Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 02:07:36 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng hợp các báo cáo, nghiên cứu và tin tức quốc phòng về QĐND Việt Nam  (Đọc 393830 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #10 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 09:47:02 am »

Xin giớ­i thiệu bài viết của TS. Hoàng Nam có tựa đề:

Tương quan lực lượng quân sự tại Biển Đông

TS. Hoàng Nam

Sức mạnh trên biển của mỗi quốc gia được đo đạc bằng sức mạnh hải quân và không quân. Trên chiến trường này, quân số không có nhiều ý nghĩa so với mức độ hiện đại của các loại phương tiện, vũ khí, và khí tài chiến tranh, và khả năng hiệp đồng tác chiến giữa các đơn vị, vị trí địa lý của các căn cứ quân sự và năng lực hậu cần.

Trung Quốc
Trung Quốc là nước sức mạnh tấn công lớn nhất trong khu vực xung quanh Biển Đông và khả năng đó tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Lực lượng hải quân của Trung Quốc lên tới 255.000 quân với 75 đơn vị tham chiến, hơn 60 tàu ngầm, 55 tàu đổ bộ loại lớn và loại vừa và khoảng 70 tàu tuần tra có trang bị tên lửa, các radar Sky Wave và Surface Wave OTH; 2 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp SHANG loại 093 và một tàu SSBN lớp JIN, 4 tàu SSN lớp HNN và SSBN lớp XIA và khoảng 13 tàu ngầm chạy bằng động cơ diezel, nước này vẫn tiếp tục tập trung đầu tư trang bị cho lực lực hải quân của mình. Gần đây Trung Quốc đã tiếp nhận 2 tàu khu trục lớp LUYANG II thuộc loại 052C, 2 tàu khu trục lớp LUZHOU thuộc loại 051C có trang bị tên lửa tầm xa đất đối không SA-N-20 của Nga, 4 tàu khinh hạm có trang bị tên lửa dẫn đường lớp JIANGKAI II lớp 054A. Trung Quốc cũng tiếp tục thiết kế tàu chiến lớp HOUBEI loại 022. Hơn 40 tàu tuần tra loại này đã được đưa vào sử dụng. Mỗi tàu có thể mang được 8 tên lửa hành trình đối hạm YJ-83. Đồng thời, Trung Quốc dự kiến sẽ trang bị các tàu ngầm tấn công lớp YUAN. Hiện tại một tàu lớp này đã được đưa vào sử dụng, một chiếc khác đang trong giai đoạn chạy thử và sẽ đóng thêm 15 tàu ngầm lớp YUAN (http://www.defenselink.mil/pubs/pdfs/China_Military_Power_Report_2009.pdf).

Lực lượng không quân Trung Quốc hiện có khoảng 330.000 quân (Military Balance 2009) với 490 máy bay như loại máy bay đánh chặn F-7/FISHBED và F-8II/FINBA, 23 máy bay Su-30MK2/FLANKER cho tác chiến trên biển tầm xa. Trung Quốc đã triển khai 8 tiểu đoàn SAM tầm xa (200 km) SA-20 PMU-2 của Nga và Trung Quốc sẽ nhận thêm 8 tiểu đoàn loại này nữa trong vòng 2 năm tới. Đặc biệt, Trung Quốc tiếp tục tập trung phát triển loại máy bay cảnh báo sớm (AEW&C) bao gồm KJ-200 và KJ-2000 để tăng cường khả năng trinh sát trên biển; đồng thời, dự định mua Su-33, 34 máy bay vận tải IL-76 và 4 máy bay tiếp dầu IL-78 của Nga (http://www.defenselink.mil/pubs/pdfs/China_Military_Power_Report_2009.pdf). Đáng chú ý là các lượng lượng hải quân và không quân của Trung Quốc có thể hiệp đồng tác chiến thông qua một hệ thống vệ tinh hiện đại. Trung Quốc có hệ thống vệ tinh do thám phục vụ cho quân sự như: vệ tinh Yaogan 1,2,3,4,5, vệ tinh Haiyang-1B vệ tinh CBERS-2 và 2B. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ lắp đặt thêm 8 vệ tinh mới. Hiện tại, Trung Quốc đang sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS của Mỹ, GLONASS của Nga và Bắc Đẩu-1; dự kiến, năm 2011, Trung Quốc sẽ triển khai Bắc Đẩu-2 (http://www.defenselink.mil/pubs/pdfs/China_Military_Power_Report_2009.pdf).
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #11 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 09:53:46 am »

Báo cáo cho Quốc hội Mỹ về “Hiện đại hóa Hải quân của Trung Quốc: Hệ lụy cho các khả năng hải quân của Mỹ” năm 2009 cho biết “các nỗ lực hiện đại hóa hải quân bao gồm nhiều chương trình xây dựng vũ khí, bao gồm tên lửa đạn đạo chống tàu chiến, tên lửa đất đối không, mìn, máy bay, tàu ngầm, tàu khu trục, tàu tuần tra, và các tàu đổ bộ. Đáng chú ý nhất là báo cáo cho rằng Trung Quốc sẽ sớm bắt đầu chương trình xây dựng tàu sân bay. Hiện tại Trung Quốc bắt đầu đào tạo 20 phi công lái máy bay cho tàu sân bay, và đang đàm phán với Nga để mua 50 máy bay Su 33 (Ronald O’Rourke, China Naval Modernization: Implicatioin for US Navy Capabilities – Background and Issues for Congress, CRS Report for Congress, July 2009). Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ đầu năm 2009, các chuyên gia của Mỹ cho rằng Trung Quốc sẽ không có được tàu sân bay tự đóng có khả năng hoạt động tốt, cùng với đội tàu kèm theo trước 2015. Tuy nhiên, thay đổi trong khả năng đóng tàu của Trung Quốc và sự giúp đỡ từ bên ngoài có thể thay đổi tiến trình này. Trung Quốc dự kiến xây dựng nhiều tàu sân bay từ 2020 (http://www.globalsecurity.org/military/world/china/cv.htm). Đây thực sự là diễn tiến đáng lo ngại cho các quốc gia Đông Nam Á đang tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ ở Biển Đông. Với khả năng và phạm vi hoạt động của tàu sân bay, hỏa lực, khả năng tác chiến và hậu cần của hải quân Trung Quốc tăng lên gấp bội. Căn cứ quân sự - quốc phòng của các nước khác trên các đảo tại Biển Đông không còn khả năng phòng thủ.

Đài Loan
Đài Loan có một hệ thống phòng thủ hải – không quân mạnh. Mối đe dọa từ Trung Quốc đại lục buộc Đài Loan liên tục tăng cường các khả năng phòng vệ. Chính quyền Đài Loan ưu tiên phát triển các khả năng hải quân và không quân với sự giúp đỡ từ phía Mỹ. Năm 2008, chính quyền Mỹ thông báo họ đã thông qua hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 6,4 tỉ USD. Một phần của hợp đồng này được đề xuất từ năm 2001, nhưng bị dừng lại do sự phản đối từ Quốc hội Đài Loan và từ phía Trung Quốc (Phipps, G., US deal breaks “freeze” on arms sale to Taiwan, Jane’s Defense Weekly, 10 Dec 2008, p.38). Như vậy, những vũ khí mới nhất mà Đài Loan mua được từ phía Mỹ gồm: 330 tên lửa Patriot hiện đại (trị giá 3,1 tỉ USD), 30 máy bay trực thăng tấn công Apache, và 32 tên lửa Harpoon, và 182 tên lửa hành trình Javeliin, và 4 hệ thống E-2T (Overview of Taiwan’s military, xem tại: http://www.globalsecurity.org/military/world/taiwan/intro.htm). Hiện nay, lực lượng hải quân của Đài Loan gồm 45.000 lính, được trang bị 4 tàu ngầm (loại Hai Lung và Hai Shih), 26 khu trục hạm và 22 tàu chiến, 70 tàu tuần duyên, 12 tàu phóng và phá ngư lôi, 2 tàu đổ bộ. Lực lượng không quân gồm 55.000 lính với 478 máy bay chiến đấu các loại và 34 trực thăng (Military Balance 2009, tr. 410-412). Lực lượng tên lửa gồm 6 hệ thống tên lửa đất đối không SAM; 6 hệ thống tên lửa PAC -3; 6 hệ thống Tien Kung (Sky Bowl).

Malaysia
Malaysia có lực lượng hải quân và không quân đáng gờm trong khu vực. Lực lượng hải quân của nước này gồm 14.000 quân (The military balance 2009, tr.399) và đây là một lực lượng nhận được nhiều ưu ái của chính phủ. Mặc dù hiện nay Ma-lai-xia đang sở hữu một lực lượng tàu chiến khá lớn nhưng Malaysia vẫn tiếp tục đề ra những chủ trương phát triển mới mẻ hơn. Đặc biệt và đáng lưu ý nhất là dự án mua 2 tàu ngầm lớp “Scorpene” chạy bằng động cơ diesel. Ngày 03/9, chiếc tàu ngầm đầu tiên đã chính thức về tới Malaysia, đến ngày 17/9 tàu này sẽ về tới căn cứ tàu ngầm tại vịnh Sepanggar. Bộ trưởng Quốc phòng Ma-lai-xi-a Ahmad Zahid đã nhấn mạnh, Ma-lai-xi-a sẽ đề xuất đóng thêm các tàu ngầm mới trong tương lai nếu cần thiết và tài chính cho phép (http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/Preview/PrintPreview.aspx?co_id=30127&cn_id=352146). Điều này chứng tỏ rằng, việc phát triển một hạm đội tàu ngầm đã và đang được Malaysia tiến hành. Đồng thời, hải quân Ma-lai-xi-a cũng đang xem xét khả năng mua trực thăng tuần tra của Hãng Embraer và Lockheed Martin, cũng như kế hoạch mua máy bay không người lái phục vụ tuần tra ở khu vực eo biển Ma-lắc-ca và biển Đông.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #12 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 10:00:24 am »

Không lực của Ma-lai-xi-a gồm 15.000 quân (The military balance 2009, tr.399) được hiện đại hóa với những hợp đồng mua trang thiết bị, vũ khí trị giá hàng triệu đô-la với Nga, Pháp và Mỹ. Từ đầu năm 2003, Bộ Quốc phòng Ma-lai-xi-a đã xúc tiến một số dự án mua sắm trang bị như: dự án mua 18 máy bay chiến đấu Su-30MKM mà Ma-lai-xi-a đã ký với Nga tháng 8 năm 2003 với tổng trị giá 900 triệu USD. Trong đó, 6 chiếc đã nhận hồi tháng 09 năm 2007, tiếp đó nhận 6 chiếc vào tháng 11 năm 2008 và 6 chiếc còn lại sẽ nhận vào cuối năm 2009; dự án mua 12 máy bay trực thăng EC-725 của hãng Eurocopter trước năm 2011 để thay thế số máy bay trực thăng loại Nuri S61A-4 đã hết hạn sử dụng; từ năm 2013-2014, không quân Ma-lai-xi-a sẽ tiếp nhận 4 máy bay A-400M của hãng Airbus và một số dự án máy bay khác như: mua 08 máy bay cảnh báo sớm và Chỉ huy trên không (AEWAC), dự án nâng cấp máy bay F/A-18D (http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30127&cn_id=351257). Ngoài những dự án quan trọng trên, Ma-lai-xi-a đã tiếp tục nghiên cứu và tự chế tạo các máy bay không người lái, với mục đích tăng cường khả năng hoạt động tình báo, trinh sát, do thám và chiến đấu cho quân đội. Ngày 3 tháng 8 năm 2009, hãng thông tấn (Bernama) của Malaysia cho biết, đầu năm 2010, quân đội nước này sẽ thực hiện chuyến bay đầu tiên của máy bay không người lái (UAV) loại Aludra. Mà quân đội Malaysia đã triển khai tại khu vực bờ biển Pandanan và Sipadan. Về hệ thống vệ tinh, hiện Ma-lai-xi-a đã đặt mua 9 ra-đa tác chiến của Mỹ nhằm tăng cường khả năng kiểm soát khu vực biển Xa-ba. Loại ra-đa này có chức năng thu thập hình ảnh và truyền dữ liệu về sở chỉ huy tác chiến.

