trao cho ông Clifford một lá thư do ông soạn thảo gửi Tổng thống, trong đó ông đã nói rõ quan điểm của ông cho rằng việc thực hiện sự bố trí quân sang Việt Nam sẽ đe dọa những cam kết của Hoa Kỳ ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Lá thư đã kết luận bằng một đoạn muốn nói rằng do sự tỏ rõ lập trường. Ông có thể rất hiểu được là Tổng thống có thể muốn ông hãy từ chức. Ông Nitze nhắc lại quan điểm của ông như sau:

“Tôi hoàn toàn sẵn sàng chấp nhận một quyết định của chính quyền mà đứng trên lập trường hẹp hòi thì có thể không tán thành nhưng dựa vào đó tôi có thể thấy được nhà cầm quyền cấp cao với sự hiểu thấu vấn đề rộng lớn nên có thể có những suy xét trong tâm trí mà tôi không có trong đầu óc vào lúc ấy và như thể tôi sẽ phải bênh vực quyết định đó. Nhưng tôi cảm thấy tôi đã hiểu rõ vấn đề như ông bạn bên cạnh tôi, nhưng không ai sẵn sàng giải thích cho tôi hiểu những suy xét rộng lớn hơn đó là gì.

Tôi có cảm tưởng là tình hình đã đảo ngược và lúc đó tôi đang chú ý đến những quan tâm rộng lớn hơn nhiều nhà cầm quyền cấp cao. Trong tình huống như thế, tôi không phải là người có thể được đưa đi điều trần… Đây không phải là một mối bất đồng to lớn với chính quyền. Đây chỉ có nghĩa là anh làm theo một cách nào đó và họ bảo đây là cách mà anh sẽ phải thi hành. Tôi không thể nào làm theo cách khác được” (42).

Ông Clifforđ đã sửng sốt trước lá thư của ông Nitze về nội dung cũng như về sự tiếp nhận khi đến tay Tổng thống Johnson, con người rất nhạy cảm đối với vấn đề trung kiên. Ông chấp thuận chuyển lá thư lên Tổng thống nếu ông Nitze sẵn sàng xóa bỏ đoạn nhắc đến sự sẵn sàng "thôi không tiếp tục” đảm nhiệm chức vụ nữa. Việc này đã được ông Nitze thực hiện và phần còn lại của lá thư được gửi lên Nhà trắng. Kể từ ngày ấy, ông Nitze đã không còn được mời dự những bữa ăn trưa được tổ chức vào ngày thứ ba mỗi tuần tại Nhà trắng (43).

Sau đó ông Clifford và Tổng thống đã quyết định chỉ thị ông Warnke phải ra điều trần trước Quốc hội thay mặt Bộ quốc phòng. Ông Warnke đồng ý mặc dù ông có nhiều nỗi lo âu về chính sách Việt Nam. Tuy nhiên. Thượng nghị sĩ Fulbright lại cứ nhất định là ủy ban chỉ sẵn sàng chấp nhận ông Clifford hoặc ông Nitze ra điều trần mà thôi và ủy ban sẽ chờ cho đến khi được chính quyền thông báo ông này hoặc ông kia sẵn sàng ra điều trần. Cứ như thế quả bom lại được ném trở lại vào sân của ông Clifford.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #141 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 04:44:44 pm »

Có lý do để tin rằng đây là điểm mà những hoài nghi đang tăng lên nhưng còn do dự của ông Clifford đã kết tinh thành một niềm tin vững chắc là chiến lược của chúng ta cần phải sẵn sàng tìm một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến. Bị xúc động trước sự thành thật và tài hùng biện của các trợ lý của ông như các ông Nitze, Warnke và Goulding, lo lắng trước sự chống đối dễ hiểu trong số các bạn bè trong Quốc hội, không tin theo những lời thuyết phục của các tướng lãnh trong Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, những suy nghĩ của chính ông Clifford đã kết tinh lại. Chắc ý nghĩ phải đứng ra biện hộ cho một chính sách, và không thành công trước một cử tọa gồm những người có phần rất am hiểu vấn đề và có đầu óc chống đối trong Quốc hội đã tập trung những hoài nghi trong trí óc của ông. Ông Nitze đã nhắc lại: “Khi ông Clifford phải đương đầu với khả năng ông ta có thể sắp phải đứng ra bào chữa cho chính sách của chính quyền trước Ủy ban Fulbright. quan điểm của ông đã thay đổi" (44)

Theo như ông Clifford đã giải thích tình trạng khó xử của ông, ông cố tìm kiếm những giải đáp mà không tìm ra nổi một giải đáp nào cả, ông nói:

“Tôi đã không thể tìm ra được giải đáp bao giờ cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt. Tôi đã không tìm thấy có cách nào để đưa trận chiến tranh đến chỗ kết thúc. Tôi đã không hiểu được liệu những lời yêu cầu xin tăng thêm quân và đồ thiết bị sẽ đáp ứng đủ nhu cầu chưa hay là sẽ còn cần nhiều hơn nữa và nếu cần thêm nữa thì khi nào và cần thêm bao nhiêu. Tôi không hiểu rõ bao lâu nữa lực lượng Nam Việt Nam sẽ sẵn sàng tiếp quản thay thế được.

Tất cả cái gì tôi có trong tay là lời phát biểu được đưa ra với quá ít tự tin để có thể làm yên lòng. vấn đề là nếu chúng ta cứ cố theo đuổi cuộc chiến tranh trong thời gian dài vô hạn định, quân địch sẽ có thể chọn con đường thôi không tiếp tục cuộc chiến tranh nữa... Tôi tin chắc là con đường quân sự mà chúng ta đang theo đuổi không những là vô tận mà còn tuyệt vọng nữa.

Biện pháp tăng thêm lực lượng Mỹ với số lượng quan trọng chỉ có thể làm gia tăng sức tàn phá và sự Mỹ hóa chiến tranh và như thế làm cho chúng ta thụt lùi xa hơn đối với mục tiêu hòa bình mà dựa vào đó sẽ cho phép nhân dân Việt Nam hình thành những thể chế chính trị và nền kinh tế của họ. Từ nay trở đi, tôi cũng tin chắc là mục tiêu chủ yếu của chúng ta phải là giải quyết việc dính líu của chúng ta và hoạt động hướng về giải kết dần dần (45).

Ông Clifford đã gặp riêng Thượng nghị sĩ Fulbright và trong một cuộc trao đổi câu chuyện một cách thẳng thắn ông đã thông báo cho ông Chủ tịch ủy ban đối ngoại Thượng viện biết về những hoài nghi đang tăng lên trong đầu óc của ông về chính sách Việt Nam mà chính quyền đang theo đuổi. Ông Fulbright đã nhắc lại cuộc gặp gỡ như sau:

“Ông Clifford đã cho tôi biết là ông ta đang tiến hành một cuộc duyệt xét lại chính sách Hoa Kỳ ở Việt Nam. Ông đưa ra lý lẽ là ông không muốn đưa ra lời phát biểu công khai trước khi việc duyệt xét lại hoàn thành. Tôi đã cảm thấy điều thích hợp là nên chờ cho đến khi cuộc duyệt xét này hoàn thành rồi ông ấy hãy ra điều trần trước ủy ban" (46).

Hai người đã đi đến thỏa thuận là nếu ông Clifford phải ra điều trần trong lúc vấn đề đang được tranh luận trong chính quyền, việc này có thể làm những triển vọng đưa đến việc thay đổi chính sách của chính quyền. Phấn khởi trước điều đã nghe được, ông Fulbright đã gửi công văn cho Bộ trưởng Quốc phòng báo cho ông này biết là ông có thể ra điều trần trong tương lai khi nào ông thấy thuận tiện. Như ông Chủ tịch đã phát biểu:

"Quan điểm của ủy ban đối ngoại là đề tài viện trợ quân sự có tầm quan trọng đến mức ông Bộ trưởng Quốc phòng phải ra trình bày trước một buổi họp công khai như trước đây. Lẽ dĩ nhiên, ủy ban rất hiểu sự cần thiết đối với ông để làm quen với đề tài và sẽ sẵn sàng để ông ra điều trần khi nào ông thấy thuận tiện" (47).

Vì thế ông Clifford đã tiến gần hơn đến quyết định về con đường mà Hoa Kỳ cần phải theo để đem cuộc chiến tranh Việt Nam đến chỗ kết thúc. Nhưng như ông sẽ khám phá ra là "Việc đạt đến một sự kết thúc và việc thi hành đầy đủ những điều khoản đã thỏa thuận không giống nhau, đặc biệt là khi người ta không có quyền quyết định cuối cùng" (48).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #142 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 04:45:36 pm »

CHÚ THÍCH CỦA CHƯƠNG CHÍN

(1) Hazel Brakine "Những cuộc thăm dò dư luận: cuộc chiến tranh có phải là một sự sai lầm không": tr.135-143-150. Louis Harris "Niềm tin bị lung lay nhưng đa số bác bỏ việc rút lui khỏi Việt Nam". “Đánh giá công chúng đối với cuộc chiến tranh". Wheeler "Những khuynh hướng trong sự ủng hộ của quần chúng đối với các cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam” tr.365. Jueller: “Sự hâm mộ Tổng thống của quần chúng từ Tổng thống Truman đến Tổng thống Johnson” tr.35-36. Jerche R.Skelnick "Chính trị phản đối" tr.44. Cantril "Nhân dân Mỹ, Việt Nam và nhiêm kỳ Tổng thống" tr.5-7.

Dĩ nhiên, việc xác định rõ “Sự ủng hộ" đối với cuộc chiến tranh là tối quan trọng. Một số những nhà bình luận đã nhận thấy có một sự gia tăng lớn trong số những bồ câu sau tháng Ba 1968, trong khi đó thì những người khác lại giải thích việc này như một sự ủng hộ của quần chúng đối với việc tạm ngừng ném bom và sáng kiến hòa bình của Tổng thống.

Xem Converce và Shuman "Những đa số trầm lặng và cuộc chiến tranh Việt Nam" tr.20-21. Harlan Hahn “Những yếu tố liên quan với nhau về cảm nghĩ của công chúng đối với chiến tranh. Trưng cầu dân ý địa phương về vấn đề Việt Nam” tr. 1.189; "Làn sóng bi quan mới đối với cuộc chiến tranh Việt Nam được nhận thấy ở khắp đất nước" tr.6; “Một sự gia tăng rõ rệt được nhận thấy trong số những bồ câu” tr.15. Rostow "Sự chia sẻ quyền lực". tr.461-483. Rosenberg và những người khác: “Vấn đề Việt Nam và đa số trầm lặng" tr.38-39. John Mueller "Cuộc chiến tranh các Tổng thống và dư luận quần chúng" tr.57.

(2) Rostow "Sự chia sẻ quyền lực" tr.484-496. Sidney Verba và Richard A.Brady "Tham gia những chọn lựa ưu tiên về chiến tranh ở Việt Nam". Rosenberg và những người khác “Vấn đề Việt Nam và đa số trầm lặng" tr.30-33. Joseph Vrart "Những sự tăng giảm đau đầu của dư luận trong thời hạn ngắn làm cho Tổng thống Johnson mù quáng trước tâm trạng cơ bản của Hoa Kỳ". Louis Harris "Hoa Kỳ phản ứng lại với quyết tâm vừa phải đẩy mạnh cuộc chiến tranh".

(3) Oberdorfer "Tet". Michael J.Arlen "Cuộc chiến tranh trong phòng khách" tr.169-172. 119-122; Edith Efron "Những kẻ bóp méo tin tức" tr.47. Rodholmgren và William Norton, nhà biên soạn "Cuốn sách về phương tiện thông tin đại chúng". Warren K.Agee, nhà biên soạn “Phương tiện thông tin đại chúng trong một xã hội tự do". Arthur Krack "Sự tán thành của kẻ bị trị", Robert Macneil "Bộ máy nhân dân", James B.Reston "Súng pháo của báo chí, tác động của nó đối với chính sách đối ngoại của Mỹ". Wiliiam L.Rives "Những đối thủ”. Donald F.Roberts và Winbur Schramn, nhà biên soạn “Phương pháp và hiệu lực của hệ thống thông tin đại chúng". Robert Stein “Sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng: Ai đang tạo hình ảnh thế giới cho bạn ?". Alan Wella, nhà biên soạn “Phương tiện thông tin đại chúng và xã hội". "Sự bất đồng quan điềm ở Mỹ: Những sự kiềm chế trong chính sách đối ngoại" tr.8-12. Georse Wil "Sự thiên vị của vô tuyến truyền hình có quan trọng gì không?". "Máu trên màn ảnh". “Cuộc chiến tranh trong phòng khách - tác động của vô tuyến truyền hình". Schin Day “Những nỗi băn khoăn suy nghĩ của một nhà báo Vô tuyến truyền hình" tr.78-88. Richard Harwood “Sức mạnh của báo chí: Thần thoại hay sự thực Mỹ”. "Những nhà soạn thảo chính sách đối ngoại và báo chí". B. Singer “Bạo lực chống đối và chiến tranh trong tin tức vô tuyến truyền hình: so sánh ở Hoa Kỳ và ở Canada". Peter Braestrup "Chuyện quan trọng: Báo chí và vô tuyến truyền hình Mỹ đã tường thuật và giải thích cuộc khủng hoảng Tết 1968 như thế nào ở Việt Nam và ở Washington".

(4) Về sự phân tích đã làm ông Cronkite đến quyết định này, xem Oberdorfer “Tet". tr.248-251.

(5) Wiliiam P.Snall "Giết chết một người đưa tin" tr.125.

(6) Rostow “Sự chia sẻ quyền lực" tr.262.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #143 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 04:46:42 pm »

(7) "Cái lôgic của chiến trường". Xem cả S.Yee "Báo chí Hoa Kỳ và sự khổ cực trong việc đánh giá tình hình". John W Fenton "Những chuyển hướng của báo chí đối với cuộc chiến tranh được thuật lại".

(Cool Art Buchwald "Tướng Custer thuyết trình tại Big Horn, chúng ta đang chứng kiến quân địch chạy dài".

(9) Henry "Tạp chí Harpers và Atjantic cho xuất bản những số báo đặc biệt về Việt Nam", Dan Wakereld "Siêu cường trong hòa bình và chiến tranh" tr.99-100. Norman Sailer “Những bước của nền văn hóa".

(10) Waiter Lippmand "Waiter Lippmand nói về nội trận" tr.24.

(11) "Cuộc chiến tranh".

(12) Well Sheehan và Hedrick Smith "Tướng Westmoreland xin tăng viện thêm 206.000 quân, cuộc tranh cãi sôi nổi trong chính quyền".

(13) Phỏng vấn riêng ông Hedrick Smith ngày 19-10-1975.

(14) Phóng sự chủ nhật của Frank Mogee ngày 10-3-1968 được ông Oberdorfcr trích dẫn trong cuốn "Tet", tr.273.

(15) Cuộc phỏng vấn riêng ông Walt W.Rostow. 4-2-1974. Đọc cả Chaimers M.Roberts, "Cuộc chiến tranh đang trải qua sự xem xét kỹ lưỡng và sâu sắc". Frederick Taylor “Lời yêu cầu gởi thêm quân sang Việt Nam được Nhà Trắng nghiên cứu: một số người chống lại bố trí bất kỳ một sự tăng cường lực lượng nào".

(16) Johnson "Vị trí ưu thế” tr.402.

(17) Phỏng vấn riêng ông Edwin L.Dale Jr. 21-10-1975.

(18) Phỏng vấn riêng ông Nell Sheehan. 20-10-1975.

(19) Như trên.

(20) Cuộc phỏng vấn riêng ông Hedrick Smith ngày 13-10-1975. Đọc cả Braestrup "Chuyện quan trọng".

Về sự suy đoán ông Daniel Alsberg đã là người cung cấp nguồn tin cơ bản của câu chuyện đăng trên báo, xin đọc Jack "Alsberg: Những tin tức bị lộ khác".

Ông Nedrick đã có ý kiến như sau:

"Nỗi hoài nghi, biết rõ tin tức xuất phát từ lâu và anh Daniel Alsberg chắc là đã có dính dáng tới việc này. Mặc dù tôi không biết rõ nguồn tin chủ yếu dựa vào đó các nguồn tin của tôi đã săn lượm được chúng tôi biết rõ như Alsberg không phải là nguồn tin trực tiếp".

Cả hai và Sheehan trong khi được phỏng vấn riêng đã phủ nhận việc câu chuyện của họ đưa ra là do đồng sự chính trị thúc đẩy hoặc có một sự liên quan nào với Hội nghị sơ bộ đang chọn lựa ứng cử viên. Họ nói rõ là câu chuyện đã được đăng trên báo chí vì những lý do thực dụng và cạnh tranh: như là săn nhặt được những sự kiện càng gần đầy đủ càng tốt và đăng câu chuyện đó lên báo ra ngày chủ nhật đề đánh bại sự cạnh tranh của các tạp chí tuần báo tin tức khác.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #144 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 04:48:05 pm »

(21) Cuộc phỏng vấn riêng ông William G.Willer, 30-9-1975.

(22) Don Oberdorfer "Sự nghiêng ngả đối với trận chiến tranh trong Điện Capttol (Tòa nhà Quốc hội)"; David "Những dân biểu trẻ tuổi yêu cầu duyệt xét lại toàn bộ chiến lược Việt Nam..."

(23) Phỏng vấn riêng ông William G.Miller ngày 30-9-75.

(24) Biên bản Quốc hội. tr.5645. Xem cả John W.Finney “Những hoài nghi về cuộc chiến tranh ở Thượng viện": Lyle Denniston "Các thượng nghị sĩ đòi hỏi có tiếng nói trong việc tăng cường thêm quân ở Việt Nam". John W.Finney "Tôi chỉ trích cuộc chiến tranh lan rộng ở Thượng viện về vấn đề tăng cường thêm quân".

(25) Biên bản Quốc hội, tr.5658.

(26) Như trên. Tr 5359.

(27) Phỏng vấn riêng ông William C.Miller ngày 1972. Tuy nhiên ủy ban đã chê trách ông Rusk vì trước đây ông đã từ chối không chịu ra điều trần trước buổi họp công khai.

Đọc “John, nhóm tham gia hội thảo ở Thượng viện thúc giục ông Rusk nhận lời tranh luận về cuộc chiến tranh". "Thượng nghị sĩ Mansfield hành động để chấm dứt cuộc cãi lộn cơ bản về việc ông Rusk từ chối". "Sự xuất hiện của ông Rusk trên kích thích việc hình thành nhóm hội thảo...".

(28) Hội Hoa Kỳ, Thượng viện ủy ban đối ngoại "Những cuộc điều trần, đạo luật viện trợ nước ngoài 1958, Ph.l Việt Nam. tr.1. Sau này được trích dẫn như những cuộc điều trần, Đạo luật Viện trợ nước ngoài 1962.

(29) Johnson "Vị trí ưu thế” tr. 129. Thêm cả cuộc phỏng vấn riêng ông Willỉam G.Miller. ngày 1-12-68.

(30) Những cuộc điều trần, đạo luật viện trợ nước ngoài 1968.

(31) Như trên. Điều này đã được Tướng David lặp lại và giải thích trước ủy ban ngày 30-3-1968.

(32) Lời phát biểu của ông Rusk ngày 15-2-1968 về khả năng rất có thể đàm phán về hòa bình. Redrick Smith “Ông Rusk nói Hà Nội bác bỏ những điều kiện của Hoa Kỳ để đi đến một điều đình". Henry Tenner "ông U Thant hội đàm với đại diện của Hà Nội". Robert C.Doty "Ông Fanfani đã gặp hai người phụ tá của Hà Nội.

(33) “Những cuộc điều trần, đạo luật viện trợ nước ngoài" tr.25.

(34) “Tư thế đứng cách biệt" (Standoff). Đọc cả David “Những hệ quả trong việc chất vấn ông Rusk". Chalder Roberts "Những hoài nghi về Việt Nam, những nỗi lo âu vẫn còn", “Trơ trơ trước thực tại". “Ông Rusk quay ra thô lỗ". "Như ông Rusk đã từng nói". “Sự đóng góp của các cuộc điều trần"; “Luận điểm về lời cam kết của ông Rusk bị quật xuống"...

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #145 vào lúc: 31 Tháng Mười, 2009, 04:48:28 pm »

(35) Để tìm hiểu một số quan điểm của Thượng nghị sĩ Russell, xem Theodore Draper "Lạm dụng quyền lực" tr. 153-155.

(36) Phỏng vấn riêng ông Clark Clifford ngày 28-11-72.

(37) Phỏng vấn riêng ông Thượng nghị sĩ Henry H.Jackson ngày 28-3-1973. Xem cả Thiếu tướng S.L.Mashall “Sự linh hoạt của ông tân Bộ trưởng quốc phòng làm cho Thượng viện vui lên".

(38) Trao đổi thư riêng của Thượng nghị sĩ Largaret Chase Smith ngày 31-2-1972.

(39) Thư riêng của Thượng nghỉ sĩ Mike Mansfield ngày 28 tháng 5 năm 1973.

(40) Công điện của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân số 02721, 080048Z tháng 3-1968, Tướng Wheeler gửi cho Tướng Westmoreland và Đô đốc Sharp, xem cả Gene Roverts "Bộ tư lệnh Hoa Kỳ coi Huế chứ không phải Khe Sanh là mục tiêu chính của địch".

(41) Phỏng vấn riêng Tướng Westmoreland ngày 23-10-1972.

(42) Phỏng vấn riêng ông Paul Nitze ngày 13-10-1972.

(43) Vụ rắc rối này được mô tả chi tiết trong cuốn sách của Kalb và Abel "Những nguồn gốc của việc bị lôi cuốn vào", tr.231-232 và của Hoopes "Những giới hạn của sự can thiệp". tr.198-200, và vụ này đã được xác nhận qua cuộc phỏng vấn riêng ông Paul Nitze ngày 13-12-1972.

Trong bất cứ trường hợp nào. Ông Nitze chỉ tham dự những bữa ăn trưa vào ngày thứ ba mỗi tuần như đại diện cho ông McNamara mỗi khi ông Bộ trưởng Quốc phòng không tới dự được.

Cuộc phỏng vấn riêng trung tướng ngày 5 tháng 2 năm 1975.

(44) Phỏng van ông Nitze ngày 13 tháng 10 năm 1972. Ông William Bundy cũng đã biểu thị ý kiến tương tự qua cuộc phỏng vấn riêng ngày 11-10-1972. Đọc cả Hoopes "Những giới hạn của sự can thiệp". tr.200-201.

(45) Clifford "Một sự đánh giá lại chính sách Việt Nam". tr.511-513.

(46) Cuộc phòng vấn riêng Thượng nghị sĩ William Fulbright ngày 1-11-1973. Đọc cả Belb và Kalt "Những nguồn gốc của sự bị lôi cuốn vào".

(47) J.W.Fulbright Chủ tịch ủy ban gửi Clark Clifford, Bộ trưởng Quốc phòng đề ngày 21-5-1968.

(48) Clifford “Một sự đánh giá lại chính sách Việt Nam". tr.615.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #146 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:31:20 pm »

CHƯƠNG MƯỜI
VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ VÀ VẤN ĐỀ KINH TẾ

Tổng thống Johnson đã thành công xuất sắc trong việc giữ cho cuộc chiến tranh Việt Nam "Vượt lên trên mọi chính kiến". Ông đã không ngừng nuôi dưỡng sự ủng hộ của hai đảng đối với chiến tranh và sử dụng mọi phương tiện sẵn có để chứng minh rằng các quyết định của ông và Việt Nam chỉ là một sự tiếp tục những chính sách và hành động những tiền nhiệm của ông trong Nhà Trắng (1).

Đạt được sự nhất trí là một kỹ thuật cai trị và lãnh đạo của ông. Ông đã tốn rất nhiều công sức để bảo đảm quyết định Vịnh Bắc Bộ 1964 được sự ủng hộ của cả hai đảng, tranh thủ được Tướng Dwight D. Eisenhower, người đảng viên đảng Cộng hòa được hâm mộ nhất lên tiếng bày tỏ công khai sự tán thành của ông đối với quyết định trên (2).

Sự lớn tiếng chống đối chiến tranh Việt Nam cho đến 1968 đã xuất phát từ những nhóm không hoạt động chính trị trên quy mô lớn, không liên kết với bất cứ đảng phái chính trị nào hoặc là xuất phát từ một số nhỏ nhà lập pháp thuộc đảng Dân chủ.

Về phía bên kia, thỉnh thoảng những sự phàn nàn của phe chính trị thiên hữu nói rằng Tổng thống đã chấp nhận và thực hiện một "chính sách không đánh thắng ở Việt Nam" đã bị cắt đứt bởi những lời phát biểu công khai của Tướng Westmoreland - một người được phái hữu rất kính nể - ông luôn luôn khẳng định là ông đang nhận được tất cả những quân lính và phương tiện yểm trợ mà ông đã xin Tổng thống và những gì ông xin đang đến đáp ứng nhu cầu đúng lúc hoặc có thể được sử dụng hết.

Tổng thống Johnson đã thừa nhận tầm quan trọng của sự ủng hộ hết mình của vị Tư lệnh chiến trường do ông chỉ định. Tại hội nghị Honolulu được tổ chức trong tháng hai 1966. Ông đã nói với Tướng Westmorland như sau “Này Đại tướng, tôi đặt nhiều tin tưởng vào đại tướng... Tôi hi vọng đại tướng đừng để xảy ra một vụ Mac Arthur nữa" (3).

Một sự bất mãn về chiến tranh đang dâng lên bắt đầu hình thành rõ rệt trong phong trào sinh viên. Tuy nhiên, sự bất mãn này đã không được tổ chức tốt, không có người lãnh đạo và có vẻ nhỏ, không ở vào thế có thể ngăn chặn nổi việc đề cử một Tổng thống đương nhiệm ra ứng cử trước sự khéo léo và quyền thế chính trị của ông Johnson.

Tuy nhiên, một nhân vật đã lần hồi đi đển kết luận dù sự chênh lệch có tuyệt vọng như thế nào đi nữa thì người ta cũng cần phải xem xét lại đối với chính vị Tổng thống đương nhiệm, cũng như đối với những chính sách chiến tranh của ông.

30-11-1967, Thượng nghị sĩ Eugene Mc Carthy công bố ra ứng cử để được đảng dân chủ đề cử ra tranh cử trước Tổng thống và như thế ông đã trở thành người cầm đầu một cuộc nổi dậy với hậu quả là gây chia rẽ trầm trọng trong đảng Dân chủ
(4). Ông Mc Carthy đã quyết định thách thức lập trường của Tổng thống do việc công bố gần đây của chính quyền và những kế hoạch tiếp tục leo thang và tăng cường chiến tranh ở Việt Nam và... không có một dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy... sẽ đi đển một sự thỏa hiệp hoặc một cuộc dàn xếp chính trị bằng thương lượng" (5).

Nhưng cuộc vận động của ông Mc Carthy trong những ngày đầu có vẻ bị rối loạn, không sôi nổi và hình như cho thấy gián tiếp sự ủng hộ đối với lập trường bồ câu về vấn đề Việt Nam chẳng có bao nhiêu. Ông Mc Carthy đã được thuyết phục một cách bất đắc dĩ để ông ghi tên tham dự hội nghị sơ bộ chọn ứng cử viên Tổng thống của đảng được tổ chức ở New Hampshire đã tập hợp sự ủng hộ Tới chừng mực mà sự ủng hộ này có thể tranh thủ được, nhưng mối đe dọa đối với ông Johnson có vẻ xa vời (6).

Đối với những người bất đồng quan điểm thuộc Đảng dân chủ, ông Robert Kennedy dường như là người ứng cứ đương nhiên cầm cờ đi đầu đại diện cho họ. Ông này có một cơ sở quyền thế rộng lớn, ông lại có cái tên Kennedy và ông đã tách hẳn ra khỏi lập trường của chính quyền về Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #147 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:31:58 pm »

Trong một thời gian nào đó, ông Kennedy đã bị gây sức ép để thách thức Tổng thống bằng cách ra tranh cử chức này, nhưng những nhà chuyên nghiệp chính trị được ông tin cậy nhất đã khuyên là ông không thể thắng được cuộc tranh cử này và nếu ông quyết tâm thì sẽ làm tan rã đảng Dân Chủ.

Vì thế tại buổi họp mặt ăn sáng ở Câu lạc bộ báo chí quốc gia sáng ngày 30-1-68, ngay trước khi xảy ra vụ Tết. Ông đã đích thân tuyên bố rút lui khỏi cuộc chạy đua tranh chức Tổng thống “trong bất cứ tình huống nào có thể được".

Tuy nhiên, cuộc tấn công Tết đã hợp pháp hóa cuộc chiến tranh Việt Nam như một vấn đề chính trị. Trước hết, hình như nó đã tạo nên một bằng chứng bi thảm là chính phủ, chính quyền Johnson, đã lừa dối nhân dân và do đó không thể tin cậy được.

Thứ hai, vụ Tết đã giải phóng những nhà hoạt động chính trị, những nhà báo và những nhà bình luận khỏi những ràng buộc trước đây của họ với chiến tranh. Tình hình hiện nay đã thay đồi một cách thê thảm và dường như người ta đòi hỏi phải có những giải pháp mới, những đường lối giải quyết khác.

Thứ ba, đòn tâm lý đau đớn ở Việt Nam đã làm cho việc tìm kiếm những đường lối hành động để chọn lựa trở thành chính đảng và thật là cần thiết. Đó là một dịp để đánh giá lại những mục đích và những chính sách của Mỹ ở Việt Nam không những chỉ ở bên trong chính quyền mà thôi mà cả ở bên trong toàn bộ quá trình chính trị của đất nước nữa.

Toàn thể nước Mỹ có vẻ mong mỏi có một giải pháp kỳ diệu, con đường đi đến hòa binh trong danh dự. Những cuộc thăm dò dư luận quần chúng tuy đã cho thấy sự ủng hộ của quần chúng đối với cuộc chiến tranh nhưng đã không làm cho Tổng thống Johnson được yên lòng: các cuộc thăm dò dư luận cũng biểu lộ là sự tin tưởng vào sự chỉ đạo cuộc chiến tranh của Tổng thống đã tụt lại đàng sau xa so với sự ủng hộ của quần chúng đối với ngay cả cuộc chiến tranh và đang suy sụp (7).

Rồi không bao lâu sau vụ Tết những đối thủ thách thức Tổng thống trong cả hai đảng bắt đầu phát biểu quan điểm của mình. Chiến tranh Việt Nam và đặc biệt là sự chỉ đạo chiến tranh của chính quyền Johnson đã trở thành vấn đề chính trị chủ yếu trong cuộc vận động bầu cử Tổng thống vẫn còn trong thời kỳ phôi thai. Vấn đề này đã át hẳn tất cả những mối quan tâm khác của quan chúng.

Tổng thống Johnson đã đứng tách rời khỏi cuộc đấu đá chính trị. Với tư cách là một Tổng thống đương nhiệm đang phải đương đầu với một loạt những cuộc khủng hoảng trên trường quốc tế và ở trong nước, và đang đứng trước một gánh nặng đánh giá lại những chính sách quốc gia ở Việt Nam. Ông đã từ chối không tham dự những cuộc tranh cãi sơ khởi, ngoài những cuộc tranh luận trong đó với tư cách là một ứng cử viên, buộc ông phải ra mắt cho hợp pháp để có tên trên phiếu bầu cử (Cool. Ông biết rõ tâm trạng của dân tộc và ông cảm thấy ông Mc Carthy hoặc ông Kennedy sẽ không phải là một mối đe dọa đối với ông. Những cố vấn chính trị của ông đã khẳng định là ông sẽ là người được chỉ định ra tranh cử chức Tổng thống của đảng Dân chủ (9).

Vì thế những kết quả của hội nghị sơ khởi tuyển lựa ứng cử viên tổ chức ở New Hampshire, hội nghị đầu tiên trên đất nước, được tổ chức vào ngày 12 tháng Ba, đúng ngày mà ông Rusk hoàn thành cuộc điều trần của ông trước ủy ban Fulbright, đã làm mọi người sửng sốt (10). Ông Mc Carthy ứng cử viên chủ trương hòa bình đã thực hiện một sự phô trương thanh thế mạnh mẽ làm mọi người ngạc nhiên tại hội nghị sơ bộ chọn ứng cử viên của đảng Dân chủ mà ông đã ghi danh một cách miễn cưởng, một phần vì cứ đinh ninh rằng cử tri New Hampshire thiên về lập trường hiếu chiến.

Trên thực tế khi việc kiểm phiếu viết tên bỏ phiếu cho người ra ứng cử của đảng vào cuối tuần, ong Mc Carthy đã đạt tới trong khoảng mấy trăm phiếu là có thể đánh bại đương kim Tổng thống trong một cuộc bầu cử phổ thông (11). Mặc dù Tổng thống không có tên trên lá phiếu, tổ chức đảng Dân chủ đã nói rõ là họ mong đợi một cuộc vận động to lớn viết tên ông vào lá phiếu để bày tỏ sự nhiệt tình của những người bỏ phiếu đối với Tổng thống.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #148 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:32:36 pm »

Phản ứng trên toàn thể đất nước, đối với cuộc bỏ phiếu ở New Hampshire rất sâu sắc. Mặc dù cuộc bầu cử ít quan trọng trên phương diện khả năng bỏ phiếu cuối cùng, tuy thế đó đã có những hệ quả tâm lý rộng lớn. Rõ ràng là ông Johnson, nhà chính trị lão thành đã bị thách thức thành công không phải bởi một người tranh phiếu hấp dẫn và có sức lôi cuốn mà bởi một ứng cử viên yếu hơn, ít hấp dẫn hơn nhưng đã có thể động viên và tập trung tư tưởng vào sự bất mãn và sự vỡ mộng do cuộc chiến tranh gây nên.

Cuộc bầu cử đã báo trước một cách rộng rãi như biểu hiện một sự không thừa nhận chính quyền và những chính sách của chính quyền về Việt Nam và cổ vũ niềm hi vọng của những người chỉ trích Tống thống trong cả hai đảng. Cuộc phân tích sau này đã làm sáng tỏ hơn những động cơ thúc đẩy những người bỏ phiếu ở New Hampshire và đã làm nảy sinh ra sự nghi ngờ cho rằng rất có thể việc bầu cho ông Mc Carthy biểu hiện bỏ phiếu cho lập trường hòa bình.

Có điều chắc chắn là những người đã bỏ phiếu cho ông Mc Carthy tại hội nghị sơ bộ chọn ứng cứ viên đã rất bất mãn về các chính sách của Tổng thống Johnson về Việt Nam, số người này đã vượt hẳn số người đã bỏ cho ông Johnson nhiều. Nhưng trong số những người không hài lòng vì ông Mc Carlhy, những người không hài lòng vì ông Johnson đã không theo đuổi một đường lối cứng rắn hẳn ở Việt Nam đã vượt hẳn số những người mong muốn rút lui khỏi Việt Nam. Tới một sự chính lệch là ba trên hai.

Thật vậy những cuộc nghiên cứu đã cho thấy là những người đã ủng hộ ông Mc Carthy trước khi có hội nghị. Đảng dân chủ và sau đó, vào tháng mười một, đã xoay sang ủng hộ một ứng cử viên khác, số lớn đã quay sang ủng hộ Wallace (12).

Tuy thế những kết quả ở hội nghị New Hampshire đã đặt thành một vấn đề nan giải sâu sắc cho ông Robert Kennedy. Trước tình hình Tổng thống đã bị đánh bại về vấn đề Việt Nam như đã thấy rõ, liệu ông Kennedy, người đối thủ chính trị hàng đầu của ông về vấn đề này và những vấn đề khác, lúc này có quyết định leo lên vũ đài không? Ông Kenncdy đã hội ý riêng với các cố vấn của ông trong bốn ngày tiếp theo hội nghị tuyển lựa ứng cừ viên Tổng thống ở New Hampshire. Ông vẫn nghĩ rằng nếu ông có thể xoay chính sách Việt Nam đi theo hướng khác, giá mà ông có thể buộc chính quyền tích cực đi tìm con đường hòa bình thực sự thì ông chẳng cần ra ứng cử chống lại ông Johnson.

Ông Kenneđy đã nhờ ông Clifford chuyển đến Tổng thống đề xuất của ông là nên triệu tập một hội đồng gồm những người Mỹ có danh tiếng trên toàn quốc được đề cử với nhiệm vụ đánh giá lại chính sách Việt Nam với ý đồ tìm kiếm một con đường đi đến Hòa Bình. Việc đơn giản và không nói ra là nếu Tổng thống đưa ra lời hứa sẽ thay đổi chính sách của ông đối với cuộc chiến tranh thì ông Kennedy sẽ thuận không ra ứng cử Tổng thống nữa.

Nhưng Tổng thống Johnson đã bác bỏ đề nghị này và ngày 16 tháng Ba. Ông Kennedy sau hai thông báo Tổng thống Johnson và thượng nghị sĩ Mccarthy sẽ công bố là ông sẽ ghi tên ứng cử tranh ghế Tổng thống do đảng Dân chủ tuyển chọn (13)

Bây giờ mối đe dọa thực sự đến với Tổng thống Johnson. Về phần ông Mc Carthy, dù cho đang trên đà thắng thế ở Hội nghị New Hampshire. Ông không mong gì trên cơ sở lẽ phải có thể hạ bệ được vị Tổng thống đương nhiệm. Nhưng ông Kennedy thì lại là một vấn đề khác. Việc ông ra ứng cử đã tạo được cho phong trào hòa bình một sự nể nang ngay tức khắc.

Lúc này Tổng thống phải đương đầu với trển vọng một trận đấu đá có tính cách lâu dài và gây chia rẽ ngay trong đảng của ông để giành được sự đắc cử ra ứng cử chức Tổng thống chống lại một đối thủ rất mạnh thế, với cái tròng một cuộc chiến tranh không được quần chúng ưa thích treo quanh cổ ông. Khích lệ trước sự việc những người bỏ phiếu ở hội nghị New Hampshire đã biểu lộ một sự bất mãn của đông đảo quần chúng đối với việc chỉ đạo chiến tranh của Tổng thống, 19 thành viên Hạ viện đã kết hợp với nhau ngày 18 tháng Ba để ủng hộ một nghị quyết đòi Quốc hội phải tiến hành ngay một cuộc xem xét lại chính sách của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á (14).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #149 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:33:10 pm »

Tại bữa cơm trưa hàng tuần được tổ chức vào ngày 19 tháng Ba của những người hoạt động cho cuộc vận động bầu cử của Tổng thống, vấn đề khả năng rõ rệt về một sự thất cử của Tổng thống Johnson tại hội nghị tuyển lựa ứng cử viên của đảng ở Wisconsin sắp tới đã được thảo luận. Ông James L.Rowe Jr. người đứng đầu nhóm này đã bày tỏ ý kiến là ông cho rằng người nào đó cần phải nói thẳng cho Tổng thống biết" (15).

Trong một bị vong lục gửi Tổng thống cùng trong ngày. Ông Rowe đã biểu lộ là ông “đã viết với lòng thành thật mà tôi nghĩ rằng đã được thực hiện giữa chúng ta”.Trong khi đánh giá hậu quả của vụ Tết trên quan điểm hoàn toàn chính trị. Ông Rowe viết:

“Tổng thống cần phải làm một việc gì gây được ấn tượng sâu sắc (chứ không phải là mánh lới nhằm mục đích tuyên truyền trước khi có hội nghị tuyển lựa ứng cử viên ở Wisconsin...) Bằng cách này hoặc cách khác, ở một nơi nào đó hoặc ở chỗ nào khác hình ảnh của một Tổng thống như một người sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ cái gì để cố hết sức tìm kiếm hòa bình đã không còn nữa.

Ông Mc Carthy và ông Kennedy là những ứng cử viên với chủ trương hòa bình và Tổng thống đã trở thành ứng cử viên theo đuổi con đường chiến tranh. Ông cần phải làm một việc gì có tính chất kích thích và gây cảm xúc mạnh để giành lại hòa bình" (16). Ông Johnson đã trở thành một Tổng thống thời chiến và lúc này đất nước đang thiết tha và quả thực dường như đòi hỏi phải có một hành động hướng về. hòa binh ơ Việt Nam.

Trong những ngày náo nhiệt này của tháng ba đã xảy ra một cuộc khủng hoảng to lớn khác, cuộc khủng hoảng này có tính chất kinh tế, cũng đã đòi hỏi sự chú ý của Tổng thống. Cuộc khủng hoảng tiền tệ này xuất phát từ một quyết định cơ bản đã được ban hành vào năm 1965 khi mà việc tăng cường lực lượng ở Việt Nam mới bắt đầu, sự việc là đất nước có đủ khả năng tiến hành được chiến tranh với hai mặt trận, mặt trận ở Việt Nam và mặt trận ở trong nước chống nghèo nàn mà không cần phải áp dụng các biện pháp kiểm soát kinh tế và không tăng thuế má.

Đề tài này đã được đề cập ra trong thông điệp về ngân sách 1968 của Tổng thống: “Quốc gia chúng ta giàu có và chúng ta có thể thực hiện những tiến bộ ở trong nước, trong khi đó vẫn có thể đáp ứng những nghĩa vụ ở ngoài nước, thực tế là chúng ta không thể đi theo một con đường nào khác nếu chúng ta vẫn phải duy trì thế mạnh. Vì lý do đó tôi đã không ngăn cản sự tiến bộ trong các chương trình xã hội vĩ đại có tính cách to lớn và rất cần thiết để tài trợ cho những nỗ lực của chúng ta ở Đông Nam Á".  

Nhưng công việc đã không tiến hành tốt như đã dự tính, chủ yếu vì những chi tiêu cần thiết cho cuộc chiến tranh đã được ước tính quá thấp. Vì vậy vào năm 1966 đã chứng kiến một sự lạm phát giá cả nhanh chóng nhất ở Hoa Kỳ kể từ chiến tranh Triều Tiên.

Để đáp ứng tình hình, trong thông điệp đọc trước Quốc hội năm 1967, Tổng thống đã yêu cầu Quốc hội ban hành một đạo luật cho phép đánh thêm 6% (sau này đã tăng lên 10.5%) thuế cá nhân và đoàn thể, có hiệu lực kể từ 1-7-1967 và kéo dài trong hai năm hoặc là “chừng nào mà những chi tiêu bất thường liên hệ tới những nỗ lực ở Việt Nam của chúng ta vẫn tiếp tục cần đến".

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM