Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 01:03:52 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quá trình mở mang và hoàn thiện lãnh thổ  (Đọc 83051 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #10 vào lúc: 02 Tháng Mười Một, 2009, 05:01:37 pm »


Một sự mách nước hay nhưng chưa đủ bởi với trình độ "tinh ví" "a ma tơ" như tui khó mò lắm, giá mà có đường dẫn...Dù sao vẫn cám ơn nhiều!
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Một, 2009, 05:12:18 pm gửi bởi menthuong » Logged

hoangphi
Thành viên
*
Bài viết: 7


« Trả lời #11 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2012, 10:17:03 pm »

Quả thực trong quá trình mở mang bờ cõi chúng ta đã "đưa nhiều quốc gia" vào trong lịch sử.....nhưng xét trong thời cuộc lúc bấy giờ "nước lớn nuốt nước nhỏ" cũng tạm coi là chuyện "bình thường" bất quá cho ta nhiều suy ngẫm....

Dù gì đi nữa cả dân tộc chúng ta cũng đang tiến những chặng dài trên con đường phát triển của thế giới.....

Trên những chặn đường mở mang bờ cõi hãy nhìn về các mối quan hệ của ta với các nước lân bang Đông Dương mà quan trọng nhất là Chiêm Thành....

QUAN HỆ VỚI CHIÊM THÀNH


Cựu Đường thư (sách của Trung Quốc) ghi rằng Chiêm Thành đã ba lần đánh phủ An Nam, năm 831, năm 862 và năm 865. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, và bị giết hại năm 979. Ngô Nhật Khánh, con rể vua, chạy sang Chiêm Thành xin giúp lấy lại ngôi vua.  Vua Chiêm Thành Paramecvarman cho hơn một nghìn chiếc thuyền của thuỷ quân Chiêm Thành tiến ra Đại Cồ Việt, nhưng gần đến Hoa Lư thì bị bão, cả hạm đội bị đắm, Ngô Nhật Khánh bị chết đuối, chỉ có vua Chiêm Thành thoát chết về được nước. Đây là lần đầu tiên một vua Chăm đem quân đánh nước Đại Cồ Việt độc lập có chủ quyền.

Ngược lại vua Lê Đại Hành sau khi đăng quang đã cử Tư Mục và Ngô Tử Canh đi sứ sang Chiêm Thành, nhưng vua Chăm Paravecvarman đã bắt giữ sứ giả Việt. Vua Lê Đại Hành nổi giận cất quân đánh thẳng vào kinh đô Indrapura, chém vua Paravecvarman (Phê Mi Thuế) tại trận, bắt được nhiều tù binh, san phẳng thành trì.  Quan hệ giữa Chiêm Thành và Đai Cồ Việt đã bắt đầu như thế: một bên muốn thông hiếu, một bên lại gây chiến, báo hiệu một tương lai hoà mục bất trắc.

Thời Lý, năm 1011 Chiêm Thành dâng sư tử.  Năm 1020 Khai Thiên Vương Phật Mã và Đào Thạc Phụ đem quân theo đường biển đánh trại Bố Chính, chém tướng Chăm, quân Chiêm chết quá nửa. Năm 1043, sau khi được nhà Tống phong vương, vua Chiêm Thành Sịmhavarman đem quân cướp ven biển Đại Việt, bị quân ta đánh lui.

Năm 1043 vua Lý Thái Tông giận Chiêm Thành không cử sứ sang Đại Việt quyết định đánh Chiêm Thành. Năm 1044 vua thân chinh chỉ huy quân đi đánh Chiêm Thành.  Quân Lý chém được vua Chiêm Thành là Sạ Đẩu, chiếm thành Phật Thệ (Vijaya, nay là Quy Nhơn). Trên đường về tới Lý Nhân (Phủ Lý hiện nay), nhà vua cho gọi Mị ê, cung phi của Sạ Đẩu, sang hầu thuyền vua, nhưng Mị Ê nhảy xuống sông tuẫn tiết.  Vua khen là trinh tiết và cho lập đền thờ.

Năm 1055 Chiêm Thành sang cống. Năm 1065 , 1066 tiếp tục cống. Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân đem quân đi đánh Chiêm Thành, kéo quân đến kinh thành Chiêm Thành bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) đưa về Thăng Long. Chế Củ được tha về nước sau khi chịu nhượng cho Đại Việt ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chánh (nay là vùng Quảng Bình và Quảng Trị).

Năm 1112 đời Lý Nhân Tông, Chiêm Thành cống voi trắng * Năm 1118, vua Chiêm Thành cử sứ sang Thăng Long; nhân dịp này vua Lý mời sứ đi dự hội Thiên Phật để khánh thành chùa Thắng Nghiêm thánh thọ.

Năm 1120 Chiêm Thành sang cống. Năm 1130, 1135 Chiêm Thành sang cống. Năm 1152, người nước Chiêm Thành cầu viện, vua Lý Anh Tông cử thượng chế Lý Mông đem 5.000 người ở Thanh Hoá, Nghệ An sang Chiêm Thành để lập Vamcaraja làm vua.  Nhưng Vamcaraja và Mông bị vua Jaya Harivarman I đánh bại, cả Lý Mông và Vamcara.ja đều chết. 

Năm 1154, vua Chế Bi-la-bút (Jaya Harivarman I) dâng con gái cho vua Lý Anh Tông, vua nhận.  Năm 1170 vua Chăm Jaya Indrravarman cử sứ sang thông hiếu với Đại Việt sau đó năm 1177 tiến đánh Chân Lạp, đốt phá kinh thành Angkor. Năm 1181 vua Chân Lạp Jayavarman VII giải phóng được Chân Lạp và chuẩn bị đánh trả đũa Chiêm Thành. Việc vua Chăm Jaya Indravarman ông Vatuvv lại đánh Chân Lạp một lần nữa là cơ hội để vua Chân Lạp Jayavarman VII cho quân đi đánh Chiêm Thành. Quân Chân Lạp chiếm được kinh thành Vijaya (Bình Định), bắt vua Jaya Indravarman giải về Chân Lạp và lập một ông hoàng Khơ Me làm vua Chiêm Thành, nhưng ít lâu sau ông vua này bị dân chúng nổi lên đánh đuổi về Chân Lạp và đưa một ông hoàng Chăm lên thay.

Năm 1203 ông hoàng Chân Lạp Ong Dhanapatigrama đánh đuổi được vua Vidyananda mà năm 1199 vua Lý Cao Tông đã phong vương. Vua Vidyanandana sang Đại Việt cầu cứu với trên hai trăm chiếc thuyền chiến.  Sự xuất hiện một hạm đội chiến thuyền làm cho Đại Việt nghi ngờ và định trừ khử nhưng kế hoạch bị lộ quân Nghệ An bị đánh tan vỡ. Từ năm 1203, như trên đã nói, Chiêm Thành trở thành lãnh địa của Chân Lạp cho đến 1220.

Từ 1225 nhà Trần thay thế nhà Lý.

Tại Chiêm Thành, năm 1220 kết thúc cuộc chiến tranh một trăm năm (1170- 1220) với Chân Lạp và cũng là kết thúc sự thống trị của Chân Lạp (1203-1220) trên đất Chiêm Thành. Quan hệ Đại Việt - Chăm trong thời gian này nói chung là không có vấn đề lớn .

Từ năm 1258 đến 1288, Đại Việt phải đối phó với âm mưu chinh phục của Nguyên - Mông trong cuộc đấu tranh ngoại giao ( 1258 đến 1 284) và ba cuộc xâm lược (1258, 1285, 1288) Chiêm Thành đồng thời cũng phải chống cuộc xâm lược của Nguyên - Mông (1283- 1285).

Nhà Nguyên muốn mượn đường Đại Việt để đi đánh Chiêm Thành đồng thời xâm chiếm luôn Đại Việt nhưng các vua Trần kiên quyết phản đối buộc quân Nguyên phải đi đường biển, mặt khác Đại Việt lại giúp quân Chiêm Thành chống lại quân Nguyên.

Có thể nói trong thời gian này đã có sự liên minh thật sự giữa Đại Việt và Chiêm Thành: Đại Việt chặn con đường bộ đi tới Chiêm Thành, Chiêm Thành cầm chân quân Nguyên không cho phối hợp với quân Nguyên đang xâm chiếm Đại Việt.

Quan hệ Đại Việt - Chăm tuy thưa thớt nhưng vẫn hữu nghị. Năm 1239 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con (vua Anh Tông) và làm Thượng hoàng. Năm 1301, nhân có sứ Chiêm Thành sang cống, Thượng hoàng đi thăm Chiêm Thành và lưu lại triều đình Chiêm Thành chín tháng.

Thượng hoàng hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Simvaharman III (sử ta gọi là Chế Mân). Trong triều nhiều ý kiến cho là không nên, nhưng Thượng hoàng vẫn giữ lời hứa và năm 1306 Huyền Trân công chúa đi Chiêm Thành. Sính lễ cầu hôn bao gồm việc dâng hai châu Ô, châu Lý (ở Bắc đèo Hải Vân). Đây là lần thứ hai cắt đất cho Đại Việt. Năm 1307 quan hành khiển Đoàn Nhữ Hài được cử cai trị hai châu này, và đổi tên hai châu.

Vua Chế Chỉ (lên thay vua Simhavarman năm 1307) thần phục nhà vua Trần Anh Tông nhưng vẫn muốn lấy lại hai châu Ô, châu Lý. Sau một cuộc kháng cự trong quân đội Chăm, Chế Chỉ bị bắt giải về Thăng Long và mất tại hành cung Gia Lâm và hoả táng theo tục lệ Chăm. Con Chế Chỉ là Chế Dà bà A Niêm (Chế Năng) được đưa lên thay.

Chế Năng cũng mưu lấy lại hai châu ô, châu Lý, năm 1318 xua quân đi tái chiếm hai châu nhưng bị quân Phạm Ngũ Lão đánh bại phải trốn sang Java. Triều đình nhà Trần đưa một tướng Chăm tên là Chế A Nan lên thay. Nhưng ý vẫn tính lấy lại hai châu.  Huệ Túc vương Đại Niên năm 1326 đi dẹp không được Khi Chế A Nan chết, con rể là tể tướng Trà Hoà cướp ngôi vua.

Năm 1346 con Chế A Nan là thái tử Chế Mổ trốn sang Đại Việt cầu viện. Vua Trần Dụ Tông cho quân sang Chiêm Thành. Đoàn quân Đại Việt không gặp được đoàn thuyền tiếp lương phải quay về Đại Việt. Chế Mổ cũng phải quay trở lại Đại Việt mất ở đó ít lâu sau. Nhân việc kéo quân về này, Trà Hoà đêm quân đánh hai châu Ô châu Lý nhưng bị thất bại.

Trà Hoà mất năm 1360, Chế Bồng Nga lên thay. Từ đây đến 1390, Chế Bồng Nga liên tục tiến công Đại Việt và ba lần kéo quân vào Thăng Long, lần thứ ba lưu lại Thăng Long mấy tháng liền, quân Đại Việt không đánh lại được.

Năm 1367, vua Duệ Tông thân mang mười hai vạn quân kéo vào cửa biển Thị Nại, chuẩn bị kéo quân vào thành Chà Bàn.  Đại tướng Đỗ Lễ can vua, vua không nghe chê Đỗ Lễ là đàn bà và ra lệnh lấy áo đàn bà mặc cho Đỗ Lễ. Vua thúc quân vào thành bị quân Chế Bồng Nga phục kích xông ra đánh. Vua và các đại tướng đều chết tại trận, quân ta tan vỡ.

Năm 1390 Chế Bồng Nga lại đem quân ra Đại Việt, đang chỉ huy đoàn chiến thuyền về Thăng Long thì bị đạn của ta chết tại trận. Quân Chiêm Thành mất đại tướng chỉ huy phải tháo chạy về nước. La Khải lên làm vua và mất năm 1401, Ba Địch Lai (Vrasu Tndravarmadeva) lên thay.

Hồ Quý Ly, sau khi lập triều Hồ, chuẩn bị 150.000 quân để đi đánh Chiêm Thành. Năm 1402 đi đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm mới lên ngôi nên cử một hoàng thúc điều đình vời Hồ Quý Ly rút quân và Chiêm Thành chịu nhượng Indrapura cho Đại Việt sau nhân nhượng thêm cả miền Amaravati (tức Quảng Nam ngày nay). Đây là lần mất đất thứ ba của Chiêm Thành.

Hồ Quý Ly chuẩn bị một đạo quân mới 200.000 người với ý định đánh đến kinh thành Vijaya (Quy Nhơn), nhưng ý đồ đó không thực hiện được do quân Minh tiến vào Đại Việt.  Vùng đất Chiêm Thành mới nhượng được chia làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và việc cai trị giao cho một người con lưu vong của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan.

Năm 1434 vua Chiêm Thành tìm cách thu hồi hai châu, nhưng sau vài trận đụng độ nhỏ lại giảng hoà với Đại Việt.

Năm 1444, 1445 vua Maha Vijaya (Ma Ha Bi Cái) cho quân cướp phá Hoá Châu. Năm 1446 Đại Việt đánh chiếm thành Vijaya (Quy Nhơn) rồi rút, bắt vua Maha Vijaya và đoàn cung phi, Vua Maha Vijaya được trao lại tước vương nhưng phải ở lại Đại Việt. Dân chúng tôn Maha Quý tai lên làm vua nhưng vị vua này lại bị em là Maha Quý Đô phế truất và bắt giam năm 1449. Maha Quý Đô bị giết năm 1458. Maha Trà Nguyệt lên thay sau nhường ngôi cho em là Trà Toàn.

Năm 1468 rồi 1469 vua Trà Toàn, với hơn 100.000 quân và một đoàn kỵ binh hùng mạnh, tấn công Hoá Châu. Năm 1470-1471 vua Lê Thánh Tông, từ hai hướng thuỷ bộ, đã đánh dữ dội vào kinh thành Vijaya, bắt được Trà Toàn, chia nước Chiêm Thành làm ba tiểu quốc, đưa biên giới Đại Việt đến núi Thạch Bi.

Nước Văn Lang đã được lập nên trước nước Chiêm Thành nhưng sau đó đã bị đế chế Trung Hoa đô hộ trong nghìn năm. Nước Chiêm Thành đã ra đời khoảng thế kỷ thứ VI trong lúc Việt Nam còn bị nhà Đường thống trị. Khi đó cả hai nước Việt Nam và Chiêm Thành đều là những nước nhỏ, Việt Nam chỉ đến vùng Đèo Ngang, Chiêm Thành từ vùng Phan Rang đến vùng Đèo Ngang. Cả hai nước đều muốn mở rộng lãnh thổ của mình.

Hai nhà nghiên cứu người Chăm Dorohiêm và Dohamide, trong cuốn Dân tộc Chăm lược sử, đã cho rằng ý đồ xâm chiếm những cánh đồng màu mỡ của miền Nam Đại việt đã mang lại hậu quả ngược lại là người Việt đã lấy đó làm cớ xâm chiếm lãnh thổ từ Đèo Ngang trở vào.

Lịch sử quan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành là từ đời Đinh đến hết đời Lê, trong khoảng sáu thế kỷ. Đây là thời kỳ các quốc gia bất kể lớn nhỏ quan hệ với nhau bằng ngoại giao vũ lực, lớn nuối bé, mạnh đánh yếu. Khi nhà Tống đánh Đại Việt, Mông Cổ tiêu diệt Vương quốc Tây Hạ rộng hơn 600.000 km2. Chiêm Thành đánh Đại Việt, Đại Việt đánh Chiêm Thành cũng như Chiêm Thành, Chân Lạp đánh nhau, thôn tính nhau.

Vấn đề thắng hay bại, còn hay mất tuỳ thuộc tiềm lực và bản lĩnh của mỗi nước, mỗi dân tộc. Công pháp quốc tế ngày nay đã loại bỏ việc sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các quốc gia và đặt hoà bình và an ninh trên cơ sở những nguyên tắc khá dứt khoát. Mặc dầu vậy chủ quyền của nhiều nước vẫn bị xâm phạm, chiến tranh cục bộ vẫn còn xảy ra.

Vấn đề tồn vong của Chiêm Thành đã trở thành một vấn đề lịch sử như lịch sử của bao quốc gia khác, của bao đế quốc đã bị diệt vong. Vấn đề hiện nay là nhân dân Chăm phát huy tài năng của mình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, cùng nhau xây dựng nước Việt Nam phồn vinh.

Logged
menthuong
Thành viên
*
Bài viết: 411


Nhất tướng công thành vạn cốt khô


« Trả lời #12 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2012, 06:04:14 am »

Quả thực trong quá trình mở mang bờ cõi chúng ta đã "đưa nhiều quốc gia" vào trong lịch sử.....nhưng xét trong thời cuộc lúc bấy giờ "nước lớn nuốt nước nhỏ" cũng tạm coi là chuyện "bình thường" bất quá cho ta nhiều suy ngẫm....
...
Nhưng chúng ta đã để các châu Tung Lăng, Hòang Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ , Khiêm Châu  vốn thuộc phủ An Tây thừa tuyên Hưng Hóa của Đại Việt về tay Thanh triều từ Thế kỷ XVIII mà họ gọi là Lục Mãnh).  Ai có rành mấy châu trên nay là cấp gì và mang địa danh nào trên bản đồ Vân Nam không nhỉ ?
Logged

hoangphi
Thành viên
*
Bài viết: 7


« Trả lời #13 vào lúc: 23 Tháng Năm, 2012, 09:03:52 pm »

Quả thực trong quá trình mở mang bờ cõi chúng ta đã "đưa nhiều quốc gia" vào trong lịch sử.....nhưng xét trong thời cuộc lúc bấy giờ "nước lớn nuốt nước nhỏ" cũng tạm coi là chuyện "bình thường" bất quá cho ta nhiều suy ngẫm....
...
Nhưng chúng ta đã để các châu Tung Lăng, Hòang Nham, Hợp Phì, Lễ Tuyền, Tuy Phụ , Khiêm Châu  vốn thuộc phủ An Tây thừa tuyên Hưng Hóa của Đại Việt về tay Thanh triều từ Thế kỷ XVIII mà họ gọi là Lục Mãnh).  Ai có rành mấy châu trên nay là cấp gì và mang địa danh nào trên bản đồ Vân Nam không nhỉ ?

tìm nhiều mà vẫn không ra.....vẫn đang tìm tiếp......chỉ biết nay thuộc Vân Nam trung quốc...
bác tham khảo cái này nghen...http://vi.wikipedia.org/wiki/Danh_s%C3%A1ch_%C4%91%C6%A1n_v%E1%BB%8B_h%C3%A0nh_ch%C3%ADnh_V%C3%A2n_Nam  ....tham khảo thôi....
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Năm, 2012, 09:54:54 pm gửi bởi hoangphi » Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #14 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2012, 02:05:06 pm »

Tản mạn về quá trình mở mang bờ cõi đất nước VN qua các thời kỳ

...........................
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
............................

A. Vài lời nhận xét

Tử thuở xưa, các dân tộc Việt chưa có một vùng lãnh thổ xác định, đất nước tồn tại chủ yếu dưới hình thức các bộ lạc. Tiếp sau đó VN lại rơi vào cảnh bị các triều đại TQ nhòm ngó và thôn tính, xen lẫn với các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa. Đất nước vì thế cứ hết bị sáp nhập lại tách ra...nên chưa thể gọi là có một vùng lãnh thổ xác định rõ ràng. Vậy ta sẽ lấy mốc là thời kỳ đất nước đã bước vào thời đại tự chủ, tức là từ nhà Ngô (938) để xem xét quá trình "mang gươm đi mở cõi" của cha ông ta ngày xưa.

Thực ra cũng chưa có một tài liệu lịch sử nào xác định rõ ràng cương giới của VN trong và sau thời kỳ Bắc thuộc (những năm đầu) (hoặc có mà tôi ko biết ! ). Tuy nhiên, dựa vào một số mốc ta có thể tạm suy đoán như sau (hì hì, "suy luận" và " đánh giá" cũng là một trong những cách học sử, phải không các bác nhể ? ): Trong Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim) có ghi rằng năm Kỷ Mão (678) Đường Cao Tông biên TQ đã "quy hoạch" lại VN thành 12 châu, 59 huyện. Trong đó có các châu Giao Châu (Hà Nội, Nam Định), Lục châu (Quảng Yên, Lạng Sơn), Ái Châu (Thanh Hoá), Hoan Châu (Nghệ An)....
Như vậy, có thể nói rằng trong những năm (cuối) của thời kỳ Bắc thuộc đến các triều đại sau của VN biên cương lãnh thổ nước ta đã được định hình một cách tương đối, kéo dài từ vùng rừng núi phía Bắc (Lạng Sơn) đến Bắc Trung Bộ (Nghệ An).

Đất nước từ thời còn manh mún, rời rạc cho đến lúc ấy đã có một sự phát triển đáng kể. Tuy nhiên, có lẽ sự mở rộng lãnh thổ trong thời kỳ đó chỉ mang tính tự phát (di dân..) hoặc do ý muốn của các quan Tàu muốn sáp nhập các vùng lại để cai trị cho "gọn" hơn. Ý chí mở mang bờ cõi (một cách chủ động) trong thời kỳ này hầu như chưa xuất hiện. Phải bắt đầu bước vào thời đại tự chủ sau hơn một ngàn năm đằng đẵng đau khổ dưới ách ngoại xâm, công cuộc mở mang bờ cõi mới đuợc chú ý thực sự. Cha ông ta đã có ý thức tự lực tự cường rất cao. Một mặt lo quan sát, đề phòng Bắc phương, mặt khác không ngừng ra sức mở mang bờ cõi để đất nước ngày một giàu mạnh, ít lệ thuộc vào ông hàng xóm khổng lồ kia.

Cũng xin nói rằng quá trình mở rộng bờ cõi của đất nước trong tất cả các thời kỳ đều chỉ gói gọn trong hai chữ: Nam Tiến. Có bác sẽ thắc mắc hỏi rằng tại sao chúng ta không phát triển một cách "đồng đều" cho đất nước nó vuông vuông một tí, khôn phải "dẹt " như hình dáng ngày nay. Xin thưa rằng không phải cha ông ta không muốn nhưng do hoàn cảnh "khách quan" mà điều đó không thể thực hiện được. Phía Đông ta giáp biển, dĩ nhiên là không thể "mở" gì được cả. Phía Bắc thì lại "đụng" anh TQ, lo thủ chưa xong làm gì mà dám lấn tới! (Có lẽ trong LS VN chỉ có một vua Quang Trung Nguyễn Huệ là dám có tư tưởng Bắc Tiến táo bạo, nhưng hỡi ôi, trời chẳng chiều người.). Phía Tây thì gặp phải địa hình rừng núi, thung lũng... đầy hiểm trở, cũng không thể "xơ múi"gì nhiều. Vậy thì chỉ còn lại phía Nam: đất đai bằng phẳng, nhân tình ôn hoà, lại toàn là các nước nhược tiểu (dĩ nhiên là so với VN!) nên cha ông ta cứ thế mà thẳng tiến. Và quá trình Nam tiến liên tục được tiếp nối cho đến khi gặp phải mũi Cà Mau thì (đành) dừng lại.

Nhân đây cũng xin nói thêm về vấn đề "chính nghĩa" của quá trình mở cõi. Một số sử gia có khuynh hướng cho rằng việc mở mang bờ cõi của VN ta là điều "tất yếu ?!" phải xảy ra, bởi lẽ dân số ngày một nhiều mà đất đai thì có hạn. Nhưng nếu "ní nuận" theo kiểu đó thì té ra anh TQ cũng có lý lẽ để thôn tính nước ta, và thậm chí ngay cả Chiêm Thành cũng có thể làm điều đó nếu có thực lực (và thực tế là họ đã "thử" nhưng không được). Theo tôi thì việc xâm chiếm, thôn tính lẫn nhau là lẽ đương nhiên, nhất là trong thời kỳ loạn lạc bấy giờ. Trong LS thế giới đã có biết bao những cuộc sát nhập, phân khai giữa các vùng lãnh thổ, có những cuộc thành công cho đến tận bây giờ, nhưng cũng có những cuộc thôn tính bất thành. Lý lẽ ở đây là mạnh được yếu thua. Dân tộc nào còn giữ được bản sắc văn hoá thì còn có cơ khôi phục, còn không sẽ bị đồng hoá và trở thành một bộ phận của nước đi thôn tính. Bởi thế, theo quan điểm của tôi, chúng ta nên cho điều đó là tự nhiên, không cần biện hộ một cách khiên cưỡng làm gì.

Sau đây xin đi vào một số mốc cụ thể của quá trình mở đất của cha ông ta từ thuở xưa cho đến những năm sau này của thời kỳ cận đại

Một số mốc cụ thể trong quá trình Nam tiến, mở rộng bờ cõi của đất nước:

Như đã nói ở trên, khi đất nước bắt đầu bước vào độc lập thì ý chí và hoạt dộng mở mang lãnh thổ đã được "liên tục phát triển". Lãnh thổ được mở rộng dần theo kiểu "tằm ăn dâu", tuy nhiên vẫn có một số mốc cụ thể để ta xác định các bước của quá trình Nam Tiến (Sẽ được đề cập sau).

Nói ngắn gọn thì quá trình mở nước của cha ông ta chỉ gồm 2 bước
1. Xâm chiếm và "nuốt dần" nước Chiêm Thành cho đến khi nước này mất hẳn.
2. Xâm chiếm và chiếm của Chân Lạp (Cam-pu-chia) một vùng đất rất "đáng kể", trong đó có đồng bằng Sông Cửu Long (vựa lúa lớn nhất nước của VN ngày nay).

Tuy nhiên, các bước trên được tiến hành dần dần, mỗi triều đại góp một chút công, để cuối cùng, đến triều Nguyễn, khi dấu chân của người VN đã đặt lên mảnh đất địa đầu Cà Mau thì nhiệm vụ cao cả đó được xem như hoàn thành. (Ngoài ra ta cũng đã xâm nhập một tí (gọi nôm na là "chấm mút") lãnh thổ của anh bạn láng giềng "dễ thương" là nước Ai Lao (Lào) nhưng nói chung là không đáng kể.)

Giai đoạn đánh chiếm Chiêm Thành:

Dưới thời nhà Đinh

Như trên đã nói, khi nước ta bước vào thời kỳ tự chủ, bắt đầu từ nhà Ngô thì lãnh thổ đã kéo dài từ miền Lạng Sơn phía Bắc đến Nghệ An phía Nam, giáp ranh với Chiêm Thành. Sau đó, đất nước không may rơi vào thời kỳ loạn lạc 12 sứ quân, lãnh thổ lại bị chia năm xẻ bảy. Đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lãnh thổ bao gồm cả miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ cho đến Hoành Sơn.
Giai đoạn này, đất nước ta mới thống nhất, quan hệ với Chiêm Thành nói chung là "êm đẹp".

Dưới thời nhà Tiền Lê

Năm 981, dưới thời Lê Hoàn, nước ta lần đầu tiên đem quân đi chinh phạt Chiêm Thành , chiếm được Địa Lý Châu (gồm Quảng Ninh, Quảng Bình). Chiêm Thành đã phải dời kinh đô (Yudrapura) từ miền Trà Kiệu vào thành Phật Thệ (Vijaya) (tức Bình Định ngày nay). Sự kiện này đánh dấu một bước ngoặt: Chiêm Thành từ trước vẫn là một nước lớn (đối với VN) nhưng từ sau sự kiện này đã trở thành một "tiểu quốc", chịu thần phục Đại Việt, và có thể nói, đã tạo "tiền đề" cho các cuộc Nam tiến của các triều đại sau này.

Dưới thời nhà (Hậu) Lý

Sau khi chiếm được Địa Lý Châu, Lê Đại Hành đã trả lại cho Chiêm Thành, nhưng công cuộc Nam tiến thì vẫn được nhà Lý tiếp nối mạnh mẽ.
Năm 1044, vua Lý TháiTông đem quân đánh Chiêm Thành, giết được vua Chiêm là Sạ Đẩu, chiếm được kinh đô, bắt cả vợ cả và vợ lẽ của Sạ Đẩu (!!!) nhưng sau đó lại rút về.
Năm 1068, vua Lý Thánh Tông thân chinh đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Nhưng khác với các lần chinh phạt trước( quân ta chỉ lo đánh thắng Chiêm Thành rồi "trưng dụng" của cải, bắt vua Chiêm phải cống nộp chứ không có ý muốn lấy đất), lần này, dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, quân ta không chỉ chiến thắng vẻ vang mà còn bắt Chiêm Thành phải nộp cống, không chỉ của cải mà còn là ba châu: Địa Lý ( nay thuộc Quảng Bình), Ma Linh (Quảng Trị) và Bố Chính (Quảng Bình). (LTK là người có tầm nhìn chiến lược. Ông đã nhận thấy sự chật hẹp của đồng bằng Bắc Bộ và nhận định rằng muốn phát triển đất nước hùng mạnh, bắt buộc phải mở rộng bờ cõi về phương Nam. Có thể nói, ông là người có công lớn trong việc thu phục lãnh thổ của Chiêm Thành).
Năm 1103, nhân vụ Lý Giác làm phản chạy sang Chiêm Thành, xúi giục vua Chiêm tiến quân đòi lại 3 châu, Chiêm Thành bèn rục rịch kéo quân nhưng đã bị Lý Thường Kiệt đánh cho một trận đại bại, không còn dám "đòi" lại nữa.(Nhân đây cũng xin nói thêm rằng nước ta từ thời ấy, sau nhiều sự kiện "oanh liệt" với Chiêm Thành, đã trở thành một "tiểu đế quốc" ở phương Nam. Các nước Chiêm Thành, Chân Lạp, Ai Lao... đều "xưng thần" và hàng năm triều cống rất chu đáo ! Tất nhiên, tiểu quốc mà lơ là thì đại quốc phải đem quân sang hỏi tội thôi. (Kể cũng oai ra phết!)).

Dưới thời nhà Trần

Thời nhà Trần có thể được xem là giai đoạn thịnh nhất trong lịch sử nước ta thời phong kiến (giống như nhà Đường được xem là thời kỳ rực rỡ nhất của chế độ phong kiến ở TQ). Tuy nhiên, đáng tiếc là trong thời kỳ này nước ta phải nhiều phen anh dũng chống ngoại xâm (Mông Cổ) nên công cuộc Nam tiến không "phát huy" được nhiều.
Năm 1306 vua Trần Anh Tông thực hiện một cuộc "đổi giai nhân lấy đất" vô tiền khoáng hậu, tạo nên một trong những giai thoại "hấp dẫn" nhất của lịch sử VN. Nhà Trần gả Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân để đổi lấy 2 châu" châu Ô và châu Lý. Đến năm 1037 VN chính thức tiếp quản 2 châu này: đưa dân vào, thiết lập chính quyền và đổi lại tên thành Thuận Châu và Hoá Châu.
Sau đó nhà Trần trở nên suy yếu dần, các vua đời sau chỉ lo ăn chơi hưởng lạc.
Trong các năm 1353 và 1367 dưới thời Trần Dụ Tông nước ta đã hai phen đem quân chinh phạt Chiêm Thành nhưng đều thu lấy thất bại nặng nề, làm ảnh hưởng đến uy tín với các nước lân bang. Lại "không may" cho VN là lúc này Chiêm Thành có một vị vua rất giỏi là Chế Bồng Nga. Nhân lúc nhà Trần ngày càng suy vi, CBN không những đã đem quân đòi lại các châu bị mất ở các thời vua trước mà còn nhiều lần đem quân đến tận Thăng Long, tàn phá kinh thành, làm vua tôi nhà Trần phải trốn chạy rất vất vả, quả là một hình ảnh không đẹp chút nào.

Dưới thời nhà Hồ

Tuy Hồ Quý Ly tại vị không được lâu và nói chung trong thời nhà Hồ, nội tình trong nước còn nhiều rối ren, nhưng HQL cũng đã kịp ghi cho mình một số chiến công trong việc chinh phục lãnh thổ của Chiêm Thành.
Năm 1402 tướng nhà Hồ là Đỗ Mãn cử binh sang đánh Chiêm Thành. Vua Chiêm là Ba Địch Lại phải dâng đất Chiêm Động (nay thuộc tỉng Quảng Nam) để được yên. Tuy nhiên, nhà Hồ còn "vòi" thêm cả đất Cổ Luỹ (Quảng Ngãi) nữa rồi di dân vào, đặt nền hành chính của nước ta ở các nơi mới thu phục.
Sau đó, nhà Hồ bị sụp đổ. Đất nước lại rơi vào tay Bắc phương. Công cuộc Nam chinh xem như bị đình lại.

Dưới thời nhà Hậu Lê

Dưới thời nhà Hậu Lê, nước ta đã tiến một bước khá dài trong công cuộc Nam tiến.
Sau những năm đầu lo ổn định tình hình chính trị, kinh tế (và cả lo diệt trừ công thần, bè phái, đấu đá lẫn nhau nữa!), đến thời Lê Thánh Tông, nước ta đã có những cuộc chinh phạt Chiêm Thành mới.
Năm 1470, nhân có vụ Chiêm Thành "khiêu khích" trước, vua Lê Thành Tông thân chinh đem 26 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm đại bại. Quân ta đánh rốc vào tận kinh đô Đồ Bàn, giết được vua Chiêm. Nhằm làm cho Chiêm Thành yếu đi, LTT thực hiện chính sách "chia để trị" (xem ra không chỉ người Pháp mà cả người VN ta cũng rành món này!), chia nước Chiêm thành 3 phần: Chiêm Thành, Hoá Anh và Nam Phan, giao cho các cựu thần của nước Chiêm cũ cai trị. Đồng thời vua "thu hồi" lại các đất Đồ Bàn, Đại Chiêm và Cổ Luỹ, lập ra đạo Quảng Nam để "nhập" vào nước ta. Trận đánh này làm nước Nam lừng danh, khôi phục lại uy tín cũ, các nước lân bang lại tới tấp sang chầu và xưng thần !
Có thể nói, sau chiến công oanh liệt này, Chiêm Thành đã đi vào chỗ suy vi, không còn có cơ hội cường thịnh trở lại. Vì vậy, các triều đại sau, tuy không thật mạnh nhưng công cuộc chinh phạt Chiêm Thành vẫn được tiến hành từng bước vững chắc, và cho đến các đời sau này, Chiêm Thành cứ mất dần mất dần cho đến khi bị tiêu diệt hẳn vào đời chúa Nguyễn.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1244


« Trả lời #15 vào lúc: 04 Tháng Mười Một, 2012, 02:06:26 pm »

Thời kỳ loạn lạc

Nhà Lê, sau các triều vua đầu anh minh, đã trở nên suy vi với các vị vua kém tài kém đức, dẫn đến việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đẩy đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng triền miên, sự nghiệp Nam tiến một lần nữa lại bị đình lại.

Dưới thời chúa Nguyễn

Sau khi sự nghiệp "Diệt Mạc phù Lê" thành công thì hai họ Trịnh Nguyễn lại quay sang đấu đá lẫn nhau. Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn ở phía Nam. Để khuếch trương lực lượng nhằm có thể "chiến đấu lâu dài" với họ Trịnh hùng mạnh ở Bắc Hà, chúa Nguyễn đã tiến hành "mở rộng" lãnh thổ về phương Nam.
Năm 1611 Nguyễn Hoàng đem quân vào đánh Chiêm Thành, chiếm đất lập ra phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hoà.
Năm 1617 chúa Nguyễn chiếm thêm đất Chiêm Thành, lập ra dinh Trấn Biên.
Năm 1653 Chiêm Vương là Bà Thấm "không biết điều", đem quân quấy nhiễu phủ Phú Yên, bị quân Nguyễn đánh bại. Nhà Nguyễn, nhân cơ hội đó, tiếp tục lấy thêm đất của Chiêm Thành, lập ra phủ Diên Khánh (nay thuộc tỉnh Khánh Hoà).
Năm 1693 Chiêm vương Bà Tranh bỏ tiến cống. Nhà Nguyễn không bỏ lỡ cơ hội này. Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai tổng binh Nguyễn Phúc Kính đem quân "hỏi tội", bắt được vua Chiêm. Đất đai của Chiêm chiếm được bị đổi thành phủ Thuận Thành, sau đổi lại thành phủ Bình Thuận, lại lấy đất Phan Lý (Phan Tri), Phan Lang (Phan Rang) làm huyện Yên Phúc và huyện Hoà Đa.
Từ đó Chiêm Thành xem như mất hẳn.
Như vậy trong khoảng chưa đến một thế kỷ mà nhà Nguyễn đã thôn tính được hoàn toàn Chiêm Thành, điều mà những triều đại trước tốn bao công sức mà không gặt hái được nhiều thành công. Điều này có nguyên do rất lớn từ bản thân Chiêm Thành. Thực ra quân lực chúa Nguyễn không phải là quá mạnh, nhưng kể từ sau thất bại trước vua Lê Thánh Tông nhà Lê, rồi bị chia thành 3, Chiêm Thành đã ngày càng suy yếu, không thể gượng dậy được và chỉ còn chờ ngày diệt vong.

Giai đoạn đánh chiếm Chân Lạp

Các cuộc xâm chiếm đất Chân Lạp (Cam-pu-chia) để mở mang bờ cõi về phương Nam của người VN diễn ra có phần êm thắm hơn. Nguyên do dải đất miền Trung của cúa chúa Nguyễn vốn không được màu mỡ. Đất đai cằn cỗi, làm ăn khó khăn, lại thêm hoạ chiến tranh Trịnh-Nguyễn nên người dân dần dần di cư vào Nam, lúc ấy còn thuộc Chân Lạp, rất nhiều.
Cả miền Đông Nam Bộ và ĐB SCL bây giờ thời ấy còn khá hoang vu, đất rộng người thưa. Đất đai lại trù phú, màu mỡ, thành ra người Việt di cư vào đó ngày càng đông.
Trong những năm 1658 đến 1674, Chân Lạp có loạn tranh giành quyền lực, có phe lại "mời" chúa Nguyễn vô "giải quyết dùm". Nhà Nguyễn được thể cứ kéo binh vào "bình định", mỗi năm lại mở rộng thêm tầm ảnh hưởng của mình ở đấy.
Năm 1679 có quan nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến vì bất mãn nhà Thanh nên theo về. Chúa Nguyễn nhân cơ hội đó, muốn khai khẩn thêm đất ở Chân Lạp, bèn cho họ vào ở đất Đông Phố, đất Lộc (nay thuộc Gia Định, Đồng Nai), Mỹ Tho...
Năm 1698 chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Kính làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông phố ra làm dinh , huyện, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Nhà Nguyễn bắt đầu củng cố địa vị và quyền lực của mình ở rẻo đất phía Nam màu mỡ này.
Thời bấy giờ có người TQ là Mạc Cửu, nhân vì hoạ nhà Thanh, lưu lạc sang đất Chân Lạp. Ông chiêu mộ lưu dân , lập nên 7 xã gọi là Hà Tiên.
Năm 1708 Mạc Cửu xin thuộc về nhà Nguyễn. Lãnh thổ nước ta lại được mở rộng thêm một phần.
Trong khoảng thời gian đó, nước Chân Lạp xảy ra biến luôn, các vua tranh giành quyền lực rồi lại chạy sang nhờ chúa Nguyễn hay Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên. Sau mỗi lần bình ổn ta lại được vua Chân Lạp "tạ ơn", mỗi lần vài huyện... Cuối cùng đất đai 6 tỉnh Nam Kỳ đều thuộc về VN.
Đến sau khi Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn thì VN còn có nhiều dịp "can thiệp vào nội bộ" của Chân Lạp, nhưng tiếc là các quan ta hành xử không khéo nên không "mở" thêm được bờ cõi mấy.
Đến đây, công cuộc "mang gươm" đi mở cõi của cha ông ta có thể xem như đã hoàn thành.

Nhìn chung cuộc Nam tiến chiếm đất của Chân Lạp được diễn ra tương đối thuận lợi. Bởi lẽ Chân Lạp thời ấy đã suy vi, các triều vua lo tranh giành quyền lực, không ngó ngàng gì đến lãnh thổ đất nước. Các vua được nước ta đưa về nắm chính quyền thì lại sung sướng, sẵn sàng "tặng" đất để tỏ lòng biết ơn. Có thể nói, VN ta đã có những cơ hội "trời cho" hết sức quý giá để mở rộng được lãnh thổ về phương Nam. Trong đó đáng kể nhất là miền Đông Nam Bộ (nay là đầu tàu của nền công nghiệp VN) và ĐBSCL (mà theo một số chuyên gia, nếu quy hoạch khéo có thể trở thành vựa lúa của cả khu vực Đông Nam Á).

Đôi điều nhìn lại


Đến đây xin mời các bác chúng ta cùng nhìn lại quá trình Nam tiến từ thuở xưa cho đến thời Cận đại một lần nữa.
Có thể nói, lãnh thổ nước ta từ thuở Bắc thuộc, chỉ là một dải đất chật hẹp ở đồng bằng Bắc Bộ, cho đến thời kỳ Cận đại, vươn dài đến tận mũi đất Cà Mau, đã trải qua một quá trình phát triển rất dài và nhiều biến động. Cuộc Nam tiến vĩ đại đó đã chứng tỏ một tinh thần anh dũng, quật cường và ý chí vươn lên của dân tộc ta.

Ta hãy nhớ lại. Từ thời nước ta vẫn còn là những miền đất manh mún, chia cắt và bị đè nặng dưới ách ngoại xâm thì Chiêm Thành đã là một nước lớn ở phía Nam. Ấy thế mà theo thời gian VN ta đã lớn mạnh dần và ngày càng cường thịnh còn Chiêm Thành ngày càng lụn bại, và cuối cùng bị VN thôn tính. Như vậy, có thể nói, chúng ta có quyền tự hào về sức sống mãnh liệt của dân tộc, về các võ công oai hùng của cha ông thuở trước.

Có thể có người còn thương xót, luyến tiếc cho Chiêm Thành một thuở oanh liệt với lầu son gác tía, với đền đài lộng lẫy của một nền văn hoá rực rỡ. Có thể có người đứng nhìn những tháp Chàm đổ nát trơ gan cùng tuế nguyệt mà cảm khái, không khỏi cảm thấy cha ông ta ngày xưa đã có phần "quá đáng" (!?). Một trong những người tỏ lòng luyến tiếc với quá khứ "tiêu biểu" nhất có lẽ là nhà thơ Chế Lan Viên. Trong tập thơ Điêu tàn nổi tiếng với sắc màu đầy vẻ huyền bí, hư ảo của mình, ông đã bộc lộ một tâm trạng nhớ thương, đồng cảm với nỗi đau mất nước của một trong những dân tộc đã có thời mạnh mẽ, lẫy lừng vào bậc nhất Đông Nam Á: dân tộc Chăm-pa.

Vâng, tất cả những điều đó dường như rất đáng để chúng ta mủi lòng. Nhưng..., hãy thử nhìn nhận vấn đề dưới một khía cạnh khác xem sao. Thực ra, việc Chiêm Thành bị tiêu diệt không hẳn chỉ do "dã tâm" của dân tộc Việt. Bản thân họ đã phải trả giá cho những sai lầm của chính họ. Ngay từ thời nước ta còn đang trong vòng nô lệ của giặc Hán, Chiêm Thành đã không ít lần "thừa nước đục thả câu", sang quấy nhiễu, cướp bóc nước ta, thậm chí đã có lần táo gan "đề nghị" phía TQ cho nước ta trở thành một vùng nội thuộc của Chiêm Thành để ...dễ "quản lý" ! Cho đến khi nước ta giành được độc lập thì Chiêm Thành vẫn không để yên, thường sang quấy nhiễu biên giới VN luôn. Hầu hết những cuộc chinh phạt Chiêm Thành của các triều đại VN đều bắt nguồn từ những vụ xâm phạm, cướp bóc biên giới của phía Chiêm Thành. Có một điều rất lạ là đã bao lần quân Chiêm bị quân ta đánh cho đại bại, nhiều lần bị đánh đến tận kinh đô, không ít lần vua bị giết, bị bắt sống. Ấy thế nhưng họ vẫn không "tỉnh ngộ", vẫn không chịu "thần phục" để đến nỗi rước lấy cái hoạ mất nước (thậm chí đến thời chúa Nguyễn, lãnh thổ chỉ còn một tẹo, vậy mà vua Chiêm vẫn còn đem quân quấy nhiễu Phú Yên (!), để rước lấy nhục vào thân và phải dâng gần hết đất, dẫn đến việc kết thúc sự tồn tại của nhà nước Chiêm Thành). Sử xưa có chép, người Chiêm Thành vốn tính tình hung dữ, ngang tàng... phải chăng đó là nguyên do cho sự tàn lụi của họ?!

Về Chân Lạp, dù có cấu kết với Chiêm Thành nhưng thực ra "ân oán" với nước Đại Việt có thể nói là chưa nhiều. Tuy nhiên, do thời thế mà miền đồng bằng trù phú phía Nam đã trở thành một phần của lãnh thổ VN. Phải chăng, đó là một hình thức đền bù của trời đất, muốn dành cho cho VN mảnh đất giàu có ấy để thay thế cho miền Lưỡng Quảng rộng lớn đã bị mất về tay TQ (?!).

Dẫu sao đi nữa thì lãnh thổ của VN, cùng với các nước xung quanh, ngày nay cũng đã định hình (và được quốc tế thừa nhận!), và trong tương lai cũng khó có thể biến cải gì lớn. Nhắc lại chuyện xưa chỉ như để hồi tưởng lại một thời quá khứ hào hùng của dân tộc, cái thuở ngàn năm "đem gươm đi mở cõi" ấy.

cdtphuc@ttvnol.com
Logged
nemesisgau
Thành viên

Bài viết: 4


« Trả lời #16 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2012, 12:47:51 pm »

Bài của bác lonesome nhặt từ bên ttvnol về cũ rồi bác ạ. Nhất là cái đoạn Quang Trung Nguyễn Huệ thì sặc mùi ttvn luôn.
Nói về đánh TQ, có 2 vị của Việt Nam đã làm rồi, chứ không chỉ là nói đòn gió để củng cố ba quân:
- Lý Thường Kiệt. Vị này không định chiếm đất nên cũng chỉ tính là 50-50.
- Nùng Trí Cao. Đánh loạn xạ cả lên, nhà Tống đánh dẹp mãi mới xong được. Nhiều người cho rằng có liên minh ngầm giữa vị này và nhà Lý, bởi khi nhà Tống đánh không được thì vua Lý "bắn tin" ý đi đánh dẹp hộ. Đến khi Nùng Trí Cao sắp thua trận thì nhà Lý vẫn lấy cớ đánh dẹp giúp nhưng cử quân sang thật. Có điều quân chưa tới nơi thì đã vỡ trận rồi, đành kéo về.
Còn Nguyễn Huệ, nói cho thực lòng thì chả có đủ lực mà đánh TQ. Có sống thêm 10 năm hay 20 năm còn chưa chắc đã đánh nổi Nguyễn Ánh, một bên dựa vào vùng đất đã bạc màu, một bên có hẳn đồng bằng Sông Cửu Long làm bệ đỡ. Còn vua nào thì cũng là vua, phong kiến hết. Cũng sưu dịch, cũng bị dân ghét. Chuyện lính hết bỏ ngũ bên này sang bên kia là thường tình.
Còn em thấy nếu nói về lãnh thổ và ảnh hưởng thì Minh Mạng xếp đầu bảng. Biên giới kéo sang tận Savanakhet ( Trấn Man), bảo hộ Chân Lạp.
Logged
kc135
Thành viên
*
Bài viết: 287


« Trả lời #17 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2012, 11:22:27 am »

còn có vua Trần Thái tông đánh Khâm châu,Liêm Châu vào cuối thời Tống,sao không thấy ai nhắc vậy?
chúa Trịnh Tráng cũng từng sai tướng đem 500 thuyền sang đánh Quãng Đông,giải vây cho Quân Thanh năm 1665
Logged
vanhaubg
Thành viên
*
Bài viết: 70



« Trả lời #18 vào lúc: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 07:07:03 pm »

Hồi học lịch sử lớp 8 hay lớp 9 gì ấy thì dưới thời vua Minh Mạng hay Minh Mệnh (1820-1841) nhà Nguyễn bản đồ của ta mở rộng tới biên giới Thái Lan. Bao gồm cả Cam Pu Chia và Lào ngày nay. Về quân đội cũng mạnh lắm. Vì bản đồ vẽ tổng quát quá nên chỉ khoảng khoảng ấy thôi. Bác nào thông thạo trả lời giúp em nhé!
Logged

[BG] VănHậuBG_9x
linhtapsu
Thành viên
*
Bài viết: 51


« Trả lời #19 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2012, 12:54:14 am »

Thời Minh Mạng nghe sát nhập Cam vào Việt Nam nghe hoành tráng , nhưng thực chất quân ta ở đó khoảng vài năm , không làm nên trò trống gì cả nên rút về , mà đưa quân sang Chân Lạp thời đó cũng là 1 sai lầm của nhà Nguyễn , vì làm cho quốc khố trống trơn , dân tình điêu đứng vì phu phen ! Minh Mạng đưa quân qua Chân Lạp cũng gần giống như kiểu " 1 phút anh hùng rồi chợt tắt " Thời đó nước ta đã quá tụt hậu so với phương Tây , nhưng vẫn cứ nghĩ mình là số 1  Grin Grin Minh Mạng mất ta rút quân về thì hơn 10 năm sau Pháp bắt đầu đánh Việt Nam , lúc đó nhà Nguyễn mới bộc lộ những yếu kém !!
Cái chuyện bản đồ vẽ Chân Lạp thuộc Việt thời đó là 1 kiểu " tự sướng " thì đúng hơn , thì cũng giống như vụ sứ thần các nước như Hà Lan , Bồ Đào Nha , Indo vv qua nước ta giao bang , nhưng các vua nhà Nguyễn thời đó đưa các nước đó vào danh sách các nước .. chư hầu thần phục của mình  Grin Grin
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM