Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 06:09:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phòng thủ tầm ngắn và cực ngắn của chiến hạm  (Đọc 40326 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
maibennhau
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 801



« vào lúc: 13 Tháng Giêng, 2008, 03:39:10 pm »

Bác Dongadoan có tên lửa đối hạm thì em cũng làm cái chống tên lửa cho nó oai :-D Tài liệu này em copy từ một tạp chí của ta, dịch từ tạơ chí Malayxia.

 Vào đêm 21/10/1967, hai tàu tên lửa của Ai-cập ở ngoài khơi cảng Port Said đã phóng bốn quả tên lửa đối hạm Styx do Nga chế tạo  và đánh chìm tàu khu trục Eilat của hải quân Ixraen. Mặc dù đây chỉ là sự bộc lộ một phía trong cuộc chiến tranh 6 ngày (Six Day War), song việc tàu Eilat bị đánh đắm là lại một sự kiện gây chấn động trong tác chiến hải quân. Lần đầu tiên, một trận chiến hải quân được quyết định không phải bằng pháo,  ngư lôi hay bom mà bằng một vũ khí mới – tên lửa đối hạm.


Tàu khu trục Eliat
 Hải quân Ixraen đã rút ra được một bài học từ việc tàu Eilat bị đánh chìm này. Sáu năm sau, trong cuộc chiến tranh Yom Kippur 1973 (chiến tranh Ixraen – Xiry), các tàu chiến của Ixraen đã được trang bị hệ thống tên lửa hải đối hải Gabriel mới. Ngoài ra, các tàu chiến của Ixraen còn được trang bị các hệ thống tác chiến điện tử để ngăn chặn tên lửa Styx. Trong trận chiến tên lửa hải đối hải đầu tiên trong lịch sử tác chiến hải quân, các tàu chiến của hải quân Ixraen được bảo vệ bởi các hệ thống tác chiến điện tử, đã xuyên thủng thành công rào chắn của tên lửa Styx mà hải quân Xyri tạo ra. Sau đó họ đã phóng các tên lửa Gabriel và đã đánh chìm 5 tàu của Xyri.
Những trận chiến hải quân kể trên đã giúp định hình tác chiến hải quân hiện đại. Tên lửa đối hạm không chỉ làm thay đổi các chiến thuật hải quân, mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến thiết của tàu chiến và các hệ thống chiến đấu của chúng.


 Sau năm 1967, tên lửa đối hạm đã trở thành một phần của kho vũ khí cơ bản trang bị cho tàu chiến hiện đại, thay thế pháo trong vai trò của vũ khí tiến công chủ đạo. Những bài học khác được rút ra từ cuộc chiến tranh Manvinat và chiến tranh Vùng Vịnh đã nhắc nhở các lực lượng hải quân trên toàn thế giới hãy coi mối đe doạ của cuộc tiến công bằng tên lửa đối hạm là rất nghiêm trọng. Điều này hoàn toàn không ngạc nhiên khi xuất hiện một thông tin dự báo rằng con số tên lửa đối hạm trong các kho vũ khí đã vượt trên 100.000 quả.
Trải qua năm tháng, mối đe doạ của tên lửa đối hạm đã buộc các lực lượng hải quân phát triển một loạt các hệ thống cảnh giới tên lửa và các biện pháp chế áp điện tử để bảo vệ các tàu chiến của mình. Thực vậy, sự thiếu vắng các biện pháp đối phó cập nhật nhất có thể trở thành tai hoạ. Các tên lửa đối hạm vận tốc siêu âm cao hiện nay có thể bay với vận tốc 300 m/s đồng thời cũng rất nhanh chóng xuất hiện các biến thể  tên lửa siêu âm có khả năng bay với vận tốc hành trình thậm chí còn cao hơn nhiều.
Logged
maibennhau
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 801



« Trả lời #1 vào lúc: 14 Tháng Giêng, 2008, 07:27:08 pm »

Do các thiết kế của tên lửa đối hạm không ngừng được cải tiến nâng cao, nên các biện pháp chế áp điện tử chống tên lửa kiểu “sát thương mềm” có thể chưa đủ. Vì vậy, trong khi có sự chú trọng rất lớn - nói cách khác là tin tưởng rất lớn - vào những khả năng của các hệ thống tác chiến điện tử và chế áp điện tử trên tàu những người chỉ huy hải quân vẫn chưa thật yêm tâm muốn có thêm một giải pháp “sát thương cứng” chắc chắn, phòng khi các khả năng “sát thương mềm” không làm việc tốt đúng như quảng cáo. Ngoài tên lửa phòng thủ điểm “sát thương cứng” ở những cự ly xa hơn (vòng ngoài), thì lớp phòng thủ cuối cùng ở cự ly rất gần được xác định là các hệ vũ khí đánh gần (tầm gần/tầm ngắn).

Tuy nhiên, do các tên lửa đối hạm không chỉ được xem là mối đe doạ có thể chúng còn là mối đe doạ nguy hiểm nhất đối với các tàu mặt nước. Những nhận thức về mối đe doạ hiện nay cho rằng ngay cả những phát triển mới nhất của hệ thống tên lửa phòng thủ điểm là khả năng chính chống tên lửa với những khả năng thứ yếu, nhưng vẫn quan trọng, cho giao chiến với các mục tiêu trên không, mục tiêu mặt biển hoặc trên không không cân xứng. Ngày nay, cuộc chiến trên biển phần lớn diễn ra trong các môi trường biển duyên hải, gần bờ. Tình thế này đặt các tàu mặt nước và kíp thuỷ thủ của chúng vào tình huống nguy hiểm trước số lượng các mối đe doạ gia tăng từ các tàu nhỏ, tàu cao tốc, pháo thông thường và pháo có điều khiển, máy bay lên thẳng, thuỷ lôi và một loạt tên lửa đối hạm phòng từ bờ.

Mối đe doạ tăng lên chưa từng có này đã làm tăng nhu cầu về các hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) thế hệ mới để trang bị cho các tàu chiến mặt nước mới đang được đưa vào trang bị cho hải quân các nước khu vực châu Á Thái Bình dương như Ôxtrâylia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Malaixia, Pakixtan, Xingapo, Hàn Quốc và Đài Loan. Những năm gần đây, một số hệ thống CIWS đã được phát triển bao gồm: Fast Forty, Myriad, Barrage, MIDAS/ Drakon, Seaguard/Seazenith, Meroka, Phalanx, Goalkeeper, Millennium Gun, AK230, AK630, AK630M1-2, Palma, và Kashtan. Dưới đây là một số hệ thống đáng lưu ý đang được chào bán cho các lực lượng hải quân hiện nay.
 
Hệ thống CIWS Phalanx

Hệ thống được đánh giá là thành công nhất và triển khai rộng rãi nhất là hệ CIWS Phalanx Mk15, chúng được mô tả là tổ hợp khép kín tích hợp gồm hệ thống súng/pháo, đạn và rađa lắp trên một bệ mang duy nhất thay đổi góc tà bằng pittông. Hệ thống được phân hãng của General Dynamics phát triển vào những năm 1970 (năm 1992 phân hãng này sát nhập vào công ty Hughes Missile Systems, hiện nay nhập vào công ty Raytheon Systems). Hệ pháo này được đánh giá là có thể chấp nhận được và có thể lắp lên bất kỳ tàu mặt nước nào mà không cần có sự sửa đổi quan trọng trên tàu, hệ Phalanx hiện đang được lắp đặt trên tất cả các tàu chiến mặt nước của Mỹ và trên tàu chiến của hơn 20 nước khác.

Hệ thống Phalanx được trang bị pháo sáu nòng phản ứng nhanh kiểu Gatling M61A1 Vulcan của General Electric có nhịp bắn cao 3000 phát/phút hoặc 4500 phát/phút đối với các môđen chế tạo sau và một rađa băng Ku được chế tạo theo công nghệ chỉ điểm khép kín có khả năng thực hiện các chức năng tìm, phát hiện, đánh giá, bám, giao chiến và đánh giá hiệu quả tự động. Các loại đạn có thể bắn gồm đạn xuyên giáp vỏ tự huỷ (APDS) 20 mm, sử dụng đầu xuyên 15 mm bằng kim loại nặng (vonfram hoặc uran nghèo) được bao quanh bằng một guốc đạn plastic và một phần đáy (pusher) kim loại nhẹ.

Cấu hình ban đầu của hệ thống Phalanx sử dụng cho các tàu của hải quân Mỹ được gọi là Block 0 để tạo ra lớp phòng thủ tên lửa đối hạm cơ bản chống các loại tên lửa đối hạm siêu âm, không vận động bay thấp hiện nay (ASM). Cấu hình Block A1 kết hợp một máy tính ngôn ngữ lập trình bậc cao (HOLC) nhằm tạo ra năng suất xử lý tốt hơn so với máy tính số đa dụng lạc hậu, các thuật toán điều khiển hoả lực đã được cải thiện để đối phó với các mục tiêu cơ động, tìm kiếm các toạ độ vũ khí để quản lý tác chiến tốt hơn và  chức năng kiểm tra toàn bộ (từ đầu đến cuối) để xác định những sai hỏng hệ thống. Nâng cấp chế độ mặt biển (Surface Mode Upgrade) Block 1B xây dựng trên những khả năng hiện có của cấu hình Block 1A với việc bổ sung các nòng pháo tối ưu (Optimised Gun Barrels - OGB) mới, đem lại tuổi thọ nòng súng cao, độ tản mát đạn được cải thiện và cự ly tác chiến tăng lên. Cả những nâng cấp cấu hình Block 1A và 1B đều tạo ra vùng bao quát góc tà tăng, không gian chứa đạn lớn hơn nhằm đạt dung tích thùng đạn từ 989 viên đến 1550 viên, và tăng tốc độ bắn lên 4500 phát/phút. Hệ Phalanx cũng có thể giao diện với bất kỳ hệ thống chiến đấu nào của tàu để cung cấp khả năng điều khiển khiển hoả lực và cung cấp thêm thông tin xenxơ, cũng như có thể chỉ điểm mục tiêu cho các vũ khí trên tàu như tên lửa khung khí động tròn xoay (RAM) của Raytheon.


Hệ Phalanx
Logged
maibennhau
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 801



« Trả lời #2 vào lúc: 17 Tháng Giêng, 2008, 08:07:07 pm »

Hệ thống Goalkeeper

Hệ thống vũ khí tầm gần Goalkeeper 30 mm do hãng Thales Nederland - trước đây là Thomson –CSF Signaal phát triển là hệ thống vũ khí tự động và hoàn toàn tích hợp để phòng thủ tầm gần chống tên lửa và máy bay. Hệ thống có thể thực hiện một cách tự động toàn bộ quy trình từ giám sát và phát hiện đến phá huỷ, kể cả việc lựa chọn mục tiêu ưu tiên kế tiếp. Khi mục tiêu được phát hiện, công đoạn thực hiện tiếp theo là đánh giá mối đe doạ và xác định ưu tiên, và mục tiêu được chỉ điểm và bám bằng các rađa làm việc trên băng K và I.

Hệ Goalkeeper kết hợp một rađa sục sạo làm việc trên băng I, công suất cao, một rađa bám mục tiêu điểm (làm việc trên băng I/K, một hệ thống điều khiển vũ khí và một pháo 7 nòng 30 mm GAU-8/A của General Electric có tốc độ bắn 4200 phát/phút được lắp trên một bệ pháo tích hợp. Hệ thống có đặc điểm nhận dạng mục tiêu và khởi động bám tự động. Việc xác định mối đe doạ ưu tiên được thực hiện tự động và thẳng theo hướng của anten bám tới mục tiêu ưu tiên số 1. Hệ thống Goalkeeper có thể được tích hợp với hệ thống trinh sát, giám sát, tình báo và chỉ điểm mục tiêu (IRST) trên tàu để làm việc theo chế độ thụ động, đồng thời dữ liệu rađa được dùng để bổ sung cho tham số giao chiến và là nguồn dữ liệu bám mục tiêu thứ hai nhằm giảm xác suất bám mục tiêu giả.

Hệ thống Goalkeeper.

Hai hệ thống Goalkeeper đã được lắp đặt trên tàu đổ bộ LPX của hảỉ quân Hàn Quốc được hạ thuỷ vào tháng 3/2005 và đưa vào hoạt động vào 6/2007. Một lô hệ thống Goalkeeper khác đã được chuyển giao để lắp cho ba tàu khu trục KDX-II Batch 2, các hợp đồng chuyển giao hệ thống điều khiển tác chiến, gồm các xenxơ cũng đã được ký kết.

Hệ thống vũ khí tầm gần của Trung Quốc: con đẻ của các hệ thống vũ khí tầm gần của Đông và Tây Âu

Hệ thống vũ khí tầm gần dựa trên pháo bắn nhanh 30 của Trung Quốc có ký hiệu Type 730. Vũ khí được lắp trên một tháp bọc kín tự động và một rađa điều khiển, cùng một hệ thống bám quang điện tử. Hệ thống được sử dụng chủ yếu để phòng thủ chống tên lửa đối hạm và các tên lửa dẫn chính xác khác, nhưng cũng có thể được sử dụng để chống máy bay cánh quay và cánh cố định, tàu mặt nước và xuồng nhỏ, các mục tiêu trên bờ và mìn neo. Mặc dù hình dáng bên ngoài giống với hệ thống vũ khí tầm gần Goalkeeper, thậm chí một số bài báo còn cho rằng đó là một bản sao, nhưng hệ Type 730 lại sử dụng ra đa và các hệ thống quang học do Trung Quốc chế tạo trong nước. Trung Quốc hiện nay đang phát triển một phiên bản mới của hệ vũ khí này lắp kèm các tên lửa bên trên nhưng không giống như hệ thống Kashtan của Nga.

Pháo của hệ Type 730 do Viện nghiên cứu 713 thiết kế với mật danh là “Dự án 850” và do một động cơ điện vận hành. Một biến thể của rađa băng I/X EFR-1 (NATO gọi là rađa Rice Lamp) và hệ thống điều khiển hoả lực quang điện tử OFC-3 do Viện nghiên cứu Quang điện tử Trung ương Trung Quốc thiết kế. Hệ thống OFC-3 là một thiết kế môđun gồm một máy đo tầm lade, một camera truyền hình màu và một camera hồng ngoại. Máy đo tầm lade có thể được thay bằng một thiết bị chỉ điểm lade, camera truyền hình có thể được thay bằng một camera quan sát ban đêm, và camera hồng ngoại cũng có thể được thay bằng một kính khuếch đại ảnh hồng ngoại với giá thành đắt hơn. Hệ thống pháo có thể bám các mục tiêu bay sát mặt biển từ cách xa 15 đến 20 km, nhưng chỉ có thể tác chiến ở tầm gần hơn nhiều do tầm hiệu quả của pháo.

Type 730

Hệ thống vũ khí tầm gần Type 730 đã được lắp trên các tàu khu trục 052B, 052C và 051C và dự kiến sẽ được thay thế bằng một số bệ pháo trên các tàu chiến cũ hơn, cũng như được coi là vũ khí tiêu chuẩn cho tất cả các tàu mặt nước mới như tàu frigat tàng hình Type 054 Jiangkai hiện đang được đóng mới.
Logged
maibennhau
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 801



« Trả lời #3 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2008, 04:09:07 pm »

Hệ thống pháo hải quân Millennium

Hệ thống pháo hải quân Millennium GDM008 của Rheinmentall là hệ vũ khí tích hợp đa năng, phòng không /chống tàu mặt nước được điều khiển bằng hệ thống điều khiển hoả lực quang điện tử MSP 500 của STN Atlas có khả năng thực hiện các chức năng điều khiển tác chiến trong phạm vi một bệ pháo: tác chiến phòng không; tác chiến chống tên lửa đối hạm; tác chiến chống máy bay, trực thăng và phương tiện bay không người lái; tác chiến chống tàu mặt nước; tác chiến chống tàu xuồng cao tốc xâm nhập; hoạt động cảnh sát; chi viện hoả lực hải quân và tác chiến chống mục tiêu ven bờ và trên sông.

Millennium là loại pháo 35 mm ổ quay, một nòng với các chế độ bắn phát một, bắn phát một tốc độ nhanh đến bắn liên thanh 1000 phát/phút. Pháo có thể bắn đạn nổ trên không Ahead và tất cả các kiểu đạn 35 mm tiêu chuẩn khác như đạn nổ phá, đạn vạch đường (TPT)… Khi bắn đạn Ahead pháo vận hành giống như bắn liên thanh cho tầm tác chiến xa hơn các loại pháo khác bắn đạn thông thường. Phần bệ pháo có thiết kế tàng hình và có thể chứa được 230 viên đạn 35 mm trong thùng đạn bên trong ụ pháo cho phép bắn chặn trên 8 tên lửa mà không cần nạp lại. Do không sử dụng các đường kết nối dữ liệu, nên có thể tiếp thêm đạn bất kỳ lúc nào mà không cần đợi cho thùng đạn bắn hết. Không cần có sự khoan thủng xuống dưới boong tàu, trừ các đường cáp điện và cáp truyền dữ liệu. Trong trường hợp nguồn điện bị trục trặc, pháo vẫn có thể vận hành với đầy đủ tính năng bằng nguồn điện ác quy riêng.

Trong phiên bản tiêu chuẩn, pháo được kết nối trực tiếp đường trục truyền dữ liệu của hệ thống điều khiển tác chiến và tiếp nhận dữ liệu bám mục tiêu 3 D từ bất kỳ nguồn nào. Máy tính của pháo là một bộ phận hợp thành của pháo và đảm nhiệm chức năng thanh lọc mục tiêu, tính toán góc bắn đón, hiệu chỉnh thị sai và chức năng điều khiển ngòi nổ đạn Ahead.

Khối lượng pháo là 3.200 kg, đạn Ahead bắn bằng pháo Millennium chứa tới 152 mảnh đạn nhỏ. Với việc sử dụng loại đạn này khiến cho pháo Millennium trở thành vũ khí có khả năng bắn chặn tên lửa đối hạm có điểu khiển ở các cự ly trên 1,2 km, mục tiêu máy bay cánh quay và máy bay cánh cố định ở cự ly 3,5 km, và tên lửa chống rađa ở cự ly 1,2 km.

Hệ thống pháo Millennium đã được lắp ở phần mũi tàu cao tốc Sea Slice, do Lockheed Martin thiết kế và đóng đã trình diễn thành công về hiệu quả sát thương chống các mối đe doạ có mức ưu tiên cao trong tác chiến vùng biển duyên hải trong đợt trình diễn chiến đấu của đội tàu Hải quân Mỹ mang tên Juliet (FBE-J). Các quan chức cho rằng phiên bản bố trí bệ pháo trên giá theo tiêu chuẩn ISO không cần khoan thủng xuống dưới boong của Millennium được sử dụng trong đợt trình diễn FBE-J cho phép lắp đặt và tích hợp với hệ thống điều khiển hoả lực và thiết bị quang điện tử MSP 500 trên tàu trong thời gian 2 giờ do vậy hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về khả năng thay đổi cấu hình và mô đun hoá  nhiệm vụ của tàu.

Hệ thống Millennium
Logged
maibennhau
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 801



« Trả lời #4 vào lúc: 27 Tháng Giêng, 2008, 04:16:09 pm »

Hệ thống vũ khí đánh gần của Nga

Hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS) dựa trên pháo của Nga hiện nay là pháo 6 nòng AK-630M của hãng Tulamashzavod. Pháo AO-18 của hệ thống có thể bắn 5000 phát/phút với vận tốc đầu nòng 900 m/s để bắn rơi các tên lửa đang bay đến ở cự ly ngoài 5 km.  Hệ CIWS được tiếp đạn từ một thùng đạn chứa được 2000 viên và khoảng 1000 viên đạn dự trữ trong một thùng chứa khác. Rađa điều khiển hoả lực là rađa bám MR-123 Turel. Pháo bắn đạn cháy nổ phá mảnh (HE-FRAG) hoặc đạn vạch đường phá mảnh. Pháo có thể được điều khiển bắn từ xa từ hệ thống rađa điều khiển và bộ đầu bám mục tiêu.

Nhịp bắn tối đa là 5000 phát/phút còn sơ tốc đầu nòng là 880 m/s. Pháo sử dụng băng tiếp đạn tự động và chỉ cần một người bắn. Tầm hiệu quả là trên 4000 m đối với các tên lửa đối hạm bay sát mặt biển và 5000 m đối với các mục tiêu mặt nước nhỏ. Các hệ thống CIWS của Nga hiện nay đã được xuất khẩu cho Ấn Độ để lắp trên các tàu lớp Delhi, Khukri, Kora, Godavari, Tarantul và Brahmaputra của hải quân Ấn Độ; và cho Trung Quốc để lắp trên hai tàu khu trục  Project 956E và cho Việt Nam trên các tàu hộ vệ mang tên lửa Tarantul –I.


Hệ Ak-630M.

Các hệ thống pháo/tên lửa của Nga

Nga cũng đang chào hàng hệ thống phòng không kết hợp pháo-tên lửa CADS-N-1 Kashtan, xuất hiện lần đầu vào năm 1988. Hệ Kashtan mang lại khả năng tự vệ cho các tàu mặt nước chống máy bay cánh quay hoặc cánh cố định, các vũ khí chính xác cao kể cả tên lửa đối hạm và tên lửa chống rađa, cũng như tác chiến chống các mục tiêu nhỏ ven bờ và trên biển.

Hệ thống có kết cấu môđun gồm môđun chỉ huy và các môđun chiến đấu -từ 1 đến 6 tuỳ theo lượng choán nước của tàu. Môđun chỉ huy vận hành tự động trong phát hiện các mối đe doạ, phân phối dữ liệu mối đe doạ, phân chia mục tiêu cho các môđun chiến đấu và thực hiện các chức năng nhận biết địch – ta (IFF).  Môđun chiến đấu bám tự động mục tiêu bằng rađa và camera truyền hình, tính toán tham số bắn và tác chiến với mục tiêu bằng tên lửa hoặc pháo. Môđun chiến đấu gồm bệ lắp pháo/tên lửa kết hợp, một hệ thống rađa và thiết bị điều khiển quang học có tầm hiệu quả 4,4 dặm biển; hệ thống tính toán và hệ thống nguồn điện. Hệ thống điều khiển đa kênh tích hợp tạo khả năng bám nhiều mục tiêu đồng thời bằng các chế độ rađa và truyền hình –quang học.

Phần bệ pháo lắp hai khối pháo tự động 30 mm 6 nòng, vận hành bằng khí nén và làm mát bằng nước với một hệ thống tiếp đạn đơn giản và một hệ thống làm mát kiểu bay hơi tự động (với dung tích chứa 1000 viên đạn. Bệ phóng tên lửa SAM 57E6 được lắp với hệ thống Kashtan. Tổ hợp này còn có một hệ thống cất trữ và tiếp đạn dự trữ tới 32 tên lửa SAM trong các ống phóng kiêm côngtennơ cất giữ được bố trí dưới boong tàu. Các tàu nhỏ hơn được lắp một hệ thống Kashtan duy nhất; hoả lực pháo và tên lửa kết hợp có thể tác chiến một cách tin cậy chống một đội hình gồm 3 đến 4 tên lửa đang bay tới. Trên các tàu lớn hơn, người ta có thể lắp các ụ pháo ở cả hai bên mạn tàu. Một môđun chỉ huy duy nhất có thể điều khiển tới 6 ụ pháo Kashtan, tạo ra hoả lực bảo vệ tin cậy cho các tàu hải quân lớn nhất. Hệ thống Kashtan được cung cấp bởi Phòng thiết kế công cụ và Tulamashzavod JSC đóng tại Tula. Thiết kế môđun làm cho hệ thống Kashtan có thể thích hợp với nhiều kiểu tàu mặt nước khác nhau từ tàu tên lửa (lượng choán nước trên 500 tấn) đến các tàu sân bay. Ba tàu frigat lớp Krivak III cải tiến thuộc Project 11356 là những tàu chiến đầu tiên ở khu vực châu Á Thái Bình Dương được trang bị hệ thống CIWS Kashtan.

Hệ thống Kashtan
Logged
maibennhau
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 801



« Trả lời #5 vào lúc: 02 Tháng Hai, 2008, 09:25:55 pm »

Sự kết hợp giữa hệ Phalanx và tên lửa RAM của Raytheon

Tận dụng những thuộc tính then chốt của cả hai hệ thống CIWS Phalanx và hệ vũ khí có điều khiển tên lửa RAM, hệ thống phòng thủ tên lửa SEA RAM của Raytheon đem lại mức độ tự bảo vệ tàu cao nhất với khả năng tác chiến ở ngoài cự ly an toàn và khả năng giao chiến với nhiều mục tiêu. Hệ SEA RAM được thiết kế để mở rộng không gian giao chiến ở lớp sau cùng và có thể giúp tàu tác chiến hiệu quả với những mối đe doạ tên lửa siêu âm, trên siêu âm, tính năng cao tương lai. Hệ SEA RAM đúc rút công nghệ đã được hợp lý hoá của hệ thống Phalanx và tên lửa RAM, tích hợp những thành phần của từng hệ thống trở thành một hệ thống liên kết khép kín (self contained). Khối bệ phóng tên lửa RAM chứa 11 tên lửa RAM có điều khiển  Block 1 thay cho pháo 20 mm Phalanx.

Kết hợp ưu thế về độ chính xác và tầm xa của tên lửa RAM, và khả năng linh hoạt cao và khả năng phản ứng nhanh tin cậy của hệ thống xenxơ tìm và bám độ phân giải cao của Phalanx Block 1B, do đó hệ thống SEA RAM sẽ trở thành một hệ thống vũ khí tự động hoá và hoàn chỉnh với một hệ xenxơ, hệ thống tác chiến và vũ khí riêng. Dựa trên hệ thống Phalanx Block 1B, SEA RAM sẽ gồm một phiên bản mới nhất rađa tìm và bám băng Ku, một hệ thống tạo ảnh hồng ngoại quan sát phía trước (FLIR) mới và một thiết bị thu đo giám sát điện tử (ESM). Hệ xenxơ của hệ thống sẽ cung cấp khả năng tìm và chỉ điểm mục tiêu đa phổ trong tác chiến ban ngày và ban đêm./.

Hệ Sea Ram.
Logged
minhhang
Thành viên
*
Bài viết: 98


« Trả lời #6 vào lúc: 28 Tháng Mười, 2012, 05:24:21 pm »

Trong các hệ thống phòng không tầm gần trên ( Phanlax, Goalkeeper, Millennium, Kashtan) thì của Nga là mạnh nhất. Không biết giá cả những hệ trên thế nào nhỉ?
Logged
maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #7 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2012, 08:45:22 pm »

Bác chủ Topic có thể cho mọi người biết nguồn bài viết được không.
Logged
maxttien
Thành viên
*
Bài viết: 211



« Trả lời #8 vào lúc: 29 Tháng Mười, 2012, 08:51:29 pm »

Trong các hệ thống phòng không tầm gần trên ( Phanlax, Goalkeeper, Millennium, Kashtan) thì của Nga là mạnh nhất. Không biết giá cả những hệ trên thế nào nhỉ?
Mình nghĩ nếu chỉ giựa trên tốc độ bắn và tầm mà đánh giá đơn giản là AK-630 mạnh nhất chưa hẳn đúng Grin
Logged
minhhang
Thành viên
*
Bài viết: 98


« Trả lời #9 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2013, 06:51:51 pm »

Trong các hệ thống phòng không tầm gần trên ( Phanlax, Goalkeeper, Millennium, Kashtan) thì của Nga là mạnh nhất. Không biết giá cả những hệ trên thế nào nhỉ?
Mình nghĩ nếu chỉ giựa trên tốc độ bắn và tầm mà đánh giá đơn giản là AK-630 mạnh nhất chưa hẳn đúng Grin

Nếu mục tiêu như nhau thì tầm và xác suất trúng mục tiêu là tham số quan trọng để đánh giá các hệ thống đó. Bạn cứ mổ xẻ mấy hệ thống trên đi rồi chắc bạn cũng sẽ không phản đối Kashtan đâu.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM