Do các thiết kế của tên lửa đối hạm không ngừng được cải tiến nâng cao, nên các biện pháp chế áp điện tử chống tên lửa kiểu “sát thương mềm” có thể chưa đủ. Vì vậy, trong khi có sự chú trọng rất lớn - nói cách khác là tin tưởng rất lớn - vào những khả năng của các hệ thống tác chiến điện tử và chế áp điện tử trên tàu những người chỉ huy hải quân vẫn chưa thật yêm tâm muốn có thêm một giải pháp “sát thương cứng” chắc chắn, phòng khi các khả năng “sát thương mềm” không làm việc tốt đúng như quảng cáo. Ngoài tên lửa phòng thủ điểm “sát thương cứng” ở những cự ly xa hơn (vòng ngoài), thì lớp phòng thủ cuối cùng ở cự ly rất gần được xác định là các hệ vũ khí đánh gần (tầm gần/tầm ngắn).
Tuy nhiên, do các tên lửa đối hạm không chỉ được xem là mối đe doạ có thể chúng còn là mối đe doạ nguy hiểm nhất đối với các tàu mặt nước. Những nhận thức về mối đe doạ hiện nay cho rằng ngay cả những phát triển mới nhất của hệ thống tên lửa phòng thủ điểm là khả năng chính chống tên lửa với những khả năng thứ yếu, nhưng vẫn quan trọng, cho giao chiến với các mục tiêu trên không, mục tiêu mặt biển hoặc trên không không cân xứng. Ngày nay, cuộc chiến trên biển phần lớn diễn ra trong các môi trường biển duyên hải, gần bờ. Tình thế này đặt các tàu mặt nước và kíp thuỷ thủ của chúng vào tình huống nguy hiểm trước số lượng các mối đe doạ gia tăng từ các tàu nhỏ, tàu cao tốc, pháo thông thường và pháo có điều khiển, máy bay lên thẳng, thuỷ lôi và một loạt tên lửa đối hạm phòng từ bờ.
Mối đe doạ tăng lên chưa từng có này đã làm tăng nhu cầu về các hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) thế hệ mới để trang bị cho các tàu chiến mặt nước mới đang được đưa vào trang bị cho hải quân các nước khu vực châu Á Thái Bình dương như Ôxtrâylia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaixia, Pakixtan, Xingapo, Hàn Quốc và Đài Loan. Những năm gần đây, một số hệ thống CIWS đã được phát triển bao gồm: Fast Forty, Myriad, Barrage, MIDAS/ Drakon, Seaguard/Seazenith, Meroka, Phalanx, Goalkeeper, Millennium Gun, AK230, AK630, AK630M1-2, Palma, và Kashtan. Dưới đây là một số hệ thống đáng lưu ý đang được chào bán cho các lực lượng hải quân hiện nay.
Hệ thống CIWS PhalanxHệ thống được đánh giá là thành công nhất và triển khai rộng rãi nhất là hệ CIWS Phalanx Mk15, chúng được mô tả là tổ hợp khép kín tích hợp gồm hệ thống súng/pháo, đạn và rađa lắp trên một bệ mang duy nhất thay đổi góc tà bằng pittông. Hệ thống được phân hãng của General Dynamics phát triển vào những năm 1970 (năm 1992 phân hãng này sát nhập vào công ty Hughes Missile Systems, hiện nay nhập vào công ty Raytheon Systems). Hệ pháo này được đánh giá là có thể chấp nhận được và có thể lắp lên bất kỳ tàu mặt nước nào mà không cần có sự sửa đổi quan trọng trên tàu, hệ Phalanx hiện đang được lắp đặt trên tất cả các tàu chiến mặt nước của Mỹ và trên tàu chiến của hơn 20 nước khác.
Hệ thống Phalanx được trang bị pháo sáu nòng phản ứng nhanh kiểu Gatling M61A1 Vulcan của General Electric có nhịp bắn cao 3000 phát/phút hoặc 4500 phát/phút đối với các môđen chế tạo sau và một rađa băng Ku được chế tạo theo công nghệ chỉ điểm khép kín có khả năng thực hiện các chức năng tìm, phát hiện, đánh giá, bám, giao chiến và đánh giá hiệu quả tự động. Các loại đạn có thể bắn gồm đạn xuyên giáp vỏ tự huỷ (APDS) 20 mm, sử dụng đầu xuyên 15 mm bằng kim loại nặng (vonfram hoặc uran nghèo) được bao quanh bằng một guốc đạn plastic và một phần đáy (pusher) kim loại nhẹ.
Cấu hình ban đầu của hệ thống Phalanx sử dụng cho các tàu của hải quân Mỹ được gọi là Block 0 để tạo ra lớp phòng thủ tên lửa đối hạm cơ bản chống các loại tên lửa đối hạm siêu âm, không vận động bay thấp hiện nay (ASM). Cấu hình Block A1 kết hợp một máy tính ngôn ngữ lập trình bậc cao (HOLC) nhằm tạo ra năng suất xử lý tốt hơn so với máy tính số đa dụng lạc hậu, các thuật toán điều khiển hoả lực đã được cải thiện để đối phó với các mục tiêu cơ động, tìm kiếm các toạ độ vũ khí để quản lý tác chiến tốt hơn và chức năng kiểm tra toàn bộ (từ đầu đến cuối) để xác định những sai hỏng hệ thống. Nâng cấp chế độ mặt biển (Surface Mode Upgrade) Block 1B xây dựng trên những khả năng hiện có của cấu hình Block 1A với việc bổ sung các nòng pháo tối ưu (Optimised Gun Barrels - OGB) mới, đem lại tuổi thọ nòng súng cao, độ tản mát đạn được cải thiện và cự ly tác chiến tăng lên. Cả những nâng cấp cấu hình Block 1A và 1B đều tạo ra vùng bao quát góc tà tăng, không gian chứa đạn lớn hơn nhằm đạt dung tích thùng đạn từ 989 viên đến 1550 viên, và tăng tốc độ bắn lên 4500 phát/phút. Hệ Phalanx cũng có thể giao diện với bất kỳ hệ thống chiến đấu nào của tàu để cung cấp khả năng điều khiển khiển hoả lực và cung cấp thêm thông tin xenxơ, cũng như có thể chỉ điểm mục tiêu cho các vũ khí trên tàu như tên lửa khung khí động tròn xoay (RAM) của Raytheon.

Hệ Phalanx