Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:03:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hoàng Hà nhớ Hồng Hà thương  (Đọc 68371 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #70 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:42:10 pm »

Phải đối mặt với một đòn về tinh thần đột ngột như vậy, tôi đã chọn con đường vì sự nghiệp, chọn sự kiên cường để sống.

Tôi và Hồng Thủy đều là cán bộ xuất thân là trí thức. Giữa chúng tôi chỉ cần một nháy mắt, một nụ cười, nhất cử nhất động là đối phương đã thông cảm và hiểu hết ý nhau. Khi ở Hội đồng Động viên Đông Dã, chúng tôi ở gần nhau trong gang tấc, thế mà Hồng Thủy mỗi lần triệu tập họp đều viết một tờ giấy gửi cho tôi. Không cần nói cũng biết trong cuộc sống gia đình cũng rất giàu sắc thái lãng mạn. Thế nhưng hoàn cảnh chiến tranh, chúng tôi không có cách nào để hưởng hương vị êm ấm của cuộc sống gia đình, săn sóc nhau về mặt tình cảm. Cho đến ngày vợ chồng gặp lại thì tôi và Hồng Thủy lại phải cạn chén, không phải là mật ngọt mà là rượu đắng.


Buồn bã, phá phách hay làm một người có cuộc sống mạnh mẽ. Trước đòn tinh thần đột nhiên giáng xuống, tôi đã chọn con đường lấy sự nghiệp làm chính, chọn lấy cách sống phải kiên cường.


Sau khi Viện Mẫu giáo về thành, một số đồng chí cũ được điều đi công tác nơi khác. Trương Nguyên về làm thư ký cho chị Đặng Dĩnh Siêu, Liễu Mân là thư ký của chị Khang Khắc Thanh, Lý Lệ Thiên về công tác ở Hội liên hiệp phụ nữ. Viện lại có thêm một số người mới, có giáo viên, nhân viên nuôi dạy trẻ và cán bộ quản lý. Các cán bộ còn ở lại cũng có sự điều chỉnh trong phân công công tác. Trương Sì Xương vẫn là Viện trưởng, tôi là Phó Viện trưởng kiêm Bí thư chi bộ, Diêu Thục Bình đảm nhiệm Khoa trưởng Khoa Nuôi dạy.


Địa điểm của Viện tại phố lớn, Quả Tử Thị nguyên là một vương phủ của triều nhà Thanh. Kiến trúc cổ kiểu cung điện vừa to, vừa cao, lại còn rất nhiều bệ dài, cao, rất dễ xảy ra tai nạn cho các cháu, không thích hợp với việc sử dụng làm viện mẫu giáo... Địa điểm mới chọn để xây dựng là ở gần cầu Thanh Long, chân núi Ngọc Tuyền, gần núi kề sông, phong cảnh hữu tình. Viện trưởng Trương phụ trách công tác xây dựng trường sở mới. Gánh nặng công việc thường ngày ở Viện lại đặt trên vai tôi và Diêu Thục Bình.


Bản thân tôi từ trẻ đã thẳng thắn, vui vẻ. Phải chia tay với Hồng Thủy, tôi quyết không nghĩ tới câu chuyện đau lòng đó. Tôi cho ràng nhớ lại chuyện cũ là để hiểu được tương lai, vững bước đi tới. Nếu việc cũ không muốn nhớ tới thì tốt nhất là cố gắng quên nó đi.


Tôi là một người công tác mẫu giáo. Bên cạnh tôi có biết bao cháu nhỏ lanh lợi hoạt bát. Chúng là những bông hoa của đất nước, tương lai của Tổ quốc. Vườn mẫu giáo là nhà của tôi là cương vị chiến đấu của tôi khi công tác cho Đảng.


Tiểu Phong, Tiểu Việt mỗi ngày một lớn. Chúng đã vào học ở trường tiểu học nội trú, chỉ có chủ nhật mới về nhà. Tôi thấy mình có được cơ hội rảnh rang lao mình vào công tác.

Ban ngày, ngoài việc hoàn thành một số công việc sự vụ ra, tôi thường xuống các lớp nghe giảng, kiểm tra kế hoạch dạy và học, chơi dùa với các cháu. Tôi cũng quan tâm đến công việc của nhà bếp, khẩu phần dinh dưỡng, tình hình sức khỏe của các cháu... Buổi tối sau khi tổng kết công tác trong ngày, tôi thường đi từng nhà ngủ của các cháu, xem có cháu nào đạp tung chăn ra không, các cô mẫu giáo trực đêm có mặt không, xem đường hành lang, các nơi trong Viện có chỗ nào không bảo đảm an toàn dễ gây tai nạn cho các cháu không, cho đến khi mọi việc yên ổn, tôi mới quay về nghỉ. Tuy rất bận song tôi lại cảm thấy khoan khoái, trong ngày làm không hết việc.


Những năm 50, về lý luận và kinh nghiệm dạy mẫu giáo nước ta chủ yếu học tập Liên Xô. Năm 1950, Bộ Giáo dục quốc gia mời hai chuyên gia về dạy mẫu giáo Kalina và Annalienka đến Trung Quốc giảng dạy và đã lấy ba cơ sở để tiến hành cụ thể việc thực nghiệm: Viện Mẫu giáo 1/6, Vườn mẫu giáo Bắc Hải và Vườn mẫu giáo Phân Tư Sảnh.


Kalina và Annalienka trực tiếp xuống chỉ đạo ở Viện 1/6. Các chị rất kinh ngạc khi thấy nước Trung Hoa mới vừa thành lập mà đã có nền giáo dục mẫu giáo có quy phạm, có hệ thống như thế. Khi họ nghe thấy ngay trong năm tháng chiến tranh, trường chúng tôi đã nhấn mạnh việc quán triệt phương châm "nuôi dạy hợp nhất" và "khỏe mạnh là số một", đối với sinh hoạt thường ngày của các cháu đã tăng cường nghiên cứu, đặt ra quy định tỉ mỉ, cụ thể, khiến cho sinh hoạt, việc dạy học, các hoạt động ngoại khóa đều có bài bản, có lý luận hẳn hoi, các chị vô cùng mãn ý, gật đầu lia lịa.


Đối với kinh nghiệm tiên tiến về giáo dục mẫu giáo của Liên Xô, chúng tôi tiếp thu một cách có chọn lọc. Ví dụ, Liên Xô gọi các giáo viên ở lớp mẫu giáo là giáo viên nuôi dạy trẻ. Tôi rất tán thành vì nó là sự thể hiện nguyên tắc nuôi dạy hợp nhất. Thế nhưng bộ phận giáo viên trong Viện không đồng ý gọi như vậy vì cho rằng giáo viên chỉ cần dạy học, quản lý sinh hoạt là việc của các cô nuôi dạy trẻ. Trước tình hình đó, tôi tổ chức một cuộc hội thảo chuyên đề để nhấn mạnh lại quan điểm nuôi và dạy hợp nhất. Tôi cho rằng dạy dỗ các cháu mẫu giáo không giống dạy dỗ các cháu thiếu niên nhi đồng. Trẻ con ở tuổi mẫu giáo tiếp thu một sự việc mới trước tiên là thông qua cảm quan, cảm giác về mọi vật đại bộ phận tồn tại trong sinh hoạt hàng ngày, vì thế, công tác dạy học cho trẻ mẫu giáo không phải chỉ là dạy tri thức trên giảng đường mà là cần quan tâm các cháu cả trong quá trình sinh hoạt, bồi dưỡng cho các cháu phẩm đức tư tưởng tốt, năng lực độc lập trong sinh hoạt, đồng thời phát triển trí lực cho các cháu.


Các giáo viên khi tham gia quản lý sinh hoạt đã tăng thêm cảm tình của các cháu, càng rất lợi cho việc dạy học. Thông qua giáo dục các giáo viên dần dần tiếp thu quan điểm này, các nhân viên công tác nuôi dạy trẻ có phân công song không tách rời hai nhiệm vụ ra cho từng loại người, vì thế đã nâng cao được trình độ dạy học của Viện và cũng nâng cao năng lực công tác cho mỗi người.


Trong việc nuôi dạy trẻ mẫu giáo, Liên Xô đặc biệt coi trọng hoạt động vui chơi vì cho rằng vui chơi là hoạt động của trẻ, thông qua vui chơi để huấn luyện năng lực hoạt động cơ bắp còn nhỏ bé, đẩy mạnh sự phát triển đầu óc và trí lực. Tôi rất đồng ý với quan điểm giáo dục này' Sau khi tôi được điều về Sở Giáo dục Bắc Kinh phụ trách công tác giáo dục mầm non toàn thành, tôi tích cực chủ trương các vườn trẻ cần phải sáng tạo điều kiện để triển khai việc vui chơi cho các cháu. Tôi cũng tích cực đề nghị Sở Giáo dục phải tổ chức có cơ cấu sản xuất đồ chơi cho phù hợp với từng loại tuổi của nhi đồng, có phối trí về thể dục và dụng cụ văn nghệ, ngoài ra còn kiến nghị các vườn trẻ tổ chức các ban nghiên cứu giáo dục, sáng tác cho nhi đồng và biên soạn, tập một số trò du hí có ý nghĩa với các cháu.


Năm 1953, Viện Mẫu giáo 1/6 được chuyển địa điểm mới ở chân núi Ngọc Tuyền, Bắc Kinh. Hai phòng thiết bị dạy học hoàn chỉnh, sinh hoạt thì được bố trí ở một ngôi nhà hai tầng có thể chứa mười hai ban dạy học. Mỗi ban dạy học đều có một giảng đường rộng rãi, sáng sủa, quy cách tương đồng, có nhà ngủ, phòng vệ sinh thành một khối hoàn chỉnh. Ở khu hoạt động vui chơi ngoài trời rộng, có các loại dụng cụ, đồ chơi thích hợp cho các em ở từng độ tuổi khác nhau. Toàn Viện còn có một hội trường nhỏ, một bể bơi nhỏ và vườn hoa nhỏ.


Trong hai năm làm Viện trưởng, tôi còn nắm công tác phủ xanh toàn trường, đề nghị với Bộ Giáo dục Trung ương xin được mười vạn nhân dân tệ, chuyên dùng cho việc trồng cây phủ xanh toàn Viện. Tôi cùng với các đồng chí trong Khoa Giáo vụ chuyên môn đến vườn giống cây trồng của Trường Đại học Nông nghiệp Bắc Kinh chọn các giống cây tốt nhất phù hợp, đặc biệt còn mời được một công nhân có tay nghề rất cao của Công ty Cây xanh đến Viện phụ trách công tác đó của Viện. Viện 1/6 biến thành một vườn hoa lớn đầy hương sắc. Mùa xuân trăm hoa đua nở, mùa hạ cây cối xanh um, mùa thu quả treo trĩu cành, mùa đông tùng bách vẫn xanh. Đặc biệt là khi nhìn lũ trẻ lớn khôn, từ đây ra đi thì cái hoài cảm về sự nghiệp, hoài cảm tự hào, không phải mọi người bình thường có thể cảm thấy được.


Tháng Mười năm 1954, tôi được điều về Sở Giáo dục Bắc Kinh, công tác ở Khoa Giáo dục mầm non... Kể từ khi tôi làm chính trị viên đội quân "Ngựa thồ nôi cũi" cho đến khi rời Viện Mẫu giáo 1/6, đã trải qua hành quân trong lửa đạn, trú quân ở chiến trường và hòa bình kiến thiết, ở các hoàn cảnh giáo dục không giống nhau. Nó không những giúp tôi được rèn luyện và nâng cao năng lực công tác mà còn tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm quý báu, nên khi tôi về lãnh đạo công tác giáo dục mầm non ở Sở Giáo dục Bắc Kinh, quản lý công tác đã có một cơ sở vững chắc.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #71 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:43:41 pm »

Trong phong trào "Tam phản" (ba chống), vì tội "bao che người xấu” tôi đã bị giam bốn tháng.


Sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, trong cao trào nhanh chóng xây dựng chủ nghĩa xã hội, một số nhà tư bản phạm pháp vì muốn thu được lợi nhuận siêu ngạch đã dùng thủ đoạn hối lộ, mua chuộc, làm hủ hóa nhột số đảng viên cộng sản. Một số không vượt qua được thử thách, hủ hóa biến chất, biến thành phần tử tham ô. Để cứu cán bộ, đả kích sự tấn công điên cuồng của giai cấp tư sản, đầu năm 1952, Trung ương Đảng phát động phong trào "Tam phản" (ba chống): chống tham ô, chống lãng phí, chống chủ nghĩa quan liêu trong cơ quan Đảng và Chính phủ, trên lĩnh vực kinh tế mở rộng phong trào "Ngũ phản" năm chống): chống hối lộ, chống trốn lậu thuế, chống trốn công, giảm nguyên liệu, chống lừa dối lấy tài sản quốc gia, chống tiết lộ tình báo quốc gia. Các cuộc vận động "Tam phản", "Ngũ phản” đã giáo dục được quảng đại cán bộ, cứu được một số đồng chí phạm sai lầm, đả kích các nhà tư bản phạm pháp. Trong giới công thương gia, tiến hành phổ biến là giáo dục tuân thủ pháp luật đã đạt được thắng lợi to lớn.


Nhưng cũng trong cuộc vận động đó lại có khuynh hướng không điều tra nghiên cứu, không thực sự cầu thị, chủ quan trong đánh giá và xử lý, khuếch đại hóa vấn đề. Thậm chí cá biệt có kẻ muốn lập công trong một thời, không tiếc làm thương tổn đồng chí mình. Có một số đơn vị xuất hiện hiện tượng đấu tố quá mức. Trong phong trào “Tam phản” của Viện Mẫu giáo 1/6 cũng tồn tại những sai lệch như vậy. Viện trưởng Trương Sĩ Xương đã bị đối xử không công bằng, chính trực.


"Tam phản” vừa bắt đầu, Bộ Giáo dục Trung ương đã phái tổ công tác xuống Viện 1/6 để lãnh đạo cuộc vận động. Đồng thời còn đưa về một chi đội "Đả hô”.

“Đội Đả hô” sau khi tới Viện, không đi sâu tìm hiểu tình hình trong Viện. Họ đương nhiên cho rằng việc xây dựng nhà viện mới ở gần cầu Thanh Long tốn không ít tiền. "Núi cao rừng sâu, tất có hổ lớn". Trương Sì Xương chủ quản hành chính lại là người phụ trách xây dựng viện mới, nên bị coi là "hổ lớn". Thế là Trương Sì Xương bị cách chức Viện trưởng, không được tiếp xúc với bất cứ ai.


Tôi là Phó Viện trưởng của Viện Mẫu giáo kiêm Chủ nhiệm ủy viên Hội tiết kiệm là người lãnh đạo, tiến hành "Tam phản" ở Viện. Theo lý mà nói thì khi "Đội Đả hổ” xuống Viện phải phối hợp với "Uỷ viên Hội tiết kiệm" để triển khai công tác. Nhưng các vấn đề trong Viện liên quan đến "Tam phản”, "Đội Đả hổ” cứ tự đến, tự đi tự tung, tự tác, không bàn qua với tôi một câu.


Thái độ của cán bộ, công nhân viên chức đối với cuộc vận động này khác hẳn nhau. Có người vốn không biết gì về tình hình kinh tế trong Viện lại muốn làm phần tử tích cực "đả hô”, tìm trăm phương nghìn kế để cá nhân nổi trội, có người tuy biết rõ tình hình của Viện, cả người và việc, song giừ thái độ "ít nói là tốt hơn", ngậm miệng ăn tiền, cốt giữ mình là chính.


Đối với Trương Sì Xương, tôi hiểu quá rõ. Từ cái ngày rời khỏi Diên An, chúng tôi vẫn cùng hành quân. Trong công tác ở Trường Nuôi dạy trẻ, anh hết lòng hết dạ, bỏ ngủ quên ăn để làm việc, mỗi cử chỉ, lời nói của anh mọi người đều tán thưởng. Cho đến khi xây dựng nhà viện mới cũng không có vấn đề tham ô, tôi thấy là phải trọng sự thật, phải coi trọng điều tra nghiên cứu.


Nhưng trước tình hình cuộc vận động ở Viện như hiện nay tôi phải làm thế nào? Tôi biết rất rõ, nếu nói rõ tình bình tư tưởng chân thực của mình ra, dĩ nhiên là sẽ gặp phải sự đả kích. Nhưng là một đảng viên cộng sản phải công bằng, chính trực, vô tư, không giấu giếm quan điểm của mình. Tôi hạ quyết tâm dù có phải chịu sự đả kích như thế nào cũng vẫn phải là một đảng viên cộng sản chân chính, dám đứng trên lập trường công bằng, chính trực, dám đề ra ý kiến về cách nhìn của mình.


Thế là tôi gõ cửa phòng người phụ trách tổ công tác. Người phụ trách này chăm chú nghe các tình hình do tôi phản ánh và trả lời một cách thành khẩn, nhất định sẽ dựa theo chính sách của Đảng, điều tra nghiên cứu, thực sự cầu thị để xử lý vấn đề Trương Sĩ Xương.


Thế nhưng mấy hôm sau người phụ trách này bị điều đi với lý do "Phát nhưng không động" được phong trào. Người phụ trách mới tới thì "đao to, búa lớn", phàm bất cứ nhân viên công tác nào của Viện mà công việc dính tới tiền tài, vật tư, thì tất cả "người người qua cửa quan", làm cho "người người đều khốn đốn".


Tôi có tham gia một cuộc họp phê đấu của Viện. Chỉ thấy một cô cán bộ của tổ công tác đề xuất ra một số vấn đề được thêu dệt lên rất lớn xong thì chất vấn một công nhân về điện:

"Anh tham ô bao nhiêu tiền?"

"Tôi không tham ô".

Vị cán bộ nữ lại đập bàn nói: "Anh dám nói anh không tham ô?"

Chị ta quay sang bảo người thư ký: "Ghi hắn ta lấy một trăm tệ".

Lại hỏi: "Anh tham ô tất cả bao nhiêu?"

"Tôi không tham ô."

Chị cán bộ lại đập bàn: "Anh còn dám nới anh không tham ô."

"Ghi cho hắn ta hai trăm".

Người công nhân điện nghẹn họng không biết nói gì nữa.

Lúc đó, tôi cảm thấy rất nực cười, làm công tác vận động chính trị mà lại tiến hành bức cung như thế sao? Cái cô cán bộ này trình độ vận dụng chính sách quá kém.

Do tôi không đồng ý với cách làm của tổ công tác nên giữ vẻ bàng quan, "Đội Đả hô” cho rằng thái độ của tôi không tích cực, rất không bằng lòng với tôi. Thế là tôi bị triệt tiêu chức Chủ nhiệm ủy viên Hội tiết kiệm và đưa tôi về giam ở Bộ Giáo dục Trung ương.


Ban ngày, tôi bị đưa vào phòng học tập để chỉnh đốn nhận thức về cuộc vận động, ban đêm, có một nữ đồng chí ngủ cùng phòng với tôi đề phòng tôi tự sát, ăn cơm do nhà bếp mang lại, cách ly hẳn với mọi người. Quyền tự do cá nhân của tôi đã bị tước đoạt.


Sau này nghe trong Đại hội cán bộ do Bộ Giáo dục triệu tập có công bố tội danh của tôi là bao che cho tội phạm đại tham ô Trương Sĩ Xương.

Tôi thực không hề chuẩn bị cho tình huống là mình bị bắt đi, khi rời Viện định mang theo mấy quyển sách nhưng vì đi quá gấp, tiện tay cầm lấy một quyển là tập ca khúc "Bạch Mao nữ”. Ban ngày viết xong bản "kiểm tra", tôi bèn lấy tập bài hát đó ra tập, đầu tiên hát bài giản đơn "Gió bấc thổi", "Sợi dây hồng buộc tóc" sau học đến lời ca "Định bức ta chết, thì mi thủng con ngươi, ta là dòng nước không gì ngăn nổi, là ngọn lửa không gì có thể dập tắt được..."


Không biết ai báo cáo lên trên, một vị lãnh đạo Bộ Giáo dục mời tôi lên phòng làm việc nói chuyện, phê bình tôi:

"Trần Kiếm Qua, chị đâu giống một đồng chí kỳ cựu? Không kiểm thảo sai lầm bản thân còn hát "Bạch Mao nữ", có phải định chống đối cuộc vận động này không? Từ nay trở đi vấn đề của chị ngày càng nghiêm trọng đấy!"

Nghe mấy lời phê bình bất công đó, tôi rất buồn, muốn khóc. Chẳng qua tôi chỉ nói vài lời thẳng thắn, thế là bị bắt giam. Bảo vệ chân lý thật khó vậy chăng? Tôi rất không thông.


Tôi bị giam giữ ở Bộ Giáo dục bốn tháng trời. Lúc đó Tiểu Phong vừa vào lớp một bậc tiểu học, Tiểu Việt vẫn ở mẫu giáo. Chia tay với Hồng Thủy tôi bị một vết thương lòng không mấy ai chịu nổi, tình cảm của tôi trút cả cho hai con. Mỗi ngày thứ bảy về nhà chúng không có cha mẹ thì không biết đi đâu, đành theo cô giáo trực ban ở cho qua ngày chủ nhật buồn tẻ, hết tuần này đến tuần khác. Sinh hoạt bị đả kích, chính trị bị bôi nhọ, không được thăm con cái, suốt ngày tôi rất đau khổ, dằn vặt. Tôi càng sốt ruột về công tác của Viện Mẫu giáo 1/6. Tôi rất nhớ các đồng chí đã hàng ngày gặp mặt và hơn hai trăm cháu nhỏ mà Đảng đã trao cho tôi dạy dỗ. Tôi cũng thường tìm hỏi tình hình của họ. Nghe nói Trương Sì Xương bị chỉnh đốn đến nỗi tinh thần thất thường, suốt ngày đứng tựa lưng vào tường không động cựa gì. Lòng tôi nóng như lửa đốt song không có cách gì giúp được anh.


Lúc đó, có một chủ nhiệm bộ môn ở Viện là Trương Đức Kiến, nhìn cảnh chướng tai gai mắt đó, chịu không nổi liền viết một bức thư cho Trương Nguyên lúc đó là thư ký riêng của chị Đặng Dĩnh Siêu (vợ Thủ tướng Chu Ân Lai) nói rõ việc Trương Sì Xương bị chỉnh đấu, tôi bị giam. Trương Nguyên, không do dự, quyết ra tay giúp. Chị đã tìm đến chị Khang Khắc Thanh (vợ đồng chí Chu Đức) nhờ cả chị giúp. Hai chị lập tức phái người đến Bộ Giáo dục để nắm tình hình Trương Sì Xương, yêu cầu đưa ngay anh vào bệnh viện chữa chạy. Nhờ vậy mới cứu sống được Trương Sì Xương.


Sau khi kết thúc cuộc vận động "Tam phản", Trương Sì Xương được xét không có vấn đề tham ô và được điều về công tác ở Cục ô tô Bộ Cơ khí. Không lâu sau anh bị viêm gan, rồi chuyển thành xơ gan. Bị xử lý không công bằng, chính trực và bị đả kích làm tổn hại đến sức khỏe của anh.


Vấn đề Trương Sì Xương "tham ô" không thành, việc "Trần Kiếm Qua bao che tội phạm tham ô" cũng đi theo luôn. Tôi được thả ra và được Bộ Giáo dục bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Mẫu giáo 1/6. Diêu Thục Bình làm Phó Viện trưởng.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #72 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:45:07 pm »

Chương XI
SINH LY, TỬ BIỆT
(Sống chia ly, chết vĩnh biệt)


"Tôi tên là Hồng Thủy (nước lũ), cái tên bọn phản động muốn bôi nhọ người cách mạng đã gọi là "Hồng Thủy, mãnh thú” ấy..." Cả trong và ngoài hội trường nổi lên tiếng vỗ tay và tiếng cười vang như sấm dậy, cắt ngang lời ông.


Để tăng cường mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc với các Đảng Cộng sản trên thế giới, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định thành lập Bộ Liên lạc Trung ương (Ban Liên lạc đối ngoại).


Cuối 1950, Hồng Thủy và các đồng chí ở Vụ 2, Bộ Mặt trận Thống nhất được tách ra, nhập vào đơn vị mới. Ông tham gia công tác chuẩn bị và tổ chức thành lập cơ quan này. Vì thế, phòng làm việc của Hồng Thủy không ở Viện Cửa Tây, Trung Nam Hải mà chuyển đến đường Tiền Kỳ, phụ cận Tây Sơn. Xếp sắp công tác xong thì Lê Hằng Huân, người vợ Việt Nam, cùng hai con của ông đến Trung Quốc.


Lê Hằng Huân sinh vào tháng Tư năm 1926, tại Hà Nội. Cụ thân sinh ra bà là một học giả lịch sử có tiếng ở Việt Nam, một người có lòng yêu nước nồng nàn. Cuối năm 1946, khi bọn thực dân Pháp chiếm Hà Nội, cụ Lê Dư đưa cô con gái Lê Hằng Huân vừa tròn hai mươi tuổi rời Hà Nội về tỉnh Thanh Hóa thuộc Chiến khu Bốn nơi Khu bộ Khu Bốn đóng và cùng với bộ đội lập nên một xưởng làm giấy - "Xưởng chế tạo giấy Đồng Minh". Cụ làm xưởng trưởng, con gái làm kế toán, hai cha con từ đó tham gia vào cách mạng.


Mùa hạ năm 1948, chiếu cố về sinh hoạt của Hồng Thủy, tổ chức giới thiệu thu xếp cho Lê Hằng Huân và Hồng Thủy kết hôn.

Đúng như Hồng Thủy đã nói với tôi trước đó, ông và Lê Hằng Huân căn bản chưa quen biết nhau, thậm chí cũng chưa biết mặt.

Lê Hằng Huân là một người dịu dàng, hiền thục, có nhiều đức tính tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam. Khi Hồng Thủy và Lê Hằng Huân kết hôn, ông cũng đã kể hết cho bà nghe về hoàn cảnh ba. cuộc hôn nhân trước của mình. Cho đến trước khi sang Trung Quốc mới được biết vợ con người Trung Quốc của Hồng Thủy còn sống, trong lòng bà tự trách, cho rằng mình đã có điều không phải với người thân của Hồng Thủy ở Trung Quốc. Bà đã viết cho các chị em ruột của mình một bức thư, nói rõ thái độ của mình. Đầu tiên bà tính sẽ không đi sang Trung Quốc; nếu có đi Trung Quốc xảy ra tình huống gì bà sẽ về Việt Nam ngay.


Ngày 15 tháng 1 năm 1951, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thành lập Học viện Quân sự tại Nam kinh. Ít lâu sau, Hồng Thủy rời khỏi Bộ Liên lạc Trung ương (Ban đồi ngoại Trung ương) đến tham dự lễ khánh thành nhà trường và khai giảng khóa một, sau đó vào học luôn hệ cơ bản khóa một và ở ban học tập một, kiêm luôn Bí thư chi bộ Đảng của ban. Học viện Quân sự của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc lấy gốc là hai trường Đại học Quân chính của Hoa Bắc và Hoa Đông để xây dựng nên. Tiêu chí thành lập của nó là Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã từ giai đoạn kiến quân sơ cấp lên giai đoạn kiến quân cao cấp. Nhiệm vụ chủ yếu của nó là tổ chức cho học viên học tập một cách có hệ thống học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác và tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu phong phú của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, học tập các kinh nghiệm bổ ích của quân đội nước ngoài và trên cơ sở các tố chất hiện có của Quân giải phóng, bồi dưỡng các sĩ quan chỉ huy và tham mưu cao cấp đủ năng lực chỉ huy tác chiến hiệp đồng các quân binh chủng trong chiến tranh hiện đại, nhanh chóng xây dựng Quân giải phóng nhân dân thành một quân đội chính quy, hiện đại.


Dưới chân núi Trung Sơn, cảnh đẹp như tranh, Hồng Thủy bắt đầu học tập lý luận quân sự chính quy có hệ thống. ông đã kết hợp thực tiễn của bản thân suốt hơn hai mươi năm qua sống trên lưng ngựa, với việc gian khổ phấn đấu học tập các khóa trình lý luận quân sự chính trị, ghi chép một số bút ký lớn. ông còn đem những điều tâm đắc trong học tập, tiến hành chỉnh lý những điều đã thu hoạch được, phân biệt chủng loại đóng thành sách.


Từ ngày tôi quen biết Hồng Thủy đã thấy ở anh có một thói quen đáng quý là học tập. Hồng Thủy còn đem các phần tinh hoa nhất mà mình đã chỉnh lý dịch sang Pháp văn và Việt văn, hy vọng có thể đem những kinh nghiệm quý báu của việc xây dựng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giới thiệu về Việt Nam.


Hồng Thủy cũng là người không thể ngồi yên được, ông không những tích cực tham gia các hoạt động văn hóa thể thao trong Học viện mà còn đảm nhiệm thêm một số nhiệm vụ chính trị, xã hội. Ví dụ, Học viện Quân sự các cơ quan trường học của tỉnh Giang Tô và thành phố nam Kinh thường mời hồng Thủy đến kể lại hồi ức về Vạn lý trường chinh để giáo dục truyền thống cách mạng cho mọi người.


Tôi đã từng được đọc bài báo của một đồng chí vào thời đó nghe Hồng Thủy nói chuyện và đã viết lại cảm tưởng của mình trên báo Chiều Dương Tử, trong đó có đoạn viết:

"Năm 1952, tôi đang học Trường Nam - Trung học, Nam Kinh. Trường có mời một vị thủ trưởng Giải phóng quân đến nói cho chúng tôi nghe về truyền thống cách mạng. Vị thủ trưởng đó hơn bốn mươi tuổi, người cao vừa phải, trông rất nghiêm trang, đĩnh đạc. Hồi ấy hội trường chưa có máy phóng thanh, song tiếng của ông ta sang sảng, ngay các thầy giáo và học sinh ngồi ngoài hành lang cũng nghe thấy.


"Ông dùng tiếng phổ thông nói rất to: “Tôi tên là Hồng Thủy (nước lũ lớn) là cái danh từ mà bọn phản động vì muốn bôi nhọ những người cách mạng đã gọi họ là lũ "Hồng Thủy, mãnh thú ấy...".


"Lúc đó, cả trong lẫn ngoài hội trường tiếng vỗ tay và tiếng cười ầm ầm như bão tố, cắt ngang lời ông nói. Ông lại nói tiếp:

"Tôi là người Việt Nam, tên Việt Nam của tôi là Vũ Nguyên Bác".

"Hội trường lại nổi lên tiếng vỗ tay nhiệt liệt. Cứ thế buổi nói chuyện của ông chốc chốc lại ầm ầm lên tiếng vỗ tay, điều đó rất sâu sắc, đã lưu lại trong đầu tôi.

Mùa hè năm đó, cha tôi từ quê ở Sơn Tây lên Bắc Kinh thăm tôi ở ngay trong Viện Mẫu giáo 1/6. Cũng vừa dịp may trúng vào kỳ nghỉ hè của Học viện Quân sự Hồng Thủy tranh thủ về Bắc Kinh thăm tôi và các con. Tôi sợ cha tôi biết chuyện tôi và Hồng Thủy chia tay sẽ buồn lòng nên không nói. Tôi đặc biệt nhắn mời Hồng Thủy về nhà ăn một bữa cơm.


Thời mới giải phóng, không ít cán bộ quân nhân vẫn giữ phương thức sinh hoạt như trong thời chiến, chưa có ý thức mạnh mẽ về cuộc sống gia đình như hiện nay. Rất nhiều đồng chí vì bận công tác thường ăn ngủ tại phòng làm việc, rất ít về nhà. Hồng Thủy và tôi không sống chung nhau, ngay cha tôi cũng không cảm thấy có điều gì nghi hoặc. Hồng Thủy về nhà ăn cơm, thái độ rất vui vẻ kể cho con nghe hết chuyện này đến chuyện khác. Cha tôi thấy con gái, con rể hòa thuận, hai đứa cháu ngoại hoạt bát, đáng yêu, trong lỏng rất phấn khởi.


Cũng là vừa may, trong dịp hè, Viện Mẫu giáo tổ chức cho các cháu ra trường đi xe lửa lên bờ biển Bắc Đới Hà nghỉ mát, cha tôi liền đi cùng chúng tôi lên Bắc Đới Hà. Đây là lần đầu tiên trong đời cụ được nhìn thấy biển. Nhìn ông cháu vui đùa với nhau, lòng tôi thấy cũng có phần nhẹ nhõm.


Ngay sau đó, Hồng Thủy phải về Nam Kinh tiếp tục học tập. Cha tôi ở lại Bắc Kinh nửa năm thấy tôi yên ổn nên yên tâm trở về quê ở Ngũ Đài.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #73 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:47:57 pm »

Hồng Thủy được Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phong cấp quân hàm thiếu tướng và phong tặng ba loại huân chương hạng nhất. Trên thành lầu Thiên An Môn, Mao Chủ tịch đã "bênh vực" ông.


Mùa hè năm 1954 , Hồng Thủy tốt nghiệp Học viện Quân sự với thành tích ưu tú.
Về việc xếp sắp công tác cho ông, các đồng chí lãnh dạo Trung ương cũng mất một phen suy nghĩ. Trước khi đi Nam Kinh học, ông công tác ở Bộ Liên lạc của Trung ương ban đồi ngoại nhưng suy tính kỹ thì từ thời kỳ đại cách mạng đến nay, hơn ba mươi năm ông đều công tác trong bộ đội suốt, các lão nguyên soái đều yêu cầu giữ lại ông ở bộ đội. Mao Chủ tịch và Chu Tổng tư lệnh nghiên cứu thấy Hồng Thủy đã nhiều năm công tác giáo dục quân sự, có kinh nghiệm nhất định về vấn đề này. Cuối cùng, Diệp Kiếm Anh xin Hồng Thủy về chỗ mình. Đầu tiên, Hồng Thủy làm Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh trực thuộc Quân ủy Trung ương. Cuối năm, Cục Điều lệnh lại được chuyển về Tổng cục Huấn luyện Bộ Tổng tham mưu, Hồng Thủy được làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí Huấn luyện chiến đấu thuộc Tổng cục Huấn luyện.


Lê Hằng Huân, người vợ Việt Nam của Hồng Thủy cùng các con cũng về ở Bắc Kinh. Lê Hằng Huân về công tác ở Ban Quốc tế của Hội liên hiệp phụ nữ. Hồng Thủy đảm nhiệm tạp chí Huấn luyện chiến đấu không lâu thì một hôm Chu Tổng tư lệnh đến thăm ông. Năm đó Chu Tổng tư lệnh đã là một người già gần bảy mươi tuổi. Hồng Thủy rất cảm động, đỡ ông ngồi vào ghế bành ở trong phòng làm việc, nói với ông với tấm lòng tôn kính.

"Tổng tư lệnh, người tuổi đã cao rồi lại đây thăm tôi thật là không phải. Tháng trước, chẳng phải tôi mới đến thăm thủ trưởng mà?"

Gia đình của Hồng Thủy trú ở nhà số 29 "Thúy Vi lộ” thuộc khu Bắc Kinh mới1 (Tân Bắc Kinh: Những năm 50, người Bắc Kinh gọi khu tây nhà thờ công giáo ở Phúc Hưng lộ là Tân Bắc Kinh), trong một căn nhà nhỏ, có một cửa ra vào, rất gần nhà Chu Đức ở "Vạn Thọ lộ". Ăn cơm tối xong, Hồng Thủy thường đi bách bộ qua đường Vạn Thọ chơi hay rẽ vào thăm thủ trưởng cũ nói chuyện hàn huyên. Hồng Thủy và Chu Tổng tư lệnh tình cảm rất nồng hậu. Năm 1935, khi ở "Tả lộ quân", vì kiên trì đường lối đúng đắn tiến lên Bắc kháng Nhật, Hồng Thủy đã có những trận tranh cãi tay đôi với Trương Quốc Đào, nếu không có Chu Tổng tư lệnh kiên quyết che chở thì đã bị Trương Quốc Đào xử bắn rồi.


Vốn hòa nhã, hiền từ, Chu Tổng tư lệnh ngồi trên ghế bành, quan tâm hỏi han Hồng Thủy về sức khỏe, về gia đình, về sự bố trí sình hoạt. Sau khi về Bắc Kinh lại hỏi về công tác ở tòa soạn của tạp chí.

Hồng Thủy báo cáo đầy đủ. Chu Tổng tư lệnh còn động.viên ông:

"Tiểu Hồng à, công tác của chú rất trọng yếu đấy. Tạp chí Huấn luyện chiến đấu là của toàn quân, thậm chí yêu cầu phát hành xuống tận cơ sở đại đội, đối với công tác chiến đấu của bộ đội có ý nghĩa chỉ đạo cụ thể về chiến lược. Nhất định phải làm cho tờ báo này thật tốt”.

"Xin Chu Tổng tư lệnh cứ yên tâm, tôi sẽ cố gắng hết sức!”

Lúc đó Chu Tổng tư lệnh đứng dậy nhờ đồng chí Hàn Thủ Văn, thư ký riêng của Hồng Thủy, lấy cho người một cây bút, ông tự đề bốn chữ lớn: "Huấn luyện chiến đấu lên bìa tạp chí với nét chữ rất khỏe khoắn.


Năm đó, tin tức thắng lợi từ Việt Nam dồn dập truyền tới Từ tháng Ba đến tháng Năm, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam có sự góp sức của đoàn cố vấn quân đội Trung Quốc đã tổ chức chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ giành được thắng lợi trọng đại, tiêu diệt toàn bộ quân địch gồm các lực lượng tinh nhuệ nhất của quân xâm lược Pháp và quân Ngụy, tổng số trên mười sáu nghìn tên, buộc nước Pháp phải ký hiệp định Genève về Đông Dương vào tháng Bảy năm 1954, rút hết quân về nước. Miền Bắc Việt Nam được giải phóng.


Trong thời gian nhân dân Việt Nam tiến hành chiến tranh chống Pháp, Trung Quốc đã chi viện, cung cấp cho Việt Nam một khối lượng lớn vũ khí, trang bị, gồm hàng chục vạn súng, hàng ngàn pháo cối, số lớn đạn dược, khí tài thông tin, công binh và các vật tư quân nhu khác. Trung Quốc đã hết sức vô tư ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam về đạo nghĩa, về quân sự, trang bị vật tư, Hồng Thủy vô cùng cảm kích.


Mỗi khi có đoàn cố vấn quân sự sang Việt Nam thì tất cả mọi người với cấp bậc khác nhau đều phải tập trung về Bắc Kinh học tập. Trung ương phái Hồng Thủy đến giảng cho họ, giới thiệu về địa lý, khí hậu, phong tục và tình hình chiến đấu trong nước Việt Nam. Mỗi khi chiến tranh Việt Nam diễn ra các chiến dịch lớn, các đồng chí lãnh đạo Trung ương đều mời Hồng Thuỷ đến giới thiệu, giảng giải tình hình chiến cuộc, giúp cho Trung ương việc nghiên cứu ra quyết sách được khoa học và chỉ đạo chỉ huy.
Hồng Thủy đã thành "tham mưu trưởng” không chính thức cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương.


Ngày 27 tháng Chín năm 1955, đối với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mà nói, là một ngày đặc biệt. Ngày hôm đó, tại Hoài Nhân Đường, Trung Nam Hải đã làm lễ thụ phong quân hàm và phong tặng huân chương cho Quân giải phóng, nên ở đây sắc thái rất vui vẻ và long trọng.


Buổi sáng, các nguyên soái khai quốc mặc lễ phục mới màu nước biển đã tề tựu sẵn. Những người bạn chiến đấu cùng vào chết ra sống với nhau, hôm nay cùng tụ tập ở lễ đường, hỏi thăm nhau, nhớ lại những kỷ niệm đáng nhớ, có lúc vui cười nhỏ nhẹ, có lúc phá lên cười thoải mái. Đúng 9 giờ, Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và các đồng chí lãnh đạo quốc gia khác lục tục tiến vào hội trường, thời khắc trang nghiêm đã đến. Trước hơn một nghìn ba trăm quan khách dự buổi lễ nghi thức long trọng này, Mao Chủ tịch đã trao quân hàm nguyên soái và huân chương cho mười vị nguyên soái khai quốc.


Chiều hôm đó, Quốc vụ viện (Chính phủ) tổ chức nghi lễ trao quân hàm cấp tướng và huân chương. Chu Ân Lai, Thủ tướng Quốc vụ viện dã trao quân hàm cho mười mười đại tướng, năm mươi bảy thượng tướng, một trăm bảy mươi bảy trung tướng và tám trăm thiếu tướng.


Hồng Thủy được phong quân hàm thiếu tướng và được phong tặng huân chương Bát nhất hạng nhất, huân chương Độc lập hạng nhất và huân chương Giải phóng hạng nhất. Tuy rằng trong hơn một ngàn tướng lĩnh khai quốc chiến công rực rỡ thì Hồng Thủy chưa phải là nổi trội nhất nhưng ông là người ngoại quốc duy nhất đứng trong hàng tướng lĩnh cao cấp của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #74 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:50:38 pm »

Suốt ngày 27 tháng Chín năm 1955, Hồng Thủy cảm thấy vinh dự và cảm động. Trong hếch sử Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, phong quân hàm cấp tướng và huân chương cao nhất cho một người ngoại quốc là lần đầu tiên và cũng chỉ có một lần. Trong hàng thiếu tướng mà lại được phong huân chương hạng nhất cả ba loại như ông cũng có rất ít người đạt được. Từ đáy lòng, Hồng Thủy cảm tạ nhân dân Trung Quốc đã trao tặng cho ông vinh dự cao quý đó.


Tay đỡ ba tấm huân chương hạng nhất sáng chói, mắt Hồng Thủy rưng rưng. Hơn ba mươi năm xa quê chinh chiến, gối đất nằm sương, gian nan vô kể, không sợ mọi gian nguy thử thách vì chân lý, toàn bộ đều gói gọn trong ba tấm huân chương này. Đó không phải chỉ là sự biểu dương khen ngợi cho riêng ông, mà đó là lời cảm tạ, lòng kính trọng của nhân dân Trung Quốc đồi với những chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế vô tư đã hy sinh đổ máu tham gia vào sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc.


Hồng Thủy đã cống hiến tất cả vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam, quyết không phải vì công danh, tranh địa vị cho cá nhân. Khi bình cấp Hồng Thủy chỉ được bình thiếu tướng cấp sư đoàn. Có người bực tức thay cho ông, cho rằng bình như vậy là quá thấp. Nhưng, ông không bao giờ nói với ai chuyện đó và cũng chẳng vì chuyện bình cấp mà ảnh hưởng đến tinh thần tư tưởng.


Sau này, có người kể lại với tôi, Hồng Thủy là học viên Trường Quân sự Hoàng Phố từ khóa bốn, đã tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, từ năm 1932 đã là cán bộ chức sư đoàn của Hồng quân công nông Trung Quốc. Lúc đầu, các cơ quan hữu quan đã báo cáo lên trên đề nghị phong trung tướng, vì rằng Hồng Thủy là người Việt Nam nên phải suy nghĩ tới quan hệ giữa hai nước, hai Đảng, hai quân đội Trung - Việt. Khi bình cấp, cơ quan cán bộ của quân đội ta đã có xin ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch cho rằng quân hàm nên tương đồng với quân hàm của Quân đội nhân dân Việt Nam đã trao và cấp bậc nên giữ như biên chế tương đương mà xét thì tốt hơn. Vì thế cuối cùng quân hàm của ông đã được định ở mức thiếu tướng...


Ngày 1 tháng Mười năm 1955, các sĩ quan, chiến sĩ của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mặc quân phục mới, mang quân hàm, với phong thái đổi mới, xếp hàng ở Thiên An Môn, chờ đón Mao Chủ tịch duyệt binh. Trên bước đường dài xây dựng hiện đại hóa, quân đội ta đã có bước tiến mới.


Trên thành lầu Thiên An Môn, các tướng soái khai quốc mặc lễ phục quân đội màu nước biển, quân hàm trên vai rực rỡ, ngực lấp lánh huân chương, tinh thần, khí thế vô cùng phấn chấn, lần lượt chờ vào tiếp kiến Giao Chủ tịch.


Mao Chủ tịch mặc bộ đồ Trung Sơn màu xám, khỏe mạnh, bước tới giữa các hàng tướng soái, bắt tay từng người một, nói chuyện với mỗi người vài câu ngắn và dí dỏm.


Khi Mao Chủ tịch đến trước Hồng Thủy, Người rất phấn khởi, hai bàn tay to lớn của Người nắm chặt tay Hồng Thủy, nhìn ngắm xem Hồng Thủy có khỏe mạnh không và sắc thái thế nào, rồi lại nhìn đến quân hàm thiếu tướng trên vai ông và hỏi rất quan tâm:

"Tiểu Hồng, chú được phong cấp bậc gì?"

Hồng Thủy không trả lời không được phải báo cáo thực.

Mao Chủ tịch nói ngay với các đồng chí lãnh đạo hữu quan đi cùng: "Như vậy là không thích hợp. Đồng chí Hồng Thủy tham gia quân đội từ thời Hoàng Phố, có thể sửa lại là cấp quân đoàn được không?".


Do sự quan tâm trực tiếp của Mao Chủ tịch, Tổng cục Chính trị Quân giải phóng sửa quyết định lại, phong Hồng Thủy là thiếu tướng cấp quân đoàn.

Trong bản nhận xét để phong quân hàm cho đồng Thủy có viết:

"Sau khi Đại cách mạng thất bại, nhập Đảng trong thời kỳ khủng bố trắng, đối với Đảng, với nhân dân trung thành, trong sáng, ý chí cách mạng kiên định. Trong những hoàn cảnh tàn khốc nhất, khó khăn nhất như bạo động Quảng Châu, Trường chinh trước sau vẫn tích cực, hăng hái chiến đấu, luôn luôn đứng vững trên lập trường đường lối chính xác của Đảng để công tác. Trong khi công tác ở Phương diện quân bốn đã luôn luôn kiên trì đường lối của Trung ương. Trong chiến tranh kháng Nhật ở Tấn Đông Bắc đã có khả năng độc lập tổ chức quần chúng, thành lập Đảng, chính quyền và lực lượng vũ trang. Ở Việt Nam đã lãnh đạo đúng đắn cuộc chiến tranh chống Pháp ở các chiến khu Năm, Sáu và Bốn, củng cố các căn cứ địa của các chiến khu, khiến cho nó có thể đứng vững suốt hơn bảy năm đấu tranh, cuối cùng giành thắng lợi. Trong đấu tranh chống địch và đấu tranh xử lý nội bộ luôn kiên trì và chính xác, giữ vững nguyên tắc. Đối với sự phân công công tác của Đảng, quyết định của Đảng, nhiệm vụ mà Đảng trao cho đều phục tùng và chấp hành, chưa bao giờ có hành động, biểu hiện chống quyết định của Đảng, không phục tùng tổ chức. Trong các cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng (chỉnh phong, thẩm can, tam phản, chỉnh đảng v.v...) đều tích cực tham gia, dũng cảm bộc lộ những sai lầm của mình, của người khác và luôn luôn tích cực học tập”.

Đó là lời bình xét công bình và chính xác nhất.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #75 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:53:24 pm »

Trên phổi của Hồng Thủy đã mọc một u ác tính to bằng quả trứng gà. Thủ tướng Chu Ân Lai đã trực tiếp chỉ thị cho Bộ Y tế mời những thầy thuốc giỏi nhất để mổ cho Hồng Thủy.


Đã từng tham gia suốt quá trình cách mạng từ lúc mới thành lập Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cho đến chiến tranh kháng Nhật, nay Hồng Thủy lao mình vào sự nghiệp vĩ đại mới là xây dựng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến lên chính quy hóa, hiện đại hóa. ông làm việc không kể ngày đêm và còn rất nhiều việc phải làm. Làm Chủ nhiệm kiêm Tổng biên tập tạp chí, ông phải xử lý các công việc thường ngày của báo, của huấn luyện quân sự, lại thường tự mình tuyển chọn những luận văn có liên quan đến học thuật và chiến thuật của huấn luyện quân sự, còn viết những bài về đề tài xây dựng quân đội đăng trên tạp chí Huấn luyện chiến đấu và tạp chí Bát Nhất do Tổng cục Chính trị là chủ biên. Là Bí thư Đảng ủy của tạp chí, ông phải lãnh đạo toàn tòa soạn tham gia các phong trào chính trị do Đảng vận động. Khi có các đoàn đại biểu quân sự hai nước Trung - Việt qua lại, các đồng chí lãnh đạo Quân ủy đều yêu cầu Hồng Thủy đến nói chuyện, ngoài ra còn tham gia vào hoạt động đối ngoại ở cấp cao.


Tháng Mười một năm 1955, quân đội ta đã tổ chức nhột cuộc diễn tập chống đổ bộ đường biển ở bán đảo Liêu Đông có quy mô lớn nhất kể từ ngày thành lập xước Trung Hoa mới. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh là Tổng chỉ huy cuộc diễn tập này. Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Bành Đức Hoài, Lưu Bá Thừa, Trần Nghị, Hạ Long, La Vinh Hằng, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn đều đến tham quan cuộc diễn tập hiệp đồng quân chủng của ba quân chủng: lục, hải, không quân. Hồng Thủy theo Diệp Kiếm Anh đến Liêu Đông tham gia công tác chỉ huy diễn tập.


Ông đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách xuất sắc, nhờ hết sức đề cao trách nhiệm và làm hết sức miệt mài. Cuộc diễn tập này đã tổng kết kinh nghiệm về công tác tổ chức và chỉ huy trong các tình huống giả định có sử dụng vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học.


Hồng Thủy hết lòng tận tụy công tác vì Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mà ông hằng yêu mến, song ông không một phút giây nào quên Tổ quốc của mình. ông có một máy chữ đánh chữ Pháp, tranh thủ lúc rỗi ông lại đem các trước tác quân sự của Mao Trạch Đông, các luận văn của các nguyên soái lão thành Trung Quốc có giá trị là tư liệu có ích trong thực tế chỉ huy của Quân đội nhân dân Việt Nam, chỉ cần tài liệu phát biểu công khai, ông tự dịch sang tiếng Pháp hoặc tiếng Việt, tự đánh máy lưu lại thành kinh nghiệm quý báu, chuẩn bị sau này mang về Việt Nam.


Hồng Thủy vốn là người có tinh lực đặc biệt sung mãn, tưởng như không có gì đánh gục được, song ông hút thuốc lá ngày càng nhiều, hết điếu này đến điếu khác. Lúc đầu Hàn Thủ Văn, thư ký riêng của ông, cứ khoảng mười ngày lại mua cho ông một cây thuốc lá thơm "Hằng Đại" hay "Đại Tiền Môn", về sau một tuần một cây thuốc không đủ.


Đầu năm 1956, Hồng Thủy ho mãi không dứt. Qua kiểm tra X quang phát hiện có một vết mờ bên phổi trái, to bằng đồng tiền. Bác sĩ chẩn đoán có thể ở phổi có một nhân do xơ hóa. Bác sĩ cho thuốc tiêu đờm, chữa ho và dặn ông tiếp tục theo dõi bệnh tình, có tình hình gì mới đến bệnh viện kiểm tra.


Hồng Thủy uống thuốc xong bệnh không giảm, vẫn ho không dứt và ngày càng kịch liệt, có lúc cảm thấy khó thở. Một lần khi ho trong đờm có tia máu. Qua kiểm tra X quang, vết mờ ở phổi phát triển làm cho các bác sĩ quan tâm chú ý cao độ, thấy không xóa được vết mờ đó bèn lập tức yêu cầu Hồng Thủy vào viện để mổ.


Nguyên soái Diệp Kiếm Anh vô cùng quan tâm, lo lắng đến bệnh của Hồng Thủy, trực tiếp nghe báo cáo về bệnh tình của ông, nhiều lần cùng bàn với các bác sĩ phương án chữa bệnh cho Hồng Thủy và báo cáo tình hình lên Thủ tướng Chu Ân Lai. Trung ương Đảng rất quan tâm đến bệnh tình ông. Thủ tướng Chu ân Lai trực tiếp chỉ thị cho Bộ Y tế:

"Cần chọn những thầy thuốc giỏi nhất để mổ cho đồng chí Hồng Thủy".

Hồng Thủy đã cảm thấy bệnh tình của mình là nghiêm trọng, nên trước khi vào bệnh viện đã có ý riêng, đến Sở Giáo dục Bắc Kinh thăm tôi. Lần đến thăm đó là vì Hồng Thủy không yên tâm về tôi và các con, song ông không nói cho tôi biết một chút gì về bệnh tình.


Hai chúng tôi ngồi dưới bóng cây dương ở ngoài phòng làm việc. Hồng Thủy hình như có nhiều điều muốn nói với tôi nhưng lại không nói một lời. Cả hai chúng tôi đều im lặng. Tôi nhìn sắc thái Hồng Thủy rất không tốt, thỉnh thoảng lại ho khan một trận.
Khi chia tay, Hồng Thủy hỏi tôi: “Tại sao em không kết hôn nữa?".

Tôi dứt khoát đáp lại ngay: "Chả nhẽ tôi lại tìm bố dượng cho các con sao?".

Nghe lời tôi nói, Hồng Thủy như người bị hóc xương, mặt rất đau khổ. Ông không nói năng gì chỉ lặng lẽ nhìn tôi rồi rời khỏi Sở Giáo dục ra về với nỗi lòng uẩn khúc.

Sau đó, tôi mới biết ông vào nằm bệnh viện. Không ngờ rằng, lần gặp mặt đó của chúng tôi là lần vĩnh biệt.

Mùa hè năm đó, tôi có cơ hội may mắn được đi thăm nước ngoài. Các tổ chức của Trung Quốc và Liên Xô tổ chức các đoàn thăm hỏi, giao lưu giữa hai nước. Đoàn tham quan của Trung Quốc lúc đó gồm năm người: Bí thư Đảng ủy Bệnh viện Triều Dương, Bắc Kinh: Từ Dĩ Tân, Phó Chủ nhiệm Khoa nội Bệnh viện Nhi đồng Bắc Kinh: Hồ Nghiệp Mỹ, còn hai đồng chí là công nhân nhà máy. Tôi cũng được xếp vào đoàn tham quan.


Đoàn chúng tôi đi thăm ba nước Liên Xô, Ba Lan và Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức).
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #76 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:54:33 pm »

Trong mắt tôi, Liên Xô là một quốc gia vĩ đại và thần kính. Cả một đời người, một thế hệ nay mới được đến thăm Liên Xô, đối với tôi, đó là hạnh phúc lớn trong đời. Chúng tôi đi dạo trên Hồng trường Mátxcơva. ở đấy, nhà cửa, đường sá, kiến trúc cổ kính, nghệ thuật điêu khắc và bức tường đỏ điện Kremli đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc.


Mùa hè Mátxcơva mát mẻ, dễ chịu. Khi chúng tôi đến Hồng trường thì trước lăng Lênin và Xtalin, dòng người xếp hàng đã dài, chúng tôi xếp hàng cùng họ, trong đó có nhiều người từ các nước trên thế giới đến viếng và chiêm ngưỡng. Lênin, người thầy cách mạng vĩ đại, là một lãnh tụ cách mạng mà từ khi mới có khuynh hướng cách mạng, tôi đã rất tôn sùng. Chúng tôi chầm chậm bước theo đoàn người vào viếng. Trước quan tài của Lênin bằng kính, tôi đã kính cẩn nghiêng mình. Chúng tôi cũng đến viếng Xtalin như vậy.


Đầu những năm 60, khi hai đảng Trung - Xô tiến hành tranh luận công khai, tôi mới được biết sau năm 1956, Khơrútxốp đã đưa thi hài của Xtalin ra khỏi Hồng trường đem đi hỏa táng. Tôi rất phẫn nộ và cũng rất buồn phiền.

Sau khi đi thăm Liên Xô, chúng tôi thăm Ba Lan và Đông Đức.

Ở Beclin, chúng tôi đã đến thăm bức tường Beclin. Bức tường vừa dài vừa cao này đã chia Beclin thành hai phần Đông và Tây. Tại cửa lớn qua lại hai bên, các lực lượng vũ trang của cả Đông và Tây đều đứng gác. Không có người qua lại cổng đó.

Đứng bên bức tường Béclin, lòng tôi rất xót xa. Nó như một lưỡi dao sắc chặt đôi một quốc gia, cắt đứt mạch máu của một dân tộc.

Hồng Thủy được đưa vào Bệnh viện 309 của Quân giải phóng và được chuyên gia phẫu thuật lồng ngực nổi tiếng là giáo sư Ngô Anh Khải và bác sĩ Trương Đại Vi mổ. Nguyên soái Diệp Kiếm Anh cử trợ lý, thiếu tướng Diệp Sở Triển và thư ký riêng của Hồng Thủy Hàn Thủ Văn túc trực bên ngoài phòng mổ, để có thể báo cáo trực tiếp với ông khi có tình huống gì xảy ra trong quá trình mổ.


Hồng Thủy nằm yên dưới ánh đèn mổ, vẫn bình thường, thản nhiên. Trong hơn ba mươi năm cách mạng, chinh chiến, ông đã nhiều lần vượt qua ngưỡng cửa cái chết. Hôm nay, ông lại phấn đấu sống còn chống lại bệnh tật.


Lồng ngực của Hồng Thủy đã được mở, hai vị chuyên gia phẫu thuật lồng ngực đứng sững người. Họ đã phát hiện bên ngực trái của Hồng Thủy, gần tim, có một u ác tính sần sùi to bằng quả trứng gà, không có cách gì mà cắt bỏ được.


Các bác sĩ phải mời thiếu tướng Diệp Sở Triển và thư ký Hàn Thủ Văn sau khi đã làm vệ sinh tiêu độc thật nghiêm ngặt, vào trực tiếp coi bệnh tình của Hồng Thủy, báo cáo ngay cho nguyên soái Diệp Kiếm Anh và các đồng chí lãnh đạo Trung ương.

Bệnh tình của Hồng Thủy cực kỳ nghiêm trọng, các bác sĩ đành phải bó tay buồn rầu lặng lẽ khâu đóng lồng ngực lại cho Hồng Thủy.

Vết mổ đã khâu đóng lại, sau một thời gian điều dưỡng cẩn thận, sức khỏe của Hồng Thủy có khá hơn, song đám mây mù nghi vấn vẫn nặng trĩu trong đầu, ông nóng lòng muốn biết bệnh tình của mình, nhiều lần hỏi bác sĩ:

"Khối u đã cắt bỏ chưa? Tình hình ra sao?"

Hồng Thủy là một người thông minh, rất muốn biết rõ, không cần giấu giếm. Trước các câu hỏi của Hồng Thủy, các bác sĩ rất khó nói. Trong tình thế lúc đó mà kết luận "u ác tính" phải giữ tuyệt đối bí mật đồi với người bệnh. Nói cho họ biết chẳng khác gì bác sĩ trao cho anh ta bản án "tử hình".


Hồng Thủy là một đồng chí ngoại quốc đến tham gia cách mạng Trung Quốc từ thời kỳ Đại cách mạng nên lãnh đạo Trung ương cực kỳ quan tâm đến "kết quả phẫu thuật" của ông, không tiếc tiền, tiếc của để chạy chứa cho ông. Vì điều kiện chữa bệnh và trình độ y học của Trung Quốc lúc đó có hạn, để kéo dài cuộc sống của ông, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định đưa ông sang Liên Xô để chữa bệnh.


Trình độ chữa bệnh của Liên Xô có thể nói là vào loại tiên tiến trên thế giới, lúc đó đã dùng phóng xạ côban để trị các khối u ác tính. Phóng xạ côban có thể rút nhỏ phần nào khối u, kéo dài cuộc sống của người bệnh nhưng không thể giải quyết vấn đề về căn bản. Riêng đối với Hồng Thủy, khói u đã phát triển thời kỳ cuối, hiệu quả tác dụng cũng rất ít.


Để lấy ý kiến của Hồng Thủy về phương án chữa bệnh, qua nghiên cứu kỹ, tổ chức quyết định nói thực cho Hồng Thủy biết về bệnh tình.

Hồng Thủy là một người đàn ông cứng rắn trên con đường cách mạng chông gai, không chịu cúi đầu trước khuynh hướng đường lối sai lầm, không lùi bước trước khó khăn gian khổ. Thẳng thắn, kiên cường, lạc quan, rộng rãi, đó là tính cách sống của con người Hồng Thủy. Thế nhưng, khi nghe tin các thầy thuốc giỏi nhất Trung Quốc đã phải bó tay với khối u trong ngực của mình, ông ứa nước mắt. Là một quân nhân cả đời chiến đấu, nay chính là lúc đang "niên phú, lực cường” lại không thể chết trên chiến trường, tại biên cương mà lại bị bệnh tật tuyên án "tử hình".


Ông không muốn nhưng buộc phải chấp nhận cái hiện thực tàn khốc, trớ trêu đó. Ông biết dùng côban phóng xạ đối với bệnh ông lúc đó hiệu quả không lớn, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, trong quan hệ giữa hai đảng Trung - Xô đã có nguy cơ chính trị xung đột đang dần hiện rõ, do đó Hồng Thủy kiên quyết không đi Liên Xô chữa bệnh và nghẹn ngào nói với Diệp Kiếm Anh, người thủ trưởng cũ của mình.


"Rất cám ơn” sự quan tâm của lãnh đạo Trung ương, tôi không đi Liên Xô, Trung ương không cần phải lãng phí tiền của vô ích vì tôi".

Trong lòng ông lúc đó chỉ có một nguyện vọng được chết trên Tổ quốc mình: Việt Nam.

Mấy chục năm sau, khi bàn về chuyện Hồng Thủy không chịu đi Liên Xô chữa bệnh, tướng quân Tiêu Khắc đã vô cùng cảm khái nói:

"Đồng chí Hồng Thủy coi trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc còn hơn cả sinh mệnh bản thân”.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #77 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 08:55:46 pm »

Hồng Thủy nói: Hiểu tấm lòng tôi, không ai hơn Trần Kiêm Qua, chúng tôi có trái tim đồng điệu. Cả đời tôi điều đau khổ nhất là tới tận bây giờ cô ta vẫn không thể thử lỗi cho tôi.


Mấy tháng sau, tình hình sức khỏe của Hồng Thủy ngày càng giảm sút, không thể không nằm lâu dài ở bệnh viện Bắc Kinh để chữa bệnh, kéo dài cuộc sống.

Mỗi buổi chiều, Hàn Thủ Văn đều đến bệnh viện thăm ông, một là đưa cho ông báo chí văn kiện, hai là nắm tình hình để báo cáo cho thủ trưởng Quân ủy Trung ương. Thêm vào đó, theo lời dặn dò của Hồng Thủy, xếp sắp chỉnh lý sách, vở, tài liệu, vật phẩm của ông để chuẩn bị cho ngày về nước.


Hàn Thủ Văn, bí thư của Hồng Thủy, là người cùng quê tỉnh Sơn Tây với tôi ở huyện Tích Dương. Mùa hè năm 1954, khi Hồng Thủy tốt nghiệp Học viện Quân sự Nam Kinh, Hàn Thủ Văn được điều về công tác bên cạnh ông, lúc đó anh mới hai mươi ba tuổi, nhưng cũng đã tham gia cách mạng được bảy, tám năm. Năm 1947, anh tham gia Giải phóng quân, theo đại quân Lưu, Đặng (Lưu Bá Thừa - Đặng Tiểu Bình) đánh xuống Trung Nguyên, giải phóng Đại Tây Nam, luôn ở bên hai thủ trưởng Lưu - Đặng làm công tác cơ yếu. Thời kỳ đầu kháng Nhật, Hồng Thủy đã công tác ở huyện Ngũ Đài, Sơn Tây một đoạn thời gian, lại thêm duyên cớ có lẽ tôi cũng là người Sơn Tây nên giữa Hồng Thủy và Hàn Thủ Văn tình cảm càng đặc biệt thân thiết.


Năm 1955, bộ đội và cán bộ cơ quan nhà nước được bỏ chế độ cung cấp chuyển sang hưởng chế độ tiền lương. Hồng Thủy trực tiếp lo tiền sinh hoạt phí cho hai cháu Tiểu Phong và Tiểu Việt. Mỗi tháng đến ngày, ông lại cừ Hàn Thủ Văn mang tiền sinh hoạt phí của hai cháu trao cho tôi. Tôi và Hồng Thủy đã có ước định trước yêu cầu ông tránh đến thăm con vì vậy vô tình Hàn Thủ Văn đã là sợi dây liên lạc giữa hai chúng tôi, tôi và bí thư Hàn dần dần quen biết và thân thiết.


Tại bệnh viện Bắc Kinh, mỗi buổi sáng, hồng Thủy đều phải đi kiểm tra hay chữa trị theo lệnh bác sĩ. Buổi chiều, sau khi ngủ trưa xong, Hồng Thủy liền bày bàn cờ sẵn, đợi Hàn Thủ Văn đến. Chơi cờ tướng là một thú vui lớn của Hồng Thủy. Ông chơi cờ cũng bình thường, chưa phải là loại cao thủ nhưng cũng là một tay cờ kỳ cựu Ngay từ năm 1932, ở Trường Quân chính Trung ương ở Thụy Kim, Giang Tô, Hồng Thủy đã bắt đầu chơi cờ. Các cán bộ, chiến sĩ thuộc hạ của ông trong tòa soạn hầu hết đều đã nhiều lần là "đối thủ” của ông.


Lúc này Hồng Thủy bày cờ ra đánh không phải chỉ là để giết thời gian, ngoài việc giải tỏa nỗi lòng nặng nề mà quan trọng hơn là để có dịp "thổ lộ nỗi lòng”. Ông biết mình chẳng còn sống được bao lâu, trong ông lại có nhiều điều muốn nói. Trong những đêm dài tĩnh mịch mất ngủ, ông lược lại từng sự việc trong dòng sông dài ký ức, rất muốn có một người tri kỷ để nói lại về cả một quá trình cuộc đời không dễ tìm hiểu và đầy thủ thách. ông cũng muốn nói ra những nỗi đau lòng đã phải nén rất lâu, rất lâu rồi. Người vợ Việt Nam của ông còn quá trẻ những điều ông muốn nói ra chưa dễ đã có sự thông cảm thật mãnh liệt. Còn tôi với ông thì chẳng có cơ hội để nói chuyện với nhau. Thế là ông đã kể lại không biết mệt cho Hàn Thủ Văn quá trình hơn ba mươi năm tham gia cách mạng của ông đầy gian khổ, đầy truyện truyền kỳ.


Mỗi chiều hai thày trò đều chơi ba ván cờ, ai được hai là thắng cuộc, sau đó Hồng Thủy từ tốn kể lại cho Hàn Thủ Văn nghe về cuộc đời mình, Hàn Thủ Văn trở thành một người bạn tri kỷ của thủ trưởng Hồng Thủy. Từng đoạn đời làm rung động lòng người, từng câu chuyện sinh động nghe mà phấn chấn, Hồng Thủy dẫn Hàn Thủ Văn đi sâu vào tìm hiểu mảnh đất Đông bán đảo Đông Dương đau thương mà đáng kính, dẫn anh đến các cảnh mưa bom bão đạn của khởi nghĩa Quảng Châu, đến cuộc trường chinh hai vạn năm ngàn lý gian khổ tuyệt vời, dẫn anh tới Ngũ Đài Sơn buổi đầu kháng Nhật, đến rừng sâu Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp...


Hồng Thủy là người rất giàu tình cảm, nói năng rất hay, mỗi một câu chuyện, mỗi một quãng đời, ông kể lại đều có thanh, có sắc.

Tôi sống chung với Hồng Thủy bảy năm. Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, ông không có thời gian để kể hết đầu đuôi câu chuyện về cuộc đời cách mạng của ông cho tôi nghe. Những điều chi tiết tỉ mỉ tôi biết về ông phần lớn là do bí thư Hàn kể lại cho tôi nghe sau này.


Đoạn đời khi ông đến Trung Quốc lần đầu, tôi cũng được biết qua bí thư Hàn kể lại.
Cuối năm 1924, Hồng Thủy được Nguyễn Công Thu, một liên lạc viên của Hồ Chí Minh tìm đến, với đầy đủ ám, tín hiệu quy định, yêu cầu đi cùng ông bí mật tới Quảng Châu nhằm tập hợp lực lượng cách mạng. Lúc đó điều kiện cách mạng ở Việt Nam chưa chín muồi. Trong nước diễn ra tình hình khủng bố trắng. Nguyễn Công Thu quay lại Trung Quốc chỉ dẫn được theo một mình Hồng Thủy. Họ chuẩn bị vượt biên giới ở khu tiếp giáp Việt Bắc và tỉnh Vân Nam, nơi núi cao rừng sâu, bộ đội biên phòng của Quốc dân đảng bố trí tương đối mỏng, dân hai bên đường biên rất nhiều nhà là thông gia, do đó vượt biên sang cũng như là người đi thăm họ hàng thân thích.


Thế nhưng ở đó địa thế hiểm yếu, phải qua một khu rừng nguyên thủy đầy rắn độc, mãnh thú. Để tránh địch chú ý, họ chỉ mặc một áo cánh màu chàm, cái quần cộc, tay cầm một cái gậy để đề phòng mãnh thú, rắn độc, không có một hành trang nào khác, nhờ dân địa phương dẫn đường, vượt đèo lội suối, qua biết bao gian khổ, hiểm nguy, cuối cùng vượt biên thắng lợi, rồi chuyển về Quảng Châu.


Một lần, trong khi đang say sưa kể lại chuyện đã "chọc tổ ong vò vẽ” Diêm Tích Sơn tại Ngũ Đài, Sơn Tây, không biết tại sao ông bỗng trầm hẳn lại, mặt buồn, hơi rơm rớm lệ, nói với Hàn bí thư:

"Chú Hàn ạ, trong đời tôi, người hiểu nỗi lòng tôi nhất là Trần Kiếm Qua, có thể nói là tim chúng tôi đồng điệu. Nỗi đau lòng nhất của tôi là đến tận giờ cô ta vẫn không thể thứ lỗi cho tôi".

Anh chàng bí thư Hàn trẻ tuổi cúi đầu xuống, không dám nhìn bộ dạng đau thương của thủ trưởng mình. Ông bảo bí thư Hàn đến tìm tôi, nói ông muốn gặp tôi và hai con lần nữa.

Nghe nói Hồng Thủy bị bệnh nan y, lòng tôi rất xót xa. Tại sao bao nhiêu nỗi khốn khổ và bất hạnh lại cứ đè lên vai anh mãi! Tôi muốn ngay lập tức dẫn Tiểu Phong và Tiểu Việt đến thăm anh, để chúng có thể nhìn thấy cha đẻ của chúng một lần cuối. Nhưng nghĩ lại, bệnh của anh nặng như vậy, tôi và các con đến thăm chắc chắn sẽ gây xúc động và kích thích rất lớn, đối với bệnh tình của anh càng không có lợi, gây đau khổ thêm cho anh. Tôi khóc sụt sịt trả lời bí thư Hàn:

"Tôi không thể làm hại tới sinh mạng Hồng Thủy được…”

Mùa hè năm đó, khi đồng chí Hoàng Quốc Việt Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam sang thăm Trung Quốc, Hồng Thủy nhờ ông chuyển lời với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chủ tịch cho ông được về nước. Yêu cầu của Hồng Thủy được Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đồng ý chấp thuận.


Bí thư Hàn mang theo tâm ý của ông đến chỗ tôi ở, hỏi tôi xem có thể ra ga tiễn ông được không. Tôi biết rằng đây là cơ hội cuối cùng để nhìn thấy Hồng Thủy, là "sinh ly từ biệt". Nhưng tôi lại nghĩ đến vợ con Việt Nam của anh sẽ cùng theo anh về nước, lại có biết bao nhiêu thủ trưởng đi tiễn đưa. Tôi ra đưa tiễn, thủ trưởng và các bạn chiến đấu cũ sẽ nhìn anh như thế nào? Một lần nữa, tôi lại cự tuyệt anh.


Tôi nhờ bí thư Hàn mang về cho anh một bức ảnh tôi chụp cùng hai con để anh lưu lại làm kỷ niệm và để anh có thể nhìn thấy những người ruột thịt trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #78 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:05:07 pm »

Khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai và các vị lãnh đạo Trung Quốc đã gặp chia tay thân thiết. Hơn hai trăm vị công thần khai quốc đã gạt lệ tiễn biệt ông.


Nhận được báo cáo về bệnh tình của Hồng Thủy và yêu cầu của ông xin về nước, Thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp thu xếp, lo cho Hồng Thủy về nước. Việc đầu tiên, ông yêu cầu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Bành Đức Hoài và Tổng tham mưu trưởng Hoàng Khắc Thành phê chuẩn cấp cho Hồng Thủy ba vạn nhân dân tệ bằng tiền mặt. Đó là một số tiền lớn, Hồng Thủy kiên quyết không nhận số tiền ấy. Ông nói:

"Trong các đồng chí lãnh đạo Trung ương Việt Nam, lương cao nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người mỗi tháng cũng chỉ nhận ba mươi lăm nghìn đồng, tương đương ba mươi lăm tệ. Các đồng chí khác chỉ nhận được tương đương ba mươi tệ. Làm sao tôi có thể nhận số tiền lớn thế này được!"


Bành Đức Hoài và Hoàng Khắc Thành nói: "Đây là do Trung ương quyết định. Chúng tôi không những chịu trách nhiệm trước đồng chí mà còn phải chịu trách nhiệm trước Đảng và Chính phủ Việt Nam. Điều kiện của Việt Nam hiện giờ còn vô cùng gian khổ, khó khăn rất nhiều. Số tiền này là để đồng chí chữa bệnh, không thể để Đảng và Chính phủ Việt Nam phải gánh vác thêm".

Hồng Thủy không cưỡng nổi, đành phải nhận.

Sau khi về nước, Hồng Thủy cũng không dùng đến số tiền đó để chữa bệnh. Trước mặt vợ con và người thân thuộc ông đã trao lại cho quốc gia.

Thủ tướng đem việc Hồng Thủy phải về nước báo cáo Mao Chủ tịch, Mao Chủ tịch quyết định tự mình sẽ gặp mặt Hồng Thủy để tiễn biệt.

Hôm đó, Mao Chủ tịch, Thủ tướng Chu Ân Lai, Bành đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành v.v… và các vị lãnh đạo Trung Quốc đã ở trong phòng họp của lễ đường quốc hội. Trong một thoáng, khi nhìn thấy Hồng Thủy người suy nhược mặc một bộ quân phục cấp tướng bước vào phòng hội nghị, Mao Chủ tịch lập tức đứng dậy tiến về phía trước. Các đồng chí lãnh đạo khác cũng đứng dậy theo. Mao chủ tịch dùng đôi bàn tay ấm áp nắm chặt tay Hồng Thủy, chú ý nhìn qua khuôn mặt phù thũng của ông, trong lòng tràn đầy yêu mến và luyến tiếc. Người mời anh vào hàng ghế lãnh đạo giữa ông và Thủ tướng Chu Ân Lai, quan tâm hỏi anh:

"Tiểu Hồng, tết Quốc khánh năm ngoái, tôi gặp chú trên lầu thành Thiên An Môn, chú còn rất khỏe, thân hình chắc nịch, thế mà sao nay lại bệnh tật thế này? Chúng tôi đã không chăm sóc chú được tốt, chưa chăm sóc tốt”.

Hồng Thủy vội trả lời:

"Dạ, đâu có ạ, Chủ tịch và Trung ương đã vô cùng quan tâm, chiếu cố tôi. Tôi vẫn thường được gặp Tổng tư lệnh Bành và Tổng tham mưu trưởng Hoàng luôn. Tổng tư lệnh Bành còn đến thăm gia đình chúng tôi. Nguyên soái Diệp là lãnh đạo cũ của tôi nên càng được gặp nhiều”.


Bành Đức Hoài nói chen vào: "Tôi vẫn còn nhớ rõ bóng dáng của Hồng Thủy khi đóng kịch nói, tại Thụy Kim. Lúc đó, Hồng Thủy còn rất trẻ và rất hăng hái!"

Mọi người đều chen vào nói, mỗi người một câu nhớ lại những ngày quen nhau trong những năm tháng chiến tranh.

Mao Chủ tịch quay sang hỏi Thủ tướng Chu Ân Lai tỉ mỉ về bệnh tình của Hồng Thủy, hoàn cảnh gia đình, việc xếp sắp cho vợ con ông ra sao.

Diệp Kiếm Anh nói: "Phía Việt Nam đề nghị chúng ta đưa Hồng Thủy về đến Mục Nam Quan, sau đó mọi việc sẽ do các đồng chí Việt Nam sắp xếp. Chúng tôi đề nghị để đồng chí Hàn Thủ Văn, nhân viên quân y và cảnh vệ sẽ hộ tống Hồng Thủy về tận Hà Nội, bố trí xếp sắp ổn định xong mới quay về nước, Hồ Chủ tịch đã đồng ý Phương án đó".


Mao Chủ tịch rất hài lòng nói: "Đồng chí Hồng Thủy đã cống hiến vô tư suốt mấy chục năm cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc mãi cảm ơn đồng chí”.

Sau đó, người nói với Hàn Thủ Văn:

"Phiền chú nhé, chú hãy săn sóc đồng chí Hồng Thủy thật tốt, đến Việt Nam nếu còn khó khăn gì kịp thời liên lạc với chúng tôi".

Người lại quay sang Hồng Thủy ân cần nói: "Tiểu Hồng, chú về bên đó cố chữa trị cho tốt, bệnh khỏi rồi chúng tôi hy vọng chú sẽ lại trở về”.

Thủ tướng Chu Ân Lai và các đồng chí cùng ngồi đó, Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành... đều cùng trao đổi dặn dò Hồng Thủy như vậy.

Hồng Thủy hiểu rõ đây là lần vĩnh biệt. Lần đầu tiên ông khóc thật sự. Mao Chủ tịch nước mắt rơm rớm, các đồng chí ngồi đó ai cũng chảy nước mắt.

Tối hôm đó, Hồng Thủy đóng cửa phòng bệnh nằm khóc một mình. ông dặn bí thư Hàn đem tất cả huân chương, huy chương, quân hàm, quân hiệu đến cả sao trên mũ, gói lại đặt trong vai của ông. Ông muốn mang tất cả về Việt Nam để lưu giữ làm kỷ niệm.
Theo lời dặn dò của Hồng Thủy, bí thư Hàn xếp sắp lại hành trang cho ông. Cả đời Hồng Thủy ham đọc sách, bốn cái hòm lớn trang bị để hành quân chứa toàn là sách. Khi mở các hòm đó ra có hai mươi bọc sách. Nào cổ kim trong ngoài nước, chính trị, quân sự, thiên văn, địa lý... Có sách được cấp phát, có sách tự mua, có sách do các đồng chí biếu tặng... còn có sách do ông tự viết hoặc dịch ra. Lúc mới giải phóng, vừa mới vào thành, gia đình cán bộ cao cấp mà có nhiều sách như thế không phải là nhiều.


Trước khi về nước, ông yêu cầu gia đình mình chỉ mang theo quần áo đồ dùng cần thiết, còn để lại hết.

Ông đem chiếc áo khoác dài bằng lông da dê của mình, quần áo mùa đông của vợ con và cả các đồ dùng hàng ngày tặng cho các đồng chí ở bên mình còn khó khăn, nhưng bốn hòm sách của ông, một quyển cũng không được để lại. Đó là tài sản quý báu mà ông tích lũy hơn ba mươi năm bằng tâm huyết và cả sinh mệnh của mình. Ông muốn đem tài sản quý báu đó hiến cho Tổ quốc mình.


Khi Hồng Thủy đứng dậy, Bành Đức Hoài, Hoàng Khắc Thành còn trực tiếp trao nhiệm vụ cho bí thư Hàn, người sẽ trực tiếp hộ tống Hồng Thủy, Bành Đức Hoài nói:

"Đồng chí Hồng Thủy bị bệnh rồi, các đồng chí đưa đồng chí ấy về. Khi gặp Hồ Chủ tịch phải báo cáo rõ ràng, đồng chí Hồng Thủy có cống hiến rất lớn cho cách mạng Trung Quốc, do quá vất vả mà sinh bệnh, nhân dân Trung Quốc vĩnh viễn cảm ơn ông."


Hồng Thủy từ khi vào bệnh viện chưa hề về ngôi nhà nhỏ của mình, số 22 phố Thúy Vi ở khu Tân Bắc Kinh. Khi rời Trung Quốc, ông trực tiếp đi từ bệnh viện Bắc Kinh ra ga xe lửa Tiền Môn.


Hồng Thủy được hộ tống theo quy cách do lãnh đạo quốc gia Trung Quốc định. Toa xe ông ngồi là loại xe chuyên xa, Mao Chủ tịch và Thủ tướng Chu ân Lai thường ngồi. Các cơ quan phụ trách đã may cho ông một bộ com lê bằng len màu ghi, một cà-vạt nâu. Mặc bộ đồ đó vào mặc dù bệnh tình trầm trọng, song trông ông vẫn đàng hoàng, khí thế lắm. Bộ tóc đen dày chải mượt, đôi mắt sâu, rất to vẫn sáng quắc như xưa. Suốt đời mình Hồng Thủy rất kiên cường, lạc quan. Mặc dù sức khỏe, tinh lực đã bị hao tổn vì bệnh tình, trước lúc chia tay, ông vẫn giữ phong độ là một người lính. Ông muốn giữ trong ký ức của nhân dân Trung Quốc một Hồng Thủy mãi mãi kiên cường, cương nghị.


Trước thềm ga xe lửa Tiền Môn, Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh, Hoàng Khắc Thành, Tiêu Khắc, Tôn Nghị và hơn hai trăm vị công huân khai quốc, các lãnh đạo Bộ Ngoại giao, các tổng bộ trực thuộc Quân ủy, các quân, binh chủng, các nhân viên công tác của Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc đều tới tiễn ông.


Hồng Thủy tuy mặc đồ tây song trông ông vẫn là một quân nhân uy nghiêm. Đứng giữa Bành Đức Hoài và Diệp Kiếm Anh cùng hơn hai trăm vị thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đi tiễn, Hồng Thủy đã được chụp một tấm ảnh lưu niệm quý báu mang tính lịch sử.


Mọi người ra tiễn lần lượt bắt tay, ôm chặt Hồng Thủy, động viên ông chiến thắng bệnh tật, hy vọng ông có thể trở về cùng góp vào việc xây dựng đất nước Trung Hoa.
Đó là những bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy đã cùng nhau vào chết ra sống trên chiến trường. Đó là những vị tướng đã được tôi luyện trong phong sương khói lửa, rắn như thép, hét ra lửa, thế mà lúc này đây đều nước mắt lưng tròng.


Hàn Thủ Văn đỡ Hồng Thủy lúc đó đã suy nhược bước lên toa xe. Ông cứ đứng mãi ở cửa xe, ánh mắt ông chăm chú nhìn từ đầu đến cuối đoàn người ra tiễn, hy vọng được nhìn thấy Tiểu Phong và Tiểu Việt một lần cuối. ông lại chuyển ánh mắt nhìn vào các bạn chiến đấu cũ của ông trong hơn ba mươi năm qua, nước mắt long lanh ở hai khóe mắt. Ông dùng hết sức bình sinh, cất cao giọng sang sảng, đầy tính chiến đấu cả một đời người, hô lớn:

“Tạm biệt các bạn chiến đấu! Tình hữu nghị Trung - Việt muôn năm!”.

Đoàn xe lửa cất một hồi còi dài bi tráng từ từ lăn bánh rời ga, mọi người lòng lưu luyến, đưa mắt tiễn người bạn chiến đấu đang đi xa mãi mãi.

Đó là ngày 27 tháng 9 năm 1956.
Logged
hoanghahongha
Thành viên
*
Bài viết: 109


« Trả lời #79 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:06:24 pm »

Lần cuối cùng về đến Tổ quốc, ông chỉ còn sống nổi ba tuần. Hồ Chí Minh gạt lệ tiếp ông. Sau khi ông mất, đã cử hành lễ quốc tang có quy mô lớn.


Đoàn xe đặc biệt chạy về hướng nam, đến Nhạc Dương, Hồ Nam thì chuyển hướng về Nam Ninh. Trong địa phận Trung Quốc, cứ đến một ga lớn đều có các vị lãnh đạo Đảng - Chính - Quân địa phương lên xe hỏi thăm, 9 giờ 30 phút tàu đến ga Bằng Tường thuộc Quảng Tây.


Đoàn xe của Quân đội nhân dân Việt Nam sang đón đỗ tại sân ga Bằng Tường. Đoàn xe chạy thẳng về biên giới đi đầu là một xe jeep dẫn đường, Hồng Thủy, bí thư Hàn, bác sĩ Trương Đại Vi, gia đình ông và một số người tùy tùng chia ra ngồi ở ba xe con, đằng sau có một xe ca chở hành lý, hòm sách và một xe ca chở bộ đội cảnh vệ. Đoàn xe qua Mục Nam Quan tiến vào lãnh thổ Việt Nam. Đoàn xe vừa qua đường biên giới, Hồng Thủy yêu cầu dừng xe. Ông xuống xe, đến bên lề đường cúi xuống bốc một nắm đất bùn lẫn cỏ xanh ông nắm chặt bàn tay đặt ngang ngực. ông nhắm mắt lại hít một hơi dài.


Đứa con xa Tổ quốc nay đã trở về, nhưng ai có thể tưởng tượng nổi tướng quân Nguyễn Sơn đã thành một chiếc lá vàng rơi về cội.

Khi đoàn xe về đến Lạng Sơn, Hồng Thủy xuống xe nghỉ. Trên chiếc bàn song mây đã để các thứ hoa quả quê hương để đãi ông: dứa, chuối tiêu, xoài... Hồng Thủy ngồi trên chiếc ghế mây nhấm nháp uống trà, sung sướng ngắm nhìn đất đai của cố hương xanh tươi bốn mùa. Lần đi xa này thấm thoát đã sáu năm rồi. Ông hít lấy hít để hương thơm của cỏ cây xen mùi bùn đất, thoang thoảng không khí trong lành của quê nhà.


Nghe nói, khi tướng quân Nguyễn Sơn về đến nơi, bà con, họ hàng thân thích vây quanh ông. ông cùng với họ hàng, bà con ruột thịt xa lâu mới gặp nay ríu rít chuyện trò, lúc nói tiếng Việt, lúc nói tiếng Trung, có lúc lại nâng cốc cười vui. Lúc đó Hồng Thủy đặc biệt cảm động, lòng vui vẻ, chan hòa, đúng như đứa con xa nhà nay trở về trong vòng tay mẹ.


Hồng Thủy và vợ con Việt Nam của ông được bố trí ở trong một ngôi nhà lầu nhỏ xây kiểu Pháp cách Phủ Chủ tịch không xa. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số cán bộ, tướng lĩnh cao cấp của quân đội đã chờ sẵn ông ở đây. Mọi người trao đổi nói chuyện với nhau rất lâu trong phòng khách của ngôi nhà này.


Ngày hôm sau là 1 tháng Mười, Hồng Thủy đã kỷ niệm ngày sinh thứ bốn mươi tám của mình tại Hà Nội.

Hồng Thủy dẫn bí thư Hàn cùng đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong phòng tiếp khách của Người, Hồ Chí Minh ngắm nhìn vị tướng đa tài đa nghệ, nhớ lại cậu học trò thông minh, đầy năng lực năm nào, xa lâu mới gặp nay lại sắp vĩnh viễn phải chia tay, đau lòng vô hạn. Người nhìn kỹ Hồng Thủy gầy ốm xanh xao lại nhớ từ năm 1923, hai thầy trò đã ngày đêm bên nhau, trải qua bao sóng gió, hai thầy trò cứ ôm nhau khóc.


Được Hồ Chủ tịch trực tiếp quan tâm, Hồng Thủy được đưa ngay vào điều trị tại bệnh viện Hồng Thập tự. Mặc dầu bận trăm công ngàn việc, song Người luôn quan tâm theo dõi bệnh tình của Hồng Thủy.


Ngày 8 tháng Mười, bí thư Hàn sau khi đã hoàn tất mọi việc hộ tống Hồng Thủy do thủ trưởng Quân ủy Trung ương Trung Quốc trao cho đã vào bệnh viện Hồng Thập tự chào chia tay với Hồng Thủy, người thủ trưởng kính yêu của mình. Khi thấy bệnh tình của Hồng Thủy xấu đi rất nhanh, ông cảm thấy vô cùng thương xót. Hồng Thủy nhờ bí thư Hàn thay mình cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc, cảm ơn các thủ trưởng và đồng chí.


Bí thư Hàn hiểu rất rõ tâm tư của Hồng Thủy, bên giường bệnh ông ghé đầu hỏi nhỏ:
"Thủ trưởng còn điều gì muốn nói với mẹ con Tiểu Phong không?"

Lúc này, Hồng Thủy rất bình tĩnh, trong hốc mắt đã sâu hõm của ông long lanh một giọt lệ. Ông cố gắng cựa quậy người, cố gắng lấy hơi, rồi nói chậm, đứt quãng:

"Chú Hàn, nhờ chú nói lại với Trần Kiếm Qua, tôi xin lỗi cô ấy... Trần Kiếm Qua rất kiên cường... những năm chiến tranh, điều kiện rất gian khổ, cô ấy đều vượt qua... tôi không lo về sinh hoạt, nếu có vấn đề gì bảo cô ấy tìm tổ chức... chỉ mong cô ấy nói cho các con tôi Tiểu Phong và Tiểu Việt, cha của chúng suốt đời tận sức vì tình hữu nghị Trung - Việt... hy vọng các con tôi cố hết sức làm như thếch đời sau... hy vọng có một ngày Tiểu Phong của tôi... Tiểu Việt của tôi... có thể đoàn tụ với chị, em trai và các em gái Việt Nam của chúng."

Tiếng nói của Hồng Thủy nghẹn lại.

Bí thư Hàn ghi lòng tạc dạ lời dặn của Hồng Thủy, ông đứng dậy cáo biệt Hồng Thủy. Hồng Thủy cố gắng ngồi dậy, đón nhận cái chào theo quân lễ cuối cùng của bí thư Hàn với người tướng của mình. Nhìn theo bóng dáng của Hàn Thủ Văn đi xa, ông thấy trong người rực hẳn lên, mối liên hệ cụ thể có thể trông thấy được giữa ông và Trung Quốc đã dứt, nước Trung Hoa quen thuộc nay thành một quốc gia xa xôi, một đời phấn đấu nay đã thành bức tranh mờ mờ trong ký ức, bay lên không trung.


Trong mắt của Hồng Thủy ươn ướt một màu sương, tích lại thành những giọt lệ từ từ lăn xuống.

Trong ngày cuối đời, Hồng Thủy không thể ăn uống gì nổi. Ông không những bị cơn đau thể xác giày vò mà trong lòng cũng còn nhiều điều day dứt: Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào ruột thịt còn bị sông Hiền Lương chia cắt thành hai miền Nam Bắc, tám đứa con trai, gái, đứa ở Trung Quốc, đứa ở Việt Nam bao giờ chúng mới có thể đoàn tụ được...

Hồng Thủy về nước vẻn vẹn được hai mươi ngày, bệnh tật đã cướp đi cuộc sống của ông.

Ba giờ ba mươi phút chiều ngày 21 tháng Mười năm 1956, Hồng Thủy tạ thế, mới bốn mươi tám tuổi đời.

Đài phát thanh Việt Nam loan báo tin tướng Nguyễn Sơn tạ thế với đồng bào cả nước. Ngày 22 tháng Mười, Đảng, Chính phủ Việt Nam và nhân dân Hà Nội đã tổ chức lễ quốc tang quy mô lớn nhất hồi đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến viếng và tặng vòng hoa. Tham dự lễ truy điệu có Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bố trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên giáp, cùng các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước, Quốc hội, các đồng chí phụ trách các cơ quan quân dân chính đảng và các đoàn thể quần chúng, đại biểu quân đội của Chiến khu Bốn và Chiến khu Năm nơi Hồng Thủy đã từng công tác.


Trong lễ tang, đi đầu là một xe chở đầy hoa viếng, tiếp sau xe mang quân kỳ "Quyết thắng”, xe chở linh cữu của Hồng Thủy rồi đến xe tiêu binh hộ tống. Đi đưa tang Hồng Thủy là một đội hình xe nhìn không hết, mọi người trong tiếng khóc đau thương đã vĩnh biệt một "Tướng quân nhân dân”.


Sau lễ tang di hài của Hồng Thủy được đặt tại nghĩa trang ngoại thành Hà Nội.

Khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, tôi không thể đi tiễn anh được, song lòng tôi không phút giây nào không nhớ tới anh. Tôi biết Hồng Thủy không lâu nữa sẽ ra đi mãi mãi. Tôi âm thầm khóc vì anh. Lòng tôi tràn đầy nhớ thương và đau khổ nhưng biết thổ lộ cùng ai? Suốt ngày tôi hốt hoảng không yên, người ngồi trong phòng làm việc nhưng tâm trí để đâu đâu. Tôi chỉ có thể lặng lẽ đếm từng ngày từ khi Hồng Thủy rời Trung Quốc.


Một hôm, tôi đang giao ban có người mang tin Hồng Thủy đã tạ thế báo cho tôi. Tim tôi đập dồn dập, nước mắt ào ra như mưa. Tôi không giữ nổi tình cảm riêng quá đau đớn, tôi kêu thất thanh trước tất cả mọi người trong phòng làm việc.

"Anh ấy mới có bốn mươi tám tuổi đầu? Sao mà anh đi sớm thế..."

Lúc đó, tôi không những chỉ đau thương mà còn hối hận nữa.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM