Thời kỳ loạn lạc
Nhà Lê, sau các triều vua đầu anh minh, đã trở nên suy vi với các vị vua kém tài kém đức, dẫn đến việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đẩy đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng triền miên, sự nghiệp Nam tiến một lần nữa lại bị đình lại.
Dưới thời chúa Nguyễn
Sau khi sự nghiệp "Diệt Mạc phù Lê" thành công thì hai họ Trịnh Nguyễn lại quay sang đấu đá lẫn nhau. Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn ở phía Nam. Để khuếch trương lực lượng nhằm có thể "chiến đấu lâu dài" với họ Trịnh hùng mạnh ở Bắc Hà, chúa Nguyễn đã tiến hành "mở rộng" lãnh thổ về phương Nam.
Năm 1611 Nguyễn Hoàng đem quân vào đánh Chiêm Thành, chiếm đất lập ra phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hoà.
Năm 1617 chúa Nguyễn chiếm thêm đất Chiêm Thành, lập ra dinh Trấn Biên.
Năm 1653 Chiêm Vương là Bà Thấm "không biết điều", đem quân quấy nhiễu phủ Phú Yên, bị quân Nguyễn đánh bại. Nhà Nguyễn, nhân cơ hội đó, tiếp tục lấy thêm đất của Chiêm Thành, lập ra phủ Diên Khánh (nay thuộc tỉnh Khánh Hoà).
Năm 1693 Chiêm vương Bà Tranh bỏ tiến cống. Nhà Nguyễn không bỏ lỡ cơ hội này. Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai tổng binh Nguyễn Phúc Kính đem quân "hỏi tội", bắt được vua Chiêm. Đất đai của Chiêm chiếm được bị đổi thành phủ Thuận Thành, sau đổi lại thành phủ Bình Thuận, lại lấy đất Phan Lý (Phan Tri), Phan Lang (Phan Rang) làm huyện Yên Phúc và huyện Hoà Đa.
Từ đó Chiêm Thành xem như mất hẳn.
Như vậy trong khoảng chưa đến một thế kỷ mà nhà Nguyễn đã thôn tính được hoàn toàn Chiêm Thành, điều mà những triều đại trước tốn bao công sức mà không gặt hái được nhiều thành công. Điều này có nguyên do rất lớn từ bản thân Chiêm Thành. Thực ra quân lực chúa Nguyễn không phải là quá mạnh, nhưng kể từ sau thất bại trước vua Lê Thánh Tông nhà Lê, rồi bị chia thành 3, Chiêm Thành đã ngày càng suy yếu, không thể gượng dậy được và chỉ còn chờ ngày diệt vong.
Giai đoạn đánh chiếm Chân Lạp
Các cuộc xâm chiếm đất Chân Lạp (Cam-pu-chia) để mở mang bờ cõi về phương Nam của người VN diễn ra có phần êm thắm hơn. Nguyên do dải đất miền Trung của cúa chúa Nguyễn vốn không được màu mỡ. Đất đai cằn cỗi, làm ăn khó khăn, lại thêm hoạ chiến tranh Trịnh-Nguyễn nên người dân dần dần di cư vào Nam, lúc ấy còn thuộc Chân Lạp, rất nhiều.
Cả miền Đông Nam Bộ và ĐB SCL bây giờ thời ấy còn khá hoang vu, đất rộng người thưa. Đất đai lại trù phú, màu mỡ, thành ra người Việt di cư vào đó ngày càng đông.
Trong những năm 1658 đến 1674, Chân Lạp có loạn tranh giành quyền lực, có phe lại "mời" chúa Nguyễn vô "giải quyết dùm". Nhà Nguyễn được thể cứ kéo binh vào "bình định", mỗi năm lại mở rộng thêm tầm ảnh hưởng của mình ở đấy.
Năm 1679 có quan nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến vì bất mãn nhà Thanh nên theo về. Chúa Nguyễn nhân cơ hội đó, muốn khai khẩn thêm đất ở Chân Lạp, bèn cho họ vào ở đất Đông Phố, đất Lộc (nay thuộc Gia Định, Đồng Nai), Mỹ Tho...
Năm 1698 chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Kính làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông phố ra làm dinh , huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Nhà Nguyễn bắt đầu củng cố địa vị và quyền lực của mình ở rẻo đất phía Nam màu mỡ này.
Thời bấy giờ có người TQ là Mạc Cửu, nhân vì hoạ nhà Thanh, lưu lạc sang đất Chân Lạp. Ông chiêu mộ lưu dân , lập nên 7 xã gọi là Hà Tiên.
Năm 1708 Mạc Cửu xin thuộc về nhà Nguyễn. Lãnh thổ nước ta lại được mở rộng thêm một phần.
Trong khoảng thời gian đó, nước Chân Lạp xảy ra biến luôn, các vua tranh giành quyền lực rồi lại chạy sang nhờ chúa Nguyễn hay Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên. Sau mỗi lần bình ổn ta lại được vua Chân Lạp "tạ ơn", mỗi lần vài huyện... Cuối cùng đất đai 6 tỉnh Nam Kỳ đều thuộc về VN.
Đến sau khi Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn thì VN còn có nhiều dịp "can thiệp vào nội bộ" của Chân Lạp, nhưng tiếc là các quan ta hành xử không khéo nên không "mở" thêm được bờ cõi mấy.
Đến đây, công cuộc "mang gươm" đi mở cõi của cha ông ta có thể xem như đã hoàn thành.
Nhìn chung cuộc Nam tiến chiếm đất của Chân Lạp được diễn ra tương đối thuận lợi. Bởi lẽ Chân Lạp thời ấy đã suy vi, các triều vua lo tranh giành quyền lực, không ngó ngàng gì đến lãnh thổ đất nước. Các vua được nước ta đưa về nắm chính quyền thì lại sung sướng, sẵn sàng "tặng" đất để tỏ lòng biết ơn. Có thể nói, VN ta đã có những cơ hội "trời cho" hết sức quý giá để mở rộng được lãnh thổ về phương Nam. Trong đó đáng kể nhất là miền Đông Nam Bộ (nay là đầu tàu của nền công nghiệp VN) và ĐBSCL (mà theo một số chuyên gia, nếu quy hoạch khéo có thể trở thành vựa lúa của cả khu vực Đông Nam Á).
Đôi điều nhìn lại
Đến đây xin mời các bác chúng ta cùng nhìn lại quá trình Nam tiến từ thuở xưa cho đến thời Cận đại một lần nữa.
Có thể nói, lãnh thổ nước ta từ thuở Bắc thuộc, chỉ là một dải đất chật hẹp ở đồng bằng Bắc Bộ, cho đến thời kỳ Cận đại, vươn dài đến tận mũi đất Cà Mau, đã trải qua một quá trình phát triển rất dài và nhiều biến động. Cuộc Nam tiến vĩ đại đó đã chứng tỏ một tinh thần anh dũng, quật cường và ý chí vươn lên của dân tộc ta.
Ta hãy nhớ lại. Từ thời nước ta vẫn còn là những miền đất manh mún, chia cắt và bị đè nặng dưới ách ngoại xâm thì Chiêm Thành đã là một nước lớn ở phía Nam. Ấy thế mà theo thời gian VN ta đã lớn mạnh dần và ngày càng cường thịnh còn Chiêm Thành ngày càng lụn bại, và cuối cùng bị VN thôn tính. Như vậy, có thể nói, chúng ta có quyền tự hào về sức sống mãnh liệt của dân tộc, về các võ công oai hùng của cha ông thuở trước.
Có thể có người còn thương xót, luyến tiếc cho Chiêm Thành một thuở oanh liệt với lầu son gác tía, với đền đài lộng lẫy của một nền văn hoá rực rỡ. Có thể có người đứng nhìn những tháp Chàm đổ nát trơ gan cùng tuế nguyệt mà cảm khái, không khỏi cảm thấy cha ông ta ngày xưa đã có phần "quá đáng" (!?). Một trong những người tỏ lòng luyến tiếc với quá khứ "tiêu biểu" nhất có lẽ là nhà thơ Chế Lan Viên. Trong tập thơ Điêu tàn nổi tiếng với sắc màu đầy vẻ huyền bí, hư ảo của mình, ông đã bộc lộ một tâm trạng nhớ thương, đồng cảm với nỗi đau mất nước của một trong những dân tộc đã có thời mạnh mẽ, lẫy lừng vào bậc nhất Đông Nam Á: dân tộc Chăm-pa.
Vâng, tất cả những điều đó dường như rất đáng để chúng ta mủi lòng. Nhưng..., hãy thử nhìn nhận vấn đề dưới một khía cạnh khác xem sao. Thực ra, việc Chiêm Thành bị tiêu diệt không hẳn chỉ do "dã tâm" của dân tộc Việt. Bản thân họ đã phải trả giá cho những sai lầm của chính họ. Ngay từ thời nước ta còn đang trong vòng nô lệ của giặc Hán, Chiêm Thành đã không ít lần "thừa nước đục thả câu", sang quấy nhiễu, cướp bóc nước ta, thậm chí đã có lần táo gan "đề nghị" phía TQ cho nước ta trở thành một vùng nội thuộc của Chiêm Thành để ...dễ "quản lý" ! Cho đến khi nước ta giành được độc lập thì Chiêm Thành vẫn không để yên, thường sang quấy nhiễu biên giới VN luôn. Hầu hết những cuộc chinh phạt Chiêm Thành của các triều đại VN đều bắt nguồn từ những vụ xâm phạm, cướp bóc biên giới của phía Chiêm Thành. Có một điều rất lạ là đã bao lần quân Chiêm bị quân ta đánh cho đại bại, nhiều lần bị đánh đến tận kinh đô, không ít lần vua bị giết, bị bắt sống. Ấy thế nhưng họ vẫn không "tỉnh ngộ", vẫn không chịu "thần phục" để đến nỗi rước lấy cái hoạ mất nước (thậm chí đến thời chúa Nguyễn, lãnh thổ chỉ còn một tẹo, vậy mà vua Chiêm vẫn còn đem quân quấy nhiễu Phú Yên (!), để rước lấy nhục vào thân và phải dâng gần hết đất, dẫn đến việc kết thúc sự tồn tại của nhà nước Chiêm Thành). Sử xưa có chép, người Chiêm Thành vốn tính tình hung dữ, ngang tàng... phải chăng đó là nguyên do cho sự tàn lụi của họ?!
Về Chân Lạp, dù có cấu kết với Chiêm Thành nhưng thực ra "ân oán" với nước Đại Việt có thể nói là chưa nhiều. Tuy nhiên, do thời thế mà miền đồng bằng trù phú phía Nam đã trở thành một phần của lãnh thổ VN. Phải chăng, đó là một hình thức đền bù của trời đất, muốn dành cho cho VN mảnh đất giàu có ấy để thay thế cho miền Lưỡng Quảng rộng lớn đã bị mất về tay TQ (?!).
Dẫu sao đi nữa thì lãnh thổ của VN, cùng với các nước xung quanh, ngày nay cũng đã định hình (và được quốc tế thừa nhận!), và trong tương lai cũng khó có thể biến cải gì lớn. Nhắc lại chuyện xưa chỉ như để hồi tưởng lại một thời quá khứ hào hùng của dân tộc, cái thuở ngàn năm "đem gươm đi mở cõi" ấy.
cdtphuc@ttvnol.com