Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 03:26:18 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh Ngạn  (Đọc 57010 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2009, 04:44:52 pm »

SAU TRẬN NÀY, GIẶC CÀN NƠI NÀO?

Anh Miên sang báo cáo với anh Ngạn về kết quả chống càn “Thủy Ngân”. Sau 10 ngày chiến đấu, bộ đội địa phương và bộ đội 320 chỉ bằng 1/5 quân số địch ,đã cùng dân quân du kích đánh 200 trận, với nhiều cách đánh diệt từ một, hai tên, đến một, hai đại đội, làm cho chúng thương vong, tan rã 1.750 tên. Ta bảo toàn được các cơ quan lãnh đạo và bộ đội chủ lực. Sau càn, cư sở ta phục hồi nhanh, bọn phản động không lợi dụng “đục nước béo cò” nổi lên như năm trước. Lòng tin của nhân dân, kể cả ở vùng Thiên chúa giáo, được củng cố. Vùng căn cứ du kích được giữ vững và mở rộng thêm ở ngay nơi bị càn. Trong hiệp đồng chống càn, các lực lượng vũ trang Thái Bình đã tạo cho bộ đội chủ lực niềm tin ở chiến trường lạ lẫm, và khiến địch kiêng dè. Riêng quân dân huyện Kiến Xương đã cùng bộ đội chủ lực hoặc tự đánh 74 trận, diệt nhiều  địch và phục vụ bộ đội trong chiến đấu. Du kích các xã An Ninh, Quốc Tuấn, Bình Nguyên, Thượng Hiền phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh những trận có hiệu quả. Đồng chí Thuyết, du kích xã Lê Lợi dùng mìn diệt và làm bị thương 30 tên giặc khi chúng cụm lại ở sân đình làng. Các thôn An Thái, Dưỡng Thông dùng chông, mìn, lựu đạn, súng trường diệt và làm bị thương 80 tên giặc. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện dũng cảm đánh địch trong vòng càn, hỗ trợ cho bộ đội chủ lực luồn càn, tiểu biểu là Đại đội Lê Lợi…

Anh Ngạn chăm chú nghe, đôi lúc ngó và bản đồ ghi những dấu chỉ đỏ ở những đia điểm chiến đấu dũng cảm, rồi nói: - Thằng địch cũng kiếm chác được một số cái mà nó mong đợi chứ?

Anh Miên báo cáo: - Có ạ! Chúng giải vây hoặc đóng lại được một số đồn: La Cao, Trà Lý, Thanh Nê, Cao Mại…, vũ trang lại cho vệ sĩ các nhà thờ Cổ Việt, Tân Bình…, củng cố đường 223, nhằm ngăn cách khu căn cứ du kích nam huyện Vũ Tiên- Thư Trì với nam huyện Kiến Xương, củng cố đồn dọc đường 10, đoạn cầu Nghìn - Tân Đệ, lập vành đai an toàn cho thị xã Thái Bình.

Anh Ngạn hỏi: - Chúng còn gây hại nhiều?

Anh Miên tiếp: - Trong 10 ngày càn, địch làm hơn 800 người chết và bị thương; hơn 5.000 người bị bắt, phần nhiều là thanh niên (trong đó có 1000 anh em du kích).

Anh Ngạn buông bút, lặng lẽ trước những tổn thất, anh nói như để riêng mình nghe: - Thằng địch muốn gây tổn hại lớn khiến chúng ta nản lòng, chùn bước! Rồi anh gấp đôi tấm bản đò, nhìn vào phía bắc sông Luộc. Anh Miên hiểu ý, báo cáo: - Phối hợp chống càn “Thủy Ngân”, Trung đoàn 42 cùng bộ đội, du kích Hưng Yên, Hải Dương ra sức hoạt động. Chỉ sau hai ngày giặc càn ở Thái Bình, một đơn vị của Trung đoàn đã dánh đắm một ca nô địch trên sông Luộc, rồi đột nhập vào thị xã Hưng Yên, diệt ty công an ngụy. Tiếp đó đánh sập cầu Lực Điền, uy hiếp đường 5; diệt và bức hàng 5 đồn, bắt gần hai đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí, mở rộng thêm khu du kích nam Tiên Lữ - Phù Cừ, thông với khu căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng.

Anh Ngạn gật đầu trước những hoạt động phối hợp chống càn. Rồi anh hỏi: - Chúng ta phán đoán xem sắp tới địch sẽ làm gì ở Tả Ngạn?

Anh Miên hiểu đồng chí bí thư Ban Cán sự sẽ hỏi điều đó nên đã có dự kiến. Anh nói: - Địch sẽ lại mở những trận càn nhỏ như “Mưa Phùn” và càn lớn như “Thủy Ngân”. Có thể chúng càn vào Hưng Yên, Hải Dương để đối phó với tình hình hai nơi đó được phục hồi sau trận “Trái Chanh”. Cũng có thể chúng càn bắc Thái Bình, nhất là Tiên - Duyên - Hưng, vì sau trận “Trái Quýt”, ta phục hồi từng phần nhỏ, và gần đây bộ đội 320 lên mở lại vùng căn cứ.

Trong hai hướng trên, hướng nào là chính? - Anh Ngạn hỏi. Anh Miên chưa kịp trả lời, anh đã tự giải đáp: - Mở càn ở đâu, địch phải căn cứ vào thực lực của chúng là chính, nhưng rất coi trọng cân nhắc lực lượng của ta. Chúng vừa mới đối đầu, không phải tất cả mà là một bộ phận của Đại đoàn 320, nhưng đã bươu đầu sứt trá. Ở bắc sông Luộc, chúng biết có Trung đoàn 42, còn Trung đoàn 174 (thuộc Đại đoàn 316) thì vượt đường 5 sang Hải Dương, Hưng Yên là để phối chiến. Địch đủ khôn ngoan để tránh hướng nào khó hơn. Đó là một lẽ. Lẽ nữa, chúng biết nếu các vùng căn cứ du kích của ta được củng cố lâu sẽ mở rộng thêm, vững chắc hơn, và là một sự bất lợi cho chúng. Do vậy, chúng phải càn những nơi đó trước. Thực ra, nếu có đủ lực lượng, chúng muốn càn cùng một lúc tất cả vùng Tả Ngạn này. Nhưng sức chúng có hạn, mà sức ta chống lại là vô hạn. Do vậy chúng phải tính chuyện “cháo nóng húp vòng quanh”. Cháo nóng mà húp cả bát hoặc miếng to thì bỏng môi, trút lưỡi. Đúng không?... Ở địch hậu, ngày càng rõ cái quy luật: ta và địch cùng giành gật từng làng xóm, từng con người, từng con trâu, thúng thóc… Bên nào giành được dân, giữ được đất và giữ của giỏi, cuối cùng bên ấy thắng. Cho nên chúng còn càn, càn nhỏ, càn to, phá vùng du kích, thậm chí nhất thời biến căn cứ của ta ta thành vùng chiếm đóng của chúng. Chúng càn, ta chống, ta phá càn và lại mở căn cứ du kích. Chúng bóp bẹp, ta vo tròn. Cứ thế diễn biến quanh co, luẩn quẩn. Bên nào bền gan, dai sức, bên ấy toàn thắng. Đúng không anh?

