Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:04:28 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương  (Đọc 68348 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #40 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2010, 04:18:32 pm »

Bộ đội bị bao vây, tôi mang nặng cái thai tám tháng, không rút kịp theo bộ đội đành phải ẩn trong hẻm núi.

Năm 1941, chiến tranh kháng Nhật bước vào giai đoạn cầm cự. Quân đế quốc Nhật và bọn Hán gian tiến hành ngày càng mạnh những cuộc càn quét rất tàn khốc, khiến căn cứ địa kháng Nhật bước vào thời kỳ khó khăn, gian khổ nhất.


Từ trung tuần tháng Tám trở đi, Tư lệnh phương diện quân Hoa Bắc của Nhật Okamura tập trung điều năm sư đoàn, sáu lữ đoàn hỗn hợp và quân Ngụy, tổng cộng trên bảy vạn quân. Chúng dùng các cách đánh "Dùng bức tường thép hợp vây”, "Càn quét theo kiểu lược chải", "Càn quét di động”, tiến hành càn quét đại quy mô vào căn cứ, ý đồ tiêu diệt cơ quan lãnh đạo Đảng, chính quyền và bộ đội chủ lực, đập tan căn cứ địa kháng Nhật Tấn-Sát-Ký.


Dưới sự chỉ dẫn phương châm hành động chính xác do Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch đề xuất, toàn thể quân dân khu giải phóng Tấn-Sát-Ký đã anh dũng đấu tranh, triển khai việc "chống càn quét", "chống cướp phá lương thực", "chống đốt phá xóm làng”. Chủ lực của Bát lộ quân chọn thời cơ thích hợp đã luồn vào hậu phương địch, phối hợp với các đội du kích và dân quân quấy rối, ngăn chặn địch. Quân dân ở miền núi và đồng bằng phối hợp, chi viện lẫn nhau, đánh mạnh vào quân cướp Nhật Bản.
Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật ở trong khu giải phóng Tấn-Sát-Ký, trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật đã bồi dưỡng số lớn nhân tài chỉ huy quân sự ưu tú cho Bát lộ quân, cung cấp cho địa phương một số lớn cán bộ lãnh đạo và tổ chức xuất sắc, cho nên rất sớm đã trở thành "cái gai trước mắt” của quân địch và đã nhiều lần trở thành mục tiêu vây quét trọng điểm của giặc Nhật.


Năm 1940, tôi là chính trị viên đội nữ sinh của trường, sau khi đội nữ sinh tốt nghiệp tôi lại được điều về công tác ở Hội Phụ nữ cứu vong huyện Linh Thọ. Tháng Tám năm 1941, tôi mang thai gần tám tháng. Lãnh đạo cho tôi trở về Phân hiệu hai để nghỉ.
Cuối tháng Tám, Phân hiệu hai nhận được mệnh lệnh của trên di chuyển đến huyện Hành Đường, ở về đông bắc huyện Linh Thọ. Một bộ phận của phòng chính trị, đoàn văn công, phòng hậu cần, được biên chế thành thê đội 2 do chủ nhiệm khoa công tác trực thuộc lúc đó là Hồng Thủy phụ trách chỉ huy. Tôi cũng đi theo thê đội 2. Đoàn giáo đạo quân khu cử ba tiểu đoàn, do các tiểu đoàn trưởng độc lập chỉ huy làm nhiệm vụ yểm hộ.


Để giữ bí mật mục tiêu hành động, ban ngày chúng tôi giấu quân trong hẻm núi, trời tồi hẳn mới hành quân. Tôi mang cái thai tám tháng, đi lại lặc lè, theo bộ đội hành quân, cảm thấy vô cùng mệt mỏi. Trời thì tối đen như mực, đường hẻm trên núi quanh co khúc khuỷu, hành quân bước thấp bước cao, không va phải đá thì cũng vấp phải cây, vô ý mà bước thụt hố thì ngã lăn quay. Gặp chỗ dốc đứng và trơn thì chỉ có ngồi bệt mà tụt dốc. Tôi quá mệt, mồ hôi chảy ra như tắm, há hốc mồm thở dốc, chỉ muốn ngồi lại nghi một lát. Tôi biết rằng ngồi lại nghỉ là lạc đội ngũ, chết là cái chắc. Tôi chỉ có một ý nghĩ phải theo kịp bộ đội, nên cắn chặt răng, kiên trì cùng bước theo các đồng chí của mình.


Quân địch tiến vào vùng núi non hiểm trở của quân khu, ngoài việc thực hiện chính sách "Tam quang” (đốt sạch, giết sạch, phá sạch), chúng chủ yếu tìm đánh bộ đội chủ lực của ta. Thế nhưng chúng toàn vồ hụt hoặc bị đánh úp tơi tả. Vì thế chúng điên cuồng phá hoại điều kiện sinh tồn của quân và dân ta. Bọn quỷ đó đi đến đâu là đập phá tan tành, thậm chí còn đào bới lương thực của bà con giấu dưới giường lò và trong lò bếp, chúng thực sự như một bầy lang sói. Chúng cũng rút kinh nghiệm những bài học từ thất bại nên có lúc chúng hết sức bí mật tiến hành phục kích quân ta.
Qua mấy ngày liên tục cấp tốc hành quân, đến khi chúng tôi tiến vào địa giới huyện Hành Đường, tiến về phía núi Ngao Ngư, thì xảy ra sự việc ngoài dự kiến.


Đêm hôm đó trời không trăng sao, tối đen như mực, xòe bàn tay trước mặt cũng chẳng nhìn thấy gì. Bốn bề yên ắng, chỉ nghe thấy chân người bước lạo xạo và văng vẳng tiếng chó sủa ở xóm xa vọng lại. Đột nhiên bộ đội dừng lại, theo lệnh từ trên truyền xuống thì tất cả nghỉ tại chỗ chờ lệnh. Mọi người rất nóng ruột, đoán già đoán non chắc có việc gì xảy ra.


Vì trời quá tối, đội hình hành quân do người dẫn đường dẫn lạc xuống một thôn nhỏ dưới chân núi Ngao Ngư. Khi phát hiện sai, người dẫn đường đã bỏ trốn. Chúng tôi mất liên lạc với bộ đội yểm hộ, mất luôn cả phương hướng. Đơn vị đã vào sát thôn, không biết ở trong đó có địch hay không. Thế là Hồng Thủy cho bộ đội dừng lại, và cho phái trinh sát mò vào thôn nắm tình hình địch.


Lúc đó quân địch đã nghe thấy tiếng lừa, ngựa ngoài thôn song không biết tình hình hư thực của quân ta ra sao, chúng bắn mấy phát súng rồi leo lên chiếm điểm cao khống chế ở bắc núi. Chờ đến khi người của riêng Thủy phái vào thôn đã nắm rõ tình hình địch thì bổ đội đã nằm trong tầm hỏa lực của địch. Đã xảy ra một số thương vong. Cho tới khi đoàn giáo đạo quân khu đi sau tới dùng hỏa lực yểm hộ thì đoàn quân của ta mới rút được ra. Tình huống này, mãi khi tìm được về đơn vị nghe kể lại tôi mới biết.


Khi bắt đầu súng nổ, Lý Ninh, một nữ y sĩ trẻ của Phân hiệu hai, đã dẫn tôi vào ẩn ở một hẻm núi cây cối um tùm, nấp tạm ở đó. Không ngờ vì thế chúng tôi mất liên lạc với bộ đội. Sau khi bộ đội rút đi, quân địch bắt đầu sục sạo vào núi, tiếng nói của chúng nghe rõ mồn một. Chúng tôi nín thở, ngồi im không dám động đậy và chuẩn bị nếu vạn nhất bị địch phát hiện, thì chúng tôi quyết liều chết với chúng, không để bị bắt làm tù binh.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #41 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2010, 04:19:13 pm »

Trời sáng rõ, bốn bề im ắng. Xem ra, cuộc sục sạo vào núi của địch đã kết thúc. Hồng Thủy đã dẫn các đồng chí đi về đâu? Quân địch đã rút hết chưa? Tôi và Lý Ninh đều rất lo lắng. Vì chưa nắm được động tĩnh của địch ra sao, chúng tôi vẫn phải tiếp tục ẩn náu trong hẻm núi đó.


Cho mãi đến chiều, chúng tôi mới nhìn thấy một cụ già vào hẻm núi lấy ngô, tôi mừng quá gọi:

"Cụ ơi…”

Vừa nghe tiếng gọi, cụ già đã cắm cổ chạy. Không biết làm thế nào, một mặt chúng tôi đoán thử hướng đi của các đồng chí, một mặt động viên lẫn nhau.

Vì chúng tôi mặc quân phục, lại chưa rõ địch ra sao, không dám lộ mặt làm bừa.

Trời dần dần tối, bên ngoài vẫn hoàn toàn vắng lặng. Chúng tôi đoán rằng địch đã rút hết về đồn bốt, nếu tiếp tục chờ, bộ đội đi càng xa, càng khó tìm về. Thế là chúng tôi rời hẻm núi, bò lên đỉnh, quyết tâm tìm về với các đồng chí của mình.


Lên đến đỉnh núi, tôi và Lý Ninh đều hoảng. Bốn bề toàn núi cao trùng điệp, nhìn không thấy một xóm thôn nào, không một bóng người, chỉ thỉnh thoảng có một vài tiếng súng từ xa vọng lại.


Lúc đó tôi mới sực nhớ, đã một ngày một đêm không ăn uống gì, bụng đói cồn cào. Tôi đảo mắt nhìn quanh, mừng rỡ khi nhìn thấy một cây to, giữa đám lá xanh có những đốm đỏ, tôi trỏ xuống sườn dốc bảo Lý Ninh:

"Chúng ta trước tiên phải lấy táo kia nhét vào bụng cái đã”.

Hai người chúng tôi mặc gai táo đâm vào tay đã vặt táo ngốn lấy ngốn để.

Trời đã tối rồi. Biết tìm bộ đội ở đâu? Chúng tôi vừa niệt vừa lo, lăn ra ngủ như chết.
Rời khỏi bộ đội, lại nằm giữa vòng vây của địch, địch ở xa chúng tôi bao nhiêu? Các đồng chí ta ở đâu? Tất cả đều không biết, cứ như đứa con đang nấp dưới sự săn sóc của bố mẹ nay bỗng nhiên bị bỏ rơi, trong lòng rất chua xót. Trong lúc ngủ say, nỗi suy tư lại biến thành một giấc mộng đẹp. Trong mộng, tôi gặp lại đồng đội, Hồng Thủy dùng tẩu thuốc chỉ vào tôi nói:

"Trần Kiếm Qua, nếu em không trở về là chúng ta mất ba mạng người đấy!"

Tôi cúi xuống nhìn cái bụng to của mình, mỉm cười.

"Vì trong đó còn một tí nhóc yêu quý đang ngủ đấy!"

Ở hướng đông, trời vừa hửng sáng. Tôi tỉnh dậy mắt vẫn còn đọng giọt lệ sung sướng vì giấc mộng đẹp. Tôi đem chuyện trong mơ của mình kể cho Lý Ninh nghe. Cô ta rất phấn khởi nói:

"Chính trị viên, điềm báo hôm nay thế nào chúng ta cũng tìm thấy bộ đội!"

Chúng tôi men theo khe núi hai ngày, bốn bề đều là núi, trừ cây tùng và thông ra, núi đầy các tảng đá to chồng chất, tôi và Lý Ninh đã không biết phương hướng đi ra sao, chỉ còn cách tìm dân ở gần đó để hỏi tin tức về nơi ở của bộ đội. Chúng tôi trèo lên một đỉnh núi nhỏ, phật hiện dưới núi có một xóm nhỏ, có chừng hơn hai mươi nóc nhà, khói bốc lên lơ lửng, có thể nhìn rõ hình dáng chuyển động của người trong thôn. Chúng tôi đoán chắc trong thôn không có địch nên vội vã xuống làng gặp bà con vẫy tay, lên tiếng gọi. Người trong thôn nghe thấy tiếng gọi lại không nhìn rõ là ai, bèn cho rằng quân địch lại đến, người lớn trẻ con hấp tấp chạy ra ngoài thôn. Điều đó làm chúng tôi bấn cả lên, vội nhanh chóng chạy xuống núi. Khi bà con nhìn rõ là hai nữ chiến sĩ Bát lộ quân mới thôi chạy.


Nguyên do là, mấy ngày nay, dân trong thôn đều bỏ làng chạy tránh cuộc càn của địch. Địch đã rút về pháo đài rồi nên nay mới lục tục kéo về.

Vừa may, trong làng có một người vừa đi dẫn đường cho bộ đội của Phân hiệu hai mới về, biết được hướng đi của bộ đội, và sau chính nhờ ông ta dẫn đường, chúng tôi tìm về được đơn vị.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #42 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2010, 04:20:28 pm »

Tiếng khóc oa oa chào đời của một bé sơ sinh cắt ngang sấm vang chớp giật, một sinh mệnh ra đời trong gió táp mưa sa.

Vì chiến đấu ở núi Ngao Ngư bất lợi, bộ đội có thương vong, tôi và Lý Ninh lại bị lạc, không biết ra sao, nên Hồng Thủy rất buồn, bực bội, điều đó cũng dễ hiểu.

Khi chúng tôi trở về đơn vị không lâu, tôi và Hồng Thủy bất đắc dĩ lại phải chia tay nhau. Tôi sắp ở cữ, thực không thể thích ứng được với sinh hoạt chiến đấu khẩn trương của bộ đội, nếu tiếp tục di chuyển theo bộ đội chỉ tăng thêm phiền phức cho đồng đội. Tổ chức quyết định để Lý Ninh ở lại cùng tôi, ẩn náu trong một thôn nhỏ miền núi của huyện Hành Đường, đợi trận càn của địch kết thúc, sẽ lại đón về với bộ đội.


Khi chia tay, người hay chuyện như Hồng Thủy mà cũng chẳng nói được nên lời. Anh lẳng lặng ngắm tôi hồi lâu rồi mới nói:

"Anh không có cách gì lo được cho em, em phải giữ gìn cẩn thận. Hết càn quét chúng ta gặp lại nhau, em nhất định phải hết sức chú ý đề phòng”.

Tôi hiểu Hồng Thủy rất lo cho tôi nên an ủi anh:

"Anh cứ yên tâm, em và cô y sĩ Lý Ninh ở cùng nhau, lại còn bà con chung quanh, không có vấn đề gì đâu, em đã chuẩn bị tư tưởng, khó khăn lớn đến mấy cũng không đánh gục được em."

Hồng Thủy gật đầu nói: "Anh biết em rất kiên cường”.

Anh nhắc lại: "Hãy tự mình hết sức giữ gìn em nhé".

Không ngờ rằng thời gian của cuộc càn đặc biệt dài, tôi đã gặp phải vô vàn khó khăn không tưởng tượng nổi.


Sau khi chiến tranh chống Nhật bắt đầu, Đảng thực hiện chính sách giảm tô, giảm tức ở đại bộ phận nông thôn, tranh thủ đại đa số địa chủ, phú nông đứng về phía chính quyền dân chủ kháng Nhật. Chính sách sáng suốt đó đã có hiệu quả rõ rệt. Lúc bắt đầu, cán bộ thôn suy nghĩ rằng gia đình phú nông có điều kiện kinh tế tốt hơn, liền gửi tôi và Lý Ninh ở nhờ một gia đình phú nông. Lúc đầu họ đồng ý cho chúng tôi ở lại nhà họ. Thế nhưng thời gian cuộc càn quét ngày một dài, dân toàn thôn phải ở trường kỳ trong khe núi để tránh địch, gia đình họ cũng tránh vào đó, nhưng ở cách xa chúng tôi vì sợ bị liên lụy.


Cuộc càn của địch không phải dăm ba ngày kết thúc. Không có quần chúng che chở làm sao chúng tôi trụ lại được? Thế là cán bộ thôn lại đưa chúng tôi đến ở nhờ hang của một gia đình bần nông.


Gia đình này quá là nghèo. Trên chiếc giường lò có một cái chiếu rách, chiếc chăn thì thủng hết lỗ này đến lỗ khác, ngoài ra chẳng có một đồ vật gì đáng kể. Ông chủ nhà và cậu con trai lớn đã đi dân công phục vụ tiền tuyến, ở nhà chỉ còn mỗi bà chủ. Chị tuổi ngoài bốn mươi, người rắn chắc, mới nhìn đã biết là người hay lam hay làm và cứng rắn. Chị rất nhiệt tình dẫn chúng tôi vào hang động nhà mình, nhìn cái bụng đã gần chín tháng của tôi chị hỏi tôi với vẻ ái ngại: "Này cô em lớn? Em thật không giản đơn chút nào. Bụng mang dạ chửa thế kia lại còn dám hành quân chiến đấu."

Chị một mặt sắp xếp chỗ nghỉ cho chúng tôi, một mặt nói thao thao bất tuyệt:

"Ôi dào, đàn bà con gái mà, đó là cái số mệnh vậy. Bọn quỷ Nhật trời đánh kia rồi sẽ có ngày Bát lộ quân tóm cổ hết chúng mày”.

Chị chuyển sang nói bảo đảm với ông trưởng thôn: "Thôn trưởng, ông cứ yên tâm. Mọi người trong Bát lộ quân thay chúng em đánh giặc. Hai cô này đến nhà em, nhà em sẽ coi như người nhà. Nhà em nhất định sẽ săn sóc các cô ấy thật tốt."


Cuộc càn quét của địch mỗi ngày một quyết liệt, bọn giặc ba ngày hai lần đánh vào thôn, không thể nào chịu đựng nổi. Thế là thôn trưởng kéo toàn thể bà con, già trẻ lớn bé vào một hẻm núi ở gần một vùng núi rừng rậm rạp để ẩn náu.


Nếu không phải là chiến tranh, cái hẻm núi này là một nơi phong cảnh tuyệt đẹp: trên đỉnh là tùng mọc, sườn núi suối róc rách chảy, từng hàng cây mọc xanh thẫm, từng vạt hoa rừng thơm ngát. Từng vạt, từng vạt táo quả mọc sum sê. Các quả táo vừa đỏ, vừa tươi, chiu chít, vít cành gần như là là sát đất.


Nhưng tình hình khó khăn trước mắt khiến chẳng ai còn tâm địa ngắm cảnh. Trong hẻm núi, bên này là chỗ nằm của một nhà, bên kia là chỗ nằm của hộ khác, lại có mấy người nông dân đang bị sốt rét, không thầy, không thuốc, họ nằm co quắp trên đám cành cây xếp lổn nhổn. Nhìn thấy họ sốt rên hừ hừ, tôi thực chịu không nổi.


Đã bước vào mùa thu, trời bắt đầu lạnh. Toàn bộ hành lý đồ dùng của tôi đã bị mất trong trận núi Ngao Ngư, chỉ còn hai chiếc áo đơn đang mặc. Chúng tôi sống ở ngoài trời, gió mưa dồn dập, rải trên đất có chiếc chiếu rách của chị nông dân, chăn đắp thì cũng chỉ còn chiếc chăn rách lòi cả bông của chị. Sau khi mặt trời khuất núi, gió lạnh bắt đầu, người rét run cầm cập. Vì không muốn làm phiền chị chủ nhà và Lý Ninh, tôi không kêu ca một lời.


Lần vào núi này, chúng tôi không mang theo được đồ ăn gì cả. Chị chủ nhà vốn đã đói ăn, thiếu mặc, cuộc sống đã vô cùng khốn khổ, vì quân Nhật càn quét liên tục, đốt sạch, cướp sạch, phá sạch. Mùa màng thu hoạch cũng chẳng được bao nhiêu. Trong hoàn cảnh tàn khốc đó kiếm cái ăn ở đâu ra? Nếu nhà còn có chút lương - thực thì cũng phải giấu kỹ, để dành. Vào lúc đó, táo mọc đầy cây, đầy rừng đã là món ăn cứu mạng cho chúng tôi. Chúng tôi đói thì ăn táo, khát thì xuống uống nước khe. Táo ở rừng vừa to vừa ngọt, thế nhưng ăn táo thay cơm trong một thời gian dài thì chịu không nổi. Vỏ táo không lợi cho tiêu hóa, ăn nhiều sẽ bị trướng bụng, mấy ngày không đại tiện được, vô cùng khó chịu.


Y sĩ Lý Ninh đi theo giúp đỡ tôi vào núi ẩn náu đã phải chịu khổ lây rất nhiều. Cô tới Phân hiệu hai Trường Đại học Kháng Nhật, đầu tiên trực thuộc ban nữ sinh. Tôi đã từng làm chính trị viên của cô. Lúc đó, cô chưa đầy hai mươi tuổi, là nữ thanh mền học sinh đến từ khu Quốc Thống, mang theo một hình thức đẹp, yêu kiều của một phụ nữ Giang Nam. Cô không ưa nói nhiều, song tính cách khá quật cường, mạnh mẽ.


Một buổi sáng tháng Mười, tôi đột nhiên đau quặn lưng, bụng co thắt từng cơn, sau đó là những cơn đau dữ dội. Tôi biết rằng sắp tới lúc sinh. Vào lúc đó, bọn giặc Nhật luôn sục vào làng để phục, chúng tôi không về được Còn ở đây giữa núi non hoang dã, đến một chỗ ẩn náu cũng khó. Làm thế nào bây giờ? Lý Ninh và chị chủ nhà lo lắng cuống cuồng. Tôi thì cứ từng cơn, từng cơn đau dữ dội, cố gắng thều thào bảo họ:

"Cứ bình tĩnh, có cuống lên cũng vô ích, nếu như không về làng được thì chọn một chỗ nào kín đáo, yên tĩnh là được. May là hôm nay thời tiết tốt."

Chị chủ không biết kiếm đâu ra được một cái rìu, nhanh chóng chặt xếp được một đống cỏ mềm, phủ lên một tấm đá phẳng ở một chỗ kín đáo. Lý Ninh nhẹ nhàng dìu tôi nằm xuống.


Thời tiết ở vùng núi thay đổi trong nháy mắt. Vừa mới trời quang, mây tạnh, mặt trời chói chang, một lát mây đen đã phủ tồi trời, cuồng phong nổi dậy. Gió trong hẻm núi thật dữ dội, các cây nhỏ ở trên núi bị thổi ngả nghiêng. Xen vào đó những trận mưa núi, nước đổ ào ào như thác dội xuống. Chị chủ, Lý Ninh và tôi đều như mới lội ở sông lên, người ướt sũng.


Cái thai trong bụng quẫy dữ dội, giờ sinh tới rồi. Không nói tới việc một chỗ ẩn náu không có, chỉ cần một cái hang nhỏ để vượt cạn cũng chịu. Chị chủ nhà dùng hai cái gậy chống kẹp cái chiếu rách để "che mưa chắn gió" cho tôi. Lý Ninh thì chuẩn bị để đỡ đẻ.


Chiếc chiếu che trên đầu tôi bị gió thổi lúc sang trái, lúc sang phải, chị chủ dùng hai tay nắm chặt hai bên chiếu để căng ra, giữ chặt cho gió khỏi cuốn tung. Nhìn nước mưa chảy từ đỉnh đầu chị ào ào, tóc ướt bết vào má, che cả mắt, tôi vô cùng cảm động, trong cơn đau miệng vẫn lắp bắp cám ơn chị.


Gió vẫn rít, mưa vẫn bay, từng cơn đau dữ dội làm cho tôi đờ hết người. Đột nhiên một tiếng khóc của trẻ sơ sinh cắt ngang sấm vang chớp giật, tiếng khóc nghe sao trong trẻo và êm ái, một sinh linh mới đã ra đời trong gió táp mưa sa.

"Chính trị viên ơi, là một cháu gái." Lý Ninh nâng cháu bé lên, phấn khởi reo to.

"Tốt, tốt, một cô bé gái", chị chủ vẫn căng chiếu che cho tôi, nhưng quay đầu lại ngắm cháu bé trong tay Lý Ninh.

Cháu bé sinh ra rồi, không nói tới quần áo, tã lót, ngay đến một miếng vải bọc thân cũng không có. Lý Ninh không nói không rằng, xé luôn cái khăn trắng của mình làm đôi. Như vậy cháu bé cũng có cái bọc cho ấm, không đến nỗi phải phơi thân lộ thể.


Việc sinh cháu bé được thuận lợi, mưa bão cũng đã dừng. Tôi chưa hết mệt mỏi sau khi sinh nở, chị chủ nhà và Lý Ninh cũng mệt bở hơi tai, ngồi bên cạnh tôi, không nói được lời nào. Trên đỉnh núi phía đông "cây tin tức" báo yên đã được hạ xuống, như vậy là quân Nhật đang xuất quân mò tới. Thế là chị chủ nhà bế cháu bé, Lý Ninh dìu tôi, lại phải đi theo dân chúng trong thôn di chuyển vào khe núi sâu hơn ở phía tây.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #43 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2010, 04:21:19 pm »

Không một giọt sữa, không một hạt gạo, con gái tôi được bế đi khắp mọi nhà để "xin ăn”

Sau cuộc di chuyển vội vã đó, tôi mới có dịp ngắm kỹ con gái yêu của mình, khuôn mặt trái xoan trắng hồng, lông mi dài và cong, cái mũi nhỏ, cái miệng môi cong luôn mút mát, hít hà.


Tôi liền vạch áo chuẩn bị cho con bú. Bấy giờ tôi mới phát hiện ra, đôi bầu vú lúc mang thai cương mọng lên, từ khi sinh con sao đã nhão nhoẹt thế này? Tôi cố gắng nặn hai bầu vú, song không một giọt sữa nào chảy ra. Tôi run rẩy cả người, làm thế nào đây? Đây là nơi núi non hoang dã, một hạt gạo cũng không có, tôi làm sao nuôi sống nổi đứa con yêu vừa mới chào đời? Nước mắt tôi bỗng trào ra, rớt cả xuống khuôn mặt trắng mịn bé bỏng của con tôi.


Vì sinh hoạt dã ngoại, hành quân chiến đấu vất vả, tôi ăn không tốt, ngủ cũng kém. Hơn một tháng nay, tôi lại chỉ sống nhờ ăn táo rừng, khi đẻ xong, một hớp cháo, một thìa mì để húp cũng không, lại phải chạy đi chạy lại tránh địch càn quét, tự nhiên mất sữa hoàn toàn. Con tôi đói khóc vang lên, tiếng khóc như mũi dao đâm suốt tim tôi. Thế nhưng tôi còn làm gì được? Hay là đến xin bú nhờ các bà mẹ có con mọn?


"Nào, đưa cháu bé cho tôi Trong hẻm núi này có mấy chị đang nuôi con bú. Tôi sẽ nói xin họ cho bú nhờ, tôi không thể tin được cháu bé như thế này lại chịu chết đói”.

Chị chủ nhà bế cháu đi khắp nơi thương lượng "Này các bà mẹ hảo tâm ơi! Đây là cháu bé, con của Bát lộ quân. Cha nó đang ở tiền tuyến đánh Nhật. Chúng ta hãy mỗi người cho cháu một miếng sữa, hãy cứu lấy cháu bé này!"


Các chị em tốt bụng khi nghe chị chủ nhà tôi nói vậy đều xăng xái, cởi áo vạch vú cho cháu bú nhờ.

Ban ngày, chị chủ nhà bế cháu đi khắp nơi xin sữa. Ban đêm thì chịu không biết làm sao. Mọi người chạy giặc cả ngày rất mệt, cần nghỉ ngơi cho khỏe. Chúng tôi làm sao dám quấy rầy họ? Cứ đến tồi, con gái tôi lại đói, khóc sa sả. Tôi bế cháu lên, vỗ về, nựng nịu, cũng chẳng ăn thua, đặt cháu nằm xuống đất để cháu lạ, nín một chút cũng không được, vẫn cứ ra rả khóc. Chị chủ nhà và Lý Ninh đã quá mệt, lăn ra ngủ say như chết. Tôi không còn dám nhờ vả gì họ. Tôi lại bế con lên, lại ru, lại vỗ về Lúc đầu cháu vẫn khóc gào lên, song dần do mệt quá, tiếng khóc nhỏ dần, cuối cùng không còn sức mà khóc nữa, ngủ thiếp đi.


Mỗi đêm đều cứ phải xoay xở như vậy, tôi không chợp được mắt, chạy giặc đã mệt, đêm con lại đói, khóc, tôi chẳng sao ngủ được. Cuối cùng tôi mắc phải chứng mất ngủ nghiêm trọng. Mỗi đêm tôi nằm ngắm sao, sao mọc rồi sao lại lặn. Các đồng chí bây giờ ở đâu? Anh Hồng Thủy ơi, anh ở đâu? Tôi mơ mơ, màng màng tìm ở các vì sao trên không trung...


Rời bộ đội, rồi tôi cũng phải chạy giặc chung với dân, Lý Ninh vì tôi đã bị khổ lây. Thế nhưng cô vẫn vui vẻ, lạc quan, không hề tỏ ra hoang mang, dao động, chưa hề thốt ra một lời kêu ca, oán trách. lại luôn luôn tỏ thái độ vui vẻ Cô biết tôi sinh cháu xong, người suy nhược, sợ tôi ăn không tiêu, càng cố gắng chăm sóc tôi. Mỗi lần di chuyển, cô đều bế cháu hộ. Cháu chỉ có hai chiếc tã tàm tạm, không kịp thay, chốc thì nước đái, lát thì dính phân. Lý Ninh không chút nề hà, thấy tã bẩn lập tức mang xuống suối giặt sạch ngay, rồi căng lên cây, rải trên thảm cỏ để nắng chiếu, gió thổi chóng khô. Lý Ninh ngày càng gầy hẳn đi, tôi vừa cảm kích, vừa đau lòng. Có lúc thấy cô không chú ý, tôi lẻn xuống suối tự giặt tã lót cho cháu.


Đã cuối thu, trời càng ngày càng lạnh. Tôi vẫn chỉ có hai cái áo đơn để mặc. Đêm đến gió lạnh gào rú, toàn thân rét run. Tôi ước ao sao có được bát canh nóng, hay một bát nước sôi cũng tốt. Cái rét đã làm ta khổ cực, nhưng cực nhất là tôi chỉ có hai chiếc áo đơn mặc cả trên người, không sao thay ra để giặt được. Mồ hôi, nước mưa, bùn đất và các chất bẩn trên người quyện vào nhau, khiến người tôi bốc mùi hôi. Vì sinh con giữa gió rét mưa sa, sau tháng ở cữ, toàn gối đất nằm sương, tôi không hiểu mình bị bệnh quái ác gì, toàn thân sưng phù. Trên người ghẻ lở, đầu tóc toàn chấy. Sắp tới đông, ruồi nhặng vù vù bâu quanh, đuổi không nổi. Tôi đi đâu, ruồi nhặng bay quanh từng đàn. Tôi không dám đi tới chỗ đông người, bất cứ di chuyển tới đâu cũng phải tìm chỗ nằm cách xa mọi người.


Cuộc càn quét lần này của giặc Nhật là cuộc càn quét dài ngày nhất và cũng tàn khốc nhất trong cuộc kháng chiến. Lúc đó, không quản mọi cực nhọc, tôi đã chịu đựng, cơ thể rất suy nhược, song tôi không hề mất tinh thần. Vì tôi vẫn tin chắc rằng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch, quân dân Tấn-Sát-Ký anh hùng nhất định sẽ đập tan cuộc càn quét của giặc Nhật, chúng tôi nhất định sẽ được trở về Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật, đại gia đình ấm cúng của chúng tôi.


Điều làm chúng tôi ngạc nhiên nhất là cháu bé được sinh ra trong gió mưa bão táp, suốt ngày chịu nắng gió, sống bữa đói bữa no, tuy thân hình cháu nhỏ bé, ngoài bị một số mụn do viêm nhiễm, cháu không hề mắc bệnh gì nữa. Phần lớn là nhờ được cô Lý Ninh có mang theo thuốc đỏ, mỗi ngày đều bôi cho cháu vài lần, các chỗ viêm nhiễm không những không phát triển mà dần dần khỏi hẳn. Chúng tôi xa bộ đội đã hai tháng. Một hôm, vào trung tuần tháng Mười, tin tức về việc quân dân Tấn-Sát-Ký đã giành thắng lợi "Chống càn" được truyền tới.


Chúng tôi cùng bà con trở về làng. Từ sau khi sinh nở, lần đầu tiên tôi được ăn một bát mì nước còn bốc khói, ăn một chút lương thực. Trong cái động nhỏ của chị chủ nhà, tôi ngủ được một giấc yên ổn, ngủ rất ngon và rất sâu. Khi tỉnh dậy nhìn thấy con gái dầu mỏ, đưa đôi tay nhỏ bé về phía mẹ.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #44 vào lúc: 27 Tháng Sáu, 2010, 04:22:17 pm »

Đáng thương cho con gái, vừa mới mở mắt chào đời đã lại rời bỏ nhân gian.

Trở về làng không lâu, Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật quả nhiên đã cử người về đón chúng tôi. Tôi và Lý Ninh mang theo một cháu bé gầy yếu như một con gà mới nở, may mà không chết đói, vô cùng cảm ơn và bịn rịn chia tay chị chủ nhà bần nông đã đối đãi với chúng tôi như người ruột thịt. Phải đi bộ khoảng chín mươi lý (45 km), cuối cùng chúng tôi cũng về được đến nơi Phân hiệu hai đang ở.


Vừa tới cửa trường, Hồng Thủy và các đồng chí đã ra đón. Mọi người dìu tôi vào nhà. Người đi lấy nước rửa mặt cho tôi, người nấu cho tôi một bát mì nóng hổi. Bác sĩ ở đội quân y cũng đến khám cho tôi. Trở về giữa một tập thể ấm cúng, gặp lại người thân của mình, những nỗi đắng cay, đau khổ trong hai tháng qua dâng lên trong tôi, tôi không tự chủ nổi, bật khóc hu hu. Mọi người đều an ủi tôi, khuyên tôi nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Một lúc lâu sau tôi mới bình tĩnh trở lại, ăn được liền ba bốn bát mì, thật là ngon. Trong nồi mì còn có hai quả trứng gà. Tôi được tắm rửa, thay quần áo, mùi hôi trên người được tẩy sạch.


Sau khi mọi người đi rồi, Hồng Thủy đỡ tôi vào giường nằm nghỉ do anh đã tự tay sắp xếp. Anh bế con gái và vỗ về chăm chú ngắm con. Cháu bé đã được uống nước xúp do các đồng chí nấu, ăn no cháu ngủ ngon lành. Hồng Thủy ngồi ghé bên giường hỏi tôi tỉ mỉ về tình hình tôi và đồng bào chạy giặc trong hai tháng qua. Tôi lộn xộn kể lại những nỗi khổ sở mà tôi và cháu bé đã phải chịu, tuôn ra cho hết nỗi lòng. Kể được xong, tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng dễ chịu.


Hồng Thủy lặng yên ngồi bên cạnh tôi, lắng nghe tất cả nỗi niềm tâm sự của tôi, mặt anh rất buồn, mãi sau mới thốt ra một câu:

"Em và con sống trở về được như thế này thật không dễ chút nào! Giả dụ em và con bị chết thì thật anh ân hận suốt đời".

"Ấy là nhờ chị chủ nhà bần nông và y sĩ Lý Ninh, và còn biết bao bà con đáng quý nữa, nếu không em và con không thể trở về được".

Hồng Thủy không nói một lời, trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng anh đứng dậy nói một cách khẳng định:

"Đó chính là sức mạnh của Đảng! Là sức mạnh của dân đó!"

Khi tinh thần hoàn toàn bình phục thì sức khỏe tôi lại suy sụp Tôi nằm bẹp tại giường, không dậy nổi. Tôi đã đổ bệnh rồi.

Khi về tới Phân hiệu hai xong, mọi người đặt cho cháu bé một cái tên để kỷ niệm việc ra đời trong hoàn cảnh bão táp mưa sa của cháu: "Phong Ba".

Hồng Thủy suốt ngày bận công tác, tôi thì nằm bẹp, đành phải gửi cháu nhờ một bà ở thôn bên nuôi dưỡng. Nhìn thấy con mỗi ngày một phổng phao, trông thật đáng yêu. Không ngờ, ở với bà được sáu tháng, thì con bà mắc bệnh sởi, cháu bị lây, không lâu sau chuyển sang viêm phổi. Đáng thương cho bé "Phong Ba", vừa mới mở mắt chào đời đã phải lìa bỏ nhân gian. Đó là đứa con đầu lòng của tôi và Hồng Thủy! Cháu đã chịu bao nhiêu gian khổ đâu có dễ mà sống được. Mấy ngày mấy đêm hến, tôi không sao ăn ngủ được, cảnh con ra đời cứ từng màn, từng màn lại diễn ra trong đầu tôi. Tinh thần của tôi cơ hồ bị suy sụp.


Đồng chí Tôn Nghị, Hiệu trưởng của chúng tôi, đến thăm và an ủi tôi: "Cháu bé dù sao cũng đã mất rồi, cô không nên quá đau buồn, nên giữ gìn sức khỏe cho tốt”.

Hiệu trưởng còn động viên tôi thêm: "Đường đi còn dài, cần phải tiếp tục làm tốt công tác của Đảng nữa!"

Lời của Hiệu trưởng Tôn Nghị đã làm cho tôi phấn chấn trở lại. Tôi tuy đã phải chịu khổ không tưởng tượng nổi, nhưng vẫn còn sống trở về, còn có thể tiếp tục công tác vì Đảng, đấy không phải là hạnh phúc lớn nhất hay sao? Cuối cùng tôi cũng vượt qua được sự thử thách lần này. Qua thời gian chạy chữa, tôi dần dần khỏi bệnh và lại bước vào cuộc chiến đấu mới.

Để tránh nhớ lại những kỷ niệm đau buồn, từ đó về sau, tôi và Hồng Thủy không bao giờ nhắc tới tên thôn đó.

Trong suốt một năm nằm bẹp chữa bệnh, Hồng Thủy thường ở bên tôi, nắm tay tôi nói những lời âu yếm, có lúc anh còn đùa ghẹo tôi. Thời đó chiến tranh kháng Nhật đang ở giai đoạn cầm cự, điều kiện sống rất gian khổ. Về vật chất, Hồng Thủy không có gì cho tôi, nhưng về tinh thần anh đã an ủi tôi rất lớn, giúp tôi vượt qua những tháng ngày đau khổ.


Sau khi khỏe hẳn, tôi được phân về làm giáo viên văn hóa, dạy môn toán, ở đại đội bốn của trường. Chính lúc tôi đang chuyên tâm vào việc dạy học thì bất ngờ lại bị sốt rét. Cơn sốt thường vào ban đêm, nhưng dù đêm bị sốt, ngày tôi vẫn gắng lên lớp. Đối với tôi đó cũng là một thử thách nho nhỏ.


Năm 1942, địch lại quay sang càn quét lớn khu "Ký Trung". Khu Ký Trung chi viện lương thực cho khu Bắc Nhạc nhưng không vận chuyển được. Phân hiệu hai chỉ nhận được một số đậu đen - thực phẩm của ngựa. Các đầu bếp đã xay đậu thành bột, nấu lên cho người ăn. Vì có một số đậu đen để lâu đã sinh độc tố, đậu nấu ra vừa đắng vừa sạn, nuốt không trôi, chúng tôi phải hái cả lá, cả hoa, cả quả của cây dương, cây liễu, cây du để ăn cho đỡ đói. Cho đến khi gạo được chuyển đến, tình hình mới có sự thay đổi.


Trong thời kỳ Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật gặp phải điều kiện gian khổ nhất, Hiệu trưởng Tôn Nghị và Chính ủy Lý Trí Dân của chúng tôi đã đồng cam, cộng khổ, cùng đi gùi lương thực, cùng đào củ rừng, cùng đi tăng gia với chúng tôi. Đó là công tác chính trị tư tưởng không phải dùng lời. Các đồng chí ấy đã được toàn thể giáo viên, công nhân viên ủng hộ nhiệt liệt.


Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ, Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật đã bồi dưỡng được hơn một vạn bốn ngàn học viên, cống hiến tích cực cho việc củng cố và phát triển khu giải phóng Tấn-Sát-Ký.


Ngày nay, mỗi khi nhớ lại giai đoạn lịch sử này, mọi người "không hẹn mà nên” đều thừa nhận rằng trong đó có một phần tâm huyết của một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế Đồng chí Hồng Thủy.


Hơn năm mươi năm qua, tôi không gặp lại được y sĩ Lý Ninh, và chị chủ nhà bần nông, và cũng không nhận được tin tức gì của các chị, cảm ơn các chị, cũng xin cảm ơn các đồng chí ở Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật.


Tôi và Hồng Thủy sinh hoạt và chiến đấu ở Phân hiệu hai hơn bốn năm. Nhớ lại những năm tháng gian khổ và tuyệt vời đó tôi lại có thể kiên trì đấu tranh, quyết không khuất phục, đó chính là sức mạnh to lớn mà Đảng và nhân dân đã truyền cho tôi. Đó cũng là điều suốt đời tôi không bao giờ quên.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #45 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:11:39 pm »

Chương VI
TỔ QUỐC ĐANG VẪY GỌI


Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề xuất với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, hy vọng các đồng chí Việt Nam đang công tác ở Trung Quốc trở về nước để tham gia chiến tranh chống Nhật, đặc biệt là đồng chí Hồng Thuỷ.

Từ năm 1941 trở đi, chiến tranh kháng Nhật bước vào giai đoạn cầm cự, quân Nhật, Ngụy điên cuồng tấn công vào các khu giải phóng trên toàn quốc. Vì bị địch vây quét, và kinh tế bị phong tỏa, đời sống của quân và dân các khu giải phóng đều vô cùng khó khăn. Để giảm bớt sự đóng góp của dân, Trung ương Đảng quyết định thực hiện tinh binh, giản chính, đưa một số lớn cán bộ từ các khu giải phóng điều về Diên An, tham gia học tập chỉnh phong. Tôi và Hồng Thủy cùng được điều về Diên An trong tình hình đó.


Sau này, tôi mới được biết, Hồng Thủy được điều về Diên An còn một nguyên nhân trọng yếu hơn nhiều. Tháng Mười hai năm 1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, bọn quân phiệt Nhật xâm chiếm Việt Nam, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và đồng chí Hồ Chí Minh nhiều lần đề xuất, hy vọng các đồng chí Việt Nam đang công tác trong Đảng và quân đội Trung Quốc có thể về nước để tham gia chiến tranh kháng Nhật, đặc biệt là đồng chí Hồng Thủy. Đồng chí Hồng Thủy đã đến Trung Quốc hai mươi năm, trên các mặt đấu tranh quân sự, chính trị, công tác quần chúng, công tác địa phương, xây dựng chính quyền cách mạng, đều đã tích lũy được kinh nghiệm rất phong phú. Đây là lúc đồng chí về nước, phát huy được tác dụng nhất. Đồng chí Hồ Chí Minh đã nhiều lần cùng với các đồng chí Chu ân Lai, Diệp Kiếm Anh, những đồng chí cùng công tác với Người ở Cục Phương nam Quốc tế cộng sản, bàn bạc về vấn đề này. Qua nghiên cứu, Trung ương Đảng quyết định trước hết điều Hồng Thủy về Diên An, tham gia học tập chỉnh phong ở Trường Đảng Trung ương để tu dưỡng thêm, sau đó sẽ chuyển về Việt Nam.


Tháng Tư năm 1943, tôi và Hồng Thủy rời huyện Linh Thọ, tỉnh Hà Bắc về Diên An, cùng đi có bảy, tám đồng chí khác. Có một tiểu đội đi theo hộ tống, ngoài ra còn có một chú cần vụ riêng cho Hồng Thủy, họ Tống, mới mười lăm tuổi. Đoàn còn được cấp hai con lừa để thồ hành lý.


Chúng tôi đi dọc theo tuyến đường dây Phụ Bình, Hà Bắc, Phồn Tự Sơn Tây, Huyện Đại, Ninh Vũ, Khả Phong, Huyện Hưng, rồi vượt Hoàng Hà ở bến Bát Bảo thuộc huyện Giám, tỉnh Sơn Tây, đến Tuy Đức thuộc Thiểm Bắc. Hành trình dài hơn hai nghìn năm trăm lý (1250 km). Đường đi của chúng tôi toàn qua các khu vực hoang vắng, nghèo nàn, lại phải vượt qua mấy tuyến phong tỏa của địch, đặc biệt là phải vượt qua Ma Thiên Lãnh ở tây bắc huyện Ninh Vũ. Ở đây một lần nữa, chúng tôi lại gặp phải cơn hiểm nguy sống còn. Ma Thiên Lãnh, quanh năm tuyết phủ, dốc cao, đường trơn, vốn gọi là "Núi tuyết nhỏ". Khi chúng tôi lên núi, thời tiết rất tốt, không thấy có gì là khó khăn. Nhưng khi leo đến lưng chừng núi, thời tiết đột nhiên thay đổi, cuồng phong, bão tuyết ập tới. Đoàn chúng tôi gần hai mươi người bị bão tuyết đánh cho tan tác đội hình.


Hồng Thủy, chú Tống và tôi dẫn lừa nấp sau một sườn núi để tránh gió. Khoảng một giờ sau, gió lớn đã ngừng, tuyết cũng dừng bay. Chúng tôi dắt lừa rời khỏi vách núi ra đường tiếp tục leo lên.


Khi chúng tôi ra tới đường núi thì đã không tài nào phân biệt nổi đâu là đường, đâu là vực. Tuyết dầy phủ khắp mọi nơi, chúng tôi đành lò dò, vừa tiến vừa tìm đường vì nếu bước sai là có thể lăn xuống vực sâu hàng ngàn thước. Một con lừa của chúng tôi trượt chân lăn xuống vực chết. Toàn bộ hành lý của chúng tôi bị mất theo.


Xuống được núi rồi, chúng tôi đến một thôn thuộc huyện Khả Phong, dừng chân tại một nhà dân. Các đồng chí cùng đi bị bão tuyết thổi chạy tan tác, không gặp lại được. Nghe bà con nói ở trên núi có một số người bị chết cóng. Chúng tôi vì tạt vào tránh được trong một vách núi chắn gió nên mới còn sống sót.

Qua ba tháng đường dài, Diên An của chúng tôi mỗi ngày một gần lại.

Vào một buổi chiều giữa hè, cuối cùng chúng tôi đã tới được đất thánh cách mạng - Diên An... Nhìn thấy ngọn Bảo Tháp cổ kính rực đỏ dưới ánh nắng chiều tà, nhìn cảnh núi Thanh Lạng rực rỡ, hùng vĩ trong ánh tịch dương, lòng tôi vô cùng xúc động, mong ước bao năm có được hôm nay, tôi đã được trở về trong vòng tay đất mẹ Diên An.


Chúng tôi men theo dòng sông Diên trong vắt tận đáy để về nhà khách (Chiêu Đãi Sở) Trung ương, nhìn đâu cũng thấy mới lạ. Hai bên bờ sông Diên, mọi người tụm năm tụm ba, giặt quần áo, tán chuyện, té nghịch nước, ca hát... một cảnh tượng thật êm ấm, hiền hòa.


Tuy gọi là giữa mùa hè, song trên cao nguyên Thiểm Bắc, khí hậu ngày đêm khác biệt, trời vừa tối đã se lạnh. Tôi hít thật sâu làn không khí khô ráo, mát mẻ, bao nhiêu nỗi mệt nhọc do hành quân lâu ngày tiêu tán hết.


Đêm đến trăng sáng vằng vặc, vô vàn vì sao lấp lánh trên không, ở các sườn núi ánh đèn của từng dãy hang động cũng tỏa sáng. Nhìn ánh đèn từ xa lấp lánh, cũng như các vì sao trên không, khiến cho ta khó phân biệt đâu là sao trên trời đâu là sao dưới đất, có cảm giác quanh mình toàn sao đang tỏa sáng. Đêm ở Diên An thật đẹp!


Về đến Diên An như trở về nhà. Tôi mừng thỏa ước bấy lâu, còn Hồng Thủy thì như cá gặp nước. Diên An có biết bao thủ trưởng cũ, bao bạn chiến đấu cũ, mỗi ngọn cỏ cành cây của Diên An, anh đều quen thuộc. Trên núi Bảo Tháp, bên bờ sông Diên, ở sân bóng rổ, tại vũ đài ở Đại lễ đường Trung ương mọi người thường thấy một người đầu đội mũ đã bạc màu, dáng đi nhanh nhẹn. Không cần nói, mọi người đều nhận ra anh, quý mến anh, một người Việt Nam: Hồng Thủy. Ôi, anh đã trở lại rồi!


Để khắc phục khó khăn nghiêm trọng về sinh hoạt vật chất của khu giải phóng, ngoài việc tiến hành "tinh binh giản chính", Trung ương Đảng đồng thời đề ra phương châm chung "Phát triển kinh tế, bảo đảm cung cấp Tại biên khu Thiểm Cam Ninh thì triển khai phong trào "Tăng gia sản xuất lớn". Lữ đoàn 359 của Bát lộ quân tiến hành khai hoang trồng trọt ở vịnh Nam Ni, không những có thừa để tự cấp còn đem phân nửa lương thực cung cấp cho cơ quan trung ương đóng tại Diên An... Lữ đoàn 359 đã trở thành lá cờ đầu của phong trào "Tăng gia sản xuất lớn". Phong trào "Tăng gia sản xuất lớn” của Diên An không những làm giảm sự đóng góp cho nhân dân biên khu, mà còn góp phần cải thiện đời sống cho cơ quan trung ương và cán bộ, chiến sĩ của quân đội.


Khi tôi và Hồng Thủy tới Diên An, nhà bếp của Trường Đảng Trung ương đã được tổ chức rất tốt. Mỗi bữa cơm trưa đều có ba, bốn món ăn, lại có cả thịt. Mỗi lần bưng bát cơm ngon lên ăn, tôi lại nhớ tới các đồng chí cũ hiện ở tiền phương, trong lòng dâng lên một nỗi niềm thương xót.


Cán bộ ở tiền phương về cũng tham gia ngay vào phong trào sản xuất lớn của biên khu. Đa số người chọn cách quay xa, xe sợi. Họ đem sợi đã xe đi đổi lấy bông và vải vóc cũng có người lại trồng rau ở ven sông, như vậy cũng giải quyết được thức ăn và vải mặc cho bộ đội. Hồng Thủy cũng học xe sợi, song do tính hiếu động, ngồi một chỗ không yên, cuối cùng học chẳng thành.


Sinh hoạt văn hóa ở Diên An lúc đó cũng rất phong phú. Ở Cục 2 Trường Đảng, nơi tôi và Hồng Thủy ở, thường tổ chức cho cán bộ học nhảy điệu múa hữu nghị. Mỗi lần mở vũ hội, đèn măng sông sáng trưng, cả nhà như ban ngày. Mọi người đến dự vũ hội rất đông, có người vào học nhảy, nhưng đa số đứng vây ngoài để xem, rất huyên náo. Tôi cũng là một trong số những người xem nhảy. Tôi không những chỉ xem nhảy mà còn lợi dụng ánh đèn sáng, ngồi một bên vũ đài tranh thủ khâu đế giày như thói quen hồi còn công tác ở Hội Phụ nữ huyện Ngũ Đài, đã tổ chức phụ nữ khâu đế giày cho bộ đội để gửi ra tiền tuyến. Có một số người là trí thức ở các thành thị lớn đến đây thấy vậy nhìn tôi chỉ chỉ trỏ trỏ có vẻ buồn cười. Tôi phớt lờ không để ý.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #46 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:12:43 pm »

Chị Thái Xướng hòa nhã, dễ gần, đã để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc.

Mùa xuân năm 1942 Đảng Cộng sản Trung Quốc mở cuộc vận động "Chỉnh phong" ở Diên An... Đảng thành lập đã hơn hai mươi năm, có những kinh nghiệm thành công, lại cũng có những bài học thất bại. Thế nhưng đối với những sai lầm "tả” khuynh, "hữu” khuynh chưa được phê phán, tổng kết một cách có hệ thống. Toàn Đảng chưa nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm của các khuynh hướng sai lầm này. Ở một số khu vực, không lúc này thì lúc khác vẫn xuất hiện các khuynh hướng sai lầm đó. Để toàn Đảng, toàn thể cán bộ, quần chúng xác lập chính xác lập trường, quan điểm, phương pháp, dựa trên chủ nghĩa Mác để định ra đường lối, phương châm, chính sách chỉ đạo cho công tác toàn Đảng, Trung ương quyết định toàn Đảng mở một cuộc vận động "Chỉnh phong”.


Tháng Năm năm 1941, tại hội nghị cán bộ Diên An, Mao Chủ tịch đã đọc báo cáo "Cải tạo lại việc học tập của chúng ta". Tháng Hai năm 1942, Mao Chủ tịch đã mở màn việc học tập chỉnh đốn tác phong của Đảng.


Trong cuộc vận động chỉnh phong, cán bộ, quần chúng trước tiên phải học tập văn kiện chỉnh phong, sau đó từng cá nhân liên hệ kiểm tra tư tưởng và công tác đã làm, triển khai phê bình, tự phê bình, làm rõ nguyên nhân sai lầm của chủ nghĩa chủ quan trong công tác, đạt cho được mục đích "Giơ cao đánh khẽ, trị bệnh cứu người". Thông qua học tập chỉnh phong, toàn thể đảng viên đã nâng cao trình độ lý luận, tư tưởng, khắc phục được tư tưởng sai lầm của chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa bè phái. Toàn Đảng đã đoàn kết lại hơn bao giờ hết. Năm 1943, một số lớn cán bộ ở các khu giải phóng lục tục kéo về Diên An tham gia học tập chỉnh phong, trong đó có một số đại biểu đến Diên An chuẩn bị tham gia Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn một số thông qua học tập, vũ trang tư tưởng, thích ứng được với nhu cầu của thời kỳ mới, lại trở về các chiến trường.


Trường Đảng Trung ương chia thành ba bộ phận. Bộ phận thứ nhất gồm các đồng chí là Đại biểu Đại hội Đảng lần thứ 7, bộ phận thứ hai gồm các cán bộ cấp huyện và trung đoàn trở lên, bồ phận ba gồm các cán bộ từ cấp huyện, cấp trung đoàn trở xuống và nhân viên cơ yếu Tôi và Hồng Thủy được xếp vào bộ phận thứ hai.


Vì cán bộ học ở Trường Đảng Trung ương từ cả nước đến nên không hiểu biết nhau, trừ lúc học tập văn kiện là học chung ra, còn chủ yếu là triển khai phê bình và tự phê bình, bộc lộ những sai lầm khuyết điểm của bản thân về tư tưởng, tác phong, công tác. Sau đó mọi người căn cứ vào tình hình tự phê bình, tiến hành phân tích, giúp đỡ, đề cao nhận thức. Do bộ phận hai, được Chủ nhiệm Trương Đỉnh Thừa và Phó Chủ nhiệm An Tử Văn nghiêm túc chấp hành chính sách, nên cuộc vận động chỉnh phong được tiến hành rất bình ổn.


Nhưng trong khi học tập văn kiện chỉnh phong đã xảy ra một chuyện nực cười.

Sau ngày học đầu tiên, tôi đặt văn kiện chỉnh phong trên bàn, đến ngày thứ hai thì mất. Mất tài liệu văn kiện chỉnh phong là phạm sai lầm lớn. Tôi đứng ngồi không yên. Mọi người giúp tôi tìm, trên bàn dưới bàn, lục lọi mọi nơi, thậm chí cả hố xí, trên sườn núi, cũng chẳng thấy tăm tích. Cuối cùng có một đồng chí phát hiện chân tường có một hang chuột, anh liền nói đùa:

"Có lẽ chuột tha tài liệu vào hang rồi".

Mọi người chỉ còn một chút hy vọng, bèn đào thử hang chuột. Quả nhiên văn kiện bị chuột tha vào tổ đã cắn nát tung, dù sao tài liệu không mất, tôi mới nhẹ cả người.

Đến Diên An không lâu, Hồng Thủy dẫn tôi đi thăm chị Thái Xướng. Anh là người quen cũ của chị, Hồng Thủy đã biết chị Thái Xướng từ khi còn công tác bên Hồ Chí Minh ở Quảng Châu. Khi ấy anh là một thanh niên trẻ, mới mười bảy tuổi. Chị Thái Xướng rất quý cái anh chàng trẻ tuổi Việt Nam thông minh, lanh lợi này. Năm 1926 cũng chính chị đã cùng với đồng chí Lý Phú Xuẩn giới thiệu Hồng Thủy vào học khóa bốn Trường Quân sự Hoàng Phố. Lúc tôi được gặp chị, chị đã là Tổng thư ký Trung ương Hội Phụ nữ Trung Quốc, lãnh đạo phụ nữ cách mạng Trung Quốc. Tôi theo Hồng Thủy đến hang chị ở và công tác với tấm lòng kính yêu vô hạn. Chị Thái Xướng rất nhiệt tình dẫn chúng tôi vào hang, còn mang táo đỏ đãi chúng tôi. Chị mặc một bộ đồ chế phục màu xám đã bạc màu gần như trắng, nét đẹp trời cho của chị càng thêm vẻ đoan trang, rất phong độ.

Anh Hồng Thủy bắt đầu bằng việc giới thiệu tôi với chị:

"Đây là đồng chí Trần Kiếm Qua, vợ em. Cô ấy là người Ngũ Đài, Sơn Tây”.

Chị Thái mỉm cười gật đầu, thân mật bắt tay tôi vừa nói:

"Hoan nghênh em!"

Sau đó, chị vui vẻ nói với Hồng Thủy:

"Tiểu Hồng, chú nay đã làm rể Trung Quốc. Chúng ta càng như người một nhà."

Trước mặt chị Thái hiền hòa, thân thiết, Hồng Thủy có vẻ hơi bẽn lẽn.

"Chú Hồng, chú rời Diên An thoáng một cái đã năm, sáu năm rồi, hãy kể lại chuyện ở Tấn Sát Ký cho chị nghe với."

Hồng Thủy bèn kể tóm tắt chuyện công tác của mình ở huyện Ngũ Đài, ở báo "Kháng địch", ở Phân hiệu hai Đại học Kháng Nhật cho chị nghe.

Chị Thái nghe kể thấy tôi đã có lúc làm công tác phụ nữ ở biên khu Tấn-Sát-Ký, chị vui ra mặt, liền hỏi tôi nhiều vấn đề liên quan đến sinh hoạt và công tác phụ nữ ở biên khu. Khi tôi kể, chị hết sức chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại gật đầu vẻ tán thành. Chị còn thân thiết hỏi han chúng tôi về tình hình sinh hoạt học tập của vợ chồng tôi hiện giờ ra sao.


Đến trưa, chị dẫn chúng tôi xuống nhà ăn của cơ quan Trung ương. Ăn ở đây tràn là các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Đồ ăn thức uống ở đây cũng giống hệt ở trường tôi, không có chút gì đặc biệt.


Trong nhà ăn và trên hành lang chúng tôi gặp một số đồng chí là các thủ trưởng Trung ương trong đó có Lưu Thiếu Kỳ và Chu Ân Lai. Gặp những cán bộ bình thường như chúng tôi, các đồng chí rất nhiệt tình chào hỏi.

Trên đường trở về trường, tôi nói với Hồng Thủy:

"Anh xem, chị Thái là người lãnh đạo công tác phụ nữ có công lao lớn, tham gia Đảng rất sớm, vậy mà không có dáng bộ gì ra vẻ quan cách, rất hòa nhã, bình dân, dễ gần”.
Anh trả lời: "Đó là tác phong lãnh đạo của Trung ương Đảng ta, họ chính là mẫu mực cho chúng ta học tập chỉnh phong”.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #47 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:14:38 pm »

Được uống sữa do Chu Tổng tư lệnh phê cấp, Tiểu Phong rất khỏe, còn hay dùng bàn tay nhỏ bé đánh lại.

Đến Diên An, tôi lại có mang. Còn cách hai tháng trước khi sinh nở, tôi được vào quân y viện Trung ương nằm dể theo dõi.

Nếu đem điều kiện ở Diên An so với khi sinh cháu Phong Ba ở trong hẻm núi giữa bão táp mưa sa thì thật khác nhau một trời một vực. Bây giờ đã là cuối năm 1943, thời điểm rét nhất ở Thiểm Bắc. Trên cao nguyên Hoàng Thổ rộng lớn gió rít không ngừng, chung quanh động tuyết rơi trắng trời. Trong động của quân y viện Trung ương thì lại ấm nóng bừng bừng. Hang động rộng thoáng, giường bệnh êm ái, thức ăn ngon miệng, lại được phục vụ tận tình, chu đáo, hòa nhã của các thầy thuốc và y tá có tay nghề cao. Đặc biệt Hồng Thủy thường xuyên đến quân y viện thăm hỏi, làm cho tôi rất mát lòng hả dạ, người béo thêm, da dẻ hồng hào.


Cháu bé trong bụng tôi thật là ngang ngược, lúc thì đạp bên này, lúc thì húc bên kia, mỗi động tác của cháu lại làm cho tim tôi thêm hồi hộp.

Ngày 15 tháng 1 năm 1944, cháu bé chào đời. Tiếng khóc đầu tiên của cháu sao mà to, khỏe thế. Chỉ nghe tiếng khóc của cháu, tôi đã đoán là con trai.

Hồng Thủy đã ba mươi sáu tuổi, "mừng có quý tử” anh sướng rơn người. Anh ôm chặt lấy con quay vòng chung quanh phòng bệnh, rồi lại dâng cao lên trên đỉnh đầu luôn miệng nói:

"Con trai ngoan, đợi con lớn khôn, cha sẽ dẫn con đi đánh trận!"

Tôi nằm bên nói chen vào "Con lớn khôn phải xây dựng nước Trung Hoa mới như nhân dân Liên xô được sống trong hòa bình hạnh phúc chứ!"

Anh ôm con vào lòng, vỗ về, tập trung ngắm nhìn khuôn mặt bé nhỏ của con.

"Đúng thế, chúng ta ngày nay chịu khổ là để chúng được sung sướng”

Năm đó sản xuất lớn của Diên An được mùa to (tiếng Trung Quốc là phong thu). Để kỷ niệm điều tốt đẹp ấy, Hồng Thủy đặt tên con trai là Tiểu Phong.

Cháu Tiểu Phong vừa sinh xong thì khó khăn mới lại ập đến. Vì lúc sinh con đầu lòng tôi không có chút gì được bồi dưỡng nên không có sữa, đến khi sinh con thứ hai, sứa chỉ có rất ít. Làm sao bây giờ? Không lẽ để con chết đói. Trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, Hồng Thủy bèn viết thư báo cáo rõ với Chu Tổng tư lệnh, nhờ ông giúp đỡ giải quyết khó khăn đó. Ngay lập tức, Chu Tổng tư lệnh phê cấp cho cháu mỗi ngày một hộp sữa, giải quyết khó khăn cho chúng tôi.


Thời kháng Nhật, sữa ở Diên An là quý hiếm, sữa chỉ đủ cung cấp cho một số rất ít các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Sữa mà Chu Tổng tư lệnh phê cấp cho con tôi là rút từ nguồn cung cấp ít ỏi dành để bồi dưỡng cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Tôi rất cảm ơn lãnh đạo đã quan tâm song trong lòng luôn áy náy. Đó không phải chỉ là lon sữa bò nhỏ bé mà nó thể hiện lòng thương yêu và sự quan tâm của Chu Tổng tư lệnh với cán bộ cấp dưới. Ân tình của đồng chí Chu Đức tôi suốt đời không quên.


Sau này khi cháu Phong đã lớn, đã hiểu biết, tôi thường giáo dục nhắc nhở cháu Phong: "Con nhờ sữa của Chu Tổng tư lệnh cấp cho nên mới khỏe mạnh khôn lớn lên được, sau này phải công tác cho thật tốt để khỏi phụ lòng bác Chu và Đảng”.


Từ trước đến giờ Trường Đảng Trung ương không nhận các cán bộ nữ có con mọn vào học vì để cho mẹ chuyên tâm săn sóc con. Nghe nói Trung ương quyết định vậy là vì lo trong hoàn cảnh chiến trường, nuôi các cháu rất khó khăn, thế nhưng ở Diên An thì lại phải xem xét lại vấn đề này. Hồng Thủy và một đồng chí cán bộ của Đảng ủy Thái Hàng Sơn đã viết một báo cáo liên danh, yêu cầu nhà trường cho các nữ đồng chí có con nhỏ vẫn được tham gia học tập. Trung ương phê chuẩn yêu cầu đó. Tôi và một chị nữa họ Lưu được dọn đến ở Bộ phận hai của Trường Đảng. Lúc bắt đầu chỉ có hai chúng tôi, dần dần người đông thêm, nên mới tổ chức thành một "Chi bộ các bà mẹ".


Các đồng chí trong chi bộ các bà mẹ đều rất quan tâm, săn sóc lẫn nhau. Chi bộ chúng tôi có một chị tên là Phương Minh, từ "Hậu phương lớn" tới. Chị đến Diên An có mang theo đường kính và cho tôi một túi. Do đó cháu Phong uống sữa lại được pha thêm đường.


Tháng Mười một năm 1946, khi chúng tôi rút khỏi Diên An, chị Phương Minh còn đem một thẻ vàng đến dúi cho tôi và nói:

"Chị một mình dắt theo hai con nhỏ sơ tán, không dễ dàng gì, trên đường chắc chắn sẽ rất nhiều khó khăn. Khi nào cần tiền, chị bán đi mà dùng”.

Tôi không có cách nào từ chối lòng tốt của chị, nhận tặng vật mà lòng vô cùng xúc động.

Ở Bộ phận hai Trường Đảng, tôi và Hồng Thủy sinh hoạt ở hai chi bộ khác nhau. Anh ở chi bộ sáu, còn tôi ở chi bộ mười bốn, chúng tôi mỗi người lại ở một nơi. Ở Diên An, các hang động có nhiều tầng cao thấp khác nhau. Các bà mẹ nuôi con như chúng tôi được chiếu cố, tôi dẫn cháu Phong đến ở hang thấp nhất. Hồng Thủy thì ở hang chót vót trên đỉnh. Vì vậy cháu Phong chỉ được mình tôi chăm nom. Nuôi con nhỏ mà tham gia học tập tập thể lại phát sinh mâu thuẫn. Có lúc tôi phải đi nghe báo cáo nửa ngày, đành để cháu Phong ở lại hang một mình. Không có người chăm sóc, đói ư, khát ư, chỉ biết khóc toáng lên, ỉa đái dầm dề, đầy giường, bôi đầy mình, có lúc bôi cả lên mặt, lên miệng. Đi nghe báo cáo về xong, tôi lại phải rửa ráy, dọn dẹp hàng nửa ngày trời Năm 1945, trước khi Hồng Thủy về Việt Nam, chúng tôi mới lại được ở cùng nhau.


Được uống sữa do Chu Tổng tư lệnh cấp cho, Tiểu Phong lớn rất nhanh, mười tháng tuổi đã có thể men theo giường, lẫm chẫm đi lại. Không có ai đùa với mình, có lúc cậu ta cộc đầu mình vào tường để tự chơi. Vừa đầy năm, cháu đã có thể chạy phăm phăm quanh viện.


Vì cháu Phong lớn lên rất giống bố Hồng Thủy, một chú bé Việt Nam điển hình, trán dô, mặt bụ bẫm, mắt sâu, lanh lợi, nên mọi người rất yêu.

Cháu Phong rất bướng, chỉ thích dùng bàn tay ếch nhỏ xíu đánh lại, thêm bố cháu vui vẻ, hay tán chuyện cười, nên các đồng chí trong bộ phận hai chúng tôi ai cũng yêu thích. Cơm chiều xong, tôi và Hồng Thủy bế cháu Phong đi dạo chơi dọc ven bờ sông Diên. Có lúc quá phấn khởi, Hồng Thủy ôm cháu Phong, chạy ào ào xuống mép nước, tôi tất tả chạy theo. Thằng cu con không chịu cho ai sờ mó, động đến mình, có ai dữ dữ là đấm trả ngay. Hồng Thủy phấn khởi cười ha hả.


Tôi đi bên vừa ngắm vừa thấy sung sướng, suy nghĩ: Đúng là hai hòn ngọc quý biết nói của mình.

Ở Diên An, Hồng Thủy nổi danh là một cây "vui nhộn”, lại còn làm huấn luyện viên cho đội bóng rổ nữ toàn Diên An.

Có lúc vừa bế con xuống dốc, gặp lúc sân bóng đang tổ chức thi đấu, tiếng reo hò, kêu gọi ầm ĩ ở sân bóng đã cuốn hút anh. Anh trao vội con cho tôi rồi chạy tới bên sân nhảy nhót chỉ trỏ. Anh có lúc là huấn luyện viên, có lúc làm trọng tài, có lúc làm cầu thủ. Anh thường chơi ở vị trí tiên phong, chạy khắp sân, luôn la hét, chỉ huy đội.


Tôi bế Tiểu Phong ngồi trên "khán đài" rất vui thích xem họ thi đấu. Khi còn ở Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên, tôi cũng đã từng là thành viên tích cực của đội bóng nhà trường, nếu không phải bế con thì tôi cũng lao vào sân, thử sức xem sao.


Thấy sân bóng vui vẻ, nhộn nhịp, cháu Phong đứng trên đùi tôi cũng nhún nhẩy bi ba, bi bô hét.

Những ngày sống ở Diên An là những ngày sung sướng hạnh phúc nhất của gia đình tôi.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #48 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:18:55 pm »

Hồng Thủy nhờ Nhiệm Bật Thời trông nom hộ vợ con rồi với tình cảm lập công báo quốc rời Diên An về nước.

Khi tôi biết tin Hồng Thủy sẽ về Việt Nam lòng dạ tôi đau thắt lại. Tôi lại vừa mang thai, Hồng Thủy ra đi lần này chưa biết đến bao giờ trở lại, bao giờ gặp được đứa con còn nằm trong bụng mẹ. Thế nhưng nghĩ lại, Hồng Thủy là người Việt Nam, anh đã vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc mà phấn đấu suốt hơn hai mươi năm. Tôi yêu Tổ quốc của tôi - Trung Quốc. Anh đương nhiên cũng yêu Tổ quốc của anh - Việt Nam. Anh là con em nhân dân Việt Nam, bất kể lúc nào, chỉ cần Tổ quốc cần, anh nhất định sẽ đáp lại lời kêu gọi của Tổ quốc chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa giải phóng dân tộc mình. Một người có tinh thần chủ nghĩa quốc tế như anh nhất định cũng là một chiến sĩ yêu nước.


Tôi cố nén nỗi đau phải ly biệt, không nói một lời lưu luyến hoặc bàn đến việc tương lai, việc tôi một mình nuôi hai con sẽ gặp bao nhiêu khó khăn, để cho anh khỏi buồn phiền nản chí.


Đối với nỗi đau lòng sầu ly hận biệt, Hồng Thủy cũng phải đấu tranh kích liệt. Nhưng anh chưa hề trực tiếp nói với tôi về việc anh sẽ về Việt Nam.

Một buổi tồi, anh hút thuốc liên tục, hết điếu này đến điếu khác. Anh nhìn lên khói thuốc đang tan rồi mới nói với tôi:

"Kiếm Qua, việc anh cần về Việt Nam, chắc em đã nghe nói. Tương lai một mình em nuôi hai con khó khăn sẽ rất lớn. Anh đi rồi, em gặp khó khăn thì làm thế nào? Anh nghĩ mãi không yên”.


Nghe anh nói mấy lời đó, mũi tôi bỗng cay cay, nước mắt muốn trào ra. Tôi cố gắng kìm nỗi thương cảm của mình, dịu dàng an ủi anh:

"Chỉ cần sau khi về Việt Nam, anh nỗ lực công tác, lập được thành tích xuất sắc, đồi với em đó là niềm an ủi nhất. Ở Diên An còn có tổ chức, tổ chức chắc chắn sẽ giúp đỡ em, em nhất định chiến thắng được khó khăn, nguy hiểm, anh cứ yên tâm mà đi!"


Hồng Thủy nhắm mắt lại như đang suy nghĩ song không nói thêm một lời. Anh biết rằng chia tay lần này để ra tiền tuyến, chiến đấu để giải phóng Tổ quốc mình, sống chết chưa biết ra sao, rất khó nói có thể sống sót mà trở về, anh thực sự không yên lòng về mẹ con tôi.

Trước khi rời Diên An vài ngày, anh lại nói với tôi:

"Từ nay về sau, chắc chắn em sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhưng anh tin rằng em sẽ không khuất phục khó khăn. Anh đã gửi hai mẹ con em nhờ đồng chí Nhiệm Bật Thời, Trưởng ban Bí thư Trung ương Đảng săn sóc, giúp đỡ, có khó khăn gì, em cứ tìm gặp ông ấy”.

Anh dừng lại một lát, rồi âu yếm nhìn tôi.

"Kiếm Qua, em còn nhớ bài thơ của Vương Bột "Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhiệm Thục Xuyên” (Tiễn Đỗ Thiếu Phủ đi nhậm chức ở Thục Xuyên).

Chỉ một thoáng, tôi hiểu ngay dụng ý của anh, cả hài chúng tôi đều không hẹn mà cùng đọc lên bài thơ đó:

Thành khuyết phụ Tam Tần
Phong yên vọng Ngũ Tân
Dữ quân ly biệt ý
Đồng thị hoạn du nhân
Hải nội tồn tri kỷ
Thiên nhai nhược tỉ lân
Vô vị tại kỳ lộ
Kỷ nữ cộng chiếm cân.


Tạm dịch:

Thành quách giữ Tam Tần1 (Ba huyện của tỉnh Thiểm Tây)
Khói mây vọng Ngũ Tân2 (Con sông lớn ở Tứ Xuyên có năm nhánh)
Tiễn nhau bao lưu luyến
Đời quan lang kết thân
Bốn bể còn tri âm
Chân trời xa, mà gần
Đừng như tình nhi nữ
Lệ tuôn trào đẫm khăn.


Đọc xong, chúng tôi cảm thấy trong lòng vui vẻ, cởi mở, dễ chịu hơn.

"Kiếm Qua, em yên tâm, về Việt Nam anh sẽ không kết hôn nữa”.

Tôi gật đầu, tỏ lòng tin tưởng anh. Tôi chỉ nhắc lại anh về nước, trong công tác nên tôn trọng lãnh đạo, đoàn kết tốt với các đồng chí khác, phải giữ gìn sức khỏe đừng quá gắng sức.


Để cho tôi đỡ vất vả, trước khi đi, anh đưa cháu Phong vào Trường Mầm non số hai Diên An để trường nuôi dưỡng. Lúc đó cháu Phong mới một tuổi rưỡi, là cháu bé nhất trường, cũng giống như các cháu khác, phải ở hẳn trong trường là do hoàn cảnh bắt buộc thôi. Cháu Phong cứ bám chặt lấy đùi bố vừa khóc vừa la, không cho bố đi. Hồng Thủy là một người đàn ông cứng rắn, nhưng lại là một người có văn hóa, giàu tình cảm. Hồng Thủy yêu quý con, nghe Tiểu Phong khóc thét lên như vậy, liền quỳ xuống, nhẹ nhàng lau nước mắt cho con, bế con lên chầm chậm đi quanh viện vài vòng. Anh khe khẽ vỗ về, xoa mặt con, rồi lại đọc cho con một bài hát giản đơn của lớp mẫu giáo, sau đó anh đưa nhanh con cho người nuôi trẻ đón, rồi đi luôn không dám quay đầu lại.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #49 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:20:03 pm »

Về việc Tiểu Phong không chịu vào Trường Mầm non, lại còn khóc gào, quấy phá, khi về anh không nói lại với tôi một câu. Anh chỉ kể: "Trường Mầm non số hai Diên An là do Tổng tư lệnh Chu Đức và vợ ông, chị Khang Khắc Thanh, quan tâm sáng lập, điều kiện chăm sóc rất tốt, rất chính quy, em cứ yên tâm!"


Vào ngày đầu tháng Tám năm 1945, Hồng Thủy phải ra đi, trước khi đi, anh nắm hai tay tôi nhìn tôi với ánh mắt rất buồn vì phải chia tay, và lại dặn dò thêm một lần nữa:

"Kiếm Qua, em phải hết sức giữ gìn sức khỏe, rồi có ngày chúng ta lại cùng nhau đoàn tụ!"

Tôi đứng ở cửa hang, nhìn anh xuống dốc, dõi nhìn theo bóng anh xa dần.

Hồng Thủy từ sân bay Diên An đáp máy bay đi Trùng Khánh, rồi theo đường bộ xuống Vân Nam, Quảng Tây để về Việt Nam. Sau khi tới Trùng Khánh, anh mua và nhờ người gửi về một súc vải hoa màu xanh nhạt cho tôi, biểu thị chút lòng yêu thương đối với đứa con sắp sinh.


Tháng Hai năm 1946, đứa con thứ hai của chúng tôi ra đời lại là con trai. Để kỷ niệm về Tổ quốc của cha cháu, tôi đặt tên cho cháu là Tiểu Việt. Sau khi sinh Tiểu Việt, tôi lại gặp khó khăn là mất sữa. Tôi xoay xỏa rất lâu, đủ cách, song vẫn chịu. Trong tình huống bất đắc dĩ, tôi chỉ còn cách viết cho đồng chí Nhiệm Bật Thời. Rất nhanh, trên lãnh đạo lại phê cấp cho Tiểu Việt mồi ngày một hộp sữa. Nhận được sữa, tôi cảm động ứa nước mắt. Lúc thường tôi không bao giờ khóc, ngay cả khi ở ranh giới giữa sống và chết, tôi nghĩ vậy. Thế nhưng, sau khi nhận được sữa của đồng chí Nhiệm Bật Thời phê cấp, tôi cầm lòng không được đã bật khóc. Tôi làm sao có thể báo đáp ân tình của đồng chí Tổng tư lệnh Chu Đức và đồng chí Nhiệm Bật Thời đối với mẹ con tôi? Tôi nghĩ chỉ còn cách đem thân ra phụng sự cho sự nghiệp của cách mạng, của Đảng, không dao động trước mọi gian nan, trở ngại, vĩnh viễn giữ lấy đức trung, tích cực cần cù trong mọi công tác của Đảng trao cho, chỉ có như vậy mới xứng đáng với sự quan tâm của cá đồng chí lãnh đạo Trung ương, của tổ chức đối với mình.


Ngày 15 tháng Tám năm 1945, Thiên hoàng Nhật Bản Hirohito tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cuộc chiến tranh kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc đã giành thắng lợi cuối cùng. Dưới chân núi Bảo Tháp, ven đôi bờ sông Diên, niềm vui ngất trời. Chúng tôi đánh trống, khua chiêng, đón mừng đại thắng. Trong những ngày đó nỗi vui mừng của chúng tôi không bút nào tả xiết. Những ngày phải sống trong cảnh nô lệ mất nước của nhân dân Trung Quốc đã qua, không bao giờ trở lại nữa, hỏi chúng tôi làm sao không vui cho được!


Lúc này, Hồng Thủy đang trên đường trở về Việt Nam. Nếu được tin vui này chắc anh sẽ vô cùng xúc động và vui sướng. Bởi vì đây là thắng lợi chung của nhân dân Trung Quốc nhưng cũng là của riêng anh.


Thế nhưng thắng lợi của chiến tranh kháng Nhật lại chưa đem lại cho nhân dân Trung Quốc một cuộc sống hòa bình, yên ổn. Quốc dân đảng, Tưởng Giới Thạch, một mặt tích cực chuẩn bị tiến hành nội chiến, ý đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản và Bát lộ quân; một mặt vờ vịt mời Mao Chủ tịch đến Trùng Khánh để đàm phán, tỏ vẻ cũng rất muốn hòa bình nhằm che giấu ý đồ lừa gạt về chính trị.


Để tranh thủ cục diện mới "hòa bình, dân chủ, đoàn kết”, tranh thủ thạch động về chính trị cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Chủ tịch không kể đến an nguy của bản thân, đã cùng Chu ân Lai, Vương Nhược Phi... được Trương Trị Trung, đại biểu Chính phủ Quốc dân đảng, và đại sứ của Mỹ ở Trung Quốc (Charly) đi cùng, đến Trùng Khánh vào ngày 28 tháng Tám, đàm phán với Quốc dân đảng và Tưởng Giới Thạch.


Khi được tin Mao Chủ tịch sẽ đi Trùng Khánh, quảng đại quân dân Diên An đều rất lo lắng. Bởi vì chúng tôi đã quá rõ Tưởng Giới Thạch là phần tử lưu manh về chính trị, bội tín phi nghĩa, bất cứ việc "thương thiên hại lý” nào hắn cũng dám làm, Mao Chủ tịch tự mình tới Trùng Khánh chẳng khác gì đưa mình vào miệng cọp vậy?


Hồng Thủy sau khi tới Trùng Khánh lại không về Việt Nam ngay. Cuộc đàm phán Quốc Cộng sắp khai mạc, anh nhận được điện báo từ Diên An, chưa rời Trùng Khánh, đợi Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Vương Nhược Phi tới, và mời anh tham gia đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồng Thủy tinh thông bốn thứ tiếng, Pháp, Anh, Hoa, Việt, nên rất thích hợp với công tác này. Anh rất vui vẻ ở lại.


Mao Chủ tịch ở Trùng Khánh bốn mươi ba ngày đêm thì quân dân Diên An cũng thấp tha thấp thỏm bốn mươi ba đêm ngày. Ngày 10 tháng Mười năm 1945, sau khi hai bên Quốc Cộng ký bản "Ghi nhớ về cuộc hội đàm giữa Chính phủ và Đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc” tức "Hiệp định Song Thập", Mao Chủ tịch trở về Diên An bình yên vô sự, mọi người mới như cất được gánh nặng trong lòng.


Sau khi về Diên An, Mao Chủ tịch nói chuyện với Đảng ủy Trường Đảng Trung ương và học viên về cuộc đàm phán "Trùng Khánh". Tất cả cán bộ, học viên của Bộ phận hai Trường Đảng chúng tôi đều được đi nghe.


Mao Chủ tịch nói chuyện rất sinh động, ví dụ khôi hài, tư thế mạnh mẽ, thu hút người nghe một cách sâu sắc Hội trường lúc thì cười Oà lên, lúc thì tiếng vỗ tay như sấm. Mao Chủ tịch nói giọng Hoa Nam khá nặng, nên người Sơn Tây như tôi nghe khá mệt, song có một câu mà tôi nhớ như in:

"Trên thế giới không có con đường nào là thẳng tắp, phải chuẩn bị mà đi đường vòng vèo, khúc khuỷu. Chúng ta đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, cùng nỗ lực, nhất đinh có thể vượt muôn vàn khó khăn, đạt được mục đích”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM