Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 10:43:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Sự nghiệp của một tổng thống bị đổ vỡ - L.Johnson và Việt Nam  (Đọc 108114 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #150 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:34:00 pm »

Đề nghị của Tổng thống đã được đón nhận một cách lạnh nhạt trong Quốc hội. Nghị sĩ Chủ tịch có thế lực của ủy ban kế sách của hạ viện đã cho rằng việc chấp thuận cho tăng thuế sẽ biểu lộ sự ủng hộ chính sách tiếp tục thực hiện các chương trình xã hội vĩ đại của Tổng thống nhưng đồng thời cũng ủng hộ việc tiếp tục tiến hành chiến tranh Việt Nam của ông nữa. Do đó. Ông Wille cảm nghĩ rằng bất cứ một sự tăng thêm thuế nào cần phải được đi đôi với một sự giảm bớt những khoản chi tiêu mới được. Nhưng Tổng thống Johnson thì không sẵn sàng đề nghị bất cứ một sự cắt giảm nào đối với các chương trình xã hội vĩ đại của ông.

Sự bế tắc này, mà cuối cùng ông Wille đã thắng, đã đưa đến hậu quả là Quốc hội cứ ì ra không đẩ mạnh dự luật tăng thuế cho đến khi cuối cùng dự luật này đã được thông qua và trở thành đạo luật ngày 28-6-1968. Trong khi đó chi tiêu về quốc phòng và trong nước vẫn tiếp tục ở mức cao, do đó không ngăn cản nổi tình trạng lạm phát. Số tiền thặng dư của Hoa Kỳ trong cán cân chi phí quốc tế đã giảm xuống nhanh chóng trong những tháng cuối của năm 1967 với hậu quả bị thiếu hụt 7 tỷ đô la trong quý 4 của năm ấy.

Sự thiếu hụt này cùng với sự sụt giá của đồng bảng Anh trong tháng 11-1967 đã gây nên nhiều bất trắc nghiêm trọng trên thị trường tiền tệ quốc tế và làm cho đồng đô la đặc biệt đã bị tấn công. Hậu quả là hoàn cảnh nội bộ ở Hoa Kỳ đã bị toàn thể thế giới xem xét rất kỹ lưỡng.

Cuộc tấn công Tết và hậu quả của nó đã được báo chí loan báo với triền vọng gia tăng trên quy mô lớn lực lượng Mỹ ở Việt Nam và do đó gây nên một sự gia tăng thêm to lớn về chi tiêu, kèm theo một sự bế tắc tiếp tục về tăng thuế, những sự kiện này đã đủ để phát động một sự bùng nổ nghiêm trọng một cơn sốt theo sự ước đoán.

Trong tuần đầu của tháng 3 Hoa Kỳ đã phải bán khoảng 300 triệu đô la bằng vàng. Sang tuần thứ hai, việc đầu cơ tích trữ hầu như không còn kiểm soát được nữa. Các ngân hàng trung ương thế giới đã phải cung cấp khoảng 1 tỷ đô la bằng vàng để đáp ứng yêu cầu. Hoa Kỳ đã thiệt hại 327 triệu đô la vào tay những kẻ đầu cơ tích trữ vào 11 tháng 3 và Tổng thống đã phải ra tay hành động.

Thị trường vàng ở Luân Đôn đã phải đóng cửa ngày 16-3 để kiểm tra sự hao hụt to lớn. Trong dịp nghỉ cuối tuần, các Bộ trưởng tài chính và Giám đốc các ngân hàng trung ương của 7 nước đã vội vã nhóm họp và bí mật gặp nhau ở Washington. Họ đã thiết lập một phương thức trao đổi vàng mới hai tầng trên trường quốc tế theo đó thì không còn có thể mua vàng trên thị trường tự do nữa.

Cuộc khủng hoảng đã bị ngăn chặn nhưng vấn đề cơ bản đã gây nên cuộc khủng hoảng thì chưa được giải quyết. Các giám đốc ngân hàng trung ương thế giới có thể hiểu được là họ vẫn bực dọc về sự ổn định của đồng đô la và về khả năng và ý muốn của Hoa Kỳ mong ổn định lại tlình hình tài chính ở trong nước họ.

Bất cứ một sự gia tăng nào về chi phí quốc phòng của Hoa Kỳ ở Việt Nam mà không giảm bớt những khoản chi tiêu dành cho chương trình xã hội vĩ đại hoặc không tăng thêm thuế có thể nhanh chóng đưa đến sự tái diễn đầu cơ tích trữ, sự sụt giá của đồng đô la và một cuộc khủng hoảng tài chính quy mô to lớn trên trường quốc tế. Các nền kinh tế quốc gia và thế giới đã được Tổng Thống Johnson rất đặc biệt lưu tâm trong khi ông cân nhắc con đường của ông đang theo đuổi ở Việt Nam.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #151 vào lúc: 01 Tháng Mười Một, 2009, 05:34:43 pm »

CHÚ THÍCH CỦA CHƯƠNG MƯỜI

(1) Trandon “Xé sự sai lầm" tr.31. Rouston Johnson “Anh tôi, Lyndon". Kennedy và Lyndon Baines Johnson: "Ảnh hưởng của nhân cách đối với vấn đề chính trị" tr.198-206. Johnson: "Vị trí ưu thế” tr.448-468. "Một nhiệm kỳ Tổng thống rất cá biệt: Tổng thống L.B.Johnson trong Nhà Trắng" tr.70-88.

(2) Johnson "Vị trí ưu thế".

(3) Westmorland "Tường trình của một quân nhân" tr.159; Sidey "Một nhiệm kỳ Tổng thống rất cá biệt" tr.82.

(4) Eugene J.Mc Carthy "Năm của nhân dân" tr. 266-267; đọc cả Theodore R.White “Việc gây dựng một Tổng thống" 1968 tr.79-80; Richard C.Stout "Nhân dân" tr.67-77.

(5) Mc Carthy "Năm của nhân dân” tr.285

(6) David “Cuộc phiêu lưu nửa chừng của Robert".

(7) Chỉ dấu dư luận của viện Gallup “Sự hâm mộ của quần chúng đối với Tổng thống Johnson" tr.2. Được phép sử dụng xem cả George Gallup “Sự đánh giá ông Johnson trong cuộc thăm dò dư luận đạt mức thấp". "Sự đánh giá ông Johnson về Việt Nam xụt xuống". George E.Reedy “Thời kỳ tranh tối tranh sáng của nhiệm kỳ Tổng thống" tr.68.

(Cool John Nerbers “Ông Johnson khước từ những cuộc tranh luận sơ khởi". “Ông Johnson ngăn cách sự thách thức".

(9) Sam Houston Johnson “Anh tôi, Lyndon” tr.237-238. Tổng thống Johnson: “Vị trí ưu thế”. tr.538.

(10) Sam Houston Johnson “Anh tôi, Lyndon". tr.238.

(11) Chester và những người khác “Một tấn thảm kịch mê - lo của Mỹ" tr.72-81. Theodore H.White “Việc gây dựng một Tổng thống" 1968. tr.83-89. Những lời giải thích trực tiếp về cuộc vận động bầu cử ở New Hamshirt đã được ông Mc Carthy giải bày”. “Năm của nhân dân” tr.67-87. “Nhân dân" .tr.116-162. Jeremy Larner “Không ai biết những ý nghĩ về cuộc vận động của ông Mc Carthy năm 1968". Nerzog "Mc Carthy ứng cử Tổng thống" tr.85-88.

(12) Xem Philip E.Converse, Miller, Jerold C.Rusk và Arthur S.Wolre “Sự liên lạc và thay đổi trong nền chính trị Hoa Kỳ: Các đảng và những vấn đề trong cuộc bầu cử".

(13) Theodor H. White "Việc gây dựng một Tổng thống 1968" tr. 167- 168.

(14) John W.Finney: “139 nghị sĩ ở Hạ viện ủng hộ việc đẩy mạnh việc xem xét lại chính sách ở Việt Nam".

(15) Phỏng vấn riêng ông James L.Rowe Jr ngày 29-12-1975. Cũng có mặt trong cuộc phỏng vấn là các ông Robert Burkharat, Wilham Connell, Richard Naguire, Chrrord, Carter, Lawrence “O'brian và Nartin Priedman, Mervin Watson đại diện cho Nhà Trắng". Xem cả Stenen V.Roberts. “Ông Mc Carthy kêu gọi rộng rãi ở Bang Wisconsin".

(16) Bị vong lục gửi Tổng thống "Hòa bình trong danh dự ở Việt Nam”, 19 tháng Ba 1968, ký tên James Rowe. Ngoài ra còn phỏng vấn riêng ông James Rowc Jr Ngày 29 tháng 12-1975.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #152 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:09:12 pm »

CHƯƠNG MƯỜI MỘT
KẾT THÚC MỘT CHIẾN LƯỢC

Vào giữa tháng Ba điều rõ ràng là Tổng thống Johnson sẽ không chấp thuận việc triển khai thêm 206.000 quân hoặc bất cứ một số quân nào gần tới mức đó. Hoạt động trên bộ đang giảm xuống ở Việt Nam đã cho thấy rõ khó lòng xảy ra một cuộc tấn công ồ ạt nữa. Phản ứng của quần chúng và trong Quốc hội chứng tỏ là một sự gia tăng hoạt động quân sự như thế sẽ dễ gây ra một sự bùng nổ vị chính trị và khó có thể bào chữa được.

Những sự quan tâm về mặt tài chính có nghĩa là bất cứ một sự tăng thêm chi phí to lớn nào về quốc phòng chỉ có thể thực hiện được với điều kiện là những chương trình quan trọng trong nước phải chịu thiệt thòi. Trên cơ sở đó, việc hoạch định mức số quân ở Việt Nam được tiến hành theo hai chiều hướng.

Trước hết, người ta đã cố gắng cải thiện công việc ước tính số quân của Hoa Kỳ như thế nào để bất cứ một sự tăng thêm lực lượng nào ở Việt Nam đã được …. tối thiểu. Thứ hai, những biện pháp nhằm củng cố lực lượng vũ trang Nam Việt Nam đã được nêu nổi bật. Ông William Bundy đã nhớ lại là “Vào lúc đó vấn đề này đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt trong suy nghĩ của chúng tôi". (1)

Vào ngày 6 tháng Ba, Hội đôồg tham mưu trưởng liên quân đã cho biết là khoảng 30.000 quân so với 22.000 được đề nghị trước đây có thể nhanh chóng được tuyển mộ và triển khai. Tuy nhiên trong một công điện gửi cho tướng Westmoreland ngày 8 tháng Ba để thông báo về vấn đề này, Tướng Wheeler đã phản ảnh tình hình đang thay đổi ở Washington như sau:

“Tôi không mong muốn trút những điều phiền muộn của tôi cho Đại tướng, tuy nhiên tôi phải thẳng thắn nói với đại tướng là hiện nay đang có một sự chống đối từ mọi phía về vấn đề bố trí thêm những đơn vị, lực lượng lục quân ở Nam Việt Nam... Đại tướng không nên trông mong mọi quyết định chắc chắn và tăng thêm lực lượng” (2).

Ngày 11 tháng Ba, Tướng Westmoreland đã trả lởi bức công điện và yêu cầu được bổ sung trong phạm vi 30.000 quân, 7 tiểu đoàn cơ động và một tiểu đoàn quân cảnh (3).

Đại sứ Bunker cũng tiên liệu rằng mặc dù nội lực trong số này sẽ không đặt thành nhiều vấn đề có thể nhằm đi tới Mỹ hóa cuộc chiến tranh hơn nữa và tạo cho người Việt Nam một lối thoát để trốn tránh nhiệm vụ của họ. Ông đại sứ nói tiếp:

“Chúng ta cần phải duy trì một sự cân bằng thận trọng giữa vấn đề hiện đại hóa quân lực Việt Nam Cộng hòa và việc tăng cường các lực lượng của chúng ta" (4).

Bài báo đăng trên báo New York Times và phản ứng của quốc hội đối với vấn đề nêu ở trên đã cho thấy chiều sâu của sự chống đối nhằm vào một sự gia tăng lực lượng lớn lao. Bức công điện của Tướng Wheeler gửi Tướng Westmoreland để thông báo về buổi họp ngày 11 tháng 3 tại Nhà Trắng và sự chống đối đang tăng lên trong Quốc hội đối với bất cứ một sự triển khai thêm lực lượng nào đến Nam Việt Nam, đã kết thúc bằng lời khuyên cáo như sau:

“Tôi được cấp trên chỉ thị thông báo cho đại tướng rõ về tình trạng các lực lượng của chúng ta ở Hoa Kỳ để trong tương lai đại tướng không bị ở vào thế xin cung cấp cái gì đó mà chúng ta không có hoặc không thể kiểm tra được” (5).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #153 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:09:51 pm »

Lời khuyến cáo nêu trên hẳn là đã đến với Tướng Westmoreland như một chấn động mạnh. Trước đó ông đã bị lúng lúng và bối rối về bài báo đăng trên báo New York Times đưa tin rằng ông đã xin thêm 206.000 quân. Ông nhắc lại câu chuyện đó như sau:

“Khi tôi đọc điều đó đăng trên báo New York Times, mới đầu tôi đã không nhận ra việc ấy. Tôi đã không nhận ra là họ đang đề cập đến chuyện ấy rồi đột nhiên tôi nhận thấy rõ đây là kế hoạch đã được đem vào khung cảnh lời yêu cầu của Tướng Wheeler. Tôi đang bận rộn và nhiều công việc khác và đã không nhận thấy rõ là điều này đã tạo nên một sự vận dụng trí óc lớn đến như thế. Trong bất cứ tình huống nào, tôi không bao giờ chỉ kế hoạch mà Tướng Wheeler và tôi đã triển khai tự nó ắt hẳn là một sự đòi hỏi phải triển khai thêm lực lượng hay là một yêu cầu “khẩn cấp" gửi lực lượng tăng cường cho chiến trường.

Đúng hơn, tôi đã xem đó như một bài tập đặt kế hoạch nhằm mục đích tạo nên một khả năng quân sự để yểm trợ những đường lối hành động lựa chọn về mặt chiến thuật và chiến lược trong tương lai và những lựa chọn này phù hợp với sự xác định chính sách. Tôi dùng thành ngữ "nhu cầu lực lượng" theo nghĩa đã được Hội đồng tham mưu trưởng liên quân định nghĩa, có nghĩa là những lực lượng sẽ cần đến để làm thành những mục tiêu quân sự đã được chấp thuận. Nói một cách khác, nhu cầu này sẽ chỉ trở thành sự thật cụ thể như việc xem xét lại chính sách quốc gia đang được tiến hành ở Washington đưa đến kết quả chấp thuận những mục tiêu chiến lược mới" (6).

Vì đã đáp lại lời yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân đòi xác đinh rõ những kế hoạch và lực lượng (ẩn cho việc đối phó với trường hợp bất trắc tác hại nhất có thể xay ra" mà lúc này vị Tư lệnh chiến trường đang bị trừng phạt nhức những gì đã xin cung cấp thêm qua thiên không có hoặc là kiệm không ra".

Rõ ràng trong một buổi họp tại Nhà Trắng ngày 13 tháng Ba, Tổng thống cuối cùng đã quyết định cho triển khai thêm 30.000 quân đến Nam Việt Nam. Quyết định này đã được hợp thức hóa bằng một bị vong lục của Trợ lý Bộ trưởng quốc phòng gửi Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân ngày 14-3 (7).

Nhưng việc triển khai này đã không thực hiện theo kế hoạch. Ngày 14-3, Bộ trưởng lục quân đã lưu ý là 30.000 quân sẽ không đủ. Cần phải cộng thêm 13.500 quân vào con số trên để yểm trợ và duy trì 10.500 số quân tăng khẩn cấp đã được gửi cho Tướng Westmoreland trong tháng Hai (Cool. Vì thế việc triển khai 30.000 quân đã bị hoãn lại trong khi chờ cho các quân chủng tìm cách xác định xem có thể cung cấp nổi số 13.500 quân tăng thêm không.

Tổng thống tiếp tục hội kiến với các nhân vật cầm đầu Quốc hội và với Bộ trưởng tài chính của ông. Ngày 19-1 ông nhận được một công điện của Tướng Westmoreand diễn tả kế hoạch tiến hành một cuộc tiến công quan trọng của ông sẽ được thực hiện ở quân đoàn 1 để khai thông đường số 9 và giải vây cho các lực lượng ở Khe Sanh. Chiến tranh trên bộ có vẻ tiến triển khả quan. Tổng thống đã phát biểu như sau: “Tôi nghĩ rằng nếu Tướng Westmoreland có đủ sự tin cậy để mở một cuộc tấn công thì nên dùng các lực lượng có sẵn ở Việt Nam, điều khôn ngoan là làm sao hạn chế được đưa thêm quân thì hơn” (9).

Vào ngày 22 tháng 3, Tổng thống đã quyết định giới hạn việc triển khai thêm quân sang Việt Nam ở con số 13.500 lực lượng yểm trợ cần thiết để duy trì số quân tăng cường khẩn cấp đã được gửi sang đó trong tháng Hai. Việc này sẽ chỉ cần gọi nhập ngũ có 62.000 quân mà thôi (10). Vì vậy việc tăng thêm lực lượng Hoa Kỳ đã chỉ là một biểu hiện thôi. Đối với 206.000 quân mà Tướng Wheeler và Tướng Westmoreland đề nghị tăng cường thêm vào cuối tháng Hai, không một người lính nào đã được triển khai sang Việt Nam. Lần đầu tiên người ta đã ấn định một giới hạn rõ rệt chỉ việc đưa lực lượng trên bộ sang Nam Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #154 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:10:29 pm »

Quyết định chỉ gửi 13.500 quân thôi đã không được Tổng thống công bố. Thực vậy, Lầu Năm Góc vẫn tiếp tục soạn thảo kế hoạch triển khai 3.000 người ngoài hộ phận yểm trợ nhỏ nêu trên và con số 30.000 đã đượcc đề cập trên báo chí (11) Tổng thống mong muốn chuẩn bị lập trường cua ông thật cẩn thận và tranh thủ sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo quân sự của ông đối với sự cắt giảm mạnh mẽ những nhu cầu mà họ đã nêu ra.

Cải thiện việc hoàn thành nhiệm vụ của phía ngoài Việt Nam thật là cần thiết cho việc hạn chế sự triển khai quân Mỹ sang Nam Việt Nam và lúc đầu chính phủ Nam Việt Nam đã đáp ứng tốt. Washington và phái đoàn Mỹ ở Sài Gòn đã làm bất cứ cái gì có thể làm được để khuyến khích chính quyền Nam Việt Nam.

Trong tháng 10-1967, chính phủ Nam Việt Nam đã thông qua nội các lệnh động viên. Các lệnh này quy định việc giảm bớt rất nhiều những trường hợp hoãn dịch và đưa ra điều khoản hạ tuổi nhập ngũ thi hành quân dịch từ 20 xuống 18 tuổi. Đáng lẽ sắc lệnh này có hiệu lực kể từ 1 tháng Một 1968 nhưng trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân cũng vẫn chưa được áp dụng.

Tuy nhiên, ngay trong khi đang gọi nhập ngũ trở lại những quân nhân dự bị trong thời gian có cuộc tấn công tết, chính phủ Nam Việt Nam đã nghĩ đến việc hoãn gọi động viên những thanh niên 18 và 19 tuổi cho đến khi những lứa tuổi đủ điều kiện khác đã được gọi hết. Đại sứ Bunker đã vạch rõ cho Tổng thống Thiệu hiểu là việc này sẽ gây thêm sự chỉ trích của Hoa Kỳ cho rằng chính quyền Nam Việt Nam không chịu chia sẻ gánh nặng.

Để đáp ứng trước sức ép của Mỹ, ông Thiệu đã ra lệnh tăng thêm số quân của quân lực Việt Nam cộng hòa lên khoảng 600.000 quân trong thời gian sáu tháng. Việc này đã đòi hỏi phải gọi nhập ngũ thi hành quân dịch khoảng từ 100.000 đến 120.000 người. Vì vậy việc gọi nhập ngũ những thanh niên 18 tuổi đã khởi sự ngày 1 tháng Ba và những thanh niên đủ 18 tuổi thì sẽ bắt đầu phục vụ kể từ 1 tháng Năm (12)

Ngoài ra, Đại sứ Bunker đã báo cáo là một tháng sau khi xảy ra cuộc tấn công Tết, số người tình nguyện gia nhập các quân chủng của lực lượng vũ trang Nam Việt Nam trong năm lần so với mức đạt được năm ngoái và số thanh niên trình diện nhập ngũ trong tháng Hai 1968 đã tăng hơn số trình diện nhập ngũ tháng Hai 1967 hai lần rưỡi. Điều này đã cho thấy - Đại sứ Bunker nói thêm - quyết tâm cao hơn về phần chính phủ Nam Việt Nam tham gia số quân có thể sử dụng được (13).

Những thành quả trên đã khích lệ Tổng thống. Ông chỉ thị Đại sứ Bunker thúc giục Tổng thống Thiệu hãy sớm đọc một bài diễn văn với mục đích diễn tả cho quần chúng Mỹ hiểu rõ những cố gắng của chính quyền Việt Nam trong vấn đề nêu trên về việc này đã được thực hiện nhân danh chính họ (14).

Trong một bài diễn văn có thực chất đáng kể đọc đêm ngày 26 tháng Ba, ông Thiệu đã báo cáo những cố gắng của chính phủ của ông trong vấn đề động viên những tài nguyên nhân lực và vấn đề chia sẻ gánh nặng. Ông còn công bố một kế hoạch gia tăng thêm 98.000 quân trong lực lượng vũ trang và cho biết là chính phủ của ông "phải thực hiện những cố gắng hơn nữa và chấp nhận nhiều hi sinh hơn nữa", để chứng minh cho các đồng minh là "chúng ta xứng đáng được họ ủng hộ" (15).

Với quyết định hạn chế việc triển khai thêm lực lượng Hoa Kỳ tới con số đã được đề cập tới và với sự biểu lộ là quân Nam Việt Nam sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm lớn hơn nữa đối với chiến tranh trên bộ, Tổng thống đã công bố trong một cuộc họp báo được tổ chức vào ngày 22 tháng Ba những thay đổi về nhân sự dường như báo hiệu một sự thay đổi về chiến lược trên bộ ở Việt Nam. Nhiệm kỳ của tướng Wheeler trong chức vụ Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân được gia hạn thêm một năm. Tướng Westmoreland đã rời chức vụ của ông ở Việt Nam vào giữa mùa hè và sẽ giữ chức Tham mưu trưởng lục quân (16).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #155 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:11:05 pm »

Mặc dù người kế vị Tướng Westmoreland chưa được bổ nhiệm, nhưng dư luận rộng rãi cho rằng tướng Abrams, người tư lệnh phó sẽ lên thay ông. Kể từ khi đến Việt Nam, Tướng Abrams đã được Tướng Westmoreland giao cho việc chú trọng đặc biệt đến việc cải tiến quân lực Việt Nam cộng hòa. Vì vai trò của quân đội này sẽ mở rộng trong tương lai, đương nhiên Tướng Abrams sẽ nắm quyền chỉ huy.

Tướng Westmoreland đã phục vụ Tổng thống rất tốt và Tổng thống Johnson tỏ ra biết ơn ông ta. Mặc dù vấn đề quan hệ với quân chúng trên mặt trận trong nước không phải là những công việc bình thường có thể giao cho một tư lệnh chiến trường, thế mà chỉ trong năm 1967 thôi, Tổng thống đã ba lần dùng Tướng Westmoreland vào vai trò này (17). Mỗi lần Tướng Westmoreland nói lên sự khích lệ của ông trước những sự việc đang diễn ra ở Việt Nam, ông đã cẩn thận cố tránh không dự đoán về tương lai, trừ trong bài diễn văn của ông đọc trong tháng mười Một tại câu lạc bộ báo chí quốc gia

Sau cuộc tấn công Tết, Tướng Westmoreland bắt đầu phải chịu đựng mũi dùi của sự chỉ trích trong Quốc hội và trên báo chí về sự bế tắc ở Việt Nam, chủ yếu vì những lời phát biểu công khai đầy lạc quan của ông. Trong tâm trí của dân chúng Mỹ ông đã được hình dung như một tướng lãnh đã dự đoán sự chiến thắng, rồi đã bị địch quân tấn công bất ngờ và đã phải xin tăng viện thêm 206.000 quân (18).

Tổng thống đã tỏ ra bực bội về sự chỉ trích như thế. "Tướng Westy đã làm đủ mọi việc. Ông nghĩ rằng ông phải hơn thế nữa", Tổng thống Johnson nói, và ông nói tiếp: "Tôi sẽ không bắt ông ta phải đứng mũi chịu sào đâu". Tổng thống đã bày tỏ công khai hoặc riêng rẽ sự tín nhiệm của ông đối với Tướng Westmoreland trong suốt thời gian này và đã biểu lộ trong cuộc họp báo ngày 18 tháng Hai là đối với ông, nếu có cách nào đó Tướng Westmoreland có thể rời chức vụ thì việc này coi như đã xong.

Ngày 23 tháng Ba, Tổng thống Johnson phái Tướng Wheeler kín đáo đến căn cứ không quân Clark ở Philippin để gặp Tướng Westmoreland và thông báo cho ông ta biết tình hình mà Tổng thống đang phải đương đầu ở trong nước và đồng thời tranh thủ được sự thỏa thuận của ông và số quân tăng thêm ít ỏi sẽ được gửi sang cho ông. Hai cấp chỉ huy đã gặp nhau ngày 24 tháng Ba. Như Tướng Westmoreland đã nhớ lại cuộc gặp gỡ này:

"Tướng Wheeler đã nói với tôi rằng một sự thay đổi quan trọng đối với chiến lược quân sự của chúng ta trong chiến tranh Việt Nam rất xa vời và chính quyền đã quyết định không tán thành việc gọi nhập ngũ một số lớn quân dự bị. Bởi thế, vì không thể thực hiện được những lựa chọn chiến lược mà Tướng Wheeler và tôi đã thảo luận trong tháng Hai, vấn đề triển khai thêm lực lượng quan trọng đến Nam Việt Nam đã trở thành một vấn đề im hơi lặng tiếng" (19). kéo dài thêm chiến tranh", Tướng Westmoreland đã phát biểu như thế và ông nói thêm: "Thực thế, nó có tác dụng ép buộc tiến hành chiến lược Việt Nam hóa mà tôi đã đề nghị trước đây, coi đó như lựa chọn chiến thuật duy nhất” (20).

Tướng Wheeler trở về Washington với lời yêu cầu của Tướng Westmoreland xin gửi thêm 13.500 quân. Vị Tổng tư lệnh đã nói rõ cho hai tướng lãnh rõ là điều trở thành hiển nhiên đối với ông là đã đến lúc cần phải gây ảnh hưởng nhiều hơn với người Việt Nam trong khi họ đang có tinh thần đầy tin tưởng mới chớm nở (21). Nhưng quân lính được triển khai thêm đã trở thành những người lính cuối cùng, phần tăng quân cuối cùng của lực lượng quân sự Mỹ được đưa vào chiến tranh Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #156 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:11:57 pm »

CHÚ THÍCH CỦA CHƯƠNG MƯỜI MỘT 


(1) Phỏng vấn riêng ông William Bundy ngày 11-10-1972.

(2) Công điện JCS 2757. 090130B tháng ba 1968.

(3) Công điện MAC 2285. 111360 Z tháng ba 1968 của Tướng Westmoreland gửi tướng Wheeler được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.71-72.

(4) Công điện Sài Gòn 21733, 1111422 tháng ba 1968, tòa đại sứ Mỹ Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao được trích dẫn trong cuốn "Vị trí ưu thế” của Tổng thống Johnson tr.405-406.

(5) JCS tháng ba, công điện của Tướng Wheeler gửi Tướng Westmoreland.

(6) Phỏng vấn riêng Tướng William C.Westmoreland ngày 23-10-1973 và 16 tháng chín 1972. Tham khảo cả Westmoreland "Tường trình của một quân nhân" Tr. 358

(7) Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, Bị vong lục gửi Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân. Đề mục "Những sự bố trí quân ở Đông Nam Á" đề ngày 14 tháng ba 1968 được trích dẫn trong "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.71-72.

(Cool Bộ trưởng lục quân, Bị vong lục gửi Bộ trưởng Quốc phòng ngày 14-3-1968 được trích dẫn trong "Những quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.71.

(9) Johnson "Vị trí ưu thế”. Những chi tiết về cuộc tấn công của Tướng Westmoreland được mô tả trong “Báo cáo về cuộc chiến tranh Việt Nam" của Tướng Westmoreland tr.104. Trong "Trận đánh nhằm vào Khe Sanh" tr.144. Thượng tướng John J.Polson tr.9-10. John G.Galyin "Việc giải vây Khe Sanh".

(10) Johnson "Vị trí ưu thế” tr.415. "Quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam". IVC (6)(c) tr.76-77.

(11) Thứ trưởng Quốc phòng Hệ thống phân tích điện tử. Bị vong lục gửi Bộ trưởng Quốc phòng. Đề mục: phương trình số 6. Bản tóm lược (Dự định áp dụng) đề ngày 23-3-68 được trích dẫn trong "Quan hệ Mỹ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.76. Quyết định chỉ được thông tri cho Lầu Năm Góc ngày 28-3 sau khi Tổng thống đã hội ý với Tướng Abrams, xem "Quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam" IVC (6)(c) tr.96-97. Đọc cả William Beecher "Tổng số 565.000 quân được dự kiến, việc thay đổi chiến lược được cân nhắc".

(12) Công điện Corusmagv 07327, 1501062 tháng ba 1968 của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam gửi Hội đồng tham mưu trưởng liên quân: Đề mục "Mức độ số quân quân lực Việt Nam cộng hòa". Xem cả Công điện Sài Gòn 2507403 tháng Hai 1968 của Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi Bộ trưởng ngoại giao, đề mục: "Việt động viên đẩy mạnh".

(13) Sài Gòn 22267, 1610403 tháng Ba 1968, công điện của tòa đại sứ Mỹ Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao. Đề mục: “Chính sách động viên của Chính phủ Việt Nam".

(14) Phỏng vấn ông William Bundy ngày 11-10-1972. Tham khảo cả công điện Bộ ngoại giao số 1313302 tháng Ba 1968 của Bộ trưởng ngoại giao gửi Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn.

(15) Bernard Weinranb "Các vị phụ tá Hoa Kỳ hài lòng về bài diễn văn của ông Thiệu”. Xem cả Johnson "Vị trí ưu thế” trang 413-414.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #157 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:12:34 pm »

(16) “Những tài liệu công khai của Tổng thống Johnson 1963-1969" I, tr.430; đối với việc báo chí bình luận không hiểu đây có phải là báo hiệu một sự thay đổi về chiến lược không, tham khảo Joseph Alzop "Việc thay thế Tướng Westmoreland có ý ám chỉ sự ủng hộ đối với Tổng thống Johnson bị lung lay". Charles John "Sự ra đi của Tướng Westmoreland có thể đưa đến những thay đổi trong cuộc chiến tranh".

Orr Kelly: “Tướng Westmoreland nắm quyền chỉ huy lục quân "ông tỏ ra tiếc phải rời Việt Nam trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt", "Việc đề cử Tướng Westmoreland nắm quyền chỉ huy lục quân báo trước một sự thay đổi trong chính sách Việt Nam của Mỹ", "Việc thuyên chuyển Tướng Westmoreland giữ nhiệm vụ khác có thể không bao hàm việc thay đổi chiến lược". Neil Sheehan "Những cuộc xung đột về châu Á", "Thay đổi quyền chỉ huy". David Lawrence "Cuộc chiến tranh Việt Nam đang trải qua một cuộc xem xét lại sâu sắc "Một chính sách mới cho Việt Nam".

(17) Westmoreland "Tường trình của một quân nhân".

(18) Drew Bearson: “Tướng Westy có thể vẫn giữ chức vụ ở Việt Nam”; Peter Arnete “Cuộc tấn công quyết liệt của quân Cộng sản Việt Nam thách thức những giả thuyết quân sự của Mỹ". Beverly Deope "Nam Việt Nam bị lung lay: khó thấy một thôn nào cảm thấy an toàn". Claytol Fritchey "Chiến lược Việt Nam của Tướng Westmoreland". Drew Bearson "việc cách chức Tướng Westmoreland đang được hối thúc". D.Gareth Perter "Nhân dân được coi như kẻ thù”. "Chiến lược của Tướng Westmoreland liệu có qua nổi cuộc thử thách gay go không?". "Người có mặt tại chỗ". Reyes Beach "Hình ảnh của Tướng Westmoreland bị lu mờ bởi trận tấn công quyết liệt của Cộng sản".

Để có thể đánh giá chiến lược của Tướng Westmoreland và việc hoàn thành nhiệm vụ của ông ta ở Việt Nam, hãy đọc Robert G.K.Thompson "Không có lối thoát ra khỏi Việt Nam" tr.122-124. Sir Robert Robert Thompson "Điều chỉnh lại sự sai lầm" tr.442-453. Blair Clark "Đánh giá Tướng Westmoreland: Câu hỏi và trả lời". Mark M.Boather "Lịch sử chống nổi dậy không ai chú ý đến". Nalbersts "Người giỏi nhất và sáng chói hơn” tr.442-453. Blair Clark "Đánh giá Tướng Westmoreland: Câu hỏi và trả lời". Mark M.Boather "Lịch sử chống nổi dậy không ai chú ý đến". Nalbersts người giỏi nhất và sáng chói hơn cả" tr.349. Thượng Tướng Richard Stilwell "Sự thay đổi trong chiến thuật - Bài học kinh nghiệm ở Việt Nam". Frances Pitzgarald "Ngọn lửa trong hồ: Người Việt Nam và người Mỹ ở Việt Nam". tr. 342-343. Jefrrey Race "Trận chiến tranh lan đến Long An". tr.226-227. Meyarson “Vĩnh Long" tr.158-154. Charles K.Fair. "Từ những sự ba hoa về chiến thắng" tr.369-416. Beverly Deep “Khe Sanh, di sản của Tướng Westmoreland". Rard Just "Sổ ghi chép về Việt Nam". Dam Yarmolinsky "Săn nhặt những mẩu tin: Hậu quả của vấn đề Việt Nam đối với tổ chức quân sự của Mỹ".

(19) Phỏng vấn riêng Tướng William C.Westmoreland 23-10.

(20) Như trên, xem cả Westmoreland "Tường trình của một quân nhân" tr.358-359.

(21) Johnson "Vị trí ưu thế” tr.415.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #158 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:13:26 pm »

CHƯƠNG MƯỜI HAI
TẠM NGỪNG NÉM BOM

Vào đầu tháng Ba. Ông Dan Rusk đã cảm thấy rằng một cuộc tạm ngừng ném bom sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho đất nước và cho Tổng thống. Việc này sẽ gây nên ít hoặc không gây nguy hiểm tí nào về mặt quân sự trong mùa mưa và sẽ trở thành một sáng kiến giúp tranh thủ lại sự ủng hộ của quần chúng đối với cuộc chiến tranh. Tổng thống đã nói với ông là "Hãy tiến hành việc soạn thảo và đưa ra một kế hoạch đi".

Nhưng đề nghị của ông Rusk đã bị những quan chức trong Bộ quốc phòng tỏ ra lạnh nhạt, họ cho rằng đề nghị này làm giảm bớt hiệu lực của công thức San Antonio. Phía quân sự gồm các tham mưu trưởng liên quân và cả tư lệnh Thái Bình Dương, dĩ nhiên, đã tán thành việc đẩy mạnh trên quy mô lớn việc ném bom.

Ngay cả Đại sứ Bunker trong các công điện gửi về Mỹ ngày 13 và 14-3 đã thúc ép mãnh liệt việc tăng cường ném bom Bắc Việt Nam vì nhận thấy rằng chính quyền Nam Việt Nam đã bị lung lay do sự việc chúng ta đã không thể phản ứng theo kiểu này đối vối vụ tấn công Tết (1). Những hi vọng đạt được một thỏa hiệp trong chức quyền tán thành việc tạm ngừng ném bom có vẻ khó khăn.

Lúc này, vào giữa tháng Ba trước sự kiện cho thấy sự chống đối việc gửi thêm quân đang gia tăng và tình hình trên bộ ở Việt Nam đang được cải thiện, vấn đề tạm ngừng hoặc ngừng hẳn ném bom lại được nêu trở lại từ một phía khác.

Tối 16 tháng Ba, ông Arthur Goldberg, Đại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc đã gửi cho ông Bộ trưởng Dan Rusk một bị vong lục chi tiết về Việt Nam. Ông Goldberg trước đây đã có một địa vị mà ông rất ưa chuộng ở Tòa án tối cao, song ông đã phải từ chức để nhận chức vụ Đại sứ tại Liên hiệp quốc theo chỉ thị của Tổng thống, điều này đã được thể hiện qua sự trình bày của ông với Tổng thống trong một loạt bị vong lục. Quan điểm của ông đã luôn luôn cho rằng vấn đề Việt Nam không thể được giải quyết bằng một giải pháp quân sự và Hoa Kỳ cần phải tiến tới việc đàm phán (2).

Sau vụ tấn công Tết, ông Goldberg đã thấy rõ như trường hợp của Clifford trước đây điều đơn giản là đất nước không còn có thể tiếp tục theo đuổi con đường hiện nay và cần phải thực hiện một bước mới hướng về giải pháp chính trị để ngăn ngừa một sự xói mòn thêm đối với sự ủng hộ cuộc chiến tranh của quần chúng. Ông đã phát biểu những ý kiến sau đây với Tổng thống:

"Trong một nền dân chủ, Tổng thống cần phải tranh thủ sự biểu đồng tình của người bị trị. Trong khi một Tổng thống không thể hoạt động với một biểu đồ làm ông phát sốt, nếu Tổng thống không còn tranh thủ được sự biểu đồng tình của người bị trị, trong một nền dân chủ, lúc đó tốt hơn Tổng thống nên có biện pháp quyết liệt để đưa Tổng thống và người bị trị đi đến chỗ hài hòa" (3).

Vào lúc đó ông Goldberg đã không hay biết gì về đề nghị tạm ngừng ném bom của ông Rusk và cảm thấy như nhiều người khác trong nước là Tổng thống đang xét nghiêm chỉnh việc tăng thêm số quân quy mô lớn ở Việt Nam. Đề nghị của ông với Tổng thống nhằm đưa đất nước tiến theo hướng đàm phán và tranh thủ trở lại sự ủng hộ của quần chúng đã được thể hiện như sau:

"Theo ngôn từ rõ ràng, đề xuất của tôi căn cứ vào công thức San Antonio có nghĩa là - không công bố bất cứ một điều kiện nào hoặc một thời hạn nào - chúng ta sẽ ngừng bắn phá Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân trong một thời gian hạn định đủ để xác định xem liệu Hà Nội có sẽ thương lượng hẳn hoi không, theo quan điểm gì thật sự xảy ra trong cuộc đàm phán hơn là bất cứ một sự ràng buộc nào trước bằng lời nói thách kiểu chúng ta đã tìm kiếm trước đây" (4).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #159 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 10:14:02 pm »

Một số báo cáo cho thấy là trong khi thảo luận đề nghị của ông Goldberg với các cố vấn của ông tại Nhà Trắng ngày 16 tháng Ba. Tổng thống đã nổi giận giơ bản đề nghị lên và đã đưa ra những lời lẽ văn vẻ bóng bẩy để chỉ trích (5). Ông Rostow lúc đó có mặt đã coi nhẹ câu chuyện này. Ông nhớ lại việc xảy ra đã diễn tiến như sau:

"Tổng thống đã không tỏ ra quá giận dữ và la lối về một vấn đề đã quá rõ ràng, nhưng ông đã phát biểu ý kiến một cách mạnh mẽ và ông đã không đồng ý về đề nghị của ông Goldberg. Ông rất lo lắng về khu vực gần như phi quân sự. Trong hoàn cảnh này ông cảm thấy là một cuộc ngừng ném bom toàn bộ sẽ là một điều vô trách nhiệm về mặt quân sự" (6).

Ông Rusk cũng vẫn chống đối việc ngừng ném bom toàn diện. Ông vẫn chủ trương ngưng ném bom trên thực tế khu vực phía Bắc vĩ tuyến 20 để xem “liệu chúng ta có thể tranh thủ phản ứng trên thực tế của Hà Nội không những ông nghĩ rằng đề nghị của ông Goldberg có thể được sử dụng như một cái cớ để đưa người Mỹ và người Việt Nam ở Sài Gòn chịu tán thành một cuộc tạm ngừng ném bom, coi đó như một sự dung hòa ý kiến có thể chấp nhận được”. Ông Rusk đã thuyết phục Tổng thống nếu nghe những cố vấn của ông ở Việt Nam phát biểu thẳng thắn về kế hoạch của ông ta và đề nghị của Đại sứ Goldberg.

Do đó, đêm hôm ấy, 16 tháng Ba, một điện tín đã được đánh đi cho Đại sứ Bunker phác họa những nét chính của hai kế hoạch coi đó như "những đề nghị của Bộ tham mưu” và không cho biết ai là tác giả hoặc do ai đề xướng. Thứ nhất là của ông Goldberg, trên thực tế đã được bao gồm trong một đoạn duy nhất và nói rõ là kế hoạch này sẽ được xem như chấp nhận những lời phát biểu của Hà Nội gần đây và coi đó như ngụ ý là Hà Nội đã hiểu rõ và đã tuân theo công thức San Antonio, vì thế chúng ta sẽ ngừng hẳn ném bom Bắc Việt Nam.

Trong khi phác họa kế hoạch do chính ông thảo ra mà ông nói là "khiêm tốn hơn", ông Rusk đã đưa vào bức điện tín toàn thể nội dung bị vong lục mà ông đã trình Tổng thống ngày 5 tháng Ba trong đó ông đã giải thích chi tiết vì sao việc tạm ngừng ném bom sẽ không gây tai hại trong mùa mưa.

Ông bộ trưởng đã hỏi ý kiến Đại sứ Bunker liệu đề nghị này có thể được sự tán thành của ông Thiệu không; đi đôi với việc tăng thêm có giới hạn lực lượng của Hoa Kỳ và đề nghị cải tiến đồ thiết bị quân lực Việt Nam cộng hòa. Ông Rusk nêu nổi bật là theo sự suy xét ký lưỡng của ông thì “Bắc Việt Nam sẽ không đáp lại bằng một bước tiến thật sự hướng về hòa bình và họ có thể sẽ tiếp tục bám vị trí ở Khe Sanh và chung quanh các thành phố một thời gian" (7).

Trong công điện phúc đáp Bộ ngoại giao, Đại sứ Bunker đã xác nhận rằng một cuộc ngừng ném bom toàn bộ sẽ gây rất nhiều bối rối cho chính phủ Nam Việt Nam. Ngay cả một sự giảm ném bom ở một điểm phía nam Vinh theo lời Đại sứ Bunker cũng sẽ có những hậu quả gây bối rối, nhưng ông cảm thấy công việc sẽ dễ dàng hơn nếu tranh thủ được sự đồng ý của chính quyền Nam Việt Nam đối với một cuộc tạm ngừng ném bom cục bộ như thế, đặc biệt là nếu một quyết định như thế được tiếp nối bởi một sự gia tăng yểm trợ quân sự cho chính phủ Sài Gòn (Cool.

Sự đánh giá của ông Đại sứ được giới hạn trong phạm vi những hiệu quả chính trị của sáng kiến hòa bình ở Việt Nam. Vị tư lệnh quân sự đã không được ông Bunker tham khảo ý kiến và những quan điềm của ông cũng không được phản ánh trong bác công điện phúc đáp của Đại sứ Bunker (9)

Như vậy ông Bộ trưởng Rusk đã có bằng chứng từ chiến trường gửi về là chính phủ Nam Việt Nam sẽ không sẵn sàng chấp nhận một cuộc ngừng ném bom toàn bộ "vào giữa tháng ba", như ông Rusk nhớ lại "Tôi đã biết chắc trong tâm trí của tôi là Tổng thống sắp công bố một cuộc ngừng ném bom cục bộ như tôi đã đề xuất” (10).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM