Các báo cáo về tình hình hải quân Việt Nam trên các sách báo Trung Quốc .
Đoạn trích về tình hình hải quân Việt Nam trong cuốn “chiến lược hải quân trong thế kỷ 21”
Nhà xuất bản Giang Tô
Tác giả: Nghiêm Kiếm Bình, Vương Gia Kiêm
Xuất bản tháng 9 năm 2000
Trang 190-195
Cái nhìn của Trung Quốc về lịch sử hải quân Việt Nam
Việt Nam nằm tại khu vực Đông Nam Châu Á ,thuộc bán đảo Đông Dương. Phía Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp Lào và Campuchia, phía Đông và Nam giáp biển Nam Trung Hoa. Địa hình có hình chữ S, chiều dài từ bắc xuống Nam khoảng 1605 km, Việt Nam có đường bờ biển dài 3260 km, với khoảng 2600 hòn đảo lớn nhỏ.
Việt Nam với đường bờ biển dài và vị trí chiến lược đặc biệt ,nằm trên tuyến đường vận tải biển nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương ,có thể xem Việt Nam là 1 quốc gia biển. Ngoài ra với hơn 10 hải cảng lớn và 160 cửa biển ,Việt Nam được thiên nhiên ban tặng vị trí địa lý đặc biệt quan trọng nhưng đồng thời cũng mang lại cho nước này nhiều tai ương. Trong những năm của thế kỷ 20, các cường quốc Pháp, Mỹ ,Liên Xô thay nhau tranh giành ảnh hưởng tại khu vực này qua việc xâm chiếm , đô hộ, liên minh với Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau . Tuy không giành được ảnh hưởng nhưng bằng việc xây dựng các cảng khẩu, căn cứ hải quân , không quân từ Bắc xuống Nam ,phải thừa nhận Pháp, Mỹ và Liên Xô đã giúp hải quân Việt Nam xây dựng được những nền móng đầu tiên cho việc phát triển hải quân của Việt Nam sau này.
Hải quân Việt Nam, đội quân được rèn luyện qua chiến tranh. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Từ tháng 12 năm 1944, khi thành lập quân đội nhân dân Việt Nam đã trải qua 30 năm kháng chiến chống Nhật (1944-1945), chống Pháp ( 1946-1954), chống Mỹ (1964-1975) và 10 năm tiến hành chiến tranh xâm chiếm Campuchia và chiến tranh biên giới Việt-Trung. Chiến tranh đã làm hao người tốn của, tàn phá nền kinh tế vốn đã lạc hậu của Việt Nam, nhưng nó cũng đã tôi luyện cho quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển và đi lên.
Từ khi thành lập năm 1955, với quân số 7300 người và hơn 40 tàu thuyền , chủ yếu là các loại tàu chiến nhỏ, lạc hậu , trong đó có 2 hải đội tàu tuần tra, 1 hải đội tàu phóng lôi, 1 hải đội tàu săn ngầm . Trong kháng chiến chống Mỹ, Hải quân Việt Nam (HQVN) đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận như bắn rơi hơn 100 máy bay Mỹ, bắn cháy và bị thương nhiều tàu thuyền của địch, trong đó có tàu chở dầu trọng tải 1500 tấn . Thành tích này có được một phần lớn là nhờ sự viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc. Trong đó Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam hơn 100 tàu thuyền các loại. Sau chiến tranh, cơ sở vật chất, khí tài quân sự và sức mạnh của hải quân Việt Nam phát triển mạnh mẽ với hơn 800 tàu thuyền lớn nhỏ, trong đó có 70 chiếc tàu chiến trọng tải trên 100 tấn, tổng binh lực năm 1980 là 50000 người.
Nhưng từ những năm 80, Việt Nam với sự xúi dục và giúp đỡ của Liên Xô đã liên tiếp phạm sai lầm khi tiến hành chiến tranh xâm chiếm Campuchia, làm xấu đi quan hệ với Trung Quốc. Trong đó đỉnh điểm là việc cho Liên Xô thuê lại quân cảng Cam Ranh với mục đích chế ngự hải quân Trung Quốc và khống chế khu vực biển Nam Trung Hoa, tiến hành tập trận hải quân với kẻ thù giả định là Trung Quốc, xâm chiếm trái phép quần đảo Nam Sa (Trường Sa) . Tất cả những hành động này đã bộc lộ giã tâm của Việt Nam trong việc mở rộng tầm ảnh hưởng tại khu vực Đông Dương, nhằm thực hiện giấc mông tiểu bá của mình.
Bước sang thập niên 90, căn cứ vào chuyển biến của tình hình quốc tế (đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô) , Hải quân Việt Nam đã đề ra hướng đi mới “ kiến thiết hải quân bằng việc kiện toàn binh chủng , hiện đại hóa trang bị khí tài nhằm phát triển hải quân Việt Nam thành 1 quân chủng đủ khả năng bảo vệ lãnh hải, chủ quyền biển đảo” . Theo đó , quân chủng hải quân Việt Nam bao gồm binh chủng tàu chiến đấu, binh chủng thủy quân lục chiến, binh chủng bảo vệ bờ biển , cục hậu cần biển và trường hải quân hợp thành. Trang bị gồm hơn 300 tàu chiến, trong đó có 1 khu trục hạm loại nhỏ, 15 hộ tống hạm loại nhỏ, 15 tàu tên lửa cao tốc, 18 tàu phóng lôi, 4 trực thăng chống ngầm, 4 thủy phi cơ, 120 xe thiết xa lội nươc NT-76, 30 xe tăng T-34 và tên 12 giàn phóng tên lửa đất đối hạm SS-1.
Tư tưởng tác chiến của hải quân Việt Nam là : nhấn mạnh việc kết hợp quân và dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân toàn quân, tiến hành chiến tranh nhân dân trên biển, linh hoạt sử dụng chiến thuật du kích chiến trên biển, cơ cấu tác chiến hải quân dựa trên tác chiến từng phân đội nhỏ, chủ động chiến đấu với sự phối hợp của nhiều binh chủng . Tiêu chí chiến đấu là “ nhắm thắt lưng địch mà đánh” , “Đánh rắn phải đánh đầu rắn”, “đẩy chiến tranh từ biển vào bờ” , “tiêu diệt sinh lực địch tại bờ biển” .
Chiến lược bờ biển của hải quân Việt Nam trong thời kỳ mới .được bắt đầu từ năm 1986. Việt Nam bắt đầu công khai nhấn mạnh chiến lược quân sự đối với hải quân, từ chiến lược “Bắc phòng Nam công” chuyển sang “ Lục thủ hải tiến” .Công khai thực hiện chiến thuật “lấy đảo trị biển” nhằm” bảo vệ lãnh thổ trên biển và tài nguyên trên biển của Việt Nam” . Trong đó minh chứng rõ nhất cho chiến lược này là việc Việt Nam cho khai thác dầu khí trái phép trên biển Nam Trung Hoa với sản lượng hơn 700 ngàn tấn. Ngoài ra Việt Nam còn cho xây dựng trái phép các công trinh quân sự vững chắc trên 27 đảo mà Việt Nam xâm chiếm tại quần đảo Nam Sa (Trường Sa ).
Trong vấn đề ngoại giao, Việt Nam sử dụng 3 sách lược chính là :
1/Không ngừng công kích về mặt ngoại giao với Trung Quốc. Tiến hành phát biểu, trả lời phỏng vấn trên các báo chí và diễn đàn quốc tế ,trong đó nhấn mạnh việc Trường Sa- Hoàng Sa (Nam Sa- Tây Sa ) là lãnh thổ của Việt Nam. Việt Nam chủ trương không dùng bạo lực giải quyết vấn đề trên biển , nhưng lại hoan ngênh tất cả các tổ chức quốc tế tham gia giải quyết tranh chấp và mời các công ty quốc tế đầu tư khai thác tại Trường Sa (Nam Sa) với âm mưu quốc tế hóa vấn đề tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa.
2/ Việt Nam tuân thủ triệt để chính sách biển ,lấy tuyên truyền chính trị làm đầu nhằm giáo dục cho nhân dân biết về chủ quyền biển đảo và liên tiếp ép tàu thuyền của Trung Quốc không được khai thác tại quần đảo Trường Sa (Nam Sa).
3/ Hạn chế tàu chiến ra vào khu vực kiểm soát của hải quân Trung Quốc, tránh tối đa việc tranh chấp với tàu chiến Trung Quốc. tiến hành giám sát , theo dõi , khắc chế tàu thuyền Trung Quốc, cho xây dựng công trình dân sự và đưa dân lên đảo sinh sống nhằm đạt được mục tiêu “bất chiến tự nhiên thành” của mình.
Tăng cường trang bị vũ khí ,cải thiện sức mạnh chiến đấu. Sau khi Liên Xô tan rã, không còn nhận được viện trợ, hải quân Việt Nam bắt buộc phải thực hiện chính sách “bảo quản tốt, sử dụng tốt trang bị khí tài vũ khí, nhằm đưa tổn thất trang bị vũ khí hạ xuống mức thấp nhất “ . Bắt đầu từ thập niên 90, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hải quân Việt Nam cũng không ngừng tăng cường quân bị. Việt Nam đã mua từ Nga 2 tàu tên lửa loại 1241, 3 tàu tuần tra trên biển, 2 trực thăng chống ngầm. Mua của Hàn Quốc 3 tàu tuần tra loại nhỏ, mua của Triều Tiên 2 tầu ngầm loại nhỏ. Ngoài ra Việt Nam cũng tự đóng mới trên 13 tàu vận tải lớn nhỏ. Việc này đã cải thiện phần nào sức chiến đấu của hải quân Việt Nam. Mặc dù vậy , hải quân Việt Nam vẫn chưa thoát được hình ảnh của 1 quân chủng hải quân phòng thủ bờ biển loại nhỏ. Lý do chủ yếu là hạn chế về cơ sở vật chất, điều kiện tài chính và khả năng tự sản xuất , bảo dưỡng trang bị vũ khí còn rất yếu.
Tóm lại ,có thể đánh giá, hải quân Việt Nam là 1 lực lượng tác chiến gần bờ, hải quân Việt Nam có rất nhiều tham vọng nhưng lực bất tòng tâm, hải quân Việt Nam đang lãng phí của cải vật chất của nhân dân cho việc phát triển trang bị vũ khí. Qua đó hải quân Việt Nam đang đi theo 1 con đường nguy hiểm khi làm nổi lên 1 cuộc chạy đua vũ trang của hải quân các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Đây là tài liệu tham khảo được mình lược dịch lại ! Có chổ nào không đúng mong mọi người góp ý . Nếu nằm không đúng chủ đề thì nhờ mod để vào chủ đề thích hợp giùm ! Thanks