Trên cơ sở chỉ thị của Bộ tổng tư lệnh, đầu năm 1952 về phá âm mưu của địch ở vùng địch hậu, và căn cứ vào nghị quyết của Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, anh Ngạn có ý kiến bổ sung kế hoạch hoạt động Xuân - Hè 1952 do Bộ tư lệnh Mặt trận dự thảo. Về hướng địch sẽ càn, nhiều hơn là hướng bắc sông Luộc. Những biện pháp chống càn sẽ được truyền đạt tới các tỉnh, các trung đoàn, nhưng tăng cường cao độ với Hưng Yên, Hải Dương.

Anh Miên ra về, anh Ngạn mới kịp nhìn bát nước chè xanh rót từ đầu cuộc họp, anh mải nói quên uống, giọng đã khan khan. Bưng bát nước, anh vẫn chưa uống ngay, hỏi tôi: - Chiều nay là việc thi đua, đã mời anh Khai rồi chứ? Tôi vừa thu xếp sách bút vừa nói: - Vâng, mởi cả anh Tư Quang đấy ạ! Anh tỏ ra yên tâm, uống cạn bát nước chè, rồi thở phào.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:52:30 pm »

NGƯỜI NGƯỜI THI ĐUA, NGÀNH NGÀNH THI ĐUA

Tôi ăn cơm trưa, đi ra đi vào một lúc thì anh Nguyễn Khai và anh Tư Quang đến. Anh Tư Quang ở “Bình Trị Thiên khói lửa” được Trung ương điều ra tăng cường cho Thái Bình, làm phó bí thư tỉnh ủy. Lúc này Tư Quang quyền bí thư, thay anh Lê Tự đi chữa bệnh.

Hôm nay, anh Ngạn tổng soát việc chuẩn bị cho đoàn cán bộ chiến sĩ Tả Ngạn đi dự Đại hội thi đua Công Nông Binh toàn quốc sẽ họp vào tháng 5-1952.

Anh Ngạn nghe anh Tư Quang báo cáo: Hội nghị thi đua toàn quân tháng tư vừa qua đã bình xét và đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cờ “Quân dân một lòng tiêu diệt quân địch” cho tỉnh Thái Bình, về thành tích kháng chiến toàn dân, toàn diện phát triển rộng. Đưa một tỉnh từ chỗ bị địch càn lớn, chiếm 85% đất đai, tiến lên mở được những vùng du kích và căn cứ du kích rộng , có thời gian là chỗ đứng của cơ quan lãnh đạo một số tỉnh trong vùng Tả Ngạn. Đấu tranh quân sự, chính trị, kinh tế nhiều kết quả khá, ra sức góp người góp của cho công cuộc kháng chiến và bảo đảm đời sống nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thưởng cờ “Nguyên Xá, làng kiểu mẫu” cho xã Nguyên Xá (Tiên Hưng) có phong trào nhân dân chiến tranh xuất sắc, kiên quyết thực hiện “ba không” (không lập tề, không làm tay sai cho giặc, không đi lính ngụy) và “ba được” (đánh được giặc, giữ được làng, sản xuất được mùa). Toàn tỉnh bầu được 13 chiến sĩ thi đua xuất sắc nhất đi dự Đại hội toàn quóc.

Anh Nguyễn Khai báo cáo thành tích của Hưng Yên, được Chủ tịch Hồ Chí Minh thưởng cờ “Đoàn kết nhân dân đánh thắng giặc Pháp”. Cùng với toàn quốc, Hưng Yên kháng chiến ngay từ tháng 120-1946. Bị địch càn lớn rồi chiếm đóng gần hết tỉnh vào năm 19550, cắm 360 đồn, lập 360 ban tề, tình hình cực kì đen tối. 2.734 cán bộ, đảng viên bị giết, bị tù, có xã hết đảng viên. Cơ quan lãnh đạo tỉnh mất đất, sang tạm trú ở tỉnh bạn. Sau đó tiến lên từng bước, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, ba thứ quân thi đua đánh địch, mở nhiều vùng du kích và có căn cứ du kích rộng, thông sang hai tỉnh lân cận, đuộc Bộ tổng tư lệnh goi là một trong những điển hình chiến tranh du kích phát triển cao.

Anh Ngạn lại nghe anh Tư Quang báo cáo về xã Nguyên Xá. Năm 1950, nơi đây bị 14 đồn giặc hình thành hai gọng kìm kẹp lại. Đồn gần nhất ở ngay đầu và cuối xã. Toàn xã có 17 trung đội dân quân và du kích, trong đó có một trung đội trực chiến với 12 khẩu súng trường. Súng do nhân dân bỏ hủ tục cỗ bàn và quyên gop để mua của lính địch. Các trung đội khác trang bị mã tấu, lựu đạn và mìn. Trần đầu, giặc vây nhưng không vào được làng vì lũy cao, hào sâu. Hai tháng sau, hai binh đoàn Commuyan và Bôphơrê tới càn, nhằm bình định cả vùng, trong đó có Nguyên Xá. Chúng kéo theo quân cả 14 đồn phu cận, phá lũy đất, rào tre, lấp hầm hố, đốt nhà cửa, nhằm bắt dân làng khuất phục. Dân phải tản cư ra các xóm trại lẻ. Khi bọn giặc cơ động rút đi, dân về dựng lại làng kháng chiến.

Không bình định được làng Nguyễn hồi sức, đắp lũy, sửa hào. Khi 14 đồn vây đánh lần thứ tư, cùng lúc với đánh làng Khuốc kề bên, du kích làng Nguyễn đã cho một tiểu đội luồn ven bờ mương sang trợ chiến. Tiếng kèn đồng của trung đội trưởng Nguyễn Huy Trù giục giã và tiếng súng bất chợt nổi lên phía sau địch. Tưởng bộ đội đánh tập hậu, địch vội bỏ vây làng Khuốc rồi rút lui. Du kích làng Khuốc đang từ chỗ bị vây, chuyển sang xung phong đuổi giặc, thu một trung liên, ba súng trường…

Mười ngày sau, quân 14 đồn có một tiểu đoàn cơ động từ thị xã Thái Bình về phối hợp, đánh cả hai làng Khuốc, Nguyễn. Ở làng Nguyễn chúng đánh từ ba phía, vây cả ngày, mở ba đợt xung phong, vẫn không vào được làng. Ở làng Khuốc, giặc tập trung đông hơn. Một đơn vị nhỏ bộ đội huyện và du kích đánh trả suốt buổi sáng, rồi cho người sang yêu cầu làng Nguyễn phối chiến.

Tuy phải cầm cự với giặc, làng Nguyễn vẫn cho hai tiểu đội du kích chia hai mũi luồn sau làng, sang đánh tạt vào sườn địch. Không may, khẩu trung liên mới chiếm được của giặc bị tắc. tiếng kèn đồng của Nguyễn Huy Trù lần nữa vang lên, nhưng anh trúng đạn hi sinh.

Lập lại cách đánh cũ, du kích làng Nguyễn tổn thất, nhưng cả hai làng đều khiến giặc phải chùn lại ngoài hàng rào dày sít, rồi rút quân. Sau đó, cấp trên nhận định: hai làng đã liên hào chiến đấu, hỗ trợ nhau, phòng ngự trong làng kết hợp xuất kích đánh địch; dùng mưu trí đánh lùi địch có kết quả.

Anh Tư Quang nói đến đây toàn ngưng, sợ dài. Anh Ngạn đang muốn hiểu sâu về một làng kháng chiến giỏi, yêu cầu nói tiếp. Anh Tư Quang lại hào hứng kể: - Nguyễn, Khuốc và thêm làng Ngói thành thế chân kiềng, đứng vững trong vùng mà địch nói là bình định hoàn toàn”. Tháng 10-1951, giặc càn “Trái Quýt”, chúng dùng hẳn một tiểu đoàn đánh làng Nguyễn. Đại bác bắn ào ạt mở đường cho bộ binh xông vào. Vấp mìn, chông, bị thương và chết, giặc co lại hoặc tiến dè dặt. Qua một ngày, chỉ chiếm được nửa làng. Du kích ngày xuống hầm bí mật, đêm lên thăm dò địch. Đồng chí Quyễn Qui đội cửa hầm lên, trúng nơi giặc canh gác. Chúng bắt và đánh, đồi chỉ hầm. Qui không chỉ. Lừa lúc thằng gác sơ ý, Qui đạp nó ngã thùm xuống ao, rồi chạy thoát.

Sau trận càn, quân cơ động rút, các cụ, các bà làng Nguyễn liền kéo lên đồn đòi thả những người bị bắt, đồi bồi thường người chết, nhà cháy.

Không muốn một cái làng ngang ngạnh ở trước mắt, địch cho xe tăng, xe ủi đến nghiền nát cây cối ở hai xóm trại ven đường 39, đưa quân đến đóng thêm đồn ở phố Tăng, sát cạnh làng Nguyễn. Chúng tiếp tục đốt phá dòng dã hai tháng, làng Nguyễn trơ trụi. Dân ra các gò đống ngoài đồng, dựng lều lán ở. Ban ngày, làng vắng bóng người, nhưng ngoài đồng vẫn cấy lúa, trồng cau. Đêm đêm du kích gỡ mìn quanh đồn Nguyễn, chờ giặc vào làng thì đánh kết hợp với chông. Cho đến lúc này, cờ Bác về, làng Nguyễn càng vui mừng, thêm quyết tâm đánh giặc.

Nghe xong, anh Ngạn vỗ tay đánh bộp và khen: - Tuyệt vời! Đúng là toàn dân kháng chiến!

Tôi ghi mải miết, hào hứng, nhưng đã thấy mỏi. Tôi gợi ý: - Anh nghỉ một chút kẻo mệt! Anh lại bảo: - Nam có mệt thì nghỉ. Rồi anh nhìn Tư Quang: - Kể nốt chuyện du kích Nguyễn Thị Chiên!

Nhấp hớp nước, anh Tư Quang tiếp: Chị Chiên 22 tuổi quê xã Tân Thuật (Kiến Xương). Địch đóng đồn ở làng Chiên và hơn chục đồn khác dọc đường 39 gần đó. Chiên cùng du kích giật mình khi địch vào xóm, xuýt bị giặc bắn trúng. Dân tản cư hết, chỉ còn ông bố đồng chí xã đội ở nhà cùng cót thóc nuôi quân. Có nguy cơ giặc đốt nhà, cháy thóc. Chiên cùng du kích phân tán hết cót thóc trong đêm tối. Khi đồng chí bí thư xã có công tác qua đường, Chiên dẫn lối. Giặc phục kích, Chiên nói to: “Đừng bắn, tôi đi chợ!”. Nghe vậy, đồng chí bí thư lui lại, thoát nguy. Chiên bị bắt, giặc tra khảo rất dã man; treo lên xà nhà, dùng kìm rứt thịt. Chiên không khai báo. Chúng nhét đá dăm vào miệng Chiên. Giam cầm, tra tấn năm ngày liền, giặc đem Chiên ra bờ sống bắn. Chiên bảo chúng: “Bắn tôi thì để xác lên bờ, để mọi người uống nước sạch”. Giặc bắn sượt ngang tai, đòi chỉ hầm bí mật. Chiên khăng khăng: “Không biết”. Giặc tạm cho về, ba ngày trình diện một lần. Khỏi đau, Chiên lại bí mật hoạt động trong đội nữ du kích, là trung đội trưởng. Khi Tiểu đoàn Đống Đa (thuộc 320) đánh một đại đội địch do quan hai Mơduya chỉ huy trên đường 39, có trung đội du kích của Chiên phối chiến, xông lên cùng bộ đội bắt giặc. Quan hai Mơduya giơ tay hàng.

Anh Ngạn đứng hẳn dậy, biểu thị phấn khởi: - Đúng là con cháu bà Trưng, bà Triệu. giặc đến nhà đàn bà phải đánh. Còn chị Bùi Thị Cúc ở Hưng Yên nữa? Anh Khai nói: là đảng viên ngoài 20 tuổi, làm công an ở xã Quang Trung, huyện Ân Thi. Trong những ngày đen tối, cán bộ, đảng viên bị giặc bắt nhiều, Cúc vẫn kiên trì bám đất, bám dân, bảo vệ cơ sở kháng chiến. Bị giặc bắt, tra tấn dã man, bằng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ mua chuộc, đến tra tấn cực hình, Cúc không khai những điều có hại cho kháng chiến. Cuối cùng chúng hèn hạ đưa chị ra giữa chờ dùng nhục hình với chị như cắt vú, chặt tay, rạch nát thân thể chị… hòng uy hiếp tinh thần của bà con và chiến sĩ ta. Nghe báo cáo về hành động dũng cảm và tinh thần kiên trung của Cúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thưởng cho Cúc sáu chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang”.

Anh Ngạn vịn vai anh Khai và Tư Quang, giọng càng sôi nổi: - Phát huy kết quả của Đại đội thi đau toàn quốc, Tả Ngạn phải đưa phong trào thi đua giết giặc và sản xuất lên cao hơn nữa. Thi đua xuất phát từ lòng yêu nước, chí căm thù giặc, và cũng xuất phát từ điều chính đáng là mỗi con người đều muốn tự biểu hiện tài đức của mình. Trong đời sống tự nhiên, con chim muốn hót, con gà muốn gáy thật hay và chúng phải luyện tập. Con người là sinh vật cao cấp muốn mình trở thành hiền nhân quân tử, dám chịu đựng gian khổ, vượt mọi hiểm nguy để đánh giặc giỏi, sản xuất tốt, qua đó được quần chúng công nhận. Lãnh đạo thi đua phải biết kết hợp chặt chẽ cả hai yêu cầu chung và riêng đó. Phải cổ vũ, biểu dương thích đáng những liệt sĩ, anh hùng xuất hiện trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện này. Đó là những hình mẫu gần gũi, là những tấm gương soi sáng, lôi cuốn nhiều người khác noi theo. Bác Hồ ca ngợi bà Trưng, bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… là nhằm cho con cháu ngày nay học tập, nối dõi. Các vị ấy sinh hoạt ra ở một nước chiến đấu giỏi, có ông Phù Đổng năm bảy nong cơm ba nong cà, nhổ cả khóm tre đánh giặc; ở một nước giỏi cấy lúa, lấy gạo làm bánh chưng, bánh giầy, dâng cúng cha mẹ, tổ tiên. Các triều đại hưng thịnh đều có việc thi. Thi văn lấy quan giỏi. Thi võ lấy tướng tài. Vì vậy phụ nữ ngày xưa “Mùa hè cho chí mùa đông, mùa nào áo nấy cho chồng đi thi”. Ngày nay Bác Hồ kế thừa truyền thống cha ông, kêu gọi: “Người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua” là vì thế! Đúng không các anh?

Tôi ghi nhanh những đièu anh nói. Đồng hồ của tôi chỉ năm giờ chiều. Xem ra ý kiến của anh còn khá dồi dào, hứng khởi. Lừa lúc anh chuyển đoạn, tôi nói xen: - Đề nghị anh cho bàn thêm! Anh nhìn tôi: - Thi đua mà còn phải bàn à? Nam đói rồi phải không? Đói thì đi ăn! Chúng tôi đều cười vui và nghỉ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:53:28 pm »

VÌ SAO MÌN, LỰU ĐẠN CHỈ NỔ 50%?

Anh Bùi Thọ Tư, chính trị viên phó tỉnh đội Thái Bình lên báo cáo tình hình quân sự. Nghe xong, anh Ngạn hỏi sâu về một vấn đề: - Vì sao mìn, lựu đạn do công binh xưởng làm ra chỉ nổ 50% Anh dẫn chứng: du kích Nguyên Xá giật mìn, lôi cả nụ xòe “mắt ngỗng” ra mà vẫn xịt? Lựu đạn ném giặc, giặc nhặt ném trả, mà vẫn trơ như củ xu hào? Vũ khí như thế thì giặc chết hay mình chết?

Anh Thọ Tư khó trả lời, một lúc sau mới nói: - Cố phần do kĩ thuật của công nhân ta yếu; vật liệu, chất nổ kém. Phần khác có thể do bàn tay kẻ xấu nhúng vào…

Anh Ngạn không bác bỏ mấy nguyên nhân đó. Anh nói đủ nghe: - Đánh giặc thì vũ khí là thứ quan trọng không thể thiếu. Con người là nhân tố quyết định thắng bại trong chiến đấu, nhưng người ta dũng cảm đến đâu cũng cần có vũ khí, chứ không thể đánh giặc bằng hai bàn tay không. Du kích phải có giáo mác, chông bẫy tự tạo, nhưng chưa đủ. Cần có lựu đạn, mìn muỗi, sát thương nhiều hơn, uy hiếp giặc nhiều hơn. Nếu có thêm súng trường, ống phóng lựu đạn thì càng tốt… Với bộ đội, cần được trang bị khá hơn nữa: pháo cối, đại, trung, tiểu liên… Nhưng lúc này anh em cũng thiếu. Tiểu đoàn 124 (thuộc Trung đoàn 42) cũng gặp khó khăn. Vũ khí chôn giấu sau những tháng anh em phân tán, chất lượng giảm sút. Đạn cối ẩm bẩn không chính xác. Đạn súng trường, tiểu liên, mỗi khẩu chỉ còn năm, mười viên… Đầu năm ngoái (năm 1951) Trung đoàn 42 phải cử các Tiểu đoàn 648, 922 lên Việt Bắc lĩnh vũ khí. Hành quân hàng tháng trời, trên đường về bị dịch phát hiện, truy đuổi. Anh em vai vác nặng, chân đi bộ, luồn rừng vượt suối, len lỏi giữa những đồn bốt, làng tề, nhưng chỉ có Tiểu đoàn 648 qua được sông Hồng. còn Tiểu đoàn 922 bị địch bám sát, đuỏi riết, vây chặt cả hai bờ sông, sục tìm trên bộ, khua khoáng dưới nước. Địch đông gấp mấy lần đánh liền ba trận, quân mình tiêu hao, vũ khí mất mát. Liên khu thấy địch cố ý tìm diệt anh em, liền quyết định cho anh em ở hẳn bên Hữu Ngạn, làm nòng cốt xây dựng một  trung đoàn mới… Chuyện cho thấy việc đi lĩnh vũ khí vô cùng gian khổ, tốn xương máu. Do đó, phải đánh địch, lấy vũ khí địch trang bị tại chỗ cho mình. Nhưng cái vốn vũ khí ban đầu để làm ra lãi phải do mình tự tạo, tự kiếm. Đúng không?… Lúc này đội ngũ du kích của ta ất đông, chiến thuật du kích đang cần phát triển mạnh hơn, nhưng mỗi xã mới có hơn chục khẩu súng trường, có xã ít hơn, nên phải dùng giáo mác, mã tấu. Mìn, lựu đạn thì phải xin tỉnh. Vậy công binh xưởng của tỉnh hiện nay như thế nào? Cần những gì để làm tốt nhiệm vụ? Tỉnh phải xem xét kĩ, đề xuất biện pháp. Khu chỉ đạo thực hiện. Tuyệt đối không được xem nhẹ vấn đề quan trọng này.

Anh Thọ Tư ghi nhanh những điểm mà bí thư Ban Cán sự hỏi. Anh toan trả lời, nhưng bí thư lại hỏi tiếp:: - Mình nghe trẻ nhỏ ở đây hát: “Gái Đông Tiêm cầm liềm đánh bốt - Trai Quan Đình vác cuốc đuổi Tây!”. Thợ Tư thấy câu hát này hay ở chỗ nào?... Nó hay ở chỗ cổ vũ tự tạo vũ khí đánh giặc. Liềm và cuốc là vũ khí tự tạo, đúng không?

Thọ Tư đấp: - Đúng ạ! Rồi anh kể: - Hai làng Đông Tiêm, Quan Đình cùng mấy làng nữa hợp thành xã Đồng Tiến (thuộc huyện Phụ Dực). Từ tháng 3-1950 đến tháng 3-1951, xã này bị địch càn 11 trận, chia đều mỗi tháng một trận. Có một trận chống ba đại đội địch. Du kích xã chỉ có một trung đội và sáu súng trường, còn lại làm mìn, lựu đạn và chông. Thấy những trận trước, địch càn xong thường rút qua một lối tắt về đồn cho nhanh, anh em liền gài mìn, đặt nhiều chông ở chỗ đó.

Khi giặc vào làng, du kích xuống hầm bí mật. Không gặp du kích, giặc theo lối tắt về đồn. Bỗng vấp phải mìn, sa hố chông, giặc chạy cuống cuồng. Du kích từ hầm lên, ném lựu đạn, bắn đuổi, địch chết và bị thương 30 tên… Thế rồi sau đó có bài ca, hai câu trên là mở đầu.

Đồng chí bí thư tỏ ý vui, rồi nghe Thọ Tư đề nghị: - Anh cho ba ngày nữa tôi đến với anh em công binh xưởng, rồi báo cáo sau!

Thái Bình sớm có cơ sở sửa chữa vũ khí. Năm 1946, Chiến khu Ba tăng cường cho 80 cán bộ, công nhân, chuyển thành xưởng vũ khí. Song công cụ thiếu thốn. Hai máy tiện, một máy khoan, điều khiển bằng sức người. Một số kìm, búa, giũa, cưa; mười chiếc cờ lê, mỏ lết, dăm bảy chiếc thuyền tán, chảo gang, cối đá, hũ sành. Thốc nổ, kíp ngòi do khu cấp hoặc lén lút mua từ vùng địch… Nhưng rồi phải trả xưởng cho Chiến khu Ba. Thái Bình phải tự lập bốn phân xưởng nhỏ để thay thế. Thiếu công nhân kĩ thuật, phải vừa học vừa làm nên tay nghề non. Đường lên khu khó khăn, không chở được  thuốc nổ, chỉ xin hóa chất để tự chế, độ nhạy có phần kém. Anh em còn tháo gỡ bom mìn không nổ của địch, lấy thuốc để sản xuất. Mỗi năm đã làm được hơn vạn quả lựu đạn và mìn muỗi, mìn chai. Nhưng thỉnh thoảng lại xảy tai nạn, tổn thất tính mạng, cháy nhà…

Anh Ngạn nghe mà lo âu, bứt rứt. Những non kém, bất cập của Thái Bình cũng là của các tỉnh trong khu. Anh chủ trương chọn những cán bộ ít nhiều biết nghề và có tinh thần trách nhiệm cao, phụ trách các công binh xưởng. Cố gắng tăng kinh phí, cải thiên công cụ. Công binh xưởng của Trung đoàn 42 phải giúp các tỉnh để bồi dưỡng kĩ thuật, nâng cao chất lương sản phẩm. Thái Bình phải cung cấp một phần nình, lựu đạn cho Kiến An, Hải Phòng. Phải có cách bảo vệ xưởng khi địch càn quét, hạn chế tai nạn rủi ro cho công nhân…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:54:17 pm »

TỐT LẮM! MÌNH TIN LÀ THỨ VỀ!

Thứ bị giặc bắt ở Chỉ Thiện (Thái Ninh). Vài hôm sau Thứ đã về cơ sở. Anh Ngạn ngạc nhiên, vồ lấy hai vai Thứ và lắc: - Trốn được à? Tốt lắm! Minh tin là Thứ về! Chúng tôi đang mỗi người một việc vội xúm lại mừng Thứ. Thứ cười khì khì kề chuyện: “Hôm ấy nó bắt giong đi. Vừa đi mình vừa ngoái lại nhìn cái xóm có hầm anh Ngạn và anh Hà. Rất may là bom chỉ nổ ở gần đó thôi. Cứ nghỉ quẩn: Nếu napan trùm lên nóc hầm thì thật khó thoát. Nó đưa tôi sang giam ở “căng” Máy Chai (Nam Định). Tôi gặp ông Hưởng, phó chủ tịch Thái Bình, liền rủ ông trốn. Ông không đi với tôi, e không biết lối trốn, bị bắt lần nữa sẽ nguy hiểm hơn. Tôi may mắn nhặt được chiếc kìm, ai đánh rơi hay là muốn cứu giúp, quẳng cho. Đêm xuống, tôi cắt mấy hàng dây thép gai, trốn một mình. Thế mà được!”. Anh Ngạn cười: - Trốn tù cũng phải có gan. Không thì cứ ngồi tù. Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại khổ lắm. Đúng không Thứ?

Đang nghe chuyện Thứ thì các anh Bộ tư lệnh đến, anh Ngạn liền vào nhà làm việc. Chúng tôi nghe tiếp chuyện, anh Thứ kể khá chi tiết: “Trước khi tôi bị bắt, mấy anh em cùng lánh sra phía Trại Chè, Dương Liễu. Lộ qua con sông gì đó, bãi phù sa rộng và dẻo quánh, dính bắp chân, bắp đùi. Không bến rửa, tôi gạt vợi bùn sa, xâu tạm quần đùi rồi đi. Anh Ngạn không mang quần đùi. Anh tháo cái quần nâu khoác quanh cổ rồi lội sông. Bùn sa dính bếp vào cặp chân dài, ngại sợ lấm quần, cứ thế hành quân, có anh Nam biết đấy, khì… khì… Nghĩ lại cứ buồn cười. Khi ấy đã tám chín giờ sáng. Tôi đi sau thấy vậy, nhắc anh: “Anh mặc quần vào”. Anh chậc lưỡi: “Để rửa cái chân đàng hoàng”. Tôi nhìn cái áo bông nâu của anh nửa mặc nửa đắp thay chăn, vạt trước vạt sau đều lưng lửng, có thể che được phần nào. Vả lại mấy người dân cùng đi là đàn ông, chẳng ai để ý. Đi mãi đến chố có bến sông rửa chân, anh mới trang phục chỉnh tề”.

Thứ kể tiếp: “Xế chiều, có một cậu bộ đội Hải - Kiến lạc ngũ, vai đeo súng trường hết đạn, vào chỗ tôi kêu đói. Tôi nhắc cài quần dài khoác cổ xuống, soát lại còn mấy quả trứng, cấp dưỡng Nghị giao cho bảo quản. Chạy suốt đêm mà trứng không vỡ. Tôi xuống biếp luộc vội, đem lên, hai thằng cùng ăn. Một lúc sau đó, có một cậu ở 320 lạc đường, mình rần quần cộc vào chỗ tôi kêu: “Em mất cả quần áo”. Trời còn lạnh, ông chủ nhà nhìn anh bộ đội nói trọ trẹ tiếng khu Bốn, bống thương tình, lấy một bộ quần áo nâu lành lặn. Anh ta ngần ngại. Ông chủ nhà bảo: “Chú mặc cho ấm. Chú như con tôi!”.

Đêm ấy, anh Ngạn và chúng tôi sang Thái Ninh, vào làng Chỉ Thiện. Mới sáng sớm đã nhận tin địch vào đầu làng rồi. Liền đưa anh Ngạn và anh Hà xuống hầm bí mật. Đậy nắp, ngụy trang cẩn thận, rồi toàn lui về phía sau. Bỗng cửa hầm bị đẩy lên, ông Nghĩa thò đầu ra. Thấy tôi, ông chỉ cái túi vại ở cạnh bụi rậm. Tôi vội nhặt cho ông, rồi ngụy trang hầm. Chắc là mải xuống hầm, bỏ quên.

Ngay lúc đó hàng loạt đạn đại bác nổ như sấm rền cả phía trước, phía sau. Quân tỉnh Thái Bình - đại đội anh Chức chiến đấu quyết liệt. Một khẩu đại liên của ta nhả đạn giòn giã, chặn đứng một mũi, giặc chết như ngả rạ. Các mũi khác cũng nổ súng quyết liệt, trung, tiểu liên của bộ đội, súng trường của du kích chờ địch đến gần, nổ như ngô rang. Địch nằm rạp ngoài lũy rtre làng, không dám ngóc đầu. Máy bay bà già nghiêng ngó chỉ điểm. Một thằng phóng pháo liệng vòng rồi thả napan trùm lên khẩu đại liên của ta. Khổng còn tiếng nổ đanh giòn, mình tức đến nghẹn cổ. Anh em rút vào tuyến hai đánh cố thủ. Mình mải nhìn mấy thằng Tây thụt hố chông, kêu như bò rống ở phía ven làng. Bỗng mấy thằng ngụy xốc đến, chộp nghiến lấy hai tay, mình dằng không ra. Trên đường bị chúng ấp giải đi, mình thấy mấy cậu du kích hi sinh, tay vẫn cầm mã tấu. Sau này càng nghĩ càng thêm phục anh em bộ đội địa phương, dân quân du kích, không ngại hi sinh, đánh kìm chân địch để chủ lực luồn càn, đỡ tổn thất…”.

Hôm ấy anh em chúng tôi đổ rọ được nhiều cá trê, nấu ăn mừng Thứ trở về. Cấp dưỡng Nghị quê ở xã Hồng Xuân (Thư Trì) làm món ăn giỏi. Tiền ít, Nghị vẫn kiếm xương sông, lá lốt nấu được món ăn khác thường. Vừa rót tương ra bát, cậu ta vừa ngâm sa mạc:

Giữa đường đứt gánh…  tương chua
Anh thương nàng quá, anh mua… cả nàng


Anh Ngạn mỉm cười và bảo tôi: - Đứt gánh tương tư mà nó xuyên tạc là tương chua. Cái thằng lém!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:54:55 pm »

BÀN CÁCH CHỐNG CÀN “LẠC ĐÀ”

Anh Ngạn cùng các đồng chí tham mưu họp khẩn cấp. Anh Miên mở bản đồ ra trình bày: - Điện của Bộ tổng tư lệnh cho hay kẻ địch sẽ càn trận mới mang tên “Lạc Đà” (Đơrômađe). Thời gian có thể là trung hoặc hạ tuần tháng 4-1952. Địa điểm là Hưng Yên và tây Hải Dương. Trọng điểm là khu căn cứ du kích Tiên Lữ, Phù Cừ, Thanh Miện, sẽ có những “mẻ vó” được cất, nhằm loại trừ quân chủ lực ta. Quân địch có năm GM cơ động, một GM dự bị, một số đại đội biệt kích Commăngđô. Khá nhiều xe cơ giới, máy bay, đại bác, tàu chiến, ca nô phụ tợ. Đại tá Ginlơ chỉ huy cuộc càn.

Anh Miện báo cáo tiếp: - Lực lượng ta có Trung đoàn 52 (thuộc 320) và Trung đoàn 42 (chủ lực Tả Ngạn) đang ở trên đất Hưng Yên và Hải Dương, cùng bộ đội, du kích địa phương được củng cố qua nửa năm sau trận càn “Trái Chanh”. Trên cơ sở dự đoán hướng càn mới của địch, ta cử phần lớn cán bộ sang bắc sông Luộc hướng dẫn, đôn đốc chuẩn bị chống càn. Ban lãnh đạo của hai tỉnh cùng chỉ huy Trung đoàn 42 đã họp, thống nhất chủ trương chống càn, với bốn điểm chính: - Bộ đội các huyện cùng du kích các xã đánh trong vòng càn tiêu hao địch, ngăn từng bước tiến của chúng, bảo vệ nhân dân. Bộ đội tỉnh luồn sâu vào vùng tạm chiếm, lên sát đường 5 hoạt động mạnh, nhằm phân tán mục tiêu của địch, khiến chúng bị động đối phó. - Trung đoàn 42, nhằm khi địch hình thành vòng vây rộng quanh vùng càn, cho một tiểu đoàn đánh một đồn lớn nhất sát cạnh vòng càn. Tiếp theo là cùng bộ đội huyện Gia Lộc và dân quân du kích hành quân nghi bình thu hút địch về hướng đó, rồi chuyển sang Thái Bình. Hai tiểu đoàn khác luồn ra ngoài vòng càn. Trước khi địch tới hợp điểm, rồi đánh vào sau lưng chúng tại địa bàn Hưng Yên, Hải Dương. Tránh dồn quân vào một hướng, tránh đánh cố thủ; nếu bị vây phải giữ vững trận địa, đợi trời tối thoát ra ngoài hoặc đánh phá vây. - Trung đoàn 52 hoạt động độc lập theo sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn, đánh một số trận rồi chuyển quân sang Thái Bình.

Anh Sáng, tham mưu phó bổ sung: - Trong trận “Trái Quýt”, qua năm ngày vật lộn với địch, Trung đoàn 42 nhận được chỉ thị của Bộ tổng tư lệnh: “Rút ra ngoài vòng vây, đánh các vị trí pháo và những chỗ sơ hở của địch”, thì Ban chỉ huy chống càn nổ ra tranh luận: - Nếu rút ngay bộ đội chủ lực ra ngoài vòng vây, cán bộ, nhân dân không kịp luồn rránh, sẽ bị địch “cất vó” nhiều. Ý kiến thứ hai cho rằng bộ đội chủ lực phải luồn càn để tránh thiệt hại, chỉ để một bộ phận cùng bộ đội địa phương và du kích ở lại kìm chân địch và hướng dẫn nhân dân luồn tránh. Cuối cùng quyết định theo ý kiến thư hai. Vì thế lần này trung đoàn và các tỉnh thống nhất chủ trương như anh Miên báo cáo, để khi vào trận khỏi phải tranh luận.

Nghe tham mưu phó báo cáo bổ sung, anh Ngạn ngẫm nghĩ và nhận ra đấy là một vấn đề quan trọng, cần phải được chỉ đạo rõ ràng. Anh nói: - Đấy không đơn thuần là sự phân công giữa trung đoàn chủ lực và các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện. Nó còn là vấn đề chiến thuật, quy định trách nhiệm: lực lượng nào tránh; lực lượng nào đánh, đánh thế nào, đánh ở đâu, trong tình huống nào… nhằm có lợi cho cuộc chiến đấu chung. Chỉ thảo thuận giữa Ban chỉ huy chủ lực và lãnh đạo các tỉnh là chưa đủ. Cần phải có quy định từ khu xuống. Cụ thể là:

- Bộ đội huyện và du kích xã đánh kiềm chế, tiêu hao địch trong vòng càn.

- Bộ đội tỉnh vừa đánh vừa luồn càn, đánh chủ động tiêu diệt địch. Nơi nào không có bộ đội tỉnh, mà du kích yếu, có thể tách một vài đơn vị chủ lực ra làm nhiệm vụ thay thế cho bộ đội tỉnh.

- Bộ đội chủ lực phải luồn càn, đánh địch ngoài vòng càn.

Cần soạn ngay những điều này thành quy định, truyền đạt tới các lực lượng của Trung ương và khu, và tới các lực lượng bộ đội, du kích địa phương, chiểu quy định thi hành. Không để tái diễn cảnh tranh luận trong ban chỉ đạo chống càn như hồi “Trái Quýt”. Đúng không?

Ngừng mấy giây, anh chuyển luôn sang việc khác:

- Trận “Thủy Ngân” ta có nhược điểm rất quan trọng là khi vào trận, cần tránh chỗ địch mạnh và đánh chỗ địch có sơ hở như thế nào, ta chưa dự tính được, nên có phần bị động trước hỏa lực khá mạnh của địch. Trận này Bộ tổng tư lệnh đã chỉ ra hướng tiến chủ yếu của địch và quy mô càn quét, song ta phâỉ rút kinh nghiệm các trận càn trước để đối phó với địch khi vào trận. Tất nhiên, mỗi trận có diễn biến khác, phải tùy cơ ứng phó. Song điều cơ bản cần thấy rõ là ba thứ quân và nhân dân ta liên tiếp trải qua vài chục trận càn, có những trận lớn như “Trái Chanh”, “Trái Quýt”, “Thủy Ngân”… anh em được thử thách, rèn luyện, hiểu mình, hiểu địch hơn. Tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế, nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình hơn, để tự thân, tự lực đánh giặc, hặc hợp đồng cùng nhau tác chiến. Sự trưởng thành tự nhiên và tất yếu đó có tính quy luật, nó trở thành niềm tin, thành sức mạnh để vào trận mới!

Anh nói rộng hơn: - Khi chúng ta chống càn “Thủy Ngân” thì Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ ba. Hội nghị phê phán tư tưởng nôn nóng, ỷ lại, và khẳng định một lần nữa quan điểm trường kì kháng chiến, tự lực cánh sinh. Trung ương đề ra ba nhiệm vụ lớn: - Tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích; - Phá chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch; - Bồi dưỡng lực lượng của nhân dân, của kháng chiến. Thi hành Nghị quyết Trung ương, chúng ta phải chống phá quyết liệt các cuộc càn lớn nhỏ của địch. Địch có thể gây cho ta những khó khăn, tổn thất, nhưng chúng không thể đảo ngược tình thế đang bất lợi cho chúng. Sau khi rút khỏi Hòa bình, Xalăng thay Đờ Lát liên tiếp mở hàng chục cuộc càn vào các căn cứ du kích của ta ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Có bốn trận càn lớn thì hai vào Tả Ngạn, “Thủy Ngân” và sắp tới là “Lạc Đà”. Y muốn đè bẹp, nghiến nát chúng ta. Phải dốc mọi tâm lực, chống phá càng dũng cảm và mưu trí, tiêu diệt một bộ phận đáng kể sinh lực của địch, bảo vệ lực lượng ta và nhanh chóng khôi phục vùng bị càn.

Anh Ngạn giục các đồng chí tham mưu về ngay sở chỉ huy. Anh cũng giục tôi và đồng chí Thứ ăn cơm rồi sang bên ấy. Trận càn “Lạc Đà” sẽ xảy ra nay mai.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:55:33 pm »

LẠI NHỮNG NGÀY ĐÊM CĂNG THẲNG

Sở chỉ huy đặt ở ngôi từ đường nhỏ, một cửa chính, hai cửa phụ và cửa nách, tiện rút ra ngoài khi mát may, đại bác bắn phá. Hào giao thông đào mấy ngã ngoài vườn, chặn đầu vào từ đường. Nhà riêng của ông thủ từ ba gian tường đất, mái rạ cách đó có một góc sân, trải chiếu xuống nền cho một số cán bộ, chiến sĩ ngồi làm việc.

Ở từ đường, chiếu cũng trải xuống nền gạch. Anh Ngạn cùng các đồng chí trong Bộ chỉ huy Mặt trận, ngồi xếp bằng ở bốn góc chiếu, đăm chiêu, theo dõi cuộc càn của địch và cuộc chiến đấu của ta. Các đội quân báo của Trung đoàn 42 và Hưng Yên, Hải Dương bám sát hoạt động của địch, đưa tin về sở chỉ huy Mặt trận. Các nguồn tin theo máy thu phát vô tuyến và liên lạc chạy chân đưa về đều đặn, chính xác, giúp Bộ chỉ huy kịp thời chỉ đạo Trung đoàn và hai tỉnh chống càn: “Đánh địch cả trong và ngoài vùng càn; kiên quyết đánh nhưng không cố thủ, không để bị vây đồn “đáy vó”, cơ động đánh sau lưng và cạnh sường địch…:. Nhờ vậy các đơn vị bình tĩnh chủ động chống càn theo kế hoạch đã định. Ở ngôi nhà gạch cách đó không xa, đặt một máy phát điện quay tay và một điện đài, công cụ liên lạc duy nhất với Bộ tổng tư lệnh. Hằng ngày, ba giờ một lần, theo quy định, nổ máy nhận chỉ thị và tin tức từ Trung ương, hoặc đưa tin, đưa báo cáo từ đây lên Trung ương, qua những cánh tay quay lực lưỡng đổ mồ hôi của anh chiến sĩ; những tín hiện “tạch tạch tè tè” của cô điện báo, nhanh chóng, bí mật và chính xác.

Anh Nguyễn Nghiệp nguyên là thư kí của anh Đặng Tính, chuyển sang làm trưởng an Thông tin liên lạc thuộc cơ quan Tham mưu khu Tả Ngạn. Anh phụ trách bộ phận thu phát vô tuyến điện và đội ngũ liên lạc chạy chân. Sở chỉ huy của khu ở đâu, bộ phận vô tuyến điện phải bám sát tại đó, đảm bảo liên lạc đều đặn với Trung ương. Anh em liên lạc chạy chân cũng từ khắp nơi trong khu quy tụ về đây, đưa báo cáo lên và đưa lệnh xuống các trung đoàn, tỉnh đội.

Anh Lê Nghĩa quê ở Hà Nội, vốn là một cơ yếu viên nhiều kinh nghiệm của Liên khu bộ Liên khu III, trải mấy công tác rồi sang làm trưởng ban Tác chiến khu Tả Ngạn, nghe, ghi khá nhanh, nắm bắt vấn đề nhạy bén, có đề xuất sát hợp, được cấp trên tín nhiệm.

Anh Hoàng Thế quê ở Hà Nội, tòng quân sau Cách mạng Tháng Tám, hoạt động tại chiến trường Hữu Ngạn sông Hồng. Năm 1947, sang Tả Ngạn làm huyện đội trưởng Duyên Hà, rồi công tác ở cơ quan Mặt trận 5. Lúc này là Phó ban Tác chiến, theo dõi sát sao từng cuộc càn của địch, từng trận đánh của ta, ghi chép gọn rõ, kèm những nhận xét xác đáng.

Sổ tác chiến ghi diễn biến cảu cuộc chống càn “Lạc Đà”:

- Trung đoàn 52 (thuộc 320) diệt hai đại đội địch ở Thọ Lào và Quán Đỏ (Phù Cừ); phục kích đường 39 (Kim Động) diệt hai xe chở lính, rồi rút sang Thái Bình.

- Đại đội tỉnh Hưng Yên và các đại đội huyện Khoái Châu, Ân Thi, Yên Mỹ, Văn Lâm cùng du kích nhiều xã chống địch, làm chậm bước tiến của chúng, tiêu hao hàng trăm tên.

- Tiểu đoàn 664 (Trung đoàn 42) đánh ở đường 39, diệt bốn xe và hai trung đội địch. Tập kích ở Cổ Lễ, bắt và diệt 56 tên Âu - Phi.

- Tiểu đoàn 698 (Trung đoàn 42) đánh ven vòng càn, diệt đồn Đoàn Bái (Gia Lộc), thực hiện nghi binh.

- Ở Ninh Giang, bộ đội huyện và du kích đánh địch ở làng Chiền, diệt hơn 100 tên, phá một pháo 37 li, một xe cóc.

- Ở Bình Giang, một bộ phận của tiểu đoàn 648 (thuộc 42) đánh đich ở Phú Đa, giệt gần trăm tên.

- Ở Hòa Loan, Mỹ Trạch, pháo binh Trung đoàn 32 tập kích cụm đóng quân của GM 4, gây hại cho đơn vị pháo cơ động địch; giải vây cho 7.000 thanh niên và cán bộ.

- Ở nam Hưng Yên, địch dồn ta sang và đẩy vào “đáy vó” tại 2, 3 nơi thuộc nam Hải Dương. Bộ đội tỉnh Hưng Yên cùng bộ đội và du kích các huhện Kim Động, Phù Cừ, Ân Thi… liên tục chống càn.

- Trinh sát Trung đoàn 42 nắm chắc tình hình địch, giúp cho lãnh đạo phán đoán: ngày 11 hoặc 12- 5, địch sẽ “cất vó”, quyết định cho hai Tiểu đoàn 664 và 648 luồn càn, sang Kim Động, Khoái Châu, và Tứ Kỳ, Thanh Hà.

- Ở Hải Dương, địch bị bộ đội tỉnh đánh ở Hữu Chung, Đông La, diệt 187 tên. Ta bị thuông vong một số, do phải đánh cố thủ.

- Tiểu đoàn 648 (Trung đoàn 42) ở bắc Thanh Miện bị hai GM vây, có pháo binh và xe tăng yểm hộ. Quân ta ở trong hợp điểm, bố trí chờ đánh, nhưng địch không phát hiện đươc. Đêm xuống ta luồn ra ngoài, đánh tạt sườn địch ở Lôi Khê (Bình Giang) diệt hơn 100 tên.

- Địch phát hiện quân ta luồn lên bắc (Hưng Yên), quay lại càn đuổi. Đại đội 22 Hưng Yên phối hợp với Tiểu đoàn 664 (Trung đoàn 42) đánh địch ở Ngọc Nha, Kim Quan (Khoái Châu). Ta bị động đối đấu với GM 5 và tiểu đoàn 5 chiến xa địch, có GM 3 hỗ trợ vòng ngoài. Địch dùng 30 đại bác vào một phi đoàn không quân bán cấp tập, ném bom napan. Chúng mở nhiều đợt xung phong trong một ngày liền, đều bị ta đánh bật. Nhiều lúc ta đánh giáp lá cà với địch. Cuối cùng, ta diệt và làm bị thương 300 tên địch, bắn hỏng một xe tăng. Ta thương vòng gần hai trung đội. Đêm ấy, đại đội trưởng Lê Duy Mật chỉ huy 50 chiến sĩ dũng cảm phá vây, đem theo được thương binh, liệt sĩ. Đây là trận đánh giỏi.

Hôm sau, Tiểu đoàn 664 lại chống địch truy kích suốt ngày ở Bình Hồ, Lưu Xá (Ân Thi). Địch chết và bị thương hơn 100 tên. Trận này ta thiệt hại hai trung đội vì lực lượng địch áp đảo, phi pháo dữ đội; ta giảm sức chiến đấu do liên tục chống càn. Tiểu đoàn phó Nguyễn Khắc Trản hi sinh.

Cuộc càn “Lạc Đà” đến ngày thứ 35. Anh Ngạn và các đồng chí trong Bộ chỉ huy thay nhau có mặt tại sở chỉ huy. Đêm nào anh cũng thức thới ba giờ hoặc hơn, nghe tổng hợp tình hình trong ngày, phân tích và dự đoán, báo cáo kịp thời lên Bộ tổng tư lệnh, đồng thời có ý kiến chỉ đạo đối với hai tỉnh và Trung đoàn 42.

Ở địch hậu, dẫu tại căn cứ vẫn chẳng mấy yên tâm. Khi có cuộc càn thì nơi bị càn rất gian nan nguy hiểm, nơi không bị càn cũng phấp phỏng, lo ấu. Đó là tâm trạng của những người bình thường. Đối với người lãnh đạo dự lo nghĩ còn nhiều gấp bội. Anh Ngạn về đây chưa được nửa năm đã giải quyết hậu quả của các trận càn “Trái Chanh”, “Trái Quýt”. Rồi trực tiếp chỉ đạo chống hai trận “Thủy Ngân”, “Lạc Đà”, tính đến lúc này là hai trận ác liệt nhất, dai dẳng nhất. Cặp mắt thức đêm nhiều của anh đã sâu thêm, đôi gò má nhô cao, da sạm nắng gió. Tôi chớm nghỉ đến sự ốm đau do anh làm việc quá sức. Lúc này tìm Tiểu đoàn 664 chiến đấu hai ngày liền, thương vong quá một phần ba, khiến anh và các đồng chí trong Bộ chỉ huy bồn chồn, lo nghĩ…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 04:56:20 pm »

ĐÒI ĐỊCH CHỮA CỐNG TRÀ LINH

Chỉ đạo chống càn “Lạc Đà” ở bên kia sông Luộc, anh Ngