Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:31:06 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương  (Đọc 68435 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #50 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:21:33 pm »

PHẦN GIỮA

Hồng Thủy nghe theo lời kêu gọi của Tổ quốc trở về Việt Nam, chỉ huy chiến đấu chống Pháp ở tuyến đầu. Tôi dẫn hai con còn ấu thơ đi theo đoàn quân lớn "Ngựa thồ nôi cũi" vượt qua chặng đường dài ba ngàn lý (1500 km).

Năm năm sau, đúng vào dịp trung thu năm ấy, gia đình chúng tôi đoàn tụ tại Bắc Kinh. Ở Trung Nam Hải, tôi đã khóc nức nở, nhìn vầng trăng soi đáy nước, tôi bực dọc vô cùng. Tôi rời khỏi ngay nơi Hồng Thủy ở, không hề luyến tiếc.


Chương VII
RÚT KHỎI DIÊN AN


Khi rút khỏi Diên An, lòng tôi như bâng khuâng trống rỗng, cố quay đầu nhìn lại chiếc hang yên ấm một lần nữa.

Ngày 26 tháng Sáu năm 1946, bọn Quốc dân đảng, Tưởng Giới Thạch xé bỏ "Hiệp định đình chiến”. Cuộc nội chiến toàn diện bắt đầu bùng nổ.

Tháng Mười một năm 1946, Hồ Tôn Nam, Tư lệnh chiến khu một của Quốc dân đảng điều động hai mươi lăm vạn quân, ngang nhiên mở cuộc tấn công cuồng bạo vào Diên An, trụ sở của các cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Về phía ta, binh lực của quân giải phóng nhân dân ở Diên An chỉ có hơn hai vạn người. Theo sự lãnh đạo của Mao Chủ tịch và Trung ương, quân dân Diên An thực hiện chiến lược rút bỏ Diên An, nhử địch vào sâu để tiêu diệt sinh lực địch, anh dũng đánh trả quân địch hơn ta gấp mười lần.


Để chuẩn bị đánh địch, Trung ương yêu cầu tất cả các đơn vị không làm nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp, phải nhất loạt rút khỏi Diên An, di chuyển đến các khu giải phóng khác.


Các học viên ở Bộ phận hai Trường Đảng Trung ương, một số đã phân công tác đi các địa phương, một số nữa đã rút khỏi Diên An. Tôi được bố trí chuyển sang bộ phận ba, cùng với các nữ đồng chí, đại bộ phận là có con mọn, cùng Trường Mầm non số hai Diên An chuẩn bị theo bộ đội di chuyển đến khu giải phóng Thái Hàng mà trung tâm của khu là vùng Tấn Đông Nam, Sơn Tây.


Về công tác chuẩn bị trước khi xuất phát, trên lãnh đạo đã sắp xếp chu toàn. Lần di dời này về phía nữ đại đa số là chị em có con mọn. Làm thế nào để thu xếp cho các cháu di dời an toàn là cả một vấn đề. Lãnh đạo đã quyết định đóng cho mỗi cháu nhỏ một cũi gỗ có thể đặt trên ngựa thồ, yêu cầu thiết kế cũi phải hết sức khoa học: có thể bố trí đơn độc từng cái, cũng có thể được ghép lại buộc chặt trên giá ngựa thồ, trong khi hành quân, các cháu có thể ngồi chơi, có thể nằm ngủ sao cho thoải mái, an toàn và chắc chắn.


Lúc đó đã vào mùa đông. Gió rét cuốn theo bụi đất vàng mù mịt. Các bà mẹ lấy gối chèn, đắp chân bông cho các cháu, còn đội mũ bông, đeo khẩu trang. Các cháu bị bọc kín chỉ hở hai con mắt đen láy vẫn nhấp nháy vui vẻ Trước khi xuất phát tôi đón Tiểu Phong từ Trường Mầm non số hai về. Lúc đó, cháu Phong mới được hai tuổi rưỡi, Tiểu Việt mới được tám tháng. Lãnh đạo xét thấy tôi phải mang hai cháu còn quá bé, hành quân rất khó khăn, bèn phân cho tôi chú cần vụ họ Tống, người đã theo tôi và Hồng Thủy về Diên An, đi cùng để giúp tôi


Ngày 12 tháng Mười một, chúng tôi bắt đầu rời Diên An. Ăn sáng xong, tất cả đã chuẩn bị sẵn sàng. Tôi cõng cháu Việt, tay dắt cháu Phong ra tập hợp ở chân núi Bảo Tháp.


Vừa bước ra khỏi hang, tôi đột nhiên cảm thấy trong lòng bâng khuâng trống rỗng. Tuy rằng tôi và Hồng Thủy cùng ở đây không lâu nhưng ở đây chính là cái nhà êm ấm của chúng tôi. Tôi không nén nổi, quay đầu lại, nhẹ nhàng vuốt ve mỗi vật còn để lại. ở đây vẫn phảng phất hơi hướng của Hồng Thủy, còn lưu lại tiếng cười vui của một gia đình hạnh phúc. Tôi từ từ đi ra cửa, nhìn khắp lượt mảnh đất thân yêu, hít một hơi dài, bước ra khỏi động với lòng lưu luyến khôn nguôi.

Tôi và chú Tống dắt lừa xuống dốc.

Ngày hôm xuất phát, trời rất rét. Từng trận gió rét thổi ù ù qua cánh đồng vắng lặng, nước sông Diên chưa đóng băng, vẫn nổi sóng lăn tăn, êm ả chảy về đông. Sương trắng bàng bạc đã phủ quanh núi Bảo Tháp. Người chuẩn bị rút khỏi Diên An đông nghìn nghịt, tập hợp bên bờ sông dưới chân núi Bảo Tháp, ngựa hí, người kêu inh ỏi.
Tiểu Việt chưa tròn tuổi tôi rất thích ngồi trên giường bằng gỗ, hai mắt nhỏ nhìn ngó, nhìn nghiêng, hai bàn tay nhỏ khua lung tung. Cậu ta thích vì thấy bao nhiêu là người. Tiểu Phong, hai tuổi rưỡi đã quen nhìn cảnh bên ngoài, có vẻ người lớn hơn, lăng lặng đưa cặp mắt to quan sát hai bên. Tôi đã có thói quen, sửa soạn quần áo, đội mũ nghiêm chỉnh cho hai cháu, muốn chúng trên đường hành quân được dễ chịu hơn.


Tôi ngước lên tòa Bảo Tháp ở Diên An sừng sững trên đỉnh núi, lầm rầm tự hứa với Hồng Thủy: "Hồng Thủy ơi! Anh cứ yên tâm. Hôm nay em dẫn hai con rút khỏi Diên An, em tin nhất định rồi sẽ lại trở về. Em và các con Phong, Việt sẽ ở Diên An chờ anh thắng lợi trở về!”.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #51 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:22:40 pm »

"A, dẫn bấy nhiêu cháu còn khóc oe oe thế này hành quân đường dài!" Tôi chắc phải đổ mồ hôi hột vì chúng đây.

Đứng bên cạnh đội ngũ các bà mẹ ở bộ phận Trường Đảng chúng tôi, còn có một chi đội đông hơn, lớn hơn - đại quân "Ngựa thồ nôi cũi”. Đó là đội ngũ Trường Mầm non Diên An số hai cùng chúng tôi rút khỏi Diên An và kề vai hành tiến. Đó là một chi đội có gần một trăm lừa, ngựa thồ, hai bên lưng thồ hai giường cũi nhỏ, đằng sau hơn hai mươi lừa, ngựa thồ hành trang và cấp dưỡng.


Trong mỗi giường cũi trên lưng ngựa thồ là một cháu bé hoạt bát, đáng yêu, làm cho tôi chú ý. Các cháu bé này lớn thì chưa quá bảy, tám tuổi, bé thì chưa tới hai tuổi Bọn trẻ lần đầu tiên được ngồi trên giường do ngựa thồ đều kinh ngạc nhưng lại rất khoái trá. Mấy cháu trai lớn hơn một chút thì phục trên giá gỗ, giương khẩu súng gỗ nhỏ đang ngắm bắn nhau, chơi trò đánh trận giả Các cháu gái, có chỗ hai cháu một, ngồi trên giường cũi quay sang nhau chơi trò "quay dây” hoặc vỗ tay đánh đố Các cháu bé hơn thì giương mắt quay nhìn các phía, có cháu còn khóc đòi mẹ...

"A, dẫn bấy nhiêu cháu còn khóc oe oe đi hành quân!”. Tôi chắc phải đổ mồ hôi hột vì chúng đây.

Khi có một tiếng còi dài rúc lên, cái chi đội "Ngựa thồ nôi cũi" này yên lặng hẳn. Chỉ thấy một đồng chí nam còn trẻ, dáng uy phong, mặc một bộ quân phục đã bạc màu đứng trên dốc đất trước mặt đội hình hành quân. Anh đưa mắt nhanh nhẹn lướt nhìn khắp đội ngũ, sau đó với giọng sang sảng, anh nói mấy lời ngắn gọn để động viên hành quân:

"Các đồng chí! Tưởng Giới Thạch, Hồ Tôn Nam điều động hai mươi lăm vạn quân Quốc dân đảng bao vây biên khu Thiểm Cam Ninh chúng ta. Để bảo đảm an toàn cho các cháu bé, Trung ương Đảng yêu cầu chúng ta lập tức di chuyển hướng về khu giải phóng Thái Hàng. Trong chi đội của chúng ta có một trăm ba mươi sáu cháu bé. Cha mẹ các cháu đang chiến đấu trên tiền tuyến, không nên coi nhẹ một trăm ba mươi sáu cháu bé ấy Chúng là bảo bối đang được cất giấu của các lộ đại quân. Mỗi việc ảnh hưởng đến với các cháu là rung động đến mấy vạn con tim đấy! Chúng ta đưa các cháu đến khu giải phóng Thái Hàng được an toàn, nhiệm vụ cực nặng, trách nhiệm rất lớn, dù có gặp gian nan hiểm trở đến đâu chúng ta cũng phải sẵn sàng không ngại hy sinh thân mình để đảm bảo an toàn cho các cháu. Người lớn còn, trẻ con còn, người lớn không còn,trẻ em vẫn phải còn! Các đồng chí có quyết tâm khắc phục khó khăn không?"


Lời anh vừa dứt, các nhân viên trông trẻ đồng thanh đáp: "Có”.

Một số các cháu lớn hơn một chút cũng hô theo.

Đồng chí nam đó tuy chỉ là dẫn một đội "nhóc con”, song tư thế khí phách của anh như đang chỉ huy "thiên binh vạn mã".

Tôi ngó nhìn sang đội ngũ của họ, đại quân "Ngựa thồ nôi cũi" ấy hàng ngũ rất chỉnh tề. Các cháu, tùy theo tuổi, được chia thành hai trung đội, dưới trung đội còn có tiểu đội. Mỗi tiểu đội có ba, bốn nhân viên công tác.

Đồng chí đó đi xuống đơn vị kiểm tra tỉ mỉ từng đội một.

"Xuất phát”, chỉ nghe thấy lệnh ấy của anh, đại quân "Ngựa thồ nôi cũi” đã rùng rùng tiến bước.

Gọi họ là đại quân "Ngựa thồ nôi cũi” là có chút khoa trương, chứ làm gì có ngựa, lừa cao lớn cho cam, trừ bốn con ngựa và lừa già ra hầu hết là loại mã lý (ngựa lùn lông dài).

Chúng tôi, đội ngũ các bà mẹ ở Bộ phận ba Trường Đảng, đi sau đại quân của các cháu. Bắt nhịp tiếng chân lừa, ngựa lốc cốc, leng keng, mọi người vẫy tay chào tạm biệt Diên An, bước lên đường hành quân di chuyển dài.


Toàn đoàn hành quân trên cao nguyên Thiểm Bắc. Đội tiền trạm đi trước đã nhờ chính quyền địa phương giúp đỡ cho đoàn người, ngựa việc dẫn đường, bố trí tốt chỗ ăn ở, huy động dân công và ngựa thồ cho đoạn đường sau. Cứ như thế, ngày đi đêm nghỉ, chúng tôi xuất phát từ Diên An đã qua các huyện An Tái, Tử Trường, Thanh Giản, Tuy Đức, Ngô Bảo, tiến về hướng Tấn Tây Bắc. Bọn phỉ Hồ Tôn Nam từ khi bắt đầu tiến vào Thiểm Cam Ninh đã liên tục phái máy bay trinh sát động hướng chung quanh Diên An. Trong khi hành quân chúng tôi thường bị máy bay địch bổ nhào bắn phá để chặn đường. Khi chúng tôi đến thôn Bảo, đông nam huyện Tuy Đức, khoảng ba mươi lý (15 km) thì gặp phải máy bay địch. Tôi và chú Tống nhanh chóng bế hai cháu từ trên giường cũi xuống, chạy vào chân núi ẩn nấp. Máy bay địch bổ nhào bắn quét, đạn cày trên đất vàng làm tung lên các đụn cát màu vàng. Do mọi người ẩn nấp kịp thời nên không ai bị thương vong. Chưa rời khỏi biên khu Thiểm Cam Ninh chúng tôi đã mấy lần bị máy bay địch oanh tạc Để tránh máy bay địch, chúng tôi chuyển sang đêm đi ngày nghỉ, cuối cùng, đến sáng sớm ngày 24 tháng Mười một chúng tôi đến được bến vượt Hoàng Hà ở huyện Ngô Bảo.


Đây là khúc mà Hoàng Hà chảy quanh co nhất, mặt sông rộng, nước chảy xiết, chỉ có chiếc thuyền gỗ nhỏ chở người qua sông. Mặt trời vừa lặn, toàn đội người, ngựa đều vượt Hoàng Hà an toàn. Từ Hà Tây đến Hà Đông, cuối cùng chúng tôi đã đặt chân lên khu giải phóng Tấn Tuy, đến được trấn Liễu Lâm, huyện Phần Dương, tỉnh Sơn Tây.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #52 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:23:24 pm »

Sáng ra, vào khoảng 9 giờ, máy bay địch lượn trên bến vượt để trinh sát, hai bờ Hoàng Hà đã không còn bóng người.

Được nghỉ mấy ngày ở trấn Liễu Lâm, chúng tôi chẳng có một tin tức gì liên quan đến mình cả. Nghe các đồng chí ở Trường Mầm non số hai nói, nếu muốn tiếp tục tiến về khu giải phóng Thái Hàng, phải đi qua một ngọn núi lớn, quanh năm có tuyết là Miên Sơn. Lại nghe nói vượt Miên Sơn phải chọn mùa và khi vượt đỉnh phải vào buổi trưa, nếu không sẽ có nguy cơ bị chết cóng.


Tư lệnh Bành Đức Hoài từ tiền phương về Diên An, đi qua trấn Liễu Lâm. Khi được biết Trường Mầm non số hai định đưa các cháu tới khu giải phóng Thái Hàng, Tư lệnh Bành Đức Hoài liền đến bảo: "Hiện nay trời rất lạnh. Mùa này mà vượt Miên Sơn, chưa nói trẻ con đến người lớn cũng chịu không nổi đấy!" Ông yêu cầu mọi người dừng lại ở Liễu Lâm thêm một thời gian, đến mùa xuân sang năm khi trời ấm lên hãy đi tiếp. Thế là chúng tôi dừng lại ở Liễu Lâm.


Trên đường, chúng tôi cùng đi, cùng ở với Trường Mầm non số hai, tiếp xúc với nhau nhiều mới biết chỉ huy đoàn quân đặc biệt này là hiệu trưởng của trường Trương Sì Xương, và là người không đơn giản!


Mùa thu năm 1944 là thời điểm chiến tranh kháng Nhật đã giành được thắng lợi có tính quyết định, các cán bộ từ tiền tuyến về Diên An học và các đại biểu Đại hội Đảng lần thứ 7 cần phải quay trở lại tiền tuyến nhanh để tranh thủ giành thắng lợi cuối cùng cho chiến tranh kháng Nhật. Trong số ấy có rất nhiều người có con còn thơ ấu. Lúc đó Diên An chỉ có Trường Mầm non số một và nhà trẻ Trung ương (Nhà trẻ Los Angelès). Hai cơ quan nuôi dạy trẻ này không sao thu nạp nổi. Vì thế các cơ quan Trung ương hữu quan trù tinh lập Trường Mầm non số hai thu nhận con em còn nhỏ của các cán bộ đang chiến đấu và các cháu mồ côi, con liệt sĩ gửi từ vùng bị tạm chiếm tới.


Việc triển khai xây dựng trường đã được Tổng tư lệnh Chu Đức và chị Khang Khắc Thanh đặc biệt quan tâm và chỉ đạo.

Chu Đức tự mình đi xem, xác định vị trí, bố trí cho trường ở một sườn núi ven bờ suối nhỏ phía nam Vườn Táo. Ở đây không khí trong lành, sáng sủa, điều kiện về hoàn cảnh chung quanh rất tốt.

Ngày 1 tháng Sáu năm 1945, dù chưa xây xong, song do có rất nhiều gia đình phải ra tiền tuyến gấp, nhà trường vẫn tiếp nhận các cháu được gửi. Hồng Thủy nhận lệnh về nước, đem cháu Phong gửi tới trường cũng vào thời điểm này.


Khi mới thành lập, bộ phận lãnh đạo thay luôn vì vậy không tạo được hạt nhân lãnh đạo nên việc nuôi dạy trẻ chưa vào quỹ đạo. Chị Khang Khắc Thanh bàn với Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Hồ Diệu Bang và cuối cùng quyết định điều Trương Sĩ Xương từ cơ quan quân sự về đảm nhiệm hiệu trưởng Trường Mầm non số hai Diên An.


Trương Sĩ Xương là một quân nhân trẻ ở bộ đội chiến đấu, đã cầm quân đánh giặc, sau về làm công tác quân sự ở cơ quan hậu phương. Anh chưa có vợ, nên căn bản chưa có kinh nghiệm về nuôi con. Sau khi lãnh đạo thuyết phục mãi, anh mới đồng ý về công tác ở Trường Mầm non. Trương Sĩ Xương một khi nhận nhiệm vụ là như người lính nhận nhiệm vụ chiến đấu, không do dự, xông lên chiến trường.


Ở Diên An, trong thời kỳ chiến tranh, chưa hình thành đội ngũ lực lượng nuôi dạy trẻ, các cô nuôi dạy trẻ đa số là các cô gái trẻ ở nông thôn Hà Bắc được động viên. Khi rời nhà, các cô được biết sẽ đến Diên An tham gia công tác kháng Nhật. Các cô vượt qua sự cản trở của gia đình, vượt suối trèo đèo, nếm đủ mùi khó khăn, nguy hiểm, đến được Diên An, kết cục lại làm cô nuôi dạy trẻ. Các cô nghĩ mãi không thông, có cô khóc rưng rức, nói bậy rằng rời quê hương ra đi đâu để làm "vú em", thậm chí có bốn cô còn bị "tâm thần". Công tác nuôi dạy trẻ không có cách gì làm tốt được.


Chu Tổng tư lệnh rất quan tâm đến mọi mặt của Trường Mầm non, dù bận tối ngày, ông vẫn cố dành thời gian, mấy lần đến trường quan sát, chỉ đạo công tác. Từ tình hình sức khỏe của các cháu, tiêu chuẩn cấp dưỡng, phòng bệnh truyền nhiễm, công tác tư tưởng với các cô nuôi dạy trẻ.v.v... ông đều nhất nhất quan tâm.


Sự quan tâm, chăm sóc của Chu Tổng tư lệnh khiến Trương Sì Xương hết sức phấn khởi. Anh nghĩ, muốn làm tốt công tác nuôi dạy trẻ của trường việc đầu tiên là phải làm tốt công tác tư tưởng. Thế là anh lấy cảm nghĩ thiết thân của mình nói với chị em để thuyết phục họ:

"Tôi cũng muốn đánh trận ở tiền tuyến, sung sướng biết bao khi một viên đạn hạ gục một quân thù. Cách mạng phải có phân công chứ? Bát lộ quân muốn đánh trận, liệu có thể kéo theo các cháu bé lên chiến trường chăng? Các chị các cô thấy đấy, Chu Tổng tư lệnh của chúng ta đến trường ta hết lần này đến lần khác. Tại sao vậy? Vì rằng ở đây cũng là chiến trường' Chu Tổng tư lệnh cũng đang chỉ huy chúng ta đánh giặc. Các chị các cô thấy đấy, công tác tư tưởng của trường ta có quan trọng hay không?"


Hiệu trưởng Trương không những chỉ quan tâm việc chỉ đạo công tác cho các cô nuôi dạy trẻ mới đến, mà còn rất quan tâm đến đời sống của các cô. Số cô không an tâm công tác đã dần thông hiểu nhiệm vụ của mình cũng là một phần của công tác cách mạng, chỉ có quan tâm, săn sóc tốt các cháu thì cha mẹ các cháu ở tiền phương mới không lo lắng mà đánh thắng trận. Tư tưởng thông rồi, trong lòng vui vẻ hơn, tính tích cực trong công tác tự nhiên cũng được nâng cao.


Để củng cố thành tích về công tác tư tưởng kịp thời, trường phát động "Người mẹ hiền". Tháng Mười hai năm 1945, Chu Tổng tư lệnh thân mật tiếp mấy nhân viên có những thành tích về hộ lý, chữa bệnh của trường. Ngày 8 tháng 3 năm 1946, nhân ngày Quốc tế phụ nữ, có mấy cô nuôi dạy trẻ được tặng danh hiệu "Cô nuôi dạy trẻ gương mẫu” của khu căn cứ cách mạng Diên An.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #53 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:24:24 pm »

Vượt qua tuyến phong tỏa, không thấy Tiểu Phong đâu, tôi cuống cuồng như kiên bò trên chảo rang.

Tháng 2 năm 1947, trên cao nguyên đất vàng, trời rét như cắt da. Nhận được thông tri của cấp trên, yêu cầu đơn vị chúng tôi phải lập tức xuất phát, đi thật nhanh tới sông Phấn, qua Lưỡng Độ khẩu để nhanh chóng vượt tuyến phong tỏa của địch.


Lưỡng Độ khẩu ở đông bắc huyện Linh Thọ thuộc Tấn Trung, là con đường bắt buộc phải qua, nếu đi từ Tấn Tây Bắc xuống Tấn Đông Nam. Phía tây Lưỡng Độ khẩu là sông Phấn, phía đông Lưỡng Độ khẩu là đường sắt Đồng Bồ. Bộ đội của Diêm Tích Sơn giữ chặt Lưỡng Độ khẩu để chia cắt con đường giao thông liên lạc giữa khu giải phóng Tấn Tây Bắc và khu giải phóng Tấn Đông Nam. Chúng tôi phải vượt qua tuyến phong toả của địch ở đó vượt sông Phấn, đi qua đường sắt Đồng Bồ.


Mùa xuân đang qua, toàn đơn vị xông pha gió rét, xuất phát từ trấn Liễu Lâm đi qua huyện Ly Thạch, tiến về hướng sông Phấn. Đơn vị đến thị tứ thôn Bắc Thiên dừng lại chỉnh đốn, đợi lệnh. Đầu tiên, đơn vị được thông tri nhanh chóng đến Giả Gia Trang, thị trấn phía tây huyện Hiếu Nghĩa, cách sông Phấn chừng năm mươi km.


Sau khi đơn vị xuất phát lại có thông tri cho biết là có địch, mọi người phải quay về thành Bắc Thiên.

Hôm đó, một trung đoàn của lữ đoàn 359 đánh bại được bộ đội Diêm Tích Sơn đang canh phòng giữ Lưỡng Độ khẩu, bắc một cầu phao tạm thời qua sông Phấn. Khi được tin cầu phao đã bắc xong, toàn đơn vị khẩn cấp hành quân đến Giả Gia Trang, sau tiếp tục đi gấp về Lưỡng Độ khẩu huyện Linh Thọ.


Trên bờ sông Phấn lúc đó tụ tập đến hơn một vạn người, ngựa, gồm Bộ phận ba Trường Đảng của chúng tôi, Trường Mầm non số hai Diên An, Vườn trẻ Los Angelès Diên An, Viện Điều dưỡng Trung ương, và một số dân công, bộ đội vận tải của khu giải phóng Tấn Tuy. Bằng ấy người ngựa ào ào vượt qua tuyến phong tỏa, vượt nhanh qua sông Phấn, băng qua đường sắt Đồng Bồ, người kêu ngựa hí, náo động một vùng.
Ở ngoài xa, địch liên tục bắn pháo sáng, sáng như đèn trời. Về sau được biết lúc đó quân địch tưởng lực lượng lớn quân giải phóng vượt tuyến phong tỏa, vì vậy chúng nằm im, không dám động cựa.


Lại nói về chuyện đội quân "oe oe" vượt sông Phấn. Đi tận đến nơi, tôi mới biết mặt cầu phao làm bằng nhiều ván ghép lại, chiều ngang chỉ hơn một mét. Vì người vượt qua trước đã nhiều, cầu phao ngập dưới mặt nước một chút, đi ở trên rùng rình chếnh choáng. Tôi sợ nhỡ giường cũi lăn xuống sông thì hết cứu, không dám để hai cháu ngồi trên mà vượt sông. Trước khi vượt sông, tôi và chú Tống đã kéo hai cháu bọc chặt lại để địu sau lưng. Tôi địu Tiểu Việt, chú Tống địu Tiểu Phong, người phu lừa đi sau lừa. Khi qua cầu, giày, tất ướt hết, lên bờ xong lại phải tiếp tục đi ngay.


Từ Giả Gia Trang đến Lưỡng Độ khẩu, chúng tôi đã đi gần một trăm lý (50 km) sau đó lại vượt sông Phấn, lưng địu con. Đi ngày một mệt, ruột gan nóng cồn cào, chúng tôi muốn đứt hơi, muốn dừng lại nghỉ một chút, thế nhưng không được đành phải cắn răng bước tiếp, sợ lạc đơn vị.


Chính lúc tôi đang thở hổn hển, chưa bước nổi thì đồng chí Mai, Chủ nhiệm Bộ phận ba Trường Đảng cưỡi ngựa đi qua. Tôi gọi ông lại nhờ ông chở cháu Việt đi tới chỗ nghỉ trước. Chủ nhiệm Mai đón cháu đưa lên lưng ngựa đi trước. Bớt được gánh nặng sau lưng, trong người cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái hơn nhiều, tôi rảo bước đi lên trước. Trong khi đi, nghe nói có hai cháu bé ở Trường Mầm non bị rơi xuống sông Phấn, tôi biết sông Phấn nước không sâu, không thể cuốn các cháu được. Thế nhưng nhỡ uống nước, bị nghẹt thở cũng rất nguy hiểm, thêm nữa thời tiết lúc đó cực lạnh.
Sau tôi lại nghe đã cứu được hai cháu, do bộ đội yểm hộ vượt sông cứu, tim tôi mới như cất được hòn đá tảng đè lên.


Đơn vị vượt qua sông Phấn, băng qua cầu Đại Khổng trên tuyến đường sắt Đồng Bồ, vượt qua đoạn tranh chấp giữa hái bên Quốc, Cộng, dừng lại nghỉ ở một thôn nhỏ của khu núi Thái Nhạc. Chủ nhiệm Mai đưa trả cháu Việt cho tôi. Tôi vừa nhìn thấy thì cháu Việt đã khóc sướt mướt.


Cháu Việt vừa đầy tuổi tôi, chưa rời mẹ bao giờ, nay không biết mẹ đi đâu, khóc thảm thiết. Tôi lấy khăn tay lau mắt, mũi cho cháu. Đột nhiên, tôi nghĩ ra điều gì, tim giật thót lại:

"Còn Tiểu Tống? Sao không đi kịp đơn vị?"

Tôi lo quá chóng cả mặt, không còn lòng dạ nào nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi. Tôi đứng chờ ở cổng một lúc lâu, rồi đi một đoạn ngược lại con đường vừa tới. Trời tối đen như mực, tôi chờ mong mỏi mắt vẫn chưa thấy bóng chú Tống và cháu Phong, lại quay vào nhà đợi. Cứ như thế đi đi lại lại, quay ra quay vào, tôi cuống cuồng như kiến bò trên chảo rang, không ngừng đi lại, thật là kêu trời không thấu, gọi đất chẳng hay. Nếu mất Tiểu Phong, tôi biết ăn nới với Hồng Thủy ra sao? Cái gọi là rối rít cuống cuồng, bữa nay tôi mới nếm đủ.


Trời sáng hẳn, chú Tống mới địu cháu Phong tới, Tiểu Phong đang ngủ ngon lành. Nguyên do là, vượt qua được tuyến phong tỏa, chú Tống khát quá vào một nhà dân xin nước uống, nước uống chưa xong, ngồi bên giường lò ngủ quên đi mất. Chú Tống quá mệt. Thực ra, chú vẫn chỉ là một cậu bé thôi! Mà nay chú đã phải mang trọng trách trên vai như người lớn. Chú Tống và cháu Phong về được bình an là tôi mừng lắm rồi. Tôi không thể vì nỗi lo lắng cháu Phong bị lạc mà trách cứ chú Tống, chỉ tự trách mình thật vô ý, không nghĩ tới việc chú có thể rời đơn vị. Tôi vỗ vỗ vai chú Tống bảo chú đi ăn cơm, chuẩn bị tiếp tục xuất phát.


Qua được tuyến phong tỏa, các chi đội phân chia đi theo các đường dự định. Chi đội chúng tôi chỉ còn lại Trường Mầm non số hai và đội các bà mẹ của Bộ phận ba Trường Đảng đi cùng nhau. Trước mặt còn phải vượt qua mấy núi lớn, tôi và chú Tống địu các cháu đi theo đội hình. Người phu lửa dẫn lừa đi theo phía sau. Đường trên núi quanh co khúc khuỷu, vừa chật vừa dốc, lại còn nhiều chỗ sườn đá cheo leo bên vực thẳm, nếu không chú ý ngã xuống vực rất nguy hiểm. ở các đoạn đường khuất nắng, mặt đường còn phủ băng, trơn đến nỗi không dám bước nhanh, phải dò dẫm mà tiến. Khi qua một vách núi được biết có một con lừa của Trường Mầm non bị lăn xuống hang núi. Nhân viên công tác phải buộc dây bảo hiểm tụt xuống để cứu cháu bé, lừa thì bị chết. Cháu bé thì vẫn không sao, chỉ bị một phen kinh hoàng, đang khóc toáng lên gọi mẹ. Vì cũi gỗ làm rất chắc, trong khi bị rơi từ vách núi xuống, bốn cọc trụ đâm xuống đất xong cũi vẫn không bị vỡ, cháu bé vì cuốn chặt chăn gối nệm nên may không bị thương. Thật nguy hiểm, nếu không cháu bé đã không còn rồi.


Chúng tôi qua được tuyến phong tỏa rồi địch mới biết đây là một chi đội toàn là đàn bà, trẻ con, không có sức chiến đấu, không phải bộ đội chiến đấu của giải phóng quân. Thế là chúng cho quân truy đuổi. Cũng may do đường núi rất khó đi, địch đuổi theo một hồi thấy khó quá, liền thôi không đuổi theo nữa.


Xuất phát từ thôn thành Bắc Thiên chúng tôi đi thêm hai ngày đường nữa. Chiều tối ngày thứ hai, chúng tôi đến được một nơi có doanh trại trú quân, ở thôn Quân Trại, đông bắc huyện Linh Thọ. Đây là vùng tranh chấp, địch hay tới sục sạo. Để tránh địch tập kích không thể ở đây lâu được Thế nhưng qua mấy ngày liền hành quân cấp tốc, mọi người vừa đói vừa mệt, hai ngày qua chưa được ăn uống gì, trời lại đang có tuyết lớn, làm sao có thể tiếp tục hành quân đường dài được? Bao nhiêu con nít thế này liệu có chịu nổi không, nếu nghỉ lại một đêm, nhỡ địch tới thì làm thế nào?


Giữa lúc chưa biết tính toán làm sao cho phải thì vừa may Tư lệnh Từ Hướng Tiền cũng qua đường này. Ông được biết đơn vị đặc biệt toàn đàn bà, con trẻ đã phải liên tục hành quân cấp tốc mấy ngày đêm, sức tàn lực kiệt rồi. Thế là ông lệnh ngay cho đồng chí Trần Canh phái đến một tiểu đoàn để bảo vệ thôn Quân Trại, cho mọi người được nghỉ một đêm yên ổn.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #54 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:26:40 pm »

Hồng Thủy nhờ Lý Ban chuyển cho tôi một bức thư. Tôi thì đã rời Diên An đi ngày càng xa.

Xuất phát từ thôn Quân Trại, trong ngày đơn vị đã đến chân núi Miên Sơn, ở lại hai ngày trong một thôn nhỏ trên núi để chuẩn bị vượt Miền Sơn.

Miên Sơn là con đường bắt buộc phải đi qua để đến khu giải phóng Thái Hàng. Vượt Miên Sơn là phải liên tục vượt qua mười tám đỉnh núi. Dân bản địa đặt cho Miên Sơn cái tên "Mười tám núi lớn phải bò lên”. Đỉnh Miên Sơn quanh năm tuyết phủ, còn có tên gọi là "Núi tuyết nhỏ". Mùa đông, hầu như không có người nào ở các thôn lân cận vượt núi. Trên núi gió rất mạnh, kể cả những ngày nắng ráo cũng rất lạnh, nếu như lên phải ngày trời âm u tuyết rơi, thì gió tuyết giao nhàu tung hoành, đi lại vô cùng khó.


Lãnh đạo của đội đến hỏi bà con ở địa phương về kinh nghiệm vượt núi. Họ nói để vượt "Mười tám ngọn phải bò" thì trời chưa sáng đã phải lên núi, giữa trưa phải leo ngọn cao nhất, trước khi mặt trời khuất núi đã phải xuống tới chân núi, nếu không sẽ chết cóng ở trên núi. Bà con còn nói "Mười tám ngọn núi này” vừa cao vừa dốc, đường vừa hẹp vừa trơn, dắt theo súc vật, lừa, ngựa là không có cách gì leo núi được.


Căn cứ vào tình hình trên, lãnh đạo đội quyết định không dùng lừa, ngựa nứa, tháo các giá thồ ra, để cho các dân công coi lừa, dẫn gia súc của họ quay về nhà, nhờ dân công do chính quyền địa phương phái tới địu các cháu vượt Miên Sơn.


Đường càng đi càng thấy xa, càng đi càng thấy khó. Ngày mai là phải vượt “Núi tuyết nhỏ". Tôi thực sự không nản lòng. Nghĩ lại năm 1943, khi tôi và Hồng Thủy cùng về Diên An, tại Ma Thiên Lãnh, tây bắc huyện Ninh Vũ, đột nhiên gặp bão tuyết, đội ngũ bị đánh tan, lừa bị vùi chết, không ít đồng chí mất tích. Lúc đó đứng bên cạnh Hồng Thủy tôi cảm thấy rất vững vàng. Lần này qua "Núi tuyết nhỏ", các con tôi có chịu đựng được không?


Các con tôi đã ngủ rồi. Tôi ngồi dưới ánh đèn le lói, đang luồn từng đường kim sợi chỉ để may áo bọc cho chúng vượt "Núi tuyết”. Hồi đó chưa có áo khoác dài, tôi chỉ có thể đem áo bông ngắn của chúng nối dài thành một kiểu áo bọc hình vuông. Tay thì khâu, trong lòng vẫn nghĩ: Nếu nói khó khăn thì các đồng chí ở Trường Mầm non số hai còn khó khăn hơn tôi nhiều. Họ phải dẫn một trăm ba mươi sáu cháu bé... Còn anh Hồng Thủy lần thứ ba vượt "Núi tuyết" và "Thảo nguyên chỉ có một mình, gặp khó khăn biết bao, anh đã một mình "đơn thương độc mã" về được tới Diên An... Chúng tôi ở đây có biết bao đồng chí chung quanh, lài có chính quyền địa phương giúp đỡ, nhất định khắc phục được khó khăn, vượt "Núi tuyết nhỏ" thành công.


Đang mải suy nghĩ thì chú Tống bước vào phòng. Chú bé này đã cùng tôi hành quân hơn ba tháng nghĩ cũng thật ái ngại. Nhìn bộ mặt hớn hở của chú, tôi chạnh lòng hỏi:

"Chú Tống, mấy ngày vừa qua, chú có mệt không?"

"Không mệt, chị ạ!"

Chú dùng hai tay xoa xoa sau gáy, rồi ngượng ngùng nói tiếp:

"Cũng có lúc hơi mệt".

Tôi lại hỏi tiếp: "Ngày mai vượt Miên Sơn, chú có sợ không?"

Chú Tống có vẻ hơi không bằng lòng vì chú cho rằng tôi đã coi thường chú, chú cau mặt nói:

"Có gì mà đáng sợ! Nếu sợ đã không tham gia cách mạng. Năm trước đi theo thủ trưởng Hồng Thủy qua Ma Thiên Lãnh, bão tuyết lớn như vậy em cũng chẳng sợ nữa là!"


"Giỏi thật đấy, đội ngũ cách mạng chúng ta rất cần những "tiểu anh hùng” như chú, một không sợ khổ, hai không sợ chết. Ngày mai chúng ta sẽ cùng nhau vượt Miên Sơn”.


Được tôi khen và động viên, chú ngượng ngùng, lúng túng. Để củng cố tinh thần tư tưởng cho chú, tôi kể lại cho chú nghe câu chuyện anh hùng về Hồng quân "Vượt Núi tuyết, qua Thảo nguyên".


Chú Tống đi rồi, tôi tiếp tục công tác chuẩn bị thật tốt. Hai cháu từ Diên An đến đây, nhiều lúc tôi và chú Tống đã phải địu trên lưng, dây địu vẫn còn rất chắc.

Ngày thứ hai, trời chưa sáng, chúng tôi đã dậy cả. Trước lúc xuất phát, tôi một mặt vừa đội mũ, đeo găng, đeo khẩu trang cho các con, một mặt vừa giảng giải chầm chậm cho chúng hiểu:

"Tiểu Phong, Tiểu Việt, các con rất ngoan, hôm nay các chú địu các con đi qua "Núi tuyết nhỏ", như các bác Hồng quân..."

"Các bác Hồng quân vượt là "Núi tuyết lớn" chứ?" Tiểu Phong đã hiểu được ít nhiều cải chính lời tôi.

"Đúng, các bác Hồng quân vượt là "Núi tuyết lớn", còn Tiểu Phong, Tiểu Việt là vượt "Núi tuyết nhỏ". Các con đi theo các chú không được khóc, không được quấy phá, nếu không sẽ gặp nguy hiểm đấy. Các con nhớ chưa?”


Tiểu Phong gật gật đầu, Tiểu Việt chẳng hiểu gì, căn bản cháu chưa biết được những gì tôi nói.

Chú Tống mặc áo bọc cho các cháu, rồi lại dùng dây thừng thắt ở cổ áo cho khỏi tuột. Các cháu chỉ còn lộ có hai con mắt tinh nhanh, trông giống như một bọc bông vậy Cứ như thế này thì dù có gặp bão tuyết lớn cũng không thổi được, rét không làm cho các cháu bị cóng.


Trời sắp sáng, dân công đã địu các cháu lên đường. Chúng tôi, những bà mẹ, vội vã đi theo các cháu.

Núi vừa cao vừa dốc. Trên đường cành cây nhiều, lại thêm kết một lớp băng dầy ở trên, đi lại vô cùng khóc Để cho chúng tôi đi được nhẹ, các đồ dùng của chúng tôi dân công gùi hộ. Chúng tôi đi tay không leo núi, vậy mà vẫn mệt vã mồ hôi, thở hồng hộc. Đã đi không ai dám dừng lại, cố gắng trước ngọ vượt núi chính. Vượt được ngọn núi này, trước gọi là "Mười tám ngọn phải leo" đây. Các đồng chí vừa vất vả leo lên, vừa động viên, cổ vũ lẫn nhau. Gặp các vách núi cao khó vượt hoặc các khe hẻm khó luồn, mọi người đều dìu nhau để tránh nguy hiểm và không để ai tụt lại. Cuối cùng, trước ngọn chúng tôi đã leo hết núi chính.


Mọi người thường nói, leo núi còn dễ, xuống núi mới khó. Vào lúc đó trời lạnh đất cứng, đường dốc núi rất trơn, nếu cứ bước từng bước xuống thì chỉ tính từng tấc rất khó đi. ở một số dốc, chúng tôi ngồi bệt xuống tụt dốc, như vậy dễ chịu hơn.

Đến sẩm tối, toàn đội đã xuống hết núi mọi người mới thấy mệt rã rời. Chúng tôi lại vào vùng tranh chấp, không thể dừng, phải đi tiếp luôn trong đêm.

Trên đường đi tôi chợt nghĩ, vượt Miên Sơn tuy rất gian nan nhưng chúng tôi cũng có nhiều thuận lợi. Chính quyền và dân công khắp nơi đã ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi Chúng tôi làm việc gì cũng không tách rời được nhân dân. Mao Chủ tịch nói: "Dân và quân là gốc của thắng lợi”. Câu nói đó thật vô cùng chính xác.


Sau một thời gian rất dài, tôi mới biết, chính lúc tôi phải mang hai con tiến hành cuộc viễn chỉnh gian nan, thì Hồng Thủy có nhờ một đồng chí Việt Nam tên là Lý Ban1 (Lý Ban từng làm Thứ trưởng Bộ Ngoại thương nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) chuyển cho tôi một bức thư.


Không hiểu vì nguyên nhân nào, Lý Ban không tìm được tôi cùng các cháu và cũng không biết từ đâu ông ta được tin tôi và hai cháu trên đường rút khỏi Diên An đã bị máy bay Quốc dân đảng bắn chết...

Ông ta đã mang những tin sai đó về Việt Nam.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #55 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:28:29 pm »

Chương VIII
NGỰA THỒ NÔI CŨI


Trong cuộc hành quân, tôi đảm nhiệm chính trị viên của đại quân "Ngựa thồ nôi cũi”.
Trung tuần tháng Hai năm 1947, chúng tôi đến thôn Nam Lý Tín, huyện Tương Viên, tỉnh Sơn Tây. Trong cuộc hành trình trên ba tháng đầy gian khổ chúng tôi đã đi hơn hai ngàn lý (1000 km), qua mười ba huyện, gồm Thiểm Tây có An Tái, Tử Trường, Thanh Giản, Tuy Đức, Ngô Bảo, Sơn Tây có Liễu Lâm, Ly Thạch, Phần Dương, Hiếu Nghĩa, Linh Thọ, Thấm Nguyên, Huyện Thấm và Tương Viên. Sau khi đến thôn Nam Lý Tín, lãnh đạo quyết định dừng lại ở đây và xây dựng lại trường. Thế là cuối cùng chúng tôi cũng có được những ngày tương đối yên ổn.


Trường Mầm non số hai Diên An có một trăm ba mươi sáu cháu, được các cô nuôi dạy trẻ tận tâm chăm sóc và che chở, đã cùng chúng tôi đến được thôn Nam Lý Tín an toàn. Thật là một kỳ tích!

Sau khi đến thôn Nam Lý Tín, các đồng chí ở Bộ phận ba Trường Đảng lần lượt được phân công công tác. Chú Tống cũng được điều đi. Chỉ còn lại Trương Nguyên, Lý Lệ Thiên, Liễu Mân và tôi, gồm sáu bà mẹ, chúng tôi được phân công đến Trường Mầm non số hai Diên An công tác. Trước đó, sáu người chúng tôi đều chưa quen biết nhau. Trương Nguyên dẫn theo ba con, tôi và Lý Lệ Thiên, mỗi người dẫn hai con, Liễu Mân có một con. Được biết, có nên nhận chúng tôi hay không, lúc đầu Hiệu trưởng Trương Sì Xương suy nghĩ, vì chúng tôi dẫn theo nhiều con quá. Nhưng khi suy xét thấy Dồn chúng tôi trình độ văn hóa tương đối cao, nếu nhìn về lâu dài, sẽ có lợi cho việc đề cao trình độ giáo dục chung của trường. Cuộc chiến đấu không biết còn kéo dài bao lâu từ nay về sau lũ trẻ sẽ lần lượt lớn dần lên, chúng ta quyết không thể trao cho nước Cộng hòa mới thành lập một lũ trẻ mù chừ được! Chính vì thế, sau hai ba lần suy đi nghĩ lại anh quyết định nhận chúng tôi về.


Tôi được cử làm chính trị viên của Trường Mầm non số hai - "Ngựa thồ nôi cũi" này. Khi trên lãnh đạo báo - tin điều tôi về công tác ở Trường Mầm non, tôi có phần nào không vừa ý. Tôi vẫn muốn ra tiền tuyến hoặc đến công tác ở một đơn vị có quan hệ trực tiếp với tiền tuyến, song vì vướng hai đứa con. Tôi nghĩ Hồng Thủy đã về Việt Nam xa xôi, chỉ còn có tôi trông nom dạy dỗ hai con, làm sao mà đưa chúng ra tiền tuyến được chứ! Nếu xảy ra vấn đề gì với chúng, tôi biết nói năng thế nào với Hồng Thủy. Khi anh rời Diên An thì Tiểu Việt chưa ra đời. Tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm chăm nom con cái cho tốt. Nếu bây giờ ra tiền tuyến, thực tình tôi cũng có những khó khăn nhất định. Vì thế, tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ mà lãnh đạo phân công cho mình.


Tôi cũng không lường tới chính từ đây đã hình thành một chức trách, một nghề nghiệp suốt đời tôi. Lại nói về Trường Mầm non số hai, vấn đề đầu tiên đặt ra đối với tôi là phải vừa nuôi dạy tốt con mình vừa dạy tốt hơn một trăm cháu khác ở trường. Từ Diên An đến thôn Nam Lý Tín, tôi tự mình dẫn hai cháu, lại có chú Tống giúp đỡ mà còn khó khăn. Bây giờ thêm hơn một trăm cháu nữa, tôi làm sao có đủ sức làm? Khi rời Diên An, Tiểu Việt mới tám tháng tuổi. Trải qua hơn ba tháng hành quân, cháu đã tròn một tuổi. Vì phải gò bó động tác suốt ba tháng trời trong sinh hoạt hành quân, nên cháu không khỏe mạnh như Tiểu Phong, đến nay vẫn chưa biết đi và vẫn dính chặt lấy mẹ.


Nhưng nghĩ lại, tôi tham gia cách mạng đã lâu, tổ chức phân công tôi về đây là muốn tôi giáo dục tốt thế hệ cách mạng cho đời sau. Nếu tôi và Trương Nguyên, Lý Lệ Thiên, Liễu Mân mấy người chỉ lo chăm sóc cho con mình, còn một trăm ba mươi sáu cháu bé khác sẽ như thế nào? Cha mẹ chúng đang đổ máu chiến đấu và công tác ở tiền tuyến. Trong số các cháu ở đây, còn có con liệt sĩ. Các cháu ở đây đều là những nỗi nhớ nhung day dứt trong trái tim cha mẹ chúng, và chúng cũng vậy trái tim chúng cũng nhớ nhung mẹ cha lắm chứ! Các tướng sĩ ở tiền tuyến đều trông cậy vào chúng tôi. Làm chính trị viên đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" này, gánh nặng đâu phải nhẹ nhàng!


Nghĩ lại về các đồng chí ở trường này, ngay từ khi bắt đầu lộ trình đầy gian nan, họ phải dẫn một trăm ba mươi sáu cháu nhỏ vượt hơn hai nghìn lý (1000 km), các cháu đều khỏe mạnh, thì đó quả là một việc phi thường, không hề dễ chút nào. Họ dựa vào cái gì mà làm được thế Trên đường đi, mọi người đều nhìn tận mắt: Họ dựa vào một tập thể kiên cường, mạnh mẽ và dựa vào mỗi nhân viên công tác dồi với các cháu đều có tấm lòng yêu thương của người mẹ.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #56 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:29:12 pm »

Nhớ lại khi vượt gấp sông Phấn, mẹ của hai cháu bé bị rơi xuống sông chính là một nhân viên của trường, Trình Nghi Bình. Đêm hôm đó, trời tối đen, cầu phao vừa lắc vừa trơn. Chính lúc bộ đội đang cấp tốc tiến về phía trước trong bóng đêm mù mịt thì ở phía sau truyền lên một tin:

"Hai đứa con của chị Trình Nghi Bình ở Trường Nuôi dạy trẻ số hai bị rơi xuống sông Phấn, cháu lớn cứu sống được, còn cháu bé bị chết chìm rồi".

Nghe tin đó chị Trình Nghi Bình như sét đánh ngang tai, muốn quay lại sông Phấn ngay lập tức để đón đứa con lớn được cứu sống. Thế nhưng nghĩ tới bốn cháu bé mình đang dẫn, lại còn một thùng công văn, bỏ không được Chị cảm thấy trách nhiệm đè nặng trên vai vì thế chị lau khô nước mắt, nén chặt đau thương văn tiến lên.


Sau khi đơn vị đến trấn Hàn Hồng, quân khu Thái Nhạc, trường bất ngờ nhận được một bức điện do Tư lệnh Trần Canh gửi: "Hai đứa con của Trình Nghi Bình hiện rất khỏe, sắp tới sẽ phái người đưa các cháu về trường".


Nghe được tin bất ngờ này, Trình Nghi Bình mừng phát khóc. Không những chỉ là tìm thấy con cái của mình, mà trọng yếu hơn, chị tự mình cảm thấy Đảng Cộng sản chúng ta sở dĩ lãnh đạo sự nghiệp không thể bị đánh bại chính là vì mỗi người trong đội ngũ đều đặt sự nghiệp cách mạng lên trên hết.


Phó Trưởng khoa Nuôi dạy trẻ Diêu Thục Bình là một nữ sinh chạy thoát khỏi cuộc thảm sát Nam Kinh. Chồng của chị cũng về Việt Nam sau Hồng Thủy một chút, một Hoa kiều ở Việt Nam, tên là Lương Cạnh Sinh. Diêu Thục Bình dẫn theo hai con. Chị trao hai con cho các cô nuôi dạy trẻ để tập trung tâm lực vào công tác.


Nhớ lại ngày bộ đội rời trấn Liễu Lâm, cũng đúng vào lúc đại hàn. Lừa ngựa và giá thồ đi từ Diên An nay thay toàn bộ bằng xe ngựa lớn màu xanh. Vừa xuất phát không lâu thì trên ù ù tiếng máy bay. Trương Sĩ Xương và Diêu Thục Bình dẫn các chị em nhân viên khẩn trương nhưng rất có trật tự đỡ các cháu bé từ xe ngựa xuống, nhanh chóng đưa vào ẩn nấp ở một hẻm dưới chân núi.


Lúc đó có một xe ngựa bị phi cơ địch bắn, ngựa sợ chạy lồng lên, được một đoạn thì bị lật đổ xuống một thửa ruộng ven đường. Ngựa chổng bốn vó lên trời, xe lật úp chợt nghe có tiếng trẻ khóc. Máy bay địch vẫn lồng lộn trên đầu, tiếng đạn rít ào ào trên không. Một cô nuôi dạy trẻ không tiếc thân mình, vọt xông ra cứu cháu bé. Cô ôm đứa bé sợ quá khóc không thành tiếng vào lòng như một bà mẹ đẻ, dùng vạt áo của mình lau nước mắt và bùn đất cho cháu. Cháu bé đó chính là con đẻ của Diêu Thục Bình mới hai tuổi rưỡi.


Nghĩ đến đây, tôi quyết định gửi Tiểu Phong, Tiểu Việt vào nuôi chung cùng với hơn một trăm cháu khác.

Trường Mầm non số hai là một gia đình lớn, đối với từng cháu trong trường tôi đều coi như con đẻ của mình. Sự gương mẫu của cán bộ là một mệnh lệnh không lời, là công tác chính trị tư tưởng tốt nhất. Sau đó không lâu, tôi và Trương Nguyên, Lý Lệ Thiên, Liễu Mân đã trở thành cốt cán, hạt nhân của trường.


Sau đấy, tôi đảm nhiệm Trưởng khoa Khoa Giáo dục - mầm non của trường, Trương Nguyên làm Chính trị hiệp lý viên của trường phối hợp với Trương Sì Xương nắm công tác chính trị tư tưởng. Chị phụ trách lên lớp về chính trị, tuyên truyền về đường lối của Đảng và về thời sự. Chị lợi dụng lúc mọi người ăn để đọc báo, báo cáo tin tức thắng lợi của quân giải phóng nhân dân để cổ vũ mọi người.


Trong mười ba tháng, trường đóng ở thôn Nam Lý Tín, các cháu được phân ở nhờ trong nhà dân. Địa điểm ở rất phân tán, đêm đến chó sói gào quanh. Công tác của nhân viên nuôi dạy trẻ rất vất vả, trách nhiệm rất lớn.


Để động viên tinh thần của nhân viên nuôi dạy trẻ, Trương Nguyên và Lý Lệ Thiên nghĩ ra một cách hay để biểu dương người tốt, việc tốt: sáng sớm tinh mơ, khi gà gáy, trước cửa nhà ăn còn chưa mở, viết lên báo bảng đen, thu hút người đến ăn lại xem. Mọi người chưa ăn sáng vội đọc hết báo bảng đen cái đã, sau đó vừa ăn vừa bình luận.


Ở trường có một công nhân gánh nước tên là Quan Bảo. Sáng ra anh ta thường dậy muộn, nước gánh cho nhà ăn và các ban đều không đủ dùng. Một hôm anh ta hỏi Lý Lệ Thiên:

"Tại sao trên báo bảng đen không thấy nêu tên tôi?"

Lý Lệ Thiên trả lời anh ta: "Nếu ngày nào anh cũng chịu khó dậy sớm, gánh nước đủ dùng, ba ngày sau chắc chắn báo bảng đen sẽ có bài biểu dương anh".

Anh chàng Quan Bảo vừa nghèo vừa dốt quả nhiên hạ quyết tâm. Sáng nào cũng dậy sớm, trước khi trời sáng, các vại, thạp nước đều đầy, từ đó trở thành một nhân viên công tác gương mẫu.


Báo bảng đen không những chỉ nêu người tốt việc tốt mà còn động viên nhiệt tình học tập của các nhân viên, mọi người tự giác học văn hóa, tích cực viết bài cho báo bảng đen.


Ở nơi trú quân hay trên đường hành quân, báo bảng đen vẫn cứ được tiếp tục ra đúng kỳ hạn. Khi Trường Mầm non tiến vào Bắc Bình, báo bảng đen đã ra được hơn một nghìn kỳ và chính thức lấy tên "Nhật báo nuôi dạy trẻ".
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #57 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:30:24 pm »

Yêu trẻ là yêu đồng chí, yêu bộ đội, tức là chi viện cho tiền tuyến đánh thắng trận.

Trên lộ trình gian nan ba ngàn lý (1.500 km), chi đội đại quân "Ngựa thồ nôi cũi" của chúng tôi đã phải qua năm lần hành quân đường dài, bốn lần tạm trú. Dù rằng điều kiện gian khổ đến đâu thì tôn chỉ kiên định không thay đổi của chúng tôi vẫn là "Tất cả vì cách mạng, tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì các cháu nhỏ".


Xưởng phim Thượng Hải có chiếu một bộ phim truyện mầu "A, cái nôi", trong đó rất nhiều hình tượng nhân vật nguyên mẫu là lấy từ Trường Mầm non số hai Diên An.
Trước khi đơn vị rời Diên An, ở trường đã có mười chín cháu bị chốc lở đầu, dân gian gọi là "bệnh mà lươn". Để tiện việc chữa trị, đề phòng lây bệnh tràn lan, khoa quân y đã tách các cháu ra ở cách ly, do khoa quân y trực tiếp lãnh đạo. Ngoài ra còn chọn cử một nhân viên tên là Tiêu Quanh làm trưởng ban.


Sau khi đơn vị đến trấn Liễu Lâm, ban cách ly đó gặp một vấn đề, các giết.ng trong thôn đều bị nhiễm phèn nặng. Lúc đầu, các nhân viên không biết, lấy nước giếng cho các cháu gội đầu, giặt quần áo. Kết quả đầu bị lở loét, không chải được tóc, quần áo vừa dính bết vừa cứng queo. Đến sau mới biết dân địa phương căn bản không dùng nước giếng làng mà đi gánh nước ngọt từ ngoài về ăn.


Toàn đơn vị kể các cháu và nhân viên có hơn hai trăm người đều lấy nước sôi ở nhà bếp. Ban cách ly lấy nước về chỉ đủ cho các cháu uống, không có nước dư cho các cháu rửa mặt, gội đầu, giặt quần áo. Các cháu khi chơi ban ngày, luôn tay gãi đầu, tối đến khi đi ngủ, mủ máu dính bết gối. Nhìn thấy tình cảnh các cháu như vậy, các cô nuôi dạy trẻ vừa thương, vừa lo. Trưởng ban Tiêu Quanh dẫn mấy cô nhân viên đi tìm nước ngọt cho các cháu.


Họ phát hiện ở gần chỗ trú quân có một hang đá, nước ngọt trong vắt từ trên đỉnh hang tí tách rơi xuống. Chung quanh đó cũng có một vài nơi dân địa phương đến lấy được nước ngọt. Vì không để ảnh hưởng đến nguồn nước dùng của dân, Tiêu Quanh quyết định đi lấy nước vào ban đêm. Chị bố trí chỉ để một cô ở nhà trông các cháu, còn tám người khác thì lập thành bốn tổ luân phiên lấy nước.


Vào dịp đại hàn, gió bấc rít từng cơn, gió rét cắt da, xuyên qua cả quần áo bông khiến thịt da tê tái. Nửa đêm canh ba đến bốn giờ sáng, còn thêm tiếng mèo rừng gào, chó sói hú, lạnh tim, sởn tóc gáy, mỗi tổ hai cô bé ở trong hang vắng lặng bóng người, tối đen như mực vẫn còn phải hứng nước, trong lòng không khỏi lo sợ. Nhưng khi nghĩ tới cảnh thương tâm, các cháu bé đáng yêu gãi móc da móc thịt trên đầu, lòng các cô cảm thấy đau quặn lại. Các cô quyết không do dự, đi vào đêm tối giá rét.


Đơn vị ở thôn Liễu Lâm hơn hai tháng, các nhân viên ở ban cách ly đã hứng nước liên tục ngày đêm suốt cả thời gian đó. Khi nhìn đầu các cháu lên vảy, lên da non, dần dần khỏi, các cháu tung tăng chơi đùa, đêm đến ngủ ngon lành, cảm thấy gần giống như sinh hoạt vui vẻ yên bình khi còn ở Diên An. Đường đi khó, phòng bệnh còn khó hơn. Hơn một trăm cháu phải đi một đoạn đường dài như vậy, xuân hạ thu đông, dãi nắng dầm mưa, các bệnh truyền nhiễm lần lượt đến thăm đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" này. Một cháu mắc bệnh lập tức truyền nhiễm cho một số khác ngay. Trong vòng hai năm, chốc lở quai bị, ho gà, bạch hầu, đậu sởi... đều có cả.


Vào mùa hè năm đó ở thôn Nam Lý Tín, trong thôn có dịch quai bị. Vì vi trùng quai bị lây qua đường nước bọt nên lan rất nhanh, rất khó ngăn chặn. Hơn bốn mươi phần trăm các cháu trong trường bị mắc, trong đó hơn hai mươi cháu hạch nước bọt sưng rất to, có cháu bị cả hai bên, sốt cao, bệnh tình rất nghiêm trọng. Để phòng bệnh lây lan kéo dài, nhà trường quyết định phải triệt để cách ly, nghiêm chỉnh chấp hành chế độ cách ly tiêu độc đã được định ra từ thời ở Diên An.


Lúc này, chiến tranh giải phóng nhân dân đã triển khai toàn diện, tin thắng lợi của các dã chiến quân về dồn dập. Toàn thể nhân viên chúng tôi chỉ có một điều tâm niệm, tìm mọi cách để chữa khỏi bệnh cho các cháu. Yêu các cháu tức là yêu đồng chí, yêu bộ đội, là chi viện cho tiền tuyến đánh thắng trận.


Để nhanh chóng làm xẹp bớt các u quai bị lớn, các cô nuôi dạy trẻ đã mang nhiều nồi nước sôi đến, dùng vải xô bọc bông thấm nước chườm liên tục vào chỗ sưng cho các cháu. Để giữ nhiệt độ nước, các cô đã phải đốt lò than dể đun, hâm nước liên tục. Trời đang giữa trưa hè, mồm đeo khẩu trang, mặc quần áo cách ly đứng cạnh lò than và các nồi nước sôi sùng sục, chườm liên tục cho các cháu, ai nấy đều ướt đẫm mồ hôi.

Một cháu bị quai bị, lớn hơn một chút, nhìn thấy các cô dì ướt sũng mồ hôi vội vàng nói:

"Dì ơi, mang tai cháu đỡ đau rồi, dì đi uống nước lau mồ hôi đi".

Sau khi chườm nóng, bệnh các cháu dần dần thuyên giảm, hai bên cằm sưng vù nay đã từ từ xẹp đi. Khi viện có dịch quai bị, cháu Tiểu Phong cũng bị lây Tôi suốt ngày bận công tác của trường, căn bản không còn thời giờ để chăm sóc con mình, thậm chí cũng không có lúc nào được ngồi bên an ủi con. Tôi hoàn toàn yên tâm vì tất cả nhân viên nuôi dạy trẻ đều tận tụy làm tròn chức trách của mình.


Để giải quyết khó khăn về việc thiếu thuốc men trong thời kỳ chiến tranh, các đồng chí ở khoa quân y đã hỏi dân địa phương về cách trị quai bị và nơi có cây cỏ làm thuốc. Họ đã lấy về nấu thành cao, bôi chỗ quai bị sưng cho các cháu. Thuốc rất linh nghiệm, chưa tới một tuần, các cháu bị quai bị về cơ bản đã khỏi bệnh. Điều kiện thời chiến rất khó, không thể tiêm chủng phòng bệnh được Chúng tôi phải lấy phòng bệnh là chính, thực hành quy chế phòng bệnh giữ sức khỏe, đã giảm bớt được nhiều bệnh truyền nhiễm lưu hành và kéo dài. Trú quân ở nông thôn, điều kiện sinh hoạt tương đối kém, chúng tôi tùy theo thời tiết chú ý thông gió phòng ở, một tuần phơi chăn đệm các cháu một lần, thường thường dẫn các cháu ra đồng hoặc lên sườn dốc để vui chơi. Giữa giờ học lại đưa các cháu ra sân tập các bài thể dục cho nhí đồng do trường tự biên. Tố chất thân thể và sức đề kháng bệnh của các cháu được nâng cao nhiều so với ngày bắt đầu rời Diên An.


Khi hành quân, trẻ con khác người lớn, đang đi mà muốn đại tiểu tiện là không nhịn được. Đề phòng máy bay địch bắn phá, chúng tôi thường hành quân đêm. Một lần, trong tiểu đội có cháu bé nhất muốn tiểu tiện, cô nuôi dạy trẻ sợ cháu lạnh bèn đem ca của mình đút vào trong chăn cho cháu tè. Sáng hôm sau, anh bạn nhỏ thấy cô giáo của mình dùng cái ca mà nó đã tè để lấy nước rửa mặt, xúc miệng, còn lấy cơm ăn, chú ta khua cái tay bé nhỏ nói:

"Ấy dì ơi, bẩn quá!"

Cô giáo cười nhẹ nhàng xoa đầu cháu. Nụ cười ấy, bàn tay xoa đầu ấy thấm đượm tình yêu trẻ từ sâu trong trái tim cô.

Tháng Ba năm 1948, tiếp theo những thắng lợi liên tiếp của cuộc chiến tranh giải phóng, Thạch Gia Trang, một trọng trấn của Hoa Bắc, được giải phóng. Trường Mầm non được lệnh từ thôn Nam Lý Tín di đến thôn Lưu Giạ Hội thuộc huyện Bình Sơn tỉnh Hà Bắc.


Trước đó cấp trên quyết định đưa vườn trẻ Phúc Lợi đang ở trấn Lộc Đầu nhập vào Trường Mầm non số hai, do tôi phụ trách công tác tiếp nhận. Tiến hành hợp nhất ở Dã Đào rồi cùng di chuyển về thôn Lưu Gia Hội, huyện Bình Sơn.


Lúc đó Trường Nuôi dạy trẻ số hai được đặt tên là "Viện Nuôi dạy trẻ thực nghiệm Hoa Bắc".

Vườn trẻ Phúc Lợi ở Dã Đào có ba ban, đại, trung, tiểu có tám mươi mấy cháu. Tuy rằng Trường Nuôi dạy trẻ số hai có một số cháu lớn đã chuyển đi học ở trường tiểu học "Dục tài" (giáo dục nhân tài) thế nhưng đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" đã mở rộng thêm, có hơn một trăm tám mươi cháu.


Trung tuần tháng Tư năm 1948 "Viện Nuôi dạy trẻ thực nghiệm" từ Dã Đào xuất phát, tiếp tục hành quân đường dài. Hành trình dài hơn bảy trăm lý qua Vũ An, Hàm Đan, Thạch Gia Trang, hơn hai mươi ngày sau đến thôn Lưu Gia Hội huyện Bình Sơn. Cuộc đi dài ngày lần này là cuộc di chuyển trong tình thế thắng lợi, nếu so với cuộc di chuyển từ Diên An đến Nam Lý Tín thì điều kiện tốt hơn nhiều. "Ngựa thồ nôi cũi" đổi sang các đoàn xe ngựa kéo màu xanh tươi. Trên đường đi vang vọng tiếng ca, rộn rã tiếng cười.


Hai bên đường, các đóa hoa đồng nội rực rỡ đã thu hút các cháu. Chúng phấn khởi reo lên:

"Dì ơi, dì xem đóa hoa vàng kia có đẹp không?"

"Dì ơi, dì xem chỗ mấy bông hồng kia có mấy con bướm vàng đang đậu kìa".

"Dì ơi, cháu muốn hái bông hoa loa kèn".

Các cô nuôi dạy trẻ nhảy xuống hái từng bó hoa tươi. Một lúc sau, lũ trẻ vui vẻ trước cảnh lá xanh, hoa đẹp, chúng vỗ tay và cất giọng ca trong trẻo. Tiếng hát, tiếng cười xen lẫn tiếng nhạc ngựa vui tai, cũng như hoa cúc dại đầy đồng chen lẫn hoa lan tháng Hai tô điểm cho đường hành quân.


Tôi hít thật sâu không khí trong lành có hương hoa rừng xen lẫn hương cỏ non xanh trong lòng chưa bao giờ thấy khoan khoái dễ chịu như hôm nay.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #58 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:31:37 pm »

Đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" trong hoàn cảnh chiến tranh đã sáng tạo nên ngành giáo dục mầm non được chị Khang Khắc Thanh rất tán thưởng.

Khi sáng lập Trường Mầm non số hai Diên An, chị Khang Khắc Thanh có đề xuất phương châm của trường là "Nuôi dạy trẻ hợp nhất”. Trong hoàn cảnh chiến tranh chúng tối đã sáng tạo nên chi ngành giáo dục mầm non, kiên trì phương châm đó.
"Các cháu bé là tương lai của Tổ quốc, nếu đến ngày toàn quốc giải phóng, các cháu ở trường nuôi dạy trẻ đều cao, lớn, nhưng trong đầu lại rỗng tuếch không có chút tri thức nào thì như vậy là không hoàn thành nhiệm vụ của tổ chức Đảng trao cho chúng tôi". Câu nói đó đã thành câu nói cửa miệng của Hiệu trưởng Trương Sí Xương.


Do văn hóa của các cô nuôi dạy trẻ thấp, hoàn cảnh chiến tranh không có tài liệu giáo khoa và dụng cụ học tập đã trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của trường. Dưới sự dẫn dắt của hiệu trưởng, chúng tôi đã "tay không mà dựng nhà”, phát động các cô tự sáng tác bài hát mẫu giáo chuyện kể, trò chơi và các bài tập thể thao từ đơn giản đến phức tạp, sau đó khoa nuôi dạy trẻ chỉnh lý, biên tập lại dần dần nâng cao và hoàn thiện, hình thành nên tài liệu giáo khoa có hiệu quả tốt nhất, thích hợp với thời chiến để trường sử dụng.


Họa báo Nhi đồng là một trong những hình thức mà các cháu thích thú nhất. Trên một tấm bảng đen nhỏ vẽ lên các loại hình thêm một vài câu chữ thuyết minh, nội dung trong đó là: Biểu dương cháu ngoan, nhắc nhở các cháu phải làm như thế nào. Họa báo do các cháu tự vẽ, các cô hỗ trợ. Các cháu xem họa báo thường thấy được biểu dương vì việc tốt do mình đã làm, càng hăng hái hơn.


Đồ chơi có thể giúp các cháu có tư duy hình tượng, có lợi cho việc phát triển trí lực, nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, làm đồ chơi tốt cho các cháu, kể cả về điều kiện và kinh tế không có khả năng.


Cuối năm 1947, trường trú quân ở thôn Nam Lý Tín. Năm mới sắp đến, Hiệu trưởng Trương phát động toàn thể nhân viên công tác làm đồ chơi cho các cháu, coi như là quà mừng tuổi năm mới. Việc này do Khoa Nuôi dạy trẻ lo tổ chức, thực hiện.


Tôi là Trưởng khoa Khoa Nuôi dạy, phụ trách công tác chính trị tư tưởng. Diêu Thục Bình, Phó Trưởng khoa phụ trách công tác dạy và học. Tôi và Diêu Thục Bình bàn bạc với nhau, phát động mọi người động trí não, tìm biện pháp, hiến kế sách, khoa chỉ đạo tiến hành tạo hình. Sau hai mươi ngày đêm miệt mài, nhân viên toàn trường đã làm được bảy mươi bảy loại và ước hơn một nghìn một trăm đồ chơi.


Con trai thích nhất đồ chơi bằng gỗ có xếp hình, súng ngắn, súng tiểu liên, đại đao, bảo kiếm.

Đồ chơi bằng vải có búp bê, mèo nhỏ, chó nhỏ, con hổ, được các bé gái thích nhất.
Bằng giấy thì có hoa giả, xe cánh quạt, ống điện thoại, bằng tôn thì có thùng nước nhỏ, liềm hái và các đồ dùng làm bếp nhỏ.


Các cháu ở trường đều sinh ra trong hoàn cảnh chiến tranh, có bao giờ được thấy nhiều đồ chơi như vậy! Chúng cầm cái này lại sờ cái kia, không biết chơi cái nào, chẳng muốn rời tay. Việc làm đồ chơi đã gắn chặt tâm huyết của chúng tôi, gắn chặt hơn mọi người qua tấm lòng yêu trẻ.


Hiếu động, nghịch ngợm là tính bẩm sinh của trẻ con, đặc biệt là lũ con trai lớn và nhơ nhỡ. Khi ở đâu lâu một chút, hoàn cảnh chung quanh đơn điệu, hơn nữa nơi ở lại phân tán, chúng luôn tìm cách chạy ra ngoài trèo cây bắt tổ chim để chơi, thậm chí có cháu lại còn chọc phá tổ ong.


Đối với các hành động có tính dũng cảm, chúng tôi dẫn dắt các cháu làm đúng. Để đề phòng sự việc bất trắc do hiếu động gây ra, chúng tôi, Khoa Nuôi dạy trẻ, kết hợp đặc điểm hoạt bát, hiếu động của các cháu, trước sau bày ra mấy loại trò chơi phù hợp với các cháu: trò đánh trận giả, trò cấp cứu thương binh, nấu ăn ngoài dã ngoại, đóng giả tích anh hùng Lưu Hồ Lan. v.v... Các cháu xuất xứ không giống nhau nên khi biểu diễn cũng có sắc thái khác nhau, điều đó không những làm cho vui thêm, mà còn phát triển trí lực, học được phương thức biểu diễn tình cảm trong các hoàn cảnh khác nhau. Các cháu càng chơi, càng thấy mới, tăng thêm tình thân ái hợp tác, hứng thú sáng tạo, tinh thần làm chủ càng được nâng cao.


Ở trường, chín mươi lăm phần trăm các cháu có bố mẹ ở tiền tuyến, có lúc một cháu nhớ mẹ thế là cả đàn khóc theo, bắt các dì phải dẫn chúng đi tìm mẹ. Đó chính là việc làm cho các nhân viên đau lòng nhất nhưng cũng cảm động nhất. Để giải quyết vấn đề các cháu nhớ mẹ, ở trường lập ra chế độ "đón con trong những ngày lễ tết” do các dì nuôi trẻ thay mẹ, mỗi khi có lễ tết đều đón hai ba cháu về chỗ mình ở. Nhà bếp chuẩn bị cho các cháu các bữa điểm tâm hoặc kẹo bánh khi "về nhà". Các dì còn chuẩn bị đồ chơi khiến cho trẻ cảm thấy không khí gia đình êm ấm, cảm thấy như "có mẹ", bù đắp cho các cháu những thiệt thòi về tình cảm.


Trong thời kỳ đại quân Lưu, Đặng (Lưu Bá Thừa, Đặng Tiểu Bình) tiến vào Đại Biệt Sơn, Trường Mầm non nổi lên một cao trào úy lạo giải phóng quân. Các nhân viên của trường dùng tiền vặt dành dụm được mua vật phẩm úy lạo, viết thư thăm hỏi, bọc trong những túi tự may lấy, tập trung để gửi ra tiền tuyến.

Các cháu trông thấy vây quanh các dì nói:

"Dì ơi! Chúng cháu cũng muốn úy lạo, thăm hỏi các chú giải phóng quân!"

Để hướng dẫn nhiệt tinh của các cháu, chúng tôi triển khai việc chế tác thủ công. Các cháu lớn tuổi được sự giúp đỡ của các cô nuôi dạy trẻ, học tập để tự may các túi đựng quà úy lạo. Trong thời chiến đó, nhà trường không thể nào chuẩn bị cho các cháu được mấy chục chiếc kim khâu quần áo, các cô đã phải lấy gai táo chua thay thế kim khâu. Các cô chỉ cho các cháu lấy gai xuyên vải thành một cái lỗ nhỏ, sau đó dùng chỉ xuyên qua. Thế là khâu được một mũi. Bọn trẻ mắt tinh, tay khéo, một hồi lâu rồi cũng khâu được một túi đựng đồ úy lạo, các cô lại giúp các cháu viết thư úy lạo, cầm tay cháu để ký tên.


Trong những người nhận những túi quà thăm hỏi động viên này rất có thể có người là cha mẹ các cháu. Nếu nhìn thấy con mình khỏe mạnh, khôn lớn, họ chắc vui sướng lắm!


Cha mẹ trên chiến trường biên cương đổ máu chiến đấu con cái ở đội quân "Ngựa thồ nôi củi' cũng khôn lớn khỏe mạnh. Vùng Đông Bắc đã được giải phóng, có một vị cán bộ công tác ở Đông Bắc đã bốn năm không được gặp con gửi ở Diên An. Con ông giờ ở đâu? ông không biết được. Thế là ông viết một bức thư gửi thẳng cho chị Khang Khắc Thanh (vợ đồng chí Chu Đức). Không ngờ thư gửi đi chỉ năm ngày đã có hồi âm. Thư của chị Khang Khắc Thanh gửi cho ông viết:

Đồng chí ôn Vũ Phong,

Thư của đồng chí ngày 9 tháng Sáu tôi đã nhận được.

Con trai của đồng chí, cháu An Lợi, khi rời khỏi Diên An năm 1946 đã chuyển từ Trường Mầm non số một sang Trương Mầm non số hai.

Tháng Ba năm 1947 cháu đã đến huyện Hương Nguyên, Thái Hàng an toàn. Cháu An Lợi về thể lực, trí lực bình thường. Tháng Ba năm 1948 cháu đã được gửi đến Trường Tiểu học Dục tài (tức trường tiểu học của con em cán bộ Diên An). Hiện tại cháu ở thôn Cao Lũy, huyện Hành Đường, tỉnh Hà Bắc, không lâu nữa sẽ chuyển về Bắc Bình. Tin tức xác thực này tôi lấy từ Trường Mầm non số hai. Vì thế đồng chí có chuyên tâm.


Ở Đông Bắc, nếu đồng chí biết được có đồng chí nào gửi con ở Trường Mầm non số hai thì hãy báo cho họ, cho đến hôm nay, các cháu đều an toàn khỏe mạnh, các cháu lớn hơn một chút đã được lên trường tiểu học.

Kính.
Khang Khắc Thanh
14 tháng Sáu



Nhiều năm sau, trong một ngày lễ kỷ niệm thành lập nhà trường, cháu An Lợi được nói trong thư đã đem bản sao bức thư gửi tặng trường. Mỗi khi đọc lại bức thư đó, trong người tôi lại bừng lên nỗi xúc động, tự hào về nghề nghiệp. Bức thư đó không chỉ thể hiện lòng yêu mến của chị Khang Khắc Thanh với thế hệ con cháu mà đồng thời chị còn khẳng định một cách đầy đủ trách nhiệm công tác của Trường Mầm non số hai Diên An.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #59 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2010, 08:32:25 pm »

Hồng Thủy gửi cho Diêu Thục Bình một lá thư báo chồng của chị sau khi về Việt Nam không lâu đã bị Đặc vụ Quốc dân đảng đầu độc chết.

Anh không hề gửi cho tôi một tin nào cả. Mùa thu năm 1948, chiến tranh giải phóng nhân dân Trung Quốc bước vào giai đoạn quyết chiến, chiến lược. Quân giải phóng Hoa Đông đã giải phóng Tế Nam, mở màn cho cuộc chiến quyết định về chiến lược giữa Giải phóng quân và quân Quốc dân đảng. Dã chiến quân Đông Bắc đánh chiếm Cẩm Châu, cắt đứt liên hệ của Quốc dân đảng ở trong và ngoài quan, chiến dịch Liêu Thẩm đã giành thắng lợi có ý nghĩa bước ngoặt. Cuối tháng Mười, khi ở Uy Mỗ, trong đội hình quân Quốc dân đảng ở Đông Bắc, Tưởng Giới Thạnh đã ra mật lệnh cho Truyền Tác Nghĩa: đánh úp Thạch Gia Trang...


Trường chúng tôi lúc đó ở thôn Lưu Gia Hội, chỉ cách Thạch Gia Trang năm mươi nhăm lý (27,5 km). Để bảo vệ cho trẻ, trên chỉ thị cho chúng tôi di chuyển cấp tốc về huyện Bình Định tỉnh Sơn Tây.


Từ tháng Chín năm 1938, tôi từ địa phương chuyển đến công tác ở xưởng quân trang của Bát lộ quân và rời khỏi quê hương, chuyển qua ba tỉnh Tấn - Ký - Thiểm. Cho mãi tới cuối năm 1948, sau khi Trường Mầm non di chuyển về huyện Bình Định, tôi mới có thể thu xếp thời gian quay về trấn Đông Dã một lần, một mặt để thăm gia đình, mặt khác muốn động viên mấy em gái họ tôi ra tham gia công tác ở Trường Mầm non. Các em tôi bằng lòng ngay.


Đang lúc ra đi, có mấy tên lính của bộ đội Diêm Tích Sơn lùng sục vào trấn Đông Dã giết mấy cán bộ ở trụ sở xã Bọn lính đó còn sục vào nhà chú bác tôi, ngang ngược bắt chú bác tôi phải làm cơm đãi chúng. Con ngựa mà tôi cưỡi về được buộc trong một ngõ hẻm trong trang viện. May mắn làm sao, nó không kêu hí gì, nếu không sẽ xảy ra nguy hiểm.


Sáng sớm hôm sau, người nhà ải cũng giục tôi rời ngay Đông Dã. Mấy cô em sợ quá đều đánh bài lùi. Đặc biệt là Ngọc Lâm, cô em gái ruột tôi, không thể rời nhà tham gia công tác cách mạng được, vì vậy, suốt đời tôi cứ tiếc mãi.


Sau khi Hồng Thủy rời Diên An về nước, tôi luôn nghĩ tới anh. Tôi thường nghĩ, anh có bình an trở về đến việt Nam không? Hoàn cảnh và điều kiện ở Việt Nam so với Trung Quốc gian khổ hơn nhiều, ác liệt hơn nhiều, anh có gặp nguy hiểm gì không? Tại sao anh không gửi thư từ gì cho tôi? Anh có bị thương không? Có thể bị hy sinh không?
Đến bao giờ tôi mới có câu trả lời? Tôi chỉ có thể nghĩ thầm mà thôi.


Thế nhưng khi trường rời về huyện Bình Định không lâu Hồng Thủy lại gửi cho Diêu Thục Bình một lá thư, báo một tin cực kỳ xấu: Lương Cạnh Sinh, chồng của Diêu Thục Bình về tới Việt Nam không lâu, cơ quan của Quốc dân đảng đóng tại Việt Nam mời tới dự tiệc, trong bữa ăn chúng bỏ thuốc độc. Đêm đó Lương Cạnh Sinh trúng độc chết.


Tin đó giáng một đòn cực mạnh vào Diêu Thục Bình, chị gào khóc thất thanh. Tất cả chúng tôi đều rất cảm thông với nỗi đau thương của chị.

Để làm giảm bớt nỗi đau thương và tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, Hiệu trưởng Trương quyết định tổ chức lễ truy điệu đồng chí Lương Cạnh Sinh.

Lương Cạnh Sinh thực tế là Hoa kiều ở Việt Nam. Cha ông là người Trung Quốc, tổ tiên ở Thâm Quyến, Quảng Đông. Mẹ ông là người Việt Nam. Lương Cạnh Sinh được sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, mọi người quen gọi ông là người Việt Nam. Thời kỳ đại cách mạng, khi Tổ quốc của cha mình yêu cầu, ông dĩ nhiên là đứng vào hàng ngũ cách mạng Trung Quốc. Năm 1924, ông tham gia vào Đoàn thanh niên Cộng sản Trung Quốc, năm 1927 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau đó, ông tới Diên An, làm y sinh ở xưởng bào chế thuốc Quang Hoa, Diên An ông là Hội viên Hội nghiên cứu trung y biên khu Thiểm Cam Ninh, Hội viên Hội nghiên cứu y dược, đã từng là thành viên Đoàn chủ tịch ủy viên Ban chấp hành Đại hội Đại biểu Hiệp hội văn hóa biên khu Thiểm Cam Ninh lần thứ nhất, còn tham gia cuộc tọa đàm văn nghệ Diên An.


Diêu Thục Bình quen Lương Cạnh Sinh là do quá trình đến khám bệnh ở xưởng chế thuốc Quang Hoa. Đó là vào mùa đông năm 1940, Diêu Thục Bình bị ho không dứt. Nghe nói ở xưởng dược Quang Hoa có bác sĩ Lương cạnh Sinh chữa bệnh rất giỏi, thuốc vào là khỏi bệnh, nửa tin nửa ngờ chị bèn đi khám bác sĩ. Uống vài thang thuốc của thày thuốc Lương quả nhiên linh nghiệm. Thật là thần y.


Lương Cạnh Sinh và Diêu Thục Bình dần dần quen nhau. Ngày mùng 1 tháng Tám năm 1941, tại phòng học tập của xưởng dược Quang Hoa, Diên An, họ làm lễ cưới. ở Diên An, Diêu Thục Bình sinh được hai con.


Khi có cuộc đàm phán Trùng Khánh, Lương Cạnh Sinh theo Chu Ân Lai đáp máy bay từ Diên An đi Trùng Khánh, sau đó về Việt Nam. Khi ngồi trên máy bay Lương Cạnh Sinh còn nói với Chu Ân Lai về vấn đề vào Đảng của Diêu Thục Bình. Thật không ngờ, ông mới về đến Việt Nam, lại gặp thảm họa do bàn tay độc ác của bọn phản động Quốc dân đảng.


Sau khi Diêu Thục Bình nhận được thư của Hồng Thủy, lòng tôi rất băn khoăn, tâm tính lâu lâu lại mất bình tĩnh, vì nghĩ rằng, Hồng Thủy có thể viết thư cho Diêu Thục Bình, tại sao không có câu nào hỏi thăm tôi và các con? Nghĩ lại thì khi Hồng Thủy rời Diên An đã biết Thục Bình đang công tác nuôi dạy trẻ, đương nhiên có thể thông qua tổ chức tìm được chị. Khi bộ đội rời Diên An, tôi được điều về đội các bà mẹ ở Bộ phận ba Trường Đảng. Hướng đi của tôi và hai con, Hồng Thủy chưa biết tìm chúng tôi làm sao được. Tôi tự mình an ủi như vậy nên lòng cũng dịu đi đôi phần.


Mỗi khi gặp những việc đồng cảnh sinh tình, tôi thường nghĩ tới Hồng Thủy, tự mình đặt ra rất nhiều vấn đề, sau đó lại tự mình phân giải, chưa hề biểu lộ suy nghĩ trước mặt mọi người, chưa hề vì thế mà ảnh hưởng đến công tác. Tôi nén chặt trong tim những điều suy nghĩ về Hồng Thủy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM