hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #80 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:07:59 pm » |
|
Chương XII NHỮNG NĂM THÁNG ĐAU THƯƠNG Hồng Thủy đã vĩnh viễn ra đi. Trong những đêm dài mất ngủ, tôi âm thầm suy nghĩ, nhớ thương. Hồng Thủy đã ra đi, ra đi vĩnh viễn, để lại cho tôi nỗi nhớ thương vô hạn và những đêm dài mất ngủ. Có đồng chí trách tôi là oán hận Hồng Thủy thái quá, sau khi chia tay không nên đối xử lãnh đạm với anh như vậy Việc Hồng Thủy mất sớm, tôi rất đau lòng. Thử nghĩ, cự tuyệt người chồng mà mình yêu quý thì phải chịu sự giày vò đau khổ nặng nề đến thế nào. Tôi biết, Hồng Thủy rất trọng tình cảm. Sự lãnh đạm của tôi khiến cho trái tim anh bị day dứt, khổ đau. Tôi không cho anh gặp mặt các con, đồi với anh chẳng khác cắt đứt mạch máu. Ngoài đau khổ ra, trong đáy lòng tôi là hối hận. Tự trách: Việc Hồng Thủy mất sớm với tôi không phải là không có quan hệ. Bình tâm lại mà xét, trừ việc về Việt Nam lại lập gia đình, việc đó về mặt tình cảm khó chấp nhận ra, tôi không có điểm gì không vừa ý với Hồng Thủy. Ở anh, tư duy mẫn tiệp, thẳng thắn, kiên cường, cầu tiến hiếu học, hoạt bát cởi mở, đối với tôi rất tế nhị, đối với con sâu nặng nghĩa tình. Nhìn thấy anh bộ dạng rầu rĩ, đau khổ và mâu thuẫn, tôi không phải không tan nát cõi lòng. Thế nhưng tôi không hối tiếc về quyết định của mình. Nếu tôi không hận lòng, hạ quyết tâm tự hy sinh, thì vợ con Việt Nam của anh sẽ ra sao? Như vậy không phải Hồng Thủy gặp nỗi đau khổ khác cũng như thế sao? Khi rút khỏi Diên An, tôi mang theo hai con vượt qua hành trình ba nghìn lý (1500 km) trong ba năm, khổ cực biết bao. Thế nhưng trong trái tim tôi vẫn le lói tia hy vọng, vẫn tin rằng sẽ có ngày tôi và các con được đoàn tụ với Hồng Thủy. Sau khi chia tay với Hồng Thủy, tôi cố rũ bỏ nỗi ràng buộc vì đau khổ, không nghĩ rồi cuộc đời sẽ ra sao, lao mình vào công tác để xóa nỗi đau lòng. Muốn nói thế nào cũng được, vì lúc đó Hồng Thủy còn sống. Không cần biết số phận mình ra sao, nhưng tôi tin rằng máu sẽ chảy về tim, rồi có ngày các con của Hồng Thủy sẽ đến cùng anh. Thế nhưng giờ đây, Hồng Thủy đã vĩnh viễn rời xa chúng tôi. Trong lòng tôi chưa bao giờ hoang mang như thế. Còn có gì xé nát trái tim tôi hơn là sự thương tiếc và hối hận. Làm thế nào để đối mặt với cuộc sống từ nay về sau? Có nên nói cho hai con còn ấu thơ về tin Hồng Thủy đã mất không? Nhiều đêm dài tôi đã suy nghĩ miên man không sao nhắm nổi mắt. Hai đứa con tôi còn nhỏ, thời gian gần gũi với cha rất ngắn, song ký ức thì rất đẹp. Tôi không thể phủ bóng đen u ám, đau khổ lên hai trái tim trẻ thơ. Khổ sở về vật chất trong sinh hoạt chẳng tính làm gì, tâm linh bị cào xé là điều người ta khó chịu nổi? Nỗi bi thương và ức chế của thời kỳ tang tóc, nỗi khổ tâm không biết nói cùng ai đã tích lũy trong lòng tôi. Bụng đau quặn từng đợt kịch liệt, sốt cao đột nhiên, chỉ trong một đêm da dẻ và mắt tôi đã vàng như nghệ. Tôi đổ bệnh rồi, phải vào nằm viện, bác sĩ chẩn đoán tôi bị viêm gan cấp. Tôi nằm trên giường bệnh, vừa truyền dịch vừa suy nghĩ, tự nhắc mình: Trần Kiếm Qua, không nên quá đau thương như vậy? Nếu ngã xuống rồi còn hai đứa con sẽ ra sao? Chúng đã mất cha, không thể để chúng không còn mẹ. Vì các con, ta phải đứng vững. Mình đã là đảng viên bao nhiêu năm, mới bốn mươi hai tuổi, đường đời còn dài, còn nhiều việc cần làm. Mình phải vững vàng lên, nhìn thẳng về phía trước. Bí thư Hàn sau khi từ Việt Nam trở về nước đã đến thăm tôi mấy lần, nói lại những lời Hồng Thủy ủy thác và di nguyện. Bí thư Hàn đã theo Hồng Thủy công tác hai năm. Ngoài việc hàng tháng đưa sinh hoạt phí lại cho Tiểu Phong, Tiểu Việt ra, phàm các việc đưa Hồng Thủy đến thăm tôi, hoặc cần trao đổi với tôi điều gì, đều qua bí thư Hàn. Tình cảm giữa hai chúng tôi, anh đều chứng kiến và cũng rất khổ tâm. Mỗi lần đến thăm tôi ở bệnh viện, anh đều lựa lời an ủi tôi vài câu: "Chị Trần ơi, về việc chị và thủ trưởng Hồng Thủy phải chia tay, chúng em không ít người không đau lòng, tiếc thay cho chị. Chị và thủ trưởng là bạn bè, cứng nhau chiến đấu, đồng cam cộng khổ, cùng chịu hoạn nạn, trở thành vợ chồng. Nếu không vì được tin chị và các cháu ngộ nạn trên đường rút khỏi Diên An thì chắc ông cũng đã không tái lập gia đình. Huống hồ Việt Nam có tình hình riêng của nước họ, thủ trưởng tái lập gia đình là do tổ chức quyết định và giới thiệu: trong chiến tranh chống Pháp, thủ trưởng ngày đêm phải lo nghĩ trăm phương nghìn kế, cống hiến lớn cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam, về sinh hoạt cũng phải có người chăm sóc. Sự việc này xảy ra trong những năm tháng đặc biệt, trong hoàn cảnh đặc thù, thủ trưởng cũng có nhiều khổ đau, không nói ra được. Lại nói, thủ trưởng đã vì cách mạng Trung Quốc cống hiến đến hơi thở cuối cùng. Em thấy Mao Chủ tịch, Chu Tổng tư lệnh, Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên soái Diệp Kiếm Anh và các vị lãnh đạo Trung Quốc khác đều vô cùng yêu mến ông... Thủ trưởng không còn nửa, chị nên giữ gìn sức khỏe, đừng nên oán hận ông nữa”.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #81 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:08:34 pm » |
|
Bí thư Hàn là một người có tâm, mỗi lời của anh đều thấu lý đạt tình. Tôi cũng luôn nghĩ lại: Đúng vậy, có một số sự tình không thể chỉ dừng lại ở tình cảm cá nhân mà xét đoán được, cần phải khách quan hơn, phải đặt mình vào đó mà thứ lỗi cho Hồng Thủy.
Hồng Thủy cương quyết, thông minh, tính tình thẳng thắn. Nhưng thông minh, thẳng thắn thì cuộc đời lại gian truân. Nhớ lại, Hồng Thủy đã ba lần tới Trung Quốc, ba lần vượt "Núi tuyết - Thảo nguyên", ba lần bị khai trừ đảng tịch... Trong đời người ngắn ngủi, anh đã nếm đủ khổ đau, nhưng anh vẫn trung kiên bất khuất, không nản lòng tin. Đằng sau cái bề mặt: tinh thần kiên nhẫn không xao xuyến, tính cách vui vẻ, lạc quan, phải thừa nhận anh đã chịu áp lực nội tâm rất nặng. Nếu không, anh chẳng thể rời cõi nhân gian trong lúc còn trẻ như thế này.
Nhờ các bác sĩ, y tá tận tình chạy chữa và chăm sóc, bệnh tình của tôi đã nhanh chóng khỏi. Mỗi lần qua khỏi bệnh nặng hiểm nghèo cũng coi như được cứu sống lại khiến cho con người ta suy xét thêm nhiều về đạo lý cởi bỏ được những vướng mắc trong lòng, hóa giải được nhiều ân oán.
Nhận thức và lý giải được về Hồng Thủy, nỗi đau khổ trong tâm can tôi cũng vơi dần. Tôi nghĩ, bây giờ chỉ còn cách vui vẻ, hết lòng công tác cho tốt, dạy dỗ hai con nên người, mới có thể được cấp trên và mọi người quan tâm giúp đỡ, mới có thể cáo biệt được với Hồng Thủy nơi suối vàng.
Có thể nói, những năm tôi công tác trên trận tuyến giáo dục mẫu giáo có thành tích cũng là những năm tôi bị những đả kích về tinh thần lớn nhất và cũng là những năm nội tâm đau khổ nhất.
Sau khi được điều từ Viện Mẫu giáo 1/6 về Sở Giáo dục Bắc Kinh, trước tiên tôi làm Khoa trưởng Khoa Giáo dục mẫu giáo, sau kiêm nhiệm Chủ nhiệm văn phòng Sở Giáo dục, lại được bầu vào Thường vụ Hội liên hiệp phụ nữ Bắc Kinh. Năm 1958, Khoa Giáo dục mẫu giáo đổi thành vụ, tôi lại làm Vụ trưởng Vụ Giáo dục mẫu giáo. Đến trước "Cách mạng văn hóa", tôi đã phải kiêm nhiệm sáu loại chức vụ. Điều đó thực trái với nguyện vọng bản thân, tôi đã nhiều lần yêu cầu lãnh đạo sở tốt nhất cho tôi thôi chức Chủ nhiệm văn phòng của Sở, để tôi chuyên tâm vào công tác giáo dục mẫu giáo vì tôi rất yêu quý sự nghiệp giáo dục mầm non này.
Sau khi nước Trung Hoa mới được thành lập, sự nghiệp giáo dục mẫu giáo của thành phố Bắc Kinh phát triển nhanh vùn vụt. Năm 1949, khi Bắc Bình vừa được giải phóng, các loại vườn mẫu giáo chỉ có vẻn vẹn mười lăm vườn, thu nhận được hơn một ngàn cháu nhỏ. Đến năm 1958, các loại hình vườn mẫu giáo đã tăng lên hơn năm nghìn tám trăm cơ sở. Hệ thống giáo dục, cơ quan xí nghiệp, cư dân ở các đường phố, các công xã nhân dân đều lập các vườn mẫu giáo, số các cháu được gửi đến cũng tăng vọt gần bốn trăm nghìn. Số lượng các vườn trẻ, mẫu giáo và số các cháu được gửi đều tăng gấp bốn trăm lần trước giải phóng. Hoàn cảnh và điều kiện giáo dục cũng được cải thiện đáng kể.
Khi được điều về quản lý công tác giáo dục mẫu giáo, tôi phát hiện lực lượng giáo viên dạy ở vườn trẻ, mẫu giáo thiếu nghiêm trọng nên đã đề xuất vấn đề này ở Hội nghị tổ chức Đảng của Sở, hy vọng lãnh đạo coi trọng và giải quyết. Năm 1955, nhờ sự nỗ lực của các bộ môn có liên quan Trường Sư phạm giáo dục mẫu giáo Bắc kinh chính thức thành lập. Đó là sự bảo đảm đáng tin cậy cho việc cung cấp lực lượng giáo viên mẫu giáo được huấn luyện chuyên môn có chất lượng cao. Để nâng cao trình độ giáo dục cho các giáo viên, nhân viên mẫu giáo đang tại chức, chúng tôi mở các lớp tập huấn ngắn ngày với các loại hình khác nhau. Năm 1958, trên cơ sở những lớp tập huấn này đã thành lập Trường Chuyên tu giáo dục mẫu giáo Bắc Kinh.
Để tăng cường sự chỉ đạo công tác giáo dục mẫu giáo toàn thành phố, năm 1955, Sở Giáo dục Bắc Kinh thành lập phòng nghiên cứu giáo dục mẫu giáo do Vụ Mẫu giáo phân công quản lý. Phòng nghiên cứu thành lập không lâu sau biên tập một tập san tên là Người bạn của giáo viên mẫu giáo để chỉ đạo công tác này trong toàn thành. Phản ánh của độc giả cả nước và Bắc Kinh về tập san này rất tốt. Từ 1959 đến 1965, chúng tôi còn hợp tác với Đài phát thanh nhân dân Bắc Kinh mở một chương trình phát thanh chuyên đề về giáo dục mẫu giáo được các đồng nghiệp ở Bắc Kinh hoan nghênh.
Tôi nghĩ, sinh mệnh của một con người nếu gắn liền được với sự nghiệp mà mình yêu quý, tầm mắt sẽ mở rộng, công việc bên mình sẽ làm không hết, đồng thời cũng từ sự nghiệp đó đạt được lạc thú vô tận.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #82 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:12:42 pm » |
|
"Mẹ ơi, kháng Mỹ viện Triều kết thúc rồi sao mãi không thấy ba về?” trước câu hỏi đó của con trẻ, tôi bất đắc dĩ phải nói rõ thực tình.
Sau khi Hồng Thủy mất, tôi nén chặt trong lòng nỗi đau khổ, nỗi nhớ thương, trước mặt các con cố gắng giữ vẻ bình thản.
Trẻ con trai thường hay nghịch ngợm. Cứ mỗi chiều thứ bảy, hai anh em vừa ra khỏi trường là như hai con chim sổ lồng, vừa đi vừa chơi đùa, đến tối mịt mới về đến nhà. ăn cơm tối xong, làm vệ sinh cá nhân rồi leo lên giường một lát đã ngủ say. Chiều chủ nhật lại vào trường. Cứ thế, sau khi Hồng Thủy đã mất gần hai năm, tôi vẫn kiên cường giừ kín.
Những năm 50, điều kiện nhà ở của cán bộ nhân viên cơ quan thuộc thành phố Bắc Kinh còn tương đối kém. Như tôi, cán bộ cấp vụ trưởng cũng chỉ được một gian phòng nhỏ 12 m2. Một cái giường to, một cái bàn có ba tầng ngăn kéo, một cái tủ bằng vải dày, một cái bàn ăn nhỏ và bốn cái ghế ăn, đó là toàn bộ gia sản của tôi. Tôi không hề so sánh với các gia đình khác, cũng không hề có cảm giác thua kém. Ở những năm đó, so bì điều kiện sinh hoạt là một việc không chính đáng, thậm chí còn đáng xấu hổ. Đối với khó khăn về sinh hoạt, không bao giờ tôi phàn nàn trước mặt các con vì không muốn trái tim non trẻ của chúng lưu lại những nặng nề của cuộc sống.
Các con tôi dần dần lớn lên. Đối với mọi sự vật chung quanh, chúng đã độc lập phân tích, có năng lực giải quyết. Các con có lúc bất chợt hỏi tôi:
"Mẹ ơi, ở lớp con, bố của bạn... là chí nguyện quân, ông ấy đã từ Triều Tiên trở về, sao ba mãi không về hả mẹ?”
Đối với câu hỏi của các con như vậy, tôi thường dùng lý lẽ chiến tranh Triều Tiên còn chưa kết thúc để giấu các con. Song tôi biết rằng cái kế này cũng không thể dùng lâu dài.
Căn cứ vào "Hiệp định đình chiến Triều Tiên", cuối năm 1958, toàn bộ chí nguyện quân Trung Quốc rút khỏi Triều Tiên. Lúc này, Tiểu Phong đã học trung học cơ sở năm thứ hai, Tiểu Việt đã tốt nghiệp tiểu học. Trước các câu hỏi dồn của các con, tôi không còn cách nào để giải thích, đành phải nén đau, mở vết thương lòng, nói rõ sự thật. Tôi nghĩ, Tiểu Phong đã mười bốn tuổi, tới tuổi vào đoàn. Hồng Thủy mới mười lăm tuổi đã tự mình đi Pháp để tìm chân lý và từ đó bước lên đường cách mạng. Tôi, mười ba tuổi, đã hướng về cách mạng. Trong cuộc khủng bố trắng, khi Đại cách mạng thất bại, đã dám vào Tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng ở Sơn Tây để thăm người cách mạng. Ngày nay, các cháu được nuôi trong lồng kính cũng cần phải để cho chúng hiểu trách nhiệm trên vai mình. Đem thân thế của cha chúng nói rõ với chúng, báo tin cha chúng đã mất, chắc chắn chúng sẽ đau khổ, nhưng từ nay về sau sẽ có lợi cho sự tiến bộ của chúng, làm kích động chí khí phấn đấu, khiến chúng sẽ nỗ lực chuyên cần học tập hơn.
Một buổi chiều thứ bảy, tôi lấy trong tủ vải ra hai tấm ảnh lồng kính nhỏ, một tấm ảnh Hồng Thủy mặc bộ quân phục cấp tướng chụp nửa người, còn tấm kia là một bức ảnh duy nhất chụp chung ba cha con. Tôi lau mặt kính của hai tấm ảnh, ngắm nghía hồi lâu, sau đó đặt chúng vào giữa chiếc bàn ăn nhỏ. Tôi ngắm thật kỹ Hồng Thủy ở trong tấm ảnh, đợi hai con tan học trở về.
"Tiểu Phong, Tiểu Việt, các con nay đã lớn rồi. Không phải các con vẫn thường hỏi mẹ bao giờ ba trở về? Hôm nay, mẹ sẽ nói với các con về chuyện của ba con”.
Các con tôi thấy không khí trong gia đình hôm nay không bình thường, ngơ ngác nhìn tôi. Tôi cố gắng nén tình cảm của mình, thế nhưng "chuyện của ba con" tôi đã không biết bắt đầu như thế nào.
"Cha của các con sẽ không trở về nữa. Hai năm trước, ba con đã mất ở Việt Nam rồi.." Tôi không nói tiếp được nữa, nước mắt chảy giàn giụa. Các con tôi sững người ra một lát rồi òa lên khóc nức nở. Nhìn thấy bộ mặt trẻ thơ của chúng đầy nước mắt đau thương, tôi thấy như tan nát cả lòng.
Khóc thương tâm nhất là Tiểu Việt. Nó được gần cha vẻn vẹn chỉ có mấy ngày. Cho đến khi nó hiểu biết, khi bắt đầu khao khát tình phụ tử thì cuộc sống đã đáp lại một cách tàn khốc vô tình.
Tiểu Việt đã hỏi thầy giáo chủ nhiệm lớp một câu hỏi kinh thiên động địa:
"Thưa thầy, các bạn học của con đều có ba, tại sao con lại không có ba ạ?"
Cho đến tận nay, chỉ cần nhớ lại chuyện đó, lòng tôi vẫn đau như cắt.
Báo cho các con tin Hồng Thủy chết là ý tôi muốn chúng càng phải kiên cường để chúng cũng giống Hồng Thủy, suốt đời ngay thẳng mà tiến thủ, không phải cầu xin ai. Thế là tôi kể lại thân thế của Hồng Thủy câu được, câu chăng cho các con nghe: Hồng Thủy mới mười sáu tuổi đã tới Trung Quốc, ba lần bò "Núi tuyết, vượt "Thảo nguyên"; từ việc ông tham gia tám năm kháng chiến đến việc ông chỉ huy lãnh đạo năm năm trong chiến tranh kháng Pháp; từ sinh hoạt học tập ở Trường Quân sự Hoàng Phố, rồi tại Trường Đại học Kháng chiến ở Diên An đến là học viên ưu tú ở Học viện Quân sự Nam Kinh... tôi tạo lại hình tượng một chiến sĩ chủ nghĩa quốc tế đã tự nhận công việc giải phóng toàn nhân loại. Đó chính là người cha đẻ đã quá cố của chúng - Hồng Thủy.
Điều an ủi tôi nhất là Tiểu Phong và Tiểu Việt không vì chuyện mất cha mà hư hỏng. Chúng như được tiếp sức từ cha mình, phấn đấu học tập, tích cực tiến thủ. Năm 1960, Tiểu Phong do có thành tích học tập xuất sắc nên được lên thẳng cấp III (phổ thông trung học) ở Trường Trung học thứ 4 Bắc Kinh. Hai năm sau, Tiểu Việt cũng thi đỗ vào trường này.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #83 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:14:29 pm » |
|
Trong hội phê đấu của "Cách mạng văn hóa”, tôi chỉ cúi đầu chứ không khom lưng vì suốt đời tôi vẫn thẳng lưng.
Sau khi "Cách mạng văn hóa" bắt đầu, giới giáo dục bị đánh đầu tiên. Cũng như nhiều cán bộ cũ khác, tôi cũng bị đả kích. Trong Sở Giáo dục Bắc Kinh, tôi chỉ là cán bộ bậc trung, tôi tự nhủ trong công tác mình không có sai lầm về đường lối nên vẫn rất thản nhiên.
Tháng Ba năm 1967, sau cái gọi là sự kiện "61 tên phản bội" bị bộc lộ, toàn quốc nổi lên một phong trào hung mãnh "bắt phản bội, tóm gián điệp" (đặc vụ). Rất nhiều các đồng chí trước giải phóng đã bị bọn phản động Quốc dân đảng bắt giam cho đến các đồng chí hoạt động bí mật trong lòng địch, nếu không bị coi là phản bội thì cũng bị bôi nhọ là gián điệp (đặc vụ). Có một thời, ở hai bên các đường phố chính của Bắc Kinh hoặc trên tường một số nhà cao tầng đều vẽ đầy các dòng chữ lớn "Vạch mặt tên phản bội...", "Đào bật tên đặc vụ của Quốc dân đảng... đã chui sâu vào hàng ngũ cách mạng”.
Năm 1935, tôi đã bị bắt ở Bắc Bình cho nên cũng không tránh khỏi tai ương này. Sau mưa thu lất phất, gió thu hiu hiu thổi, đường Vạn Lý lá rụng bay xào xạc. Một đêm, ở trên tường nhà trụ sở của Sở Giáo dục Bắc Kinh ở Lục Bộ Khẩu, đường Trường An; ở hai bên cửa của tòa nhà lớn Bắc Kinh Điện Báo; ở trên panô quảng cáo của Viện Điện ảnh thủ đô, xuất hiện biểu ngữ lớn đập vào mắt người xem "Đả đảo tên đại phản bội Trần Kiếm Qua”. Tôi chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao thì phái tạo phản ở Vụ Giáo dục mẫu giáo đã tuyên bố tôi bị cách ly để thẩm vấn, đeo cho tôi cái tội danh gọi là "Tội phạm có lịch sử phản bội".
Tôi nghiêm chỉnh nói với phái tạo phản, tôi tuy đã có bị bắt nhưng không phải là kẻ phản bội. Trước hết, khi bị bắt, tôi chưa phải là đảng viên Cộng sản, sau khi bị bắt không bán rẻ đồng chí, và tôi cũng không chịu viết bản tự thú.
Phái tạo phản hung hăng nói: “Trần Kiếm Qua, đừng có dẻo mồm nói láo, tài liệu có liên quan về việc mày bị giam ở nhà lao Quốc dân đảng, chúng tao đã tra xét trong hồ sơ lưu trữ của địch, Ngụy của Sở Công an thành phố. Mày còn dám không nói thật!" Tôi giận điên người lên đáp lại họ: "Các người đã tra cứu hồ sơ lúc tôi bị bắt thế thì tốt quá rồi? Thế các người có thấy tài liệu nào về việc Trần Ngọc Anh khai báo bán rẻ đồng chí và có bản tự thú không?"
Phái tạo phản về lý lẽ bị đẩy đến chân tường, song vẫn cứ khăng khăng:
"Khi bị bắt, mày đã nhận tham gia "Xã Liên", đấy là hành vi tự thú rồi!"
Số người trẻ tuổi ấy chẳng hiểu gì về giai đoạn lịch sử đó cũng không cần nghe giải thích, không cho bào chữa, tôi bị đẩy vào loại người "phản bội, đặc vụ, hắc bang, phái đi con đường tư bản chủ nghĩa".
Sau khi bị liệt thành "phản bội", tôi thường bị lôi đi phê, đấu. Trong Sở Giáo dục, bị phê đấu nhiều nhất là Giám đốc sở Khổng Quốc Lương. Bình thường ông là người dám nghĩ, dám làm, dũng cảm phê bình, lại là người lãnh đạo cao nhất của Sở Giáo dục, cứ theo luận điểm thời đó là phái đương quyền tối cao trong Sở bị phê, bị đấu là lẽ đương nhiên. Phái tạo phản có lúc dẫn ông vào thành phố phê đấu, có lúc lại kéo về khu. Giám đốc Khổng bị kéo đi đâu thì tôi cũng bị kéo thẹo đến đấy để "bồi đấu” (đấu thêm).
Trong hội phê đấu quần chúng của hệ thống giáo dục mẫu giáo của Bắc Kinh thì tôi lại là người bị đấu chính, lãnh đạo sở lại là "bồi đấu”.
Tội phạm chủ yếu của tôi bị quy ngoài vấn đề phản bội ra, phái tạo phản còn phê bình tôi sa vào đường lối giáo dục của "chủ nghĩa xét lại". Vì trong Hội nghị viện trưởng các viện mẫu giáo Bắc Kinh tôi đã từng phát biểu, trong giáo dục các cháu mẫu giáo còn quá bé, chẳng hiểu đấu tranh giai cấp là cái gì cả, không nên nêu các yêu cầu không sát thực tế với các cháu, nên quán triệt phương châm giáo dục của Đảng: trong vườn mẫu giáo thể dục là hàng đầu. Cần phát triển toàn diện đức, trí, thể. Phái tạo phản cho tôi là mạt sát đấu tranh giai cấp, đem các bông hoa của Tổ quốc bồi dưỡng thành mầm mống của chủ nghĩa xét lại.
Đối với người khác, tôi giữ thái độ "thực sự cầu thị" để phản ánh, không chịu theo sự hoạch định của phái tạo phản để cung cấp các chứng cớ giả vu oan cho các đồng chí cũ khác, tôi bị chụp mũ là "thái độ không tốt", "không thật thà". Vì không theo ý đồ của phái tạo phản là tố cáo lãnh đạo sở, tôi lại thêm một tội nữa là "phái bao che cho bọn đi con đường tư bản".
Khi phái tạo phản phê đấu tôi, tôi kiên trì chỉ cúi đầu không khom lưng. Trong một lần họp mặt phê đấu, một kẻ trong phái tạo phản chủ tọa thấy tôi không chịu khom lưng, hầm hầm đi xuống đấm tôi một cái thật mạnh. Vì không chuẩn bị tinh thần trước, tôi ngã nhào xuống sàn. Tôi lồm cồm bò dậy song vẫn chỉ cúi đầu, không khom lưng.
Tôi nghĩ mình không phải là kẻ phản bội, cũng không phải là "phần tử tam phản". Trong công tác, tôi hoàn toàn chấp hành nghị quyết và quyết định của Đảng, quán triệt đường lối giáo dục của Đảng. Tại sao lại phê, đấu tôi? Lại bắt tôi phải khom lưng như phạm nhân? Tôi rất giận, kiên quyết không phục tùng, vì cả đời tôi, lưng tôi lúc nào cũng thẳng.
Lúc đầu, trong cuộc vận động này, thấy các hành động quá trớn của một số người, tôi còn coi như có thể lý giải được nhưng qua một thời gian sau, có nhiều đồng chí lãnh đạo bị đấu đến bị thương, bị chết, thậm chí chết thảm thương, tôi cảm thấy rằng mục đích của cuộc vận động này là đối với người không phải đối với công việc, là chỉnh người chứ không phải chỉnh đốn tư tưởng, do đó sinh ra bất mãn và chống lại.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #84 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:15:20 pm » |
|
Tháng Mười một năm 1968, Sở Giáo dục Bắc Kinh bị quân quản. Tôi và cán bộ, công nhân, viên chức của Sở Giáo dục Bắc Kinh bị đưa đi đến Sông Sa, huyện Xương Bình, Bắc Kinh để tiến hành "Đại học lao động” đấu, phê, cải, sau đó lại bị tập trung về Trường Đảng vào "Ban Học tập". Suốt mười bốn năm dài, tôi bị tước đoạt quyền lợi được làm việc cho Đảng. Khi nhìn thấy các đồng chí khác bận rộn công tác còn mình ngồi không trong lòng không yên nổi. Trong lúc đang thời "niên phú lực cường” mà bị mất đi cơ hội được làm việc, không được cống hiến cho dân, tôi cảm thấy đau lòng vô hạn.
Tháng 1 năm 1980, do tổ chức Thành ủy trực tiếp bố trí, tôi được khôi phục lại công tác và được bổ nhiệm làm Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Kinh. Cũng không ngờ tới, một người đã sáu mươi sáu tuổi như tôi lại tiếp tục trở về công tác. Đó là sự coi trọng công tác giáo dục mẫu giáo, cũng là tín nhiệm tôi. Tôi vô cùng cảm ơn tổ chức Đảng đã chú ý tới mình.
Sau khi bước lên cương vị lãnh đạo Sở Giáo dục Bắc Kinh rồi cần phải đối xừ ra sao với những đồng chí đã đấu mình trong "Cách mạng văn hóa"? Đó là một sự khảo nghiệm đồi với tôi về trình độ tư tưởng và đức độ.
Một Viện trưởng Viện Mẫu giáo cũng bị phê đấu với tôi đã hỏi:
"Giám đốc Trần, chị có hận những người đã đấu chúng ta không?"
Tôi trả lời: "Không hận."
Chị ta nói: "Tôi thì tôi hận."
Thấy tôi nhíu lông mày, chị ta liền giải thích nói:
"Giám đốc Trần, tôi vốn không tính toán chuyện ân oán cá nhân, chỉ cảm thấy một số người thật đáng hận. Bọn họ vì để tỏ ra mình là cách mạng, không đếm xỉa lương tâm làm hại người khác".
Tôi nhẫn nại nói cho chị hiểu trong hệ thống giáo dục mẫu giáo của chúng ta, số người trẻ tuổi nhiều, thiếu kinh nghiệm đấu tranh chính trị, trong điều kiện lịch sử như "Cách mạng văn hóa", một số người bị kích động biểu hiện thiên lệch, thậm chí làm một số việc không cần làm, nhưng có thể lý giải được. Cần phải tính sổ với "bè lũ bốn tên". Làm các việc đáng tiếc đó, tuyệt đại đa số là mơ hồ, đương nhiên cá biệt, phẩm chất không tốt vì tư thù, nhìn cho rõ là được.
Dù bất cứ lúc nào cũng phải tin vào đại đa số quần chúng, không thể đem các tật bệnh của cuộc vận động chính trị đổ trách nhiệm lên đầu quần chúng, không thể trách cứ quần chúng, càng không thể vứt bỏ quan điểm quần chúng. Đó là một điểm thể hội của riêng tôi sau khi Cách mạng văn hóa kết thúc.
Hệ thống giáo dục mẫu giáo của Bắc Kinh qua cơn đại loạn trở lại bình thường, các mặt công tác dần ổn định rồi tiến lên. Tôi lại nhiệt tình sôi nổi lao vào sự nghiệp giáo dục mẫu giáo mà tôi hằng yêu thích, vui vẻ tiếp xúc với các đồng chí chung quanh, cùng họ tiếp tục công tác nghiên cứu. Tôi biết mình đã sáu mươi sáu tuổi, thời gian trên cương vỉ công tác không còn dài, trong lòng chỉ có một điều tâm nguyện: nhất định phải bù đắp cho thời gian đã mất. Các đồng chí trong Vụ Giáo dục mẫu giáo do tôi phụ trách cho rằng việc đầu tiên phải nắm là đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ giáo dục mẫu giáo nên đã soạn ra "Quy phạm về đạo đức nghề nghiệp của nhân viên công tác giáo dục mẫu giáo Bắc Kinh" (dự thảo) và đề cao trình độ dạy học chỉnh thể của hệ thống giáo dục mẫu giáo. Chúng tôi tổ chức biên soạn "Đại cương và tài liệu giáo khoa về dạy và học của Vườn mẫu giáo Bắc Kinh" (thực hành), mở các loại hình hội nghị trao đổi kinh nghiệm, sáng lập ra nguyệt san chuyên nghiệp mẫu giáo, phát hành trên phạm vi cả nước như "Thông tin về dạy trẻ nhỏ" sau đổi tên là "Dạy trẻ trước tuổi đến trường”. Khi thấy các khu (huyện) xa ở ngoại thành Bắc Kinh thiếu giáo viên mẫu giáo nghiêm trọng, số đang dạy thì trình độ vô cùng lạc hậu đã hạn chế rất lớn, tôi kiến nghị ngay với lãnh đạo có liên quan và lên tiếng tại các cuộc hội nghị của sở, vụ. Đề nghị của tôi được phê chuẩn, Trường Sư phạm mẫu giáo số 2 Bắc Kinh được thành lập tại Thạch Cảnh Sơn. Để cho các cháu có thể phát triển, trở nên hoạt bát, sinh động, trong Hội nghị Tổ chức Đảng của sở, tôi đã nỗ lực trình bày, thuyết phục và cuối cùng cũng tranh thủ được một tài khoản hai trăm nghìn nhân dân tệ để cấp cho các vườn, trường mẫu giáo sắm thêm các đồ chơi lớn, các dụng cụ văn nghệ, thể dục. Sau khi "Hội nghiên cứu dạy trẻ trước tuổi đến trường" được thành lập, tôi đảm nhiệm hội trưởng, đã tích cực tổ chức các công việc đi trước một bước như nghiên cứu khoa học giáo dục mẫu giáo, giao lưu học thuật, bồi dưỡng giáo sư...
Cứ như vậy, tôi và các đồng chí cùng công tác trên mặt trận giáo dục mẫu giáo đã khẩn trương công tác suốt bốn năm liền. Tháng 12 năm 1983, tôi đã xấp xỉ tuổi bảy mươi. Để bồi dưỡng lực lượng mới trên mặt trận giáo dục mẫu giáo, tôi chính thức làm thủ tục nghỉ hưu.
Sau khi nghỉ hưu, tôi vẫn phát huy nhiệt tình và sức khỏe còn lại đảm nhiệm các chức vụ danh dự trong "Hội nghiên cứu dạy trẻ trước tuổi đến trường Bắc Kinh” và "Hiệp hội Giáo dục mẫu giáo Bắc Kinh". Hôm nay, trước ngày giao thời hai thế kỷ, tôi đã chiến đấu và công tác trên mặt trận giáo dục mẫu giáo, dưới sự lãnh đạo của Đảng vừa tròn năm mươi ba năm.
Năm 1947, trên đường hành quân từ Diên An đi Tấn Đông Nam, tôi được Đảng xếp về công tác tại Trường Mầm non số hai Diên An, khởi đầu cho việc dấn đời mình vào công tác giáo dục mẫu giáo, từ đó, tôi đã kết thành duyên nợ không thể dứt ra được với nó. Dù trong sáu mươi sáu năm công tác cách mạng, tôi đã bị rất nhiều đả kích lớn, mất con gái yêu quý, mất đi người chồng yêu thương, bị chỉnh oan trong mấy cuộc vận động chính trị, nhưng trong cuộc đời gian truân vất vả, tôi trước sau vẫn coi sự nghiệp là lẽ sống chủ yếu của mình và là niềm vui lớn nhất trong cuộc sống.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #85 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:17:05 pm » |
|
Tôi và Hồng Thủy cùng hai con được ghi vào sách "Ghi chép về các nhân vật đương đại huyện Ngũ Đài”, trong đó chỉ có Hồng Thủy không có hộ tịch, quê quán ở đó mà còn là người ngoại quốc.
Năm 1983, tôi chính thức làm thủ tục nghỉ hưu. Theo quy định, cán bộ lão thành được đảm bảo mọi mặt để về thăm quê một lần. Tôi đã ở sát tuổi "cổ lai hy” nhưng còn khỏe mạnh, đi lại dễ dàng. Mùa hè năm 1984, tranh thủ kỳ nghỉ hè của Tiểu Việt, tôi quyết định về thăm quê nhà. Dải đất màu vàng đó đã thu hút tôi ghê gớm, không chỉ vì đó là quê hương tôi, mà quan trọng nữa là ở đó còn lưu lại dấu tích chiến đấu của Hồng Thủy.
Trong thời gian lưu lại ở thành phố Thái Nguyên, chúng tôi đi thăm đền Tấn. Nhớ lại mùa hè năm 1934, khi các học sinh của khóa mười sáu Trường Nữ sư phạm Thái Nguyên của chúng tôi tốt nghiệp ra trường, nhà trường đã tổ chức cho chúng tôi đi tham quan đền Tấn. Chúng tôi đang còn là những thiếu nữ thanh xuân. Trong cảnh núi non đẹp như tranh vẽ, bên bờ suối nước trong veo, vườn cây xanh tươi, có cầu vắt ngang xem cá nhảy, bọn chúng tôi ước mơ về tương lai, bàn bạc với nhau về lý tưởng của mình. Vài đứa nghịch ngợm còn bò ra đài soi mình dưới nước làm điệu bộ soi gương khiến cho mọi người phì cười. Thế nhưng, chỉ có mấy tháng ngắn ngủi sau đó, số mệnh của rất nhiều người chúng tôi đã có sự thay đổi lớn. Có người trở thành những nhà cách mạng kiên định, có người lại chống lại cách mạng.
Tôi ngắm nhìn kỹ lưỡng từng nơi quen thuộc cũ ở dền Tấn. Năm mươi năm đau thương biến đổi ghê gớm chỉ thoáng như một cái vẫy tay? Đền Tấn vẫn đẹp như xưa còn tôi đã thành một bà già tóc bạc, bất giác tôi thấy cảm xúc trong người bâng khuâng vô hạn. Số phận mỗi cá nhân chúng ta đều gắn chặt với số phận quốc gia, dân tộc bất cứ ai, dù năng lực như thế nào cũng phải đi theo trào lưu tiến bộ của xã hội, nếu không sẽ bị lịch sử đào thải.
Sau khi thăm nhà kỷ niệm liệt sĩ Lưu Hồ Lan và xưởng rượu thôn Hạnh Hoa, huyện Phần Dương, Sơn Tây, chúng tôi quay về Ngũ Đài. Thật vừa may, Tiểu Phong cũng cần đi Tấn Đông Bắc có việc nên có thể cùng đi với chúng tôi. Thật là một cơ hội hiếm có. Cả nhà chúng tôi cùng nhau đi trên con đường về cố hương.
Lần này về Ngũ Đài, tôi có ý định muốn cho hai con tôi hiểu rõ quá trình chiến đấu của cha chúng - Hồng Thủy - tại huyện Ngũ Đài. Tôi muốn nói cho các con biết cha chúng, một người ngoại quốc, đã đổ xương máu, mồ hôi trên mảnh đất màu vàng này, đã đem toàn bộ tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Trung Quốc.
Sau khi xem phong cảnh khu núi non của Ngũ Đài Sơn, trên đường quay về Thái Nguyên, chúng tôi ghé thăm quê cũ. Qua mỗi một nơi Hồng Thủy đã từng công tác tôi đều bảo lái xe dừng lại, dẫn Tiểu Phong và Tiểu Việt đi xem, để cho chúng hiểu được hoàn cảnh công tác của cha chúng: Hồng Thủy. Tôi kể lại tỉ mỉ diễn biến các chuyện xảy ra ở từng nơi.
Tôi đặc biệt dẫn các con về thăm chùa Trấn Hải. Năm đó khi còn công tác ở Cục Chính trị quân khu Tấn-sát- Ký, Hồng Thủy đã đóng ở đó. Chùa Trấn Hải ở nam trấn Đài Hoài, cách Ngũ Đài Sơn khoảng năm km, trên một eo núi hẹp giữa hai núi cao, rừng bách cổ thụ xanh rì, hoa núi đầy nương, bên chùa có dòng suối trong róc rách, phong cảnh thật tuyệt vời. Tôi nói với các con:
"Năm 1938, mẹ và ba con kết hôn xong đã không có một chỗ ở cố định, cứ như một đôi chim uyên ương không có tổ. Trong khoảng thời gian mẹ công tác tại Hội Phụ nữ cứu vong huyện, ba các con ở chùa Trấn Hải. Mẹ thường tranh thủ có dịp qua đây mới ghé vào thăm ba con được.
"Điều kiện sinh hoạt ở biên khu Tấn-Sát-Ký rất gian khổ song ba con vẫn rất vui vẻ, hay cười đùa, thích nói tếu. Gặp lúc rỗi, cha mẹ thường dắt tay nhau xuống núi đi dạo ven núi hay trên cánh đồng, ngắm cảnh, thở hít không khí trong lành.
"Có vợ một đồng chí lãnh đạo rất khoái được như cha mẹ về nói với chồng: nhìn nhà Hồng Thủy sao mà vui thế, dắt tay vợ đi chơi khắp nơi. Vào thời đó, các đồng chí lãnh đạo chưa dám công khai dắt tay vợ đi chơi. Ba ở Việt Nam, chịu ảnh hưởng văn hóa châu Âu tương đối lớn nên về phương diện này rất lãng mạn, thoải mái”.
Câu chuyện của tôi được bắt đầu từ chùa Trấn Hải.
Xe ô tô chạy về thôn Tùng Nham Khẩu, cách huyện lỵ Ngũ Đài khoảng bốn mươi nhăm km. Chúng tôi dừng lại chỗ xưa là địa chỉ "Bệnh viện kiểu mẫu” mà bác sĩ Bation từng công tác. Bệnh viện này được phục chế lại năm 1974. Giữa viện có một bảo tháp cao khoảng ba thét rưỡi, có dựng tượng Bation, chính diện khắc bài văn "Kỷ niệm Bation” của Mao Chủ tịch, còn ba mặt có lời đề của Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh Trăn, Bạc Nhất Ba. Thời đó, trong quá trình phục vụ quân dân Trung Quốc kháng Nhật, bác sĩ Bation đã tự đề xướng, thiết kế, thi công bệnh viện, đem sửa lại một tòa miếu Long vương thành phòng mổ, phòng vô trùng, phòng y vụ của bệnh viện ngoại khoa chửa chạy cho thương binh ở chiến trường, bồi dưỡng cán bộ y tịch biên khu Tấn-Sát-Ký, phát huy được tác dụng rất lớn.
Tất cả những chuyện xa xôi đó, nay lại như hiện ra trước mắt tôi. Tôi nói với các con:
"Bác sĩ Bation từ Diên An về đến tiền tuyến Tấn-Sát-Ký đầu tiên tới Tùng Nham Khẩu. Lúc đó bệnh viện dã chiến chưa được thành lập. Trong điều kiện cực kỳ thiếu thốn, sơ sài, bác sĩ Bation đã mổ cho ba con. Tại đây hai chiến sĩ quốc tế đó đã trở thành bạn thân của nhau”.
Xe phóng như bay trên đường lớn. Hai hàng dương cao vút bên đường loang loáng qua mắt chúng tôi. Bốn mươi nhăm năm trước, khi tôi xuống trấn Đài Hoài để giúp đỡ địa phương công tác thì đây còn là một cánh đồng hoang vắng, chỉ có một con đường mòn, nay đã thành đường lớn. Sự thay đổi thật quá lớn.
Về tới trấn Đông Dã càng gần, lòng tôi càng bồi hồi xúc động. Xa chương biền biết ba mươi sáu năm, hôm nay tôi mới dẫn được con cái trở về thăm. Xe tiến vào trấn Đông Dã, leo lên dốc nhà họ Trần. Một lũ trẻ làng đã vây kín chung quanh. Chúng líu lo cất giọng Sơn Tây hỏi chúng tôi muốn tìm nhà ai. Nghe giọng nói quê hương từ lâu không được nghe, tôi rất cảm động. Đúng là về tới nhà rồi.
Lần về thăm quê này, tôi chưa báo trước cho gia đình biết. Lũ trẻ nhiệt tình khi biết chúng tôi về ngõ nhà họ Trần đã tranh nhau phóng lên trước báo tin. Chỉ một lát sau, chị dâu thứ hai, em trai thứ ba, em gái và các con cái họ đã ùa ra như ong vỡ tổ đón chúng tôi vào nhà.
Các bà con họ hàng ở xa nghe tin tôi về cũng lũ lượt đến thăm. Tuy điều kiện sinh hoạt của bà con thân thuộc thời đó còn rất khó khăn nhưng đã mang những thứ ngon nhất của gia đình đến để chim.u đãi người thân ở xa về.
Thời kỳ đầu cải cách mở cửa, nông thôn Ngũ Đài chưa có thay đổi gì lớn. Phố buôn bán trung tâm của trấn Đông Dã vẫn là một con đường hẹp lát bằng đá củ đậu. Nhà cửa của ngõ họ Trần vẫn cũ kỹ như xưa. Mọi thứ ở quê hương, tôi đều rất quen, chỉ có nhiều người tôi không biết mặt, biết tên. Chẳng phải là một loáng mà đã hơn ba mươi năm.
Sáng sớm ngày thứ hai ở quê, tôi dẫn Tiểu Phong, Tiểu Việt xuống dốc họ Trần, thuận theo phố chính về hướng tây. Tôi chỉ cho các con xem những nơi tôi đã quá quen thuộc như công quán Dương ái Nguyên, tiểu học Đà Dương, sân khấu lớn, miếu Văn Xương... tiếp sau đó ở mỗi nơi đều kể lại một cách chân thực các sự kiện xảy ra tại đó.
Các con tôi hết sức chăm chú lắng nghe. Chúng vô cùng sùng kính cha mình, đem hết sức ra ghi nhớ, ghi nhớ kỹ. Chúng sẽ đem các câu chuyện truyền kỳ trong sinh hoạt và chiến đấu trên dải đất màu vàng này của lưỡng quốc tướng quân Hồng Thủy để kể lại cho bạn bè chúng và cho cả đời sau.
Khi tôi bịn rịn chia tay dải đất quê hương nơi tôi cùng Hồng Thủy kề vai sát cánh chiến đấu và tình yêu của chúng tôi đơm hoa kết trái, trong lòng tôi thấy nhớ thương da diết, vì có thể đây là lần cuối tôi về thăm được cố hương.
Tháng Chín năm 1997, cuốn sách nhan đề Ghi chép về những nhân vật đương đại huyện Ngũ Đài xuất bản. Sách ghi lại tên của hơn một ngàn người quê gốc ở huyện Ngũ Đài thời qua đã là các nhà cách mạng, các chuyên gia, học giả, các nhân sĩ nổi danh. Tên của tôi và Hồng Thủy cùng hai con đã được ghi lại trong Ghi chép về những nhân vật đương đại huyện Ngũ Đài, dưới tên mỗi người đều có một đoạn tiểu sử. Trong hơn một ngàn nhân vật đương đại đó chỉ có mình Hồng Thủy là không phải quê gốc ở Ngũ Đài mà là một người ngoại quốc. Nhân dân anh hùng của Ngũ Đài đã không hề quên người chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa đã quên mình chiến đấu và công tác trên dải hoàng thổ này: người đó là Hồng Thủy.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #86 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:20:56 pm » |
|
Công tác mà các con tôi làm đều là những công việc rất bình thường, không có địa vị gì nổi bật, cũng không có thu hoạch giàu có gì. Chúng tôi đã tự dựa vào sức mình, nỗ lực gian khổ để tiến lên dần từng bước.
Hồng Thủy chỉ sống vẻn vẹn bốn mươi tám năm, song đã công tác ở Trung Quốc hai mươi bảy năm ròng. Trong việc sáng lập và xây dựng tình hữu nghị chiến đấu cách mạng giữa hai Đảng, hai nước, hai quân đội, Hồng Thủy đã có những cống hiến thật lớn lao. Về tác dụng lịch sử của Hồng Thủy, hai nước Trung - Việt đều công nhận và đã trải qua khảo nghiệm của lịch sử.
Các việc Hồng Thủy làm cho Đảng, cho nước, cho quân đội trước đây đều thuộc về bí mật của Đảng, bí mật quân sự không tiện tuyên truyền công khai. Cho đến giữa những năm 80, những bài báo, những tác phẩm văn học liên quan đến "Lưỡng quốc tướng quân" Hồng Thủy và viết về cuộc hôn nhân của tôi với một người nước ngoài mới đăng trên các sách, tạp chí như: Nhân vật, Trung Quốc nhi nữ, Tư âm, Tác giả Văn trích, Viêm Hoàng Xuân Thu, Các tướng soái khai quốc và các con của họ.
Mọi người rất thông cảm, lại đặt ra nhiều vấn đề để hỏi. Không ít người hỏi tôi: "Chị Trần, cả cuộc đời chị cực khổ cũng lắm, bị đả kích rất nặng. Theo chị, điều gì là điều an ủi lớn nhất đối với chị?"
Tôi đã trả lời mọi người rất rõ ràng: "Đối với tôi, điều an ủi lớn nhất là hai con tôi đều mạnh khỏe, trưởng thành nên người, nỗ lực làm việc vì dân. Chúng đều trung thực, chính phái và có một gia đình vui vẻ, hạnh phúc".
Trong cuộc chiến tranh cách mạng trường kỳ, tôi bị mất liên lạc với gia đình. Chỉ mãi khi Trường Mầm non số hai hành quân đi đến Bình Định, Sơn Tây, tôi mới tranh thủ thời gian về thăm qua nhà. Cha tôi đang công tác ở tỉnh ngoài nên cha con tôi không được gặp nhau. Vì có quân lính của Diêm Tích Sơn lùng sục, tôi chỉ ở nhà được ba ngày rồi lại vội vội vàng vàng rời đi ngay. Sau khi giải phóng có địa chỉ cố định, tôi và cha tôi mới có dịp thư từ qua lại, tôi mới biết được tình hình ở nhà.
Việc làm tôi đau lòng nhất là em gái Ngọc Lâm tự sát. Khi mẹ tôi mất Ngọc Lâm còn rất bé. Sau khi cha tôi cưới vợ và mẹ kế lại sinh thêm một con gái, bà không cho Ngọc Lâm đi học, bắt ở nhà bế em. Từ rất bé, em đã cảm thấy cuộc đời đơn bạc nên tính cách dần dần trở nên yếu đuối, tự ti và ưu tư. Sau khi lấy chồng sinh được một con trai thì bị bà mẹ chồng mê tín, không cho chồng được nhập phòng thăm vợ nữa. Thế là em gái tôi uất ức lấy dao sắc cắt cổ, sớm lìa khỏi cuộc đời.
Tình hình khác của trong nhà cũng không tốt, anh hai tôi buôn bán nhỏ ở trấn Đông Dã, em trai thứ ba của tôi làm phu hồ ở Thái Nguyên, sau đó đều thất nghiệp. Chỉ còn em trai thứ tư của tôi công tác tại Cục Đường bộ tỉnh Sơn Tây. Cha tôi tuổi ngày một già, lại ốm đau luôn, phải dựa vào bà mẹ kế làm ruộng rẫy để sống. Trừ em trai thứ tư ra, sinh hoạt của mọi người trong gia đình đều khó khăn. Tình cảm của tôi với cha tôi rất sâu nặng, không lời nào tả xiết. Nghĩ lại, xã hội cũ đã đem đến cho gia đình tôi biết bao bất hạnh và đau thương, nhà tan, người mất, tôi thấy mình có trách nhiệm phải giúp gia đình giải quyết khó khăn.
Thế nhưng trước năm 1955, nước nhà thực hiện chế độ cung cấp. Tất cả các vật dụng sinh hoạt đều do nhà nước cấp phát, chỉ còn rất ít tiền tiêu vặt. Tiền tiêu vặt lúc đó nếu có gửi giúp gia đình thì cũng chỉ như muối bỏ bể.
Từ năm 1955, thực hiện chế độ tiền lương, dù lương tôi cũng không cao, song tôi cũng hết sức dè sẻn phần mình, mỗi tháng gửi cho cha tôi và em trai thứ ba hai phần ba số lương của mình để đỡ đần họ, về sau lại thêm anh thứ hai của tôi nữa. Số tiền còn lại tôi dùng vào sinh hoạt của ba mẹ con và mua sắm lặt vặt cho các cháu.
Khi các con tôi đã biết, thấy các bạn học có bút máy, kèn ácmônica, có vợt bóng bàn thì rất thích, về hỏi tôi có thể mua cho chúng được không. Vì gánh nặng giúp đỡ cho gia đình ở Sơn Tây rất lớn, tôi không thể đáp ứng yêu cầu của các cháu được. Tôi thường nói với các con:
"Ông ngoại con và các cậu ở nông thôn sinh hoạt rất khó khăn, ăn không đủ no. Chúng ta chịu khó sống eo hẹp một chút, đem tiền tiết kiệm được gửi giúp họ, mọi người sẽ không bị đói. Ba và mẹ tham gia cách mạng cũng là vì muốn mọi người sống tốt hơn, ai cũng có cơm ăn”.
Qua lời tôi nói, tuy các cháu cũng không thích lắm song không nói gì nữa.
Thực ra, sinh hoạt của riêng tôi phải hết sức tiết kiệm, rất ít mua thêm quần áo, ăn uống cũng rất đơn giản, trong nhà chỉ mua các món ăn loại hai thậm chí loại ba. Rau cải trắng mua về thường mọi người cắt vứt cuộng khá nhiều, tôi thì lấy rửa sạch, chẻ ra, cắt nhỏ, xào, muối để ăn. Tôi cố gắng dè sẻn thêm để có thể giúp gia đình ở Sơn Tây giải quyết phần nào khó khăn về sinh hoạt, đó là điều tôi luôn tâm niệm là cần thiết. Mãi cho tới khi thời Cách mạng văn hóa, lương của tôi bị cắt thì việc gửi tiền giúp gia đình mới dừng lại.
Về sinh hoạt, tôi yêu cầu các con rất nghiêm, không được lãng phí bất cứ thứ gì. ở nhà chúng tôi hiện nay vẫn dùng các đồ đạc do Sở Giáo dục Bắc Kinh cấp cho từ những năm 50. Trong nhà, phàm thứ gì có thể sửa chữa dùng lại thì các con tôi đều tự sửa. Tôi cho rằng chịu được khổ là một đức tính tốt. Đặc biệt với các cháu đang tuổi thiếu niên thì để cho chúng chịu khổ một chút không phải là hà khắc mà là tài sản tinh thần cho chúng.
Tôi cho rằng, mọi sự đều có tính hai mặt, điều kiện gian khổ quyết không phải là việc đáng tiếc. Nếu bọn trẻ không biết thế nào là khổ thì cũng không biết cần phải phấn đấu để phát triển. "Hàn gia xuất quý tử“ câu nói cổ đó không phải là không có lý. Nghĩ đến sự sa sút của dòng họ Trần của tôi là một ví dụ rõ nhất. Các ông tôi, chú bác tôi đều ăn không ngồi rồi, kết quả là miệng ăn núi lở. Họ Trần hiển hách một thời chẳng bao lâu đã sa sút, bại vong. Tôi là một người công tác giáo dục càng đặc biệt chú trọng giáo dục phẩm đức, tư tưởng, bồi dưỡng tác phong gian khổ phấn đấu cho các con.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #87 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:21:50 pm » |
|
Hai con trai tôi đều thông minh, hiếu học, có phẩm dực tốt. Tiểu Phong và Tiểu Việt đều tốt nghiệp ở Trường Trung học số 4 Bắc Kinh. Năm 1963, Tiểu Phong thi đỗ vào Đại học Bắc Kinh. Sau khi tôi gặp hàng loạt những đòn đả kích bất hạnh thì chúng là những niềm an ủi lớn nhất của tôi.
Sau khi Hồng Thủy rời Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc rất chiếu cố đến hai con ông ở Trung Quốc. Tiểu Phong và Tiểu Việt đều được Chính phủ Trung Quốc cho hưởng trợ cấp của con liệt sĩ, mỗi cháu được hai mươi đồng nhân dân tệ mỗi tháng. Trước khi có "Cách mạng văn hóa”, Tiểu Việt đã tròn mười tám tuổi, đã là người trưởng thành. Tôi chủ động báo cáo lên tổ chức đề nghị thôi trợ cấp cho các con tôi.
Bước vào "Cách mạng văn hóa", tôi bị phái tạo phản phê đấu, hưởng trọn mọi sự giày vò hành hạ. Lương của tôi mỗi tháng hơn một trăm đồng bị cắt, chỉ cấp cho tôi sinh hoạt phí cơ bản mười tám đồng tệ. Nguồn nuôi sống của các con tôi không có bảo đảm. Tiểu Phong lúc đó đương ở đại học, biết tôi rất gian nan, một đứa con trai mới trên hai mươi tuổi đầu đã không dám xin tôi về sinh hoạt phí. Bạn đồng học của cháu, Lâm Song Song, đã sẵn sàng vô tư giúp đỡ.
Lâm Song Song là con gái thứ hai của Lâm Phong, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Năm 1963, cháu Lâm cùng vào học Đại học Bắc Kinh với Tiểu Phong, Tiểu Phong học hệ triết học, Song Song học hệ hóa học. Cả hai đều ham mê thể dục, thể thao, hai anh chị thanh niên trẻ tuổi đã quen biết nhau bên một bờ hồ chưa có tên. Tiểu Phong ở trong đội bóng bàn của trường. Song Song ở trong đội bơi lội. ở Trường Đại học Bắc Kinh, thành viên các đội tuyển thể thao của nhà trường ăn riêng một bếp. Một người là học sinh giỏi của Trường Trung học số 4, một người là một nữ sinh nổi tiếng ở Trường Sư phạm nữ Bắc Kinh, "tình duyên" trời se khiến cho chúng thân nhau không rời.
Buổi đầu “Cách mạng văn hóa" cha mẹ của Song Song bị vây chặt và bị tống giam vào nhà ngục Thái Thành. Song Song thành con gái của "Hắc bang” (bè lũ đen tối). Trong những ngày Song Song bị thất lạc mẹ cha, bị mê muội, cô độc thì Tiểu Phong vẫn cứ đến trò chuyện cùng cô cùng nhau đánh cầu lông, bóng bàn và trở thành bạn cùng cảnh ngộ của cô. Đơn vị cũ của cha mẹ cô chỉ phát cho cô mỗi tháng hai mươi lăm đồng sinh hoạt phí. Khi Song Song biết hoàn cảnh của tôi rất đồng tình với Tiểu Phong. Cô mua phiếu ăn cho Tiểu Phong, giúp Phong cả tiền tiêu vặt. Cả hai chỉ dùng tiền sinh hoạt phí của Song Song, cứ thế qua hai năm cuối vất vả ở trường đại học.
Cuối năm 1968, Tiểu Phong, Tiểu Việt đều ở dạng tốt nghiệp chờ phân công công tác. Vì vấn đề "phản bội" của tôi chưa được tổ chức kết luận, các con tôi cũng phải chịu ảnh hưởng. Tiểu Phong tốt nghiệp đại học triết, học xong không được dùng, bị phân về một xưởng phân hóa học của huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây. Tiểu Việt tốt nghiệp trung học, cùng với các bạn học, bị điều về đội lao động nông thôn ở huyện Văn Hỷ, tỉnh Sơn Tây để tiếp thu việc giáo dục lại của bần nông và trung nông lớp dưới. Khi các cháu rời Bắc Kinh tôi còn đang bị cách ly để thẩm tra, hội quân quản không đồng ý cho tôi đi tiễn chúng.
Khi tốt nghiệp, Song Song do liên quan vì bố mẹ nên bị điều về công tác tại xưởng phân hóa học huyện Ngũ Đài tỉnh Sơn Tây. Năm 1970, Tiểu Phong và Song Song kết hôn. Chúng cùng về công tác ở xưởng phân hóa học huyện Bình Định, tỉnh Sơn Tây trong mấy năm. Tại xưởng phân hóa học huyện Bình Định, Tiểu Phong phải làm thợ lò, mãi đến sau Cách mạng văn hóa mới được điều về văn phòng xưởng làm Bí thư đoàn, sau đó về tổ biên soạn thuộc Văn phòng tỉnh ủy Sơn Tây. Lúc này cháu mới đổi tên là Trần Hàn Phong.
Tiểu Phong và Song Song chỉ có một con gái lấy tên Trần Nguyễn Lăng. Cái tên này do bà nội Trần Kiếm Qua, ông nội Việt Nam là Nguyễn Sơn và ông ngoại Trung Quốc, Lâm Phong, ba họ ghép lại. Riêng họ Lâm và tên Lăng là đồng âm. Trần Nguyễn Lăng sinh năm 1971, năm 1992 tốt nghiệp đại học. Là thanh niên của thập kỷ 90, cháu có tình cảm, trách nhiệm với thời đại, rất thuần phác và cẩn trọng.
Tiểu Việt khi tốt nghiệp trung học năm 1966 gặp thời "Cách mạng văn hóa" không thể học lên đại học. Năm 1972, vào học ở Học viện Sư phạm Bắc Kinh. Sau khi tốt nghiệp đã làm giảng viên ở học viện. Để mở rộng giao lưu kinh tế Trung - Việt, Tiểu Việt nay là Tổng Giám đốc Công ty tư vấn giao lưu và hợp tác quốc tế "Thăng Long” của Bắc Kinh. Vợ của Tiểu Việt là Lý Vân Khởi, nguyên là công nhân xưởng cán bông số 2 của Bắc Kinh, nay đã nghỉ hưu. Con trai của hai cháu là Trần Nguyễn Chinh cũng đã ra công tác.
Các con tôi biết cả đời tôi gian nan lại còn bị nhiều đả kích. Không kể là con trai, con dâu, cháu nội trai, gái đối với tôi đều rất hiếu thuận, rất hiếm khi làm tôi bực mình. Đặc biệt là Tiểu Việt, sống chung cùng tôi. Mọi sinh hoạt của tôi đều được vợ chồng Tiểu Việt săn sóc chu đáo. Tuổi tôi mỗi ngày một cao, có lúc sinh bệnh, đi lại khó khăn. Tiểu Việt thường cõng tôi lên, xuống gác, dẫn tôi tới bệnh viện khám bệnh.
Hàn Phong sau đó rời Sơn Tây về công tác tại Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Hàn Phong rất giống Hồng Thủy, ham học, thích viết văn. Cháu đã có một số bài bàn về xây dựng kinh tế của tỉnh Sơn Tây, luận văn về chế độ của Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc và cùng một số đồng chí khác biên tập, tuyển chọn viết nên các luận văn như: "Tăng cường xây dựng chế độ Đại hội Đại biểu nhân dân trong thời kỳ cải cách", "Các bài nói về chế độ Đại hội Đại biểu nhân dân", "Trung Quốc quốc tình đại từ điển", "Sổ tay của công chức Trung Quốc", "Lịch sử pháp chế nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa", trong đó cuốn "Lịch sử pháp chế nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" đã được nhiều giải thưởng về sách báo ở Trung Quốc. Tên của Trần Hàn Phong còn được ghi trong cuốn "Trung Quốc chuyên gia đại từ điển" do Bộ Nhân sự quốc gia biên tập.
Công tác mà các con tôi làm đều là những công việc rất bình thường, không có địa vị gì nổi bật, cũng không có thu hoạch giàu gì. Chúng đã tự dựa vào sức mình nỗ lực gian khổ để tiến lên từng bước một.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #88 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:24:08 pm » |
|
PHẦN CUỐI Hồng Thủy rời khỏi thế gian này khá sớm để lại tám đứa con ruột thịt không cùng quốc tịch, không cùng họ. Trong bốn mươi hai năm dài, gió mây biến ảo, các anh em, chị em "tình đồng thủ túc" đã tìm kiếm, chờ đợi, không giờ phút nào không ước ao có một ngày được đoàn viên. Còn tôi, lần đầu tiên bước vào cửa nhà chồng đã là một bà già tám mươi tư tuổi. Trước mộ Hồng Thủy, lòng tôi lại trào dâng nỗi nhớ thương day dứt suốt nửa thế kỷ. Chương XIII NỖI NHỚ HỒNG HÀ Để hiểu rõ về cha mình, Tiểu Phong khi đang học trung học đã viết cho Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Trần Tử Bình, một lá thư. Việt Nam là Tổ quốc của Hồng Thủy và cũng là Tổ quốc thứ hai của các con Trung Quốc của ông. Gia đình chúng tôi có mối tình thân không thể gì chia cắt được với nhân dân Việt Nam. Năm 1962, sáu năm sau khi Hồng Thủy tạ thế, Tiểu Phong lúc đó đang học cấp ba ở Trường Trung học số 4 Bắc Kinh, để hiểu rõ hơn về người cha thân yêu của mình, Tiểu Phong đã viết một bức thư gửi đồng chí Trần Tử Bình, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Trần Tử Bình là bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy. Năm 1929, họ đã cùng đánh du kích ở Đông Giang, Quảng Đông. Lúc đó, Trần Tử Bình là đại đội trưởng đại đội 1, trung đoàn 46, quân đoàn Hồng quân 11, Hồng Thủy là chính trị viên đại đội. Đại sứ Trần Tử Bình rất phấn khởi đọc hết bức thư của Tiểu Phong. Ông tin chắc rằng cơ hội để nối lại mối liên hệ với các thân nhân Trung Quốc của Hồng Thủy đã đến. Đại sứ hẹn cháu Phong đến gặp mình tải Sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc. Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Trung Quốc đặt tại khu sứ quán, đường Quang Hoa, ở vùng ven phía đông Bắc Kinh. Bước vào cổng sứ quán, ngước nhìn lên lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trên cao, lòng Tiểu Phong vô cùng xúc động. Dân tộc sinh ra cha mình là một dân tộc dũng cảm, kiên cường, đã có lịch sử quang vinh lâu đời chống ngoại xâm. Khi Tiểu Phong xuất hiện ở đại sảnh của sứ quán ở tầng một, Đại sứ Trần đã rất phấn khởi ra đón cháu, ngắm kỹ tử đầu đến chân, dùng hai tay nắn đôi vai chắc nịch của Tiểu Phong, vui vẻ thốt lên: "Giống cha cháu quá. Ôi đây là con trai Hồng Thủy!" Đại sứ Trần dắt tay cháu Phong cùng bước vào phòng khách. Trên bức tường chính diện của phòng khách có treo một tấm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Trên bức tường bên là một bức tranh thủy mặc lớn rất đẹp và sinh động, vẽ về phong cảnh và sinh hoạt của nhân dân Việt Nam. Bố trí của nhà khách vừa long trọng, vừa nhã nhặn, mang phong cách nước ngoài rất rõ. Tiểu Phong mơ màng như đang ở trên Tổ quốc của cha mình. Đại sứ Trần và cháu Phong cùng ngồi trên một chiếc đi-văng dài và trao đổi chuyện trò. "Cháu năm nay bao nhiêu tuổi rồi?” Đại sứ Trần hỏi. "Dạ, mười tám ạ." "Cha cháu lần đầu tới Trung Quốc mới mười sáu tuổi. Khi chúng ta cùng nhau chiến đấu, ông ấy rất dũng cảm. Lúc đó, người ông gày gày, trông rất đẹp trai." Đại sứ Trần nói một hồi bằng tiếng Trung Quốc, hai bác cháu nói với nhau không cần phiên dịch. Họ nói chuyện với nhau thân thiết, nhiệt tình, thoải mái không bị câu thúc. Đại sứ Trần hỏi han kỹ về tình hình gia đình chúng tôi, nói cho cháu Phong biết Bác Hồ cũng luôn luôn nhớ tới các thân nhân Trung Quốc của Hồng Thủy, đã dặn ông mấy lần là phải hên hệ với thân nhân của Hồng Thủy. Khi cuộc gặp mặt sắp kết thúc, Đại sử hỏi với vẻ rất quan tâm: "Tiểu Phong, bác có thể giúp cháu liên hệ với thân nhân Việt Nam". Tiểu Phong thắc mắc hỏi: "Gia đình cháu ở Việt Nam còn những ai?" Đại sứ Trần nói cho Tiểu Phong biết ở Việt Nam cháu còn một bà mẹ Việt Nam rất dịu dàng, hiền hậu Lê Hằng Huân và sáu anh chị em cùng bố khác mẹ. Tiểu Phong nghe nói vậy mặt có vẻ buồn rầu. Đại sứ Trần trông thấy Tiểu Phong như được nhìn thấy con trai mình ở Việt Nam. Với thái độ thân tình như cha con, ông an ủi, động viên Tiểu Phong và đem việc tôi và Hồng Thủy phải chia tay, kể tóm tắt đại khái cho cháu nghe. "Tiểu Phong, cha của cháu là bạn chiến đấu của bác, bác rất hiểu ba cháu. Ba cháu là một người hiếm có được nhân dân hai nước Trung - Việt rất mực yêu mến. Mẹ của cháu cũng vậy, là một phụ nữ Trung Quốc phi thường vĩ đại, có trái tim bằng vàng. Cháu hãy tự hào vì cha mẹ mình”. Tiểu Phong rất yêu mẹ, người đã dẫn dắt cháu trong hoàn cảnh gian nan, khốn khổ, đồng thời cũng rất yêu cha, người đã từng ôm cháu, âu yếm kể chuyện cho cháu nghe. Đối với việc cha mẹ chia tay nhau, cháu không khỏi có phần thương cảm. Đại sứ Trần rất thông cảm, yêu thương cháu: "Cháu Phong, chiến tranh đã tạo nên bi kịch phải chia tay nhau của cha mẹ cháu. Đó là điều đáng buồn do lịch sử để lại, không sao cứu vãn nổi. Chúng ta phải nhìn về phía trước. Cháu là cốt nhục của hai nước Việt Trung, có trách nhiệm thực hiện lời di nguyện của cha cháu, làm sứ giả hữu nghị cho đời sau giữa nhân dân hai nước Việt - Trung. Đó là ước muốn của Bác Hồ kính yêu và cũng là mong muốn của bác đối với cháu”. Tiểu Phong thông minh, hiểu biết, tinh cách rộng rãi, đã thành khẩn nói với Đại sứ: "Bác Trần ơi, thế thì nhờ bác giúp cháu liên hệ với mẹ cháu và các chị em cháu ở Việt Nam". Đại sứ Trần Tử Bình mỉm cười, gật đầu.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
hoanghahongha
Thành viên

Bài viết: 109
|
 |
« Trả lời #89 vào lúc: 31 Tháng Bảy, 2010, 09:25:43 pm » |
|
Tiểu Phong đã liên hệ được bằng thư từ với người thân ở Việt Nam, những mối liên hệ đó nhanh chóng bị cắt đứt.
Được sự giúp đỡ của Đại sứ Trần Tử Bình, Tiểu Phong được tin về những người thân ở Việt Nam rất nhanh chóng.
Sau khi Hồng Thủy mất, Lê Hằng Huân đã đem số tiền ba vạn đồng nhân dân tệ mà Chính phủ Trung Quốc cấp cho Hồng Thủy để chữa bệnh trao cho nhà nước, chủ động xin rời khỏi ngôi biệt thự do Pháp xây, dẫn năm con về ở một ngôi nhà bình thường hai gian ở khu dân cư. Bà chỉ dựa vào lương mình nuôi năm con chưa trưởng thành, sống vô cùng thanh bạch.
Ít lâu sau, Tiểu Phong giữ được liên lạc thư từ với các em trai, gái ở Việt Nam. Nhận được thư của người thân ở Việt Nam, Tiểu Phong rất phấn khởi. Trong thư các em đều kể về tình hình sinh hoạt, học tập của chúng, mỗi đứa còn gửi cho anh Phong một tấm ảnh nhỏ đằng sau có đề tên mình bằng chữ Trung Quốc. Tiểu Phong đem dán chúng trong quyển anbum nhỏ của mình. Lúc đó em gái lớn Nguyễn Mai Lâm vừa lên trung học, bé nhất là Nguyễn Việt Hằng chưa đi học.
Gia đình chúng tôi là một gia đình Trung - Việt hỗn hợp, các con tôi có cảm tình tự nhiên với dân tộc Việt Nam. Sau khi dần dần lớn lên, chúng đặc biệt chú ý theo dõi tình hình liên quan đến Việt Nam qua đài, báo.
Từ năm 1961, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam, một cuộc chiến do Mỹ xuất tiền, xuất súng, chính quyền Ngụy ở Nam Việt Nam xuất người. Ngày 5 tháng Tám năm 1964, Mỹ lại dựng lên "Sự kiện vịnh Bắc Bộ", mượn cớ có hai tàu chiến Mỹ bị bắn ở vịnh Bắc Bộ, ngang nhiên đưa máy bay oanh tạc miền Bắc. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, Mỹ lại đổ bộ thủy quân lục chiến lên cảng Đà Nẵng, rồi không ngừng tăng quân, phát động cuộc "Chiến tranh cục bộ" ở Việt Nam, hơn nữa còn mở rộng các cuộc tập kích bằng hỏa lực của hải quân và không quân ra miền Bắc Việt Nam. Nhân dân miền Nam Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam, được sự ủng hộ của đồng bào ruột thịt ở miền Bắc, đã tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước gian khổ thần thánh, lần lượt đánh bại các kế hoạch xâm lược của Mỹ.
Trong những năm tháng gian khổ, đánh trả quân xâm lược Mỹ của nhân dân Việt Nam, Mao Chủ tịch đã nhiều lần phát biểu rõ lập trường kiên định ủng hộ cuộc đấu tranh "Chống Mỹ cứu nước" của nhân dân Việt Nam.
Ngày 19 tháng Tám năm 1963, Mao Chủ tịch đã phát biểu "Tuyên bố về việc phản đối đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm xâm lược và giết hại nhân dân miền Nam Việt Nam".
Ngày 20 tháng Mười hai năm 1967, khi Mỹ từng bước mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang đứng trước tình thế rất hiểm nghèo, Mao Chủ tịch trong bức điện mừng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập được bảy năm, có đoạn viết: "Bảy trăm triệu nhân dân Trung Quốc là chỗ dựa vững chắc, đất nước Trung Quốc bao la là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân Việt Nam". Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố. "Nhân dân Trung Quốc sẽ dùng mọi biện pháp cần thiết, thậm chí kể cả sự hy sinh lớn nhất của dân tộc, chi viện hết lòng cho cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, của cả ba nước Đông Dương, cho đến khi đánh bại hoàn toàn bọn xâm lược Mỹ”.
Ngày 20 tháng Năm năm 1970, Mao Chủ tịch lại phát biểu "Tuyên bố ngày 20 tháng Năm" nổi tiếng nêu rõ: "Nhân dân ba nước Đông Dương tăng cường đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, kiên trì chiến tranh nhân dân lâu dài, nhất định sẽ khắc phục được muôn vàn khó khăn, giành được thắng lợi triệt để".
Dù trong những năm tháng khói lửa chiến tranh hay trong hòa bình kiến thiết, Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc vẫn nghĩ những điều nhân dân Việt Nam nghĩ, lo những điều nhân dân Việt Nam lo, nhường cơm sẻ áo, tận lực chi viện cho nhân dân Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ, chi viện cho nhân dân Việt Nam cả người, vật tư và cả trên phương diện đạo nghĩa, thực hiện nghĩa vụ quốc tịch nghĩa của mình và điều đó thể hiện giữa nhân dân hai nước Trung - Việt vốn có tình sâu nghĩa nặng như anh em một nhà.
Trong giai đoạn đó, cả gia đình chúng tôi theo dõi sát sao, lo lắng, buồn vui theo tình hình phát triển chiến sự ở Việt Nam. Trái tim chúng tôi hòa cùng nhịp với cả Trung Quốc và Việt Nam.
Sau khi "Cách mạng văn hóa” bắt đầu, liên hệ giữa các con tôi và những người thân ở Việt Nam bị cắt đứt. Song lời di nguyện của Hồng Thủy đã ngấm vào trong máu các con tôi. Chúng cũng như cha chúng, dùng sinh mệnh của mình làm sợi dây nối tình cảm của hai nước Trung - Việt.
Tháng Bảy năm 1972, Tiểu Phong lúc đó đang công tác tại xưởng phân hóa học Bình Định, Sơn Tây, đã báo cáo lên Bộ Ngoại giao Trung Quốc xin được về tảo mộ cha đồng Thấy. Sau khi Bộ Ngoại giao liên hệ với Đại sứ quán Việt Nam, sứ quán đáp ứng ngay và xin chỉ thị trong nước.
Ngày 2 tháng Chín năm 1972, kỷ niệm ngày Quốc khánh lần thứ hai mươi bảy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc mời tôi dự buổi chiêu đãi phim tại lễ đường Quốc hội. Vì Tiểu Phong còn đang công tác ở Sơn Tây, Tiểu Việt đưa tôi đi dự. Trong buổi chiêu đãi phim tôi được xem những phim phản ánh cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước và cuộc sống thực tế của nhân dân Việt Nam. Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với văn hóa Việt Nam, lần đầu tiên được nhìn thấy phong cảnh nhiệt đới tươi đẹp, làm tăng thêm mối cảm tình của tôi với nhân dân Việt Nam.
Ngày 20 tháng Mười hai năm đó, Đại sứ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam tại Trung Quốc lại mời chúng tôi đến dự chiêu đãi phim tại "Bắc Kinh Phạn Điếm” để chúc mừng hai mươi năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Từ đó về sau cứ đến mỗi ngày tết, ngày Quốc khánh của Việt Nam, tôi và các con tôi đều được mời đến dự các hoạt động chúc mừng cử hành tại Đại sứ quán Việt Nam. Năm 1973, cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định, ngày 29 tháng Ba năm đó, những đợt quân Mỹ cuối cùng phải cuốn gói rời khỏi Việt Nam.
Đầu tháng Sáu, Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam và Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng, Chinh phủ thăm chính thức Trung Quốc. Tôi và Tiểu Việt được mời dự buổi dạ tiệc do Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Việt Nam chủ trì để đáp lễ cử hành tại phòng đại tiệc của nhà Quốc hội.
Khi Thủ tướng Chu Ân Lai đi cùng với đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng bước vào phòng tiệc thì các quan khách đã đứng thành hàng ở cửa vỗ tay chào mừng. Thủ tướng Chu vừa mỉm cười vẫy tay chào, vừa bước tới, lần lượt bắt tay quan khách. Khi Thủ tướng Chu tới trước mặt tôi, một quan chức lễ tân giới thiệu tôi với ông: "Đây là vợ của đồng chí Hồng Thủy”.
Thủ tướng thân thiết bắt tay tôi, nhìn tôi rất chăm chú như đang liên tưởng lại trong hồi ức, mỉm cười gật đầu chào tôi, vai phải lắc lắc một hồi. Đó là một động tác đặc biệt khi bắt tay các bạn bè thân thiết nhất.
Biết bao năm đã trôi qua nhưng ánh mắt nhìn sâu sắc đó vẫn lưu lại trong trí nhớ tôi. ánh mắt đó như để khẳng định, cảm ơn, nhớ thương người chiến sĩ quốc tế chủ nghĩa Hồng Thủy, lại như hy vọng ở tình hữu nghị nhiều đời giữa nhân dân hai nước Trung - Việt.
Tiếp theo các đồng chí Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng lần lượt qua trước mặt tôi. Biết tôi là vợ Hồng Thủy hai ông dừng lại rất lâu bắt tay tôi. Đặc biệt đồng chí Phạm Văn Đồng, ông là bạn chiến đấu cũ của Hồng Thủy. Năm 1925, khi Hồ Chí Minh tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội thì ông cùng ở với Hồng Thủy.
Được dự đại tiệc quốc gia là một vinh dự. Đối với riêng tôi thì điều làm tôi được an ủi nhất là nguyện vọng cuối cùng của Hồng Thủy đã được thực hiện - nhân dân Việt Nam anh dũng đã đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược việc thống nhất Tổ quốc không còn xa nữa.
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|