Việt Nam
Sức mạnh tấn công trên biển của Việt Nam tương đối hạn chế, cơ cấu lực lượng thiên về hướng phòng thủ. Về hải quân, Việt Nam đang dần hiện đại hóa về số lượng và chất lượng để tăng khả năng chiến đấu cho lực lượng hải quân 13.000 quân (The military balance 2009, tr. 415) của mình. Điển hình như việc Việt Nam tự đóng 3 tàu chiến cỡ nhỏ, đặt mua 5000 thiết bị từ Ấn Độ để tân trang lại ba tàu chiến loại Petya và hiện đại hóa hệ thống ra-đa cứu hộ bờ biển (The military balance 2009, tr. 36). Việt Nam đang chú trọng đầu tư vào các tàu chiến nhỏ cao tốc, mang tên lửa chống hạm đảm bảo kiểm soát 1000 km vùng lãnh hải như việc đặt mua thêm 2 tàu chiến có khả năng tàng hình, săn tàu ngầm và chống hạm Gepard, cải tiến tàu Molnya, BPS-500… Theo các nguồn tin nước ngoài, Việt Nam đã thương thảo với Nga để mua 6 tàu ngầm tấn công Kilo lớp 636 chạy bằng diesel để tăng cường khả năng phòng thủ (Vietnam Reportedly Set to buy Russian Kilo Class Sub, Defense Industry Daily, 28/4/2009, xem tại: http://www.defenseindustrydaily.com/Vietnam-Reportedly-Set-to-Buy-Russian-Kilo-Class-Subs-05396/). Về không quân, Việt Nam đang tăng cường hiện đại hóa cho lực lượng không quân gồm 30.000 quân (The military balance 2009, tr. 415) của mình. Hiện, Việt Nam có khoảng 64 máy bay công kích (Su-22, 27, 30), 140 máy bay chiến đấu MIG-21, 26 chiếc trực thăng vũ trang Mi-24, 4 chiếc máy bay trinh sát biển Be-12 (The military balance 2009, tr. 416 - 417). Tuy nhiên, ngân sách quốc phòng của Việt Nam có vẻ chưa cho phép Việt Nam đặt mua thêm 8 chiếc máy bay chiến đấu Su-30MK mà không lực Việt Nam đang cần để bổ sung vào 4 chiếc Su-30 Việt Nam đã mua vào năm 2004 (The military balance 2009, tr. 368). Có vẻ như đối với Việt Nam, những trang thiết bị phòng thủ của phương Tây là những món đồ đắt tiền. Tuy nhiên, sự sửa đổi những điều khoản trong Các Quy tắc Lưu thông Vũ khí Quốc tế của chính phủ Mỹ tháng 4/2007 cho phép Mỹ xem xét việc xuất khẩu những vũ khí không gây tử vong cho Việt Nam trên cơ sở từng trường hợp cụ thể, mở đường cho các cuộc đàm phán sơ bộ về khả năng bán các trực thăng Chinook CH-47D. Về hệ thống vệ tinh, tháng 4 năm 2008, công ty Arianespace của Pháp đã phóng vệ tinh đầu tiên của Việt Nam, Vinasat-1, từ căn cứ ở Korou, French Guiana. Vệ tinh Vinasat-1 sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường bảo vệ độc lập và an ninh của quân đội Việt Nam cũng như các thông tin vệ tinh dân sự.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #13 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2010, 10:09:30 am »

Philippines
Khả năng tấn công và phòng ngự của Phi-lip-pin trên Biển Đông hiện nay là rất yếu so với Trung Quốc và Ma-lay-sia. Về hải quân, theo chương trình hiện đại hóa quân đội Phi-líp-pin, lực lượng hải quân gồm 24.000 người (The military balance 2009, tr. 406) của nước này có thể được tăng cường thêm các tàu mới vào năm 2017. Tổng thống Gloria Arroyo đã chỉ đạo tìm cách đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa Hải quân, không những để tăng cường bảo vệ an ninh chủ quyền biển, đảo mà còn để gìn giữ môi trường an ninh đại dương. Tuy nhiên, theo Bộ Quốc phòng Phi-líp-pin, sẽ phải mất thêm 2 đến 3 năm nữa để các thiết bị này về tới Phi-líp-pin. Về không quân, không lực với 16.000 quân (The military balance 2009, tr. 406) của Phi-líp-pin vừa được trang bị trực thăng chiến đấu có khả năng tác chiến bàn đệm song không phải dành cho chiến lược của Phi-líp-pin trên biển Đông mà để đáp ứng các nhiệm vụ giải quyết lực lượng quân nổi dậy ở miền Nam nước này. Vừa qua, Phi-líp-pin đã tiếp nhận một số trực thăng chiến đấu UH-1H. Năm 2008, Philíppin đã không thành công với kế hoạch mua 6 trực thăng chiến đấu MD530F loại một động cơ của tập đoàn MD Helicopters. Phi-líp-pin đang cân nhắc việc mua hơn 10 trực thăng AH-1 Cobra mà hải quân Mỹ đang sử dụng. Nhiều khả năng hợp đồng mua sắm máy bay AH-1 Cobra sẽ được hai bên thực hiện vào cuối năm 2009. Ngoài ra, Phi-líp-pin cũng đang nhận được lời đề xuất nâng cấp các máy bay AH-1 của nước này từ I-xra-en (http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30127&cn_id=351254).

Brunei
Lực lượng quân sự của Bru-nây không phải là mối đe dọa cho lực lượng quân sự của các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Quân đội Bru-nây có 7.000 lính trong đó quân số của lục quân là 4.900, của hải quân là 1.000 người, và không quân là 1.100 (Military Balance 2009, tr.380). Ngân sách quốc phòng của B-ru-nây còn rất khiêm tốn so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, trước sức nóng của tình hình trên biển Đông B-ru-nây đang tìm cách hiện đại hóa và kiện toàn sức mạnh quân sự của mình.

Ngày 12/10/2008, Quốc vương Brunei, Hassanal Bolkiah, thăm Nga và có các cuộc gặp với các quan chức của Tập đoàn xuất khẩu vũ khí Rosoboronexport để đàm phán về khả năng mua vũ khí của Nga trong tương lai. Tháng 6/2009, các cuộc thử nghiệm trên biển của tàu tuần tra đầu tiên lớp mới dùng cho hải quân Brunei đã được bắt đầu. Tính đến thời điểm này, chưa có bất kỳ công ty nào cũng như lãnh đạo Brunây khẳng định chính thức việc kí kết hợp đồng đóng tàu, tuy nhiên các nguồn tin trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Đức cho rằng xưởng đóng tàu của Đức đã nhận được đơn đặt hàng đóng một vài tàu tuần tra từ quốc vương Brunei.

Kết luận
Tóm lại, so sánh từ mọi góc độ của sức mạnh, chúng ta thấy Trung Quốc ở vị thế áp đảo so với các nước và vùng lãnh thổ khác trong tranh chấp ở Biển Đông. Tương quan lực lượng có chiều hướng tiếp tục nghiêng mạnh về phía Trung Quốc trong tương lai với tốc độ tăng trưởng chóng mặt của nền kinh tế và ngân sách quốc phòng của nước này. Điều đáng chú ý là hiện nay, có xu hướng chuyển dịch trong chiến lược của các nước trong khu vực từ “phòng thủ” sang “phòng thủ từ xa”, tích cực mua sắm, sản xuất các vũ khí tối tân, hạng nặng. Trung Quốc luôn lập luận rằng, nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc là nhằm mục tiêu phòng thủ. Tuy nhiên, trong thời gian trở lại đây, Trung Quốc ngày càng có nhiều biểu hiện phô diễn sức mạnh, tăng cường sự hiện diện quân sự ở bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, và quan chức quân sự nước này công khai nói đến các ý định tiếp tục nâng cấp thực lực quân sự - quốc phòng. Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã đã gửi tàu chiến đến vịnh Aden tham gia tấn công cướp biển, tích cực triển khai kế hoạch xây tàu sân bay với tham vọng trở thành cường quốc hải quân. Các học giả Trung Quốc bắt đầu bàn luận về các khả năng triển khai các căn cứ quân sự ở nước ngoài (Changes in Beijing’s Approach to Overseas Basing?, China Brief Volume, Vol.9, No. 19, September 24, 2009).

HẾT
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 04:41:55 pm »

Liên quan đến việc gần đây Việt Nam tiến hành phát triển lực lượng tàu ngầm tiến công siêu hiện đại bằng việc đặt mua các tàu ngầm Kilo-636MV và Amur-1650 mang tên lửa Club-S, Triumf xin lược trích báo cáo có tựa đề:


CUỘC CHẠY ĐUA TÀU NGẦM Ở THÁI BÌNH DƯƠNG:

TRUNG QUỐC THÁCH THỨC VỊ TRÍ SIÊU CƯỜNG Ở DƯỚI MẶT NƯỚC CỦA MỸ


Tác giả: Mackenzie Eaglen and Jon Rodeback

Ngày 02 tháng 02 năm 2010
Xuất bản bởi The Heritage Foundation

Các hạm đội tàu ngầm ở Thái Bình Dương
Các hạm đội tàu ngầm và sự phát triển của chúng đã thay đổi nhanh chóng kể từ sau Chiến tranh lạnh. Trong những năm 1990, Nga đã đưa ra khỏi biên chế hầu hết tàu ngầm của họ và Mỹ cũng thu nhỏ quy mô lực lượng tàu ngầm của mình. Trong khi số lượng tàu ngầm của Mỹ tiếp tục giảm thì Trung Quốc lại nhanh chóng mở rộng và nâng cấp lực lượng tàu ngầm của mình. Để cân bằng cán cân quân sự, các nước khác trong khu vực Thái Bình Dương cũng đang tiến hành mở rộng và hiện đại hóa lực lượng tàu ngầm của mình.

Hoa Kỳ
Lực lượng tàu ngầm tiến công hạt nhân (SSN) của Hoa Kỳ đã giảm từ 102 chiếc năm 1987 xuống còn 53 chiếc năm 2009. Việc cắt giảm số lượng này được thực hiện theo các kế hoạch về cấu trúc của lực lượng Hải quân Mỹ kể từ sau Kế hoạch Hải quân có 600 tàu chiến với 100 tàu SSN của thời Tổng thống Reagan. Kế hoạch đưa ra năm 1991 của cựu Tổng thống Bush cha là duy trì 80 tàu SSN, trong khi nghiên cứu của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ năm 1992 đưa ra mục tiêu chỉ cần 55 chiếc và năm 1997, Kế hoạch điều chỉnh quốc phòng 4 năm 1 lần (Quadrennial Defense Review (QDR) – ?) tiếp tục chỉ ra rằng số lượng cần thiết có thể dưới ngưỡng đề xuất của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tức chỉ 50 chiếc. Vào năm 2001 QDR lại đề xuất tăng lên thành 55 chiếc. Năm 2006 QDR đặt ra mục tiêu tăng tốc độ đóng mới tàu ngầm lên mức 2 chiếc mỗi năm tới 2012 và biên chế 60% sô lượng tàu ngầm của Mỹ ở biển Thái Bình Dương để bảo vệ lợi ích của Mỹ trong khu vực nhạy cảm này. Thực tế, hải quân Mỹ đang duy trì biên chế 313 tàu chiến bao gồm cả 48 tàu SSN, bất chấp có nhiều ý kiến cho rằng số lượng như vậy không đủ đáp ứng yêu cầu. Nghiên cứu về Cấu trúc lực lượng tàu ngầm của Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ công bố năm 1999 đã kết luận rằng số lượng tàu ngầm tiến công lý tưởng để đáp ứng và phục vụ yêu cầu của Hải quân và các hoạt động thông tin tìn báo chiến dịch và chiến thuật phải là 68 chiếc SSN vào năm 2015 và 76 chiếc vào năm 2025. Một lực lượng chỉ gồm 55 chiếc vào năm 2015 và 62 chiếc vào 2025 tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Tuy nhiên, hạm đội tàu ngầm tiến công gồm 53 chiếc thậm chí còn nguy hiểm hơn cả đề xuất đưa ra trước sự kiện 11 tháng 9 năm 2001. Lực lượng tàu ngầm hiện nay đang bị dàn trải, kể cả trong kế hoạch mua sắm dài hạn của Hải quân Mỹ, số lượng tàu ngầm SSN sẽ giảm xuống còn 48 chiếc trong giai đoạn 2022 và 2033, và xuống mức thấp nhất là 41 chiếc vào năm 2028 và 2029.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Hai, 2010, 05:16:59 pm gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2010, 05:17:52 pm »

Để thu hẹp “khoảng cách về tàu ngầm” đã được chỉ ra, hải quân Mỹ hiện đang cân nhắc việc rút ngắn thời gian đóng các tàu ngầm lớp Virginia xuống còn 60 tháng, đồng thời tăng hạn phục vụ của một số tàu ngầm thuộc lớp Los Angeles thêm hai năm, và kéo dài thời gian sử dụng của một số chiếc khác thêm từ 6 đến 7 tháng. Nếu thành hiện thực, các biên pháp tổng thể này có thể nâng số tàu ngầm ở mức thấp nhất lên con số 44 tới 45 chiếc. Dù vậy, những nỗ lực này cũng còn xa mới đáp ứng được yêu cầu của Hải quân Mỹ khi phải đối phó với một kịch bản tương tự như Sự kiện 11/9.

Thờ ơ với khả năng săn ngầm. Việc hạm đội tàu ngầm thu nhỏ quy mô không chỉ ảnh hưởng đến khả năng duy trì sức mạnh dưới mặt nước mà còn kéo theo sự suy giảm khả ănng chống ngầm. Điều này thể hiện rất rõ ở sự suy giảm số lượng các phương tiện săn ngầm. Hiện Hải quân đang vận hành 173 chiếc máy bay tuần tiễu P-3C đã lỗi thời, và việc máy bay P-8A (thay thế cho P-3C) khó có thể được đưa vào trang bị hàng loạt cho tới năm 2013. Hải quân Mỹ cũng đang cho về hưu các máy bay S-3B Viking, vốn đang được sử dụng như một loại máy bay săn ngầm tầm xa của các biên đội tàu sân bay, và không có kế hoạch thay thế. Thêm nữa, Hải quân cũng thiếu các thiết bị trinh sát âm thanh hiện đại (SOSUS), mà vẫn dựa vào hệ thống trinh sát thủy âm vốn được phát triển từ những năm 1950 để truy tìm các tàu ngầm của Liên Xô.

.....

Một số quốc gia chỉ có năng lực tác chiến hải quân giới hạn nay đang nhanh chóng đầu tư để mở rộng tầm ảnh hưởng và khả năng tung phóng sức mạnh nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của họ trên thế giới. Hải quân của chúng ta cần phải vượt lên trước các đối thủ trong môi trường tác chiến biển xanh khi họ cố vươn tầm hoạt động. Điều này đòi hỏi chúng ta cần nâng cấp khả năng đánh chặn tên lửa đạn đạo và chống ngầm trong môi trường biển xanh để cải thiện khả năng đánh chặn chiến lược.


Hải quân thừa nhận khả năng săn ngầm đang suy giảm khi phải đối mặt với những mối đe dọa dưới mặt nước “tái xuất hiện” và đã đặt mục tiêu phát triển các loại vũ khí săn ngầm và hệ thống cảm biến tiên tiến trong những năm sắp tới. Hạm đội Thái Bình Dương đã tăng cường huấn luyện khả năng chống ngầm. Đây là những nỗ lực đáng kể cần được duy trì song song với mục tiêu đẩy mạnh mua sắm thêm các phương tiện chống ngầm – chủ yếu là các tàu ngầm và máy bay trinh sát biển săn ngầm tầm xa.

Trung Quốc
Kể từ sau Chiến tranh lạnh, Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLAN) của Trung Quốc đã mở rộng và nâng cấp đáng kể lực luợng của mình, đặc biệt là hạm đội tàu ngầm, hiện đang được đánh giá là “Sức mạnh tiềm ẩn” nhất của PLAN. Theo Lầu Năm Góc, Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất châu Á, bao gồm 60 tàu ngầm tiến công (6 chiếc SSN và 54 tàu ngầm diesel tiến công). Hơn một nửa số tàu ngầm này thuộc loại hiện đại hơn như lớp Kilo, lớp Tống và lớp Yuan-class. Một nhà quan sát đã chỉ ra răng “Trung Quốc hiên này đang có nhiều tàu ngầm hơn cả Nga, và tốc độ phát triển của họ nhanh kinh khủng”.

Phát triển hạm đội tàu ngầm. Trung Quốc đang “chạy trên đường cao tốc” trong mục tiêu xây dựng lực lượng hải quân biển xanh để có thể tung phóng sức mạnh trên các tuyến đường biển của họ:
Để thực hiện được điều đó, Trung Quốc đang phát triển mạnh khả năng chống ngầm, đáng kể nhất là trong giai đoạn 2002–2004, hải quân Trung Quốc đã liên tục đóng 13 chiếc tàu ngầm, trong khi tiến hành đồng thời việc mua tàu ngầm của Nga với số lượng lớn. Thêm nữa, Trung Quốc đã đưa vào biên chế 31 tàu ngầm chỉ riêng trong giai đoạn 1995-2005. Với sự trỗi dậy mạnh mẽ và nhanh chóng, Trung Quốc dần có khả năng khống chế đường biển...... Để phát triển các công nghệ tiên tiến và phức tạp, Trung Quốc cuối cùng cũng dựa chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài.

Các ước tính cho thấy quy mô lực lượng tàu ngầm tiến công của Trung Quốc có thể biến thiên rộng từ 58 tàu tới 88 tàu, tùy thuộc vào việc các tàu ngầm thế hệ cũ bị đưa ra khỏi biên chế nhanh hay chậm, và chỉ tập trung vào đóng các tàu SSN đắt tiền hơn, khiến tổng số tàu ngầm được đóng sẽ giảm, và tiến hành mua tàu của nước ngoài nhiều hơn.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã đưa vào sử dụng 4 loại tàu ngầm mới tự thiết kế và đóng trong nước như: Jin hay Type 094 (SSBN), Shang hay Type 093 (SSN), Yuan hay Type 041/039A (SSP), và Song hay Type 039/039G (SSK). Thế hệ tàu tiếp theo của lớp Shang đang được triển khai. Có thể kết luận rằng quy mô lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc sẽ rất lớn (khoảng 70 chiếc hoặc hơn) là một ước tính thực tế chính xác về cấu trúc lực lượng Hải quân Trung Quốc trong vài thập kỷ tới.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Hai, 2010, 10:31:39 am gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #16 vào lúc: 01 Tháng Ba, 2010, 11:16:49 am »

Tăng cường tuần tra. Lực lượng tàu ngầm tiến công Trung Quốc đã tăng mạnh số lần tuần tra từ 2 lần năm 2006 lên 6 lần năm 2007 và tới 12 lần năm 2008. Đây là những bằng chứng cho thấy quốc gia này đang tập trung vào huấn luyện và thể hiện tham vọng “cho Hoa Kỳ thấy rằng Trung Quốc là một thế lực, đối trọng của họ biển Thái Bình Dương”. Hai sự kiện gần đây có thể mô tả rõ xu hướng này. Vào ngày 26 tháng 10 năm 2006, một tàu ngầm lớp Tống của Trung Quốc đã nổi lên gần Biên đội tàu sân bay Kitty Hawk của Mỹ -  đang hoạt động gần Okinawa trong khoảng cách có 5 dặm (khoảng 8km). Ngày 11 tháng 6 năm 2009, một tàu ngầm của Trung Quốc đã va chạm với tàu USS John S. McCain’s có trang bị cảm biến mảng pha của Mỹ ngay ngoài khơi Philippines. Cho dù những sự kiện này, có thể hoặc chưa thể hé lộ những hạn chế trong khả năng chống ngầm của Hoa Kỳ và các thủy thủ tàu ngầm Trung Quốc vận hành thành thạo các cỗ máy giết người thầm lặng dưới đáy đại dương – là những thông tin thực tế nhất, khẳng định một điều rõ ràng rằng lực lương tàu ngầm Trung Quốc đã vươn tầm hoạt động xa hơn và hoạt động hiệu quả hơn so với trước đây.

Các mục tiêu. Có một số nhận định và nguyên do có thể giúp lý giải về sự phát triển nhanh chóng của lực lượng tàu ngầm Trung Quốc: các yêu cầu phòng thủ cơ bản của Trung Quốc, khả năng giới hạn của Hoa Kỳ trong sụ­ can thiệp vào các quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan, thách thức sự ảnh hưởng của hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương, bảo vệ các tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đường đạn trước các mối đe dọa, ngăn chặn, và tạo thanh thế lớn hơn trên trường quốc tế.

Đầu tiên, dân số và sự giàu có của Trung Quốc tập trung chủ yếu dọc bờ biển phía Đông, cho phép Trung Quốc có lý do chính đáng để phát triển lực lượng hải quân mạnh triển khai dọc đường bờ biển này.

Tiếp nữa, nhiều chuyên gia phân tích an ninh tranh cãi rằng “Mục đích chính của Trung Quốc trong việc nâng cấp lực lượng tàu ngầm của mình là khả năng trì hoãn hay ngăn chặn sự xâm lược theo yêu cầu của Đài Loan”. Trung Quốc đã gặp rất nhiều rắc rối với “tỉnh nổi loạn Đài Loan” và với sự can thiệp của Hoa Kỳ (vào tiền đồ của Trung Quốc) trong các quan hệ giữa hài bờ eo biển Đài Loan từ năm 1949. Mối quan hệ giữa hai bờ eo biển này trở nên đặc biệt căng thẳng vào năm 1996, khi Hoa Kỳ triển khai 2 Biên đội tàu sân bay đến khu vực này để ngăn chặn một cuộc tiến công quân sự của Trung Quốc nhằm thôn tính Đài Loan.

Không có gì bất ngờ khi Trung Quốc đặt ưu tiên triển khai khả năng ngăn chặn đường biển để có thể trì hoãn hay đánh bại sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ trong một kịch bản chiến tranh tại eo biển này trong tương lai.

Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã kết luận rằng “việc phát triển và đưa vào trang bị các tàu ngầm lớp Kilo, Song, Shang, và Yuan đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với khả năng đánh chặn và tác chiến dưới mặt nước của Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa”.

Hải quân Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng bởi chiến lược của Hải quân Xô Viết, được cho là “có thể đánh thắng nhanh chóng trong các tình huống xung đột địa chiến lược của Liên Xô” bằng việc sử dụng các tàu ngầm hạt nhân và tạo ra một lực lượng hải quân tiến ra đại dương với khả năng tấn công”. Một chiến lược tương tự có thể giúp Hải quân Trung Quốc phá vỡ sự phong tỏa đường biển đối với Trung Quốc Đại lục. Căn cứ hải quân mới ở đảo Hải Nam là một bước tiến, cho phép Hải quân Trung Quốc tiếp cận trực tiếp tới các đường vận tải biển quốc tế trọng yếu, và mở ra khả năng tiềm tàng để triển khai bí mật các tàu ngầm ra vùng nước sâu của vùng Biển Đông (Biển Nam Trung Hoa).
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Ba, 2010, 11:28:59 am gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #17 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2010, 11:59:46 am »

Như là một phần của chiến lược tiến công hạt nhân, Trung Quốc dự tính đóng tới 5 tàu ngầm hạt nhân thuộc lớp Jin, mỗi tàu mang 12 tên lửa đường đạn có khả năng bắn tới Mỹ từ các vị trí ngoài khơi bờ biển của Trung Quốc. Nỗ lực này có thể tạo thành một khả năng răn đe hạt nhân hữu hiệu trên biển. Trung Quốc có thể sẽ sử dụng một số tàu ngầm SSN làm nhiệm vụ tuần tra răn đe hạt nhân.

Cuối cùng, dường như rõ ràng là Trung Quốc chủ định phát triển thành một đối trọng toàn cầu, và “điều đó thể hiện sự khôn ngoan thường thấy của người Trung Quốc khi sự hiện diện của các tàu ngầm hạt nhân phô bày năng lực của một cường quốc”. Một hạm đội tàu ngầm tiến công mạnh cũng có thể giúp bảo vệ các tàu vận tải của Trung Quốc trên mọi tuyến đường biển quốc tế. Vụ rắc rối liên quan đến Yin He năm 1993 giúp củng cố thêm sự quan ngại trong giới các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi mà họ “rất giận dữ, nhưng lại không có cây gậy răn đe nào” vì Hoa Kỳ tiến hành khám xét một tàu hàng Trung Quốc được cho là đang vận chuyển những thành phần của vũ khí hóa học đến Iran.

Australia
Hải quân Australia có 6 tàu ngầm diesel-điện và đã công bố kế hoạch thay thế chúng bằng một chương trình hiện đại hóa hải quân sâu rộng hơn với 12 tàu ngầm thông thường tiên tiến mang tên lửa hành trình. Chính phủ Australia đã dứt khoát tiến hành kế hoạch phát triển này để đáp lại mối đe dọa ngày càng lớn của sức mạnh hải quân Trung Quốc và sự suy yếu của hải quân Hoa Kỳ, vốn được Australia xem như cán cân ổn định quân sự toàn cầu và đặc biệt là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Ấn Độ
Về mặt địa lý, Ấn Độ không thuộc khu vực biển Thái Bình Dương, nhưng nước này lại đang tìm cách tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương. Ấn Độ hiện có 16 tàu ngầm tiến công sử dụng động cơ diesel và hiện đã tiến hành đặt đóng tàu ngầm tiến công hạt nhân đầu tiên, dựa trên các tàu thuộc lớp Akula của Nga. Ấn Độ sẽ thuê chiếc tàu Akula thứ 2 từ Nga và đang tiến hành đóng 6 tàu ngầm diesel Scorpene.

Kế hoạch mở rộng và nâng cấp lực lượng tàu ngầm của Ấn Độ là một phần trong một nỗ lực lớn hơn để hướng đến trang bị hơn 100 tàu chiến thế hệ mới cho hải quân nước này trong vòng 10 năm. Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ lý giải chương trình đóng tàu  là một “sự cần thiết mang tính chiến lược” của hệ thống phòng thủ quốc gia, đặc biệt là để đối phó với sự lớn mạnh không ngừng của hải quân Trung Quốc: “Trung Quốc hiện đang phát triển lực lượng hải quân của họ một cách nhanh chóng. Tham vọng của họ ở Ấn Độ Dương là khá rõ ràng”. Ấn Độ cũng khao khát trở thành một cường quốc, và các tàu ngầm được xem như là một thành phần mang lại sức mạnh chủ yếu của bất kỳ một hạm đội nào.
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #18 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2010, 02:51:07 pm »

Nga
Lực lượng tàu ngầm của Nga (Liên Xô cũ) đã sụt giảm tới 2/3 sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ. Trong những năm gần đây, Hải quân Nga đã có sự vươn lên kể từ cuộc khủng hoảng hậu Xô Viết, nhưng vẫn cần phải loại khỏi biên chế vài tá tàu ngầm hạt nhân còn lại từ thời chiến tranh lạnh. Trong năm 2009, Nga có 17 tàu ngầm hạt nhân và 20 tàu ngầm diesel, trong đó có 5 tàu ngầm tiến công hạt nhân và 9 tàu ngầm diesel thuộc biên chế của hạm đội Thái Bình Dương. Bất chấp việc ngân sách tăng liên tục trong những năm qua, “hải quân vẫn còn đang trong tình trạng thiếu thốn, chính điều đó đã hạn chế khả năng đảm bảo hoạt động thông thường cho các tàu ngầm này và thậm chí là chỉ để duy trì chúng ở chế độ sẵn sàng chiến đấu”.

Nhật Bản
Nhật bản duy trì một hạm đội tàu ngầm hiện đại gồm ít nhất 16 tàu, bao gồm ít nhất 1 tàu ngầm sử dụng động cơ đẩy AIP thuộc lớp Soryu. Nhật có chế độ thay thế các tàu ngầm sau mỗi 16 năm hoạt động, nhanh hơn rất nhiều so với các nước khác.

Hàn Quốc
Hàn Quốc có 12 tàu ngầm tiến công và có kế hoạch tăng quy mô lực lượng tàu ngầm lên 27 chiếc vào năm 2020.

Bắc Triều Tiên
Bắc Triều Tiên có 22 tàu ngầm tiến công thông thường thế hệ cũ (không rõ có bao nhiêu chiếc còn có thể hoạt động được) và một số lượng đông đảo các tàu ngầm mini. Về lý thuyết có thể đe dọa các tuyến vận tải biển và có khả năng thực hành chiến đấu đơn giản, các tàu ngầm của Bắc Triều Tiên không được đánh giá cao trong các chiến dịch kiểm soát trên biển.

Đài Loan
Đài Loan vận hành 2 tàu ngầm tiến công và đang tìm cách mở rộng và nâng cấp lực lượng tàu ngầm từ nhiều nguồn, bao gồm cả đóng trong nước. Vào năm 2001, Hoa Kỳ đã chào với Đài Loan một gói vũ khí bao gồm cả 8 chiếc tàu ngầm diesel-điện, nhưng Hoa Kỳ không có quền riêng đối với bất kỳ thiết kế tàu ngầm diesel hiện tại, và rồi đề xuất này đã bị chìm xuồng.

Đông Nam Á
Trong bối cảnh Ấn Độ và Trung Quốc triển khai các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, hầu hết các nước Đông Nam Á cũng phát triển hay nâng cấp lực lượng tàu ngầm của mình. Indonesia đã có 2 tàu và công bố kế hoạch đóng mới 12 tàu cho tới năm 2024. Việt Nam gần đây cũng đã đặt mua 6 tàu ngầm lớp Kilo của Nga và quan tâm đến các tàu hiện đại hơn như Amur-1650. Singapore gần đây cũng mua 2 tàu ngầm dùng động cơ AIP thuộc lớp Archer để thay thế 2 trong số 4 chiếc tàu ngầm đã lỗi thời của họ. Tháng 10/2007, Malaysia nhận chiếc tàu ngầm đầu tiên thuộc lớp Scorpene đóng ở Pháp. Chiếc tiếp theo dự kiến sẽ giao năm 2010. Thái Lan hiện chưa có tàu ngầm, nhưng ngày càng tỏ ra quan tâm đến việc phát triển lực lượng này.

Lực lượng tàu ngầm triển khai ở Thái Bình Dương
(2009/2025)
Hoa Kỳ: 30/27 (là quốc gia duy nhất trong khu vục giảm quy mô lực lượ­ng tàu ngầm)
Nga: 14/14+
Nhật Bản: 16/16
Trung Quốc: 60/78
Ấn Độ: 17/24
Hàn Quốc: 12/26
Malaysia: 1/2
Singapore: 4/4
Indonesia: 2/12
Vietnam: -/6-10 (hiện chưa có chiếc tàu ngầm nào)
Australia: 6/12

Nguồn: International Institute for Strategic Studies, The Military Balance 2009 (Abingdon, U.K.: Routledge Journals, 2009); Nuclear Threat Initiative, “Submarine
Proliferation,” at http://www.nti.org/db/ submarines (January 12, 2010); and GlobalSecurity.org, “World Military Guide,” at http://www.globalsecurity.org/military/world
(January 12, 2010). The 2025 projections are based on publicly reported orders and procurement plans. The complete list of sources is available upon request.

Triumf lược trích.

HẾT
Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Triumf
Trung tá
*
Bài viết: 11033



« Trả lời #19 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2010, 05:01:26 pm »

MỘT XU HƯỚNG MỚI NỔI Ở ĐÔNG Á:
TĂNG NGÂN SÁCH QUỐC PHÒNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG

Tác giả Zhu Feng
Bài viết được đăng trên ASIAN PERSPECTIVE, Vol. 33, No. 4, 2009, pp. 17-45.

Việc ngân sách quốc phòng của các nước Đông Á tăng liên tiếp gần đây, được cho là có nhiều nguyên nhân nhưng rõ ràng nó đã “bấm nút” cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực. Các nhân tố chính trị trong nước của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã có sự tác động mạnh mẽ tới an ninh khu vực. Thêm nữa các nguy cơ xung đột tiềm ẩn ở bán đảo Triều Tiên và eo biển Đài Loan cũng là những nhân tố kiểm định sự ổn định trong khu vực.

Đông Á gần đây đã chứng kiến một làn sóng tăng ngân sách quốc phòng mới như ở các quốc gia ASEAN – với 10 thành viên – đã vượt qua được tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và nỗ lực thiết lập và thực hiện các kế hoạch mua sắm vũ khí trang bị. Việt Nam sẽ trở thành khách hàng lớn khi mua các tàu ngầm do Nga sản xuất và Malaysia mua các máy bay chiến đấu phản lực tiên tiến. Singapore đã tiết lộ ý định mua máy bay chiến đấu tàng hình F-35. Seoul đang phát triển tên lửa hành trình, đang lên kế hoạch thiết lập mạng thông tin quân đội tốc độ cao, đóng tàu chiến lớn hơn và đẩy mạnh chương trình khám phá không gian. Australia dự chi khoảng hơn 70 tỷ USD trong vòng 20 năm tới để tái trang bị cho quân đội, theo Sách trắng Quốc phòng tháng 3 năm 2009. Chi tiêu quốc phòng của Nhật Bản duy trì ổn định trong vòng 3 năm qua và sẽ giảm 0,8% trong năm tài khóa 2009. Tuy nhiên, nếu Tokyo thực hiện được tham vọng mua máy bay chiến đấu tàng hình F-22 Raptor, thì ngân sách quốc phòng nước này sẽ tăng dần trong tương lai. Trong khi đó New Delhi đang thèm khát các máy bay chiến đấu F-18 và F-35 của Mỹ và khả năng tiến công phủ đầu. Trong chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tới Ấn Độ tháng 7 năm 2009 đã đặt nền móng cho sự hợp tác quốc phòng chặt chẽ hơn giữa hai nước. New Delhi dự kiến sẽ chi 14 tỷ USD để mua các vũ khí tiên tiến của Mỹ. Thêm nữa, “có sự tăng trưởng đáng kể trong lĩnh vực sản xuất vũ khí trang bị của các nước trong khu vực cả về giá trị, chủng loại, độ tinh xảo, đặc biệt là những tham vọng mang tính quốc gia để sản xuất được những vũ khí mới.

Những xu hướng nói trên cho thấy khu vực này đang “trượt dài” vào một cuộc chạy đua vũ trang. Thực tế, không chỉ là một nỗi lo ngại mới, mà những lo ngại về một cuộc chạy đua vũ trang đã xuất hiện ở Đông Á từ ngay sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ. Nay chúng đã trở lại dù không thường xuyên, trong thời kỳ hậu 11/9 và với chính sách hạt nhân điên cuồng của Bắc Triều Tiên. Chi tiêu quốc phòng trong khu vực tăng, nguyên do rất tự nhiên, phản ánh nguy cơ mất ổn định của an ninh khu vực Đông Á. Mặc dù điều đó không hẳn đã đủ để kết luận là nguyên nhân chính để một cuộc chạy đua vũ trang mới đang diễn ra.
« Sửa lần cuối: 04 Tháng Ba, 2010, 10:35:15 am gửi bởi Triumf » Logged

Ô hay nhỉ! Tài nhỉ!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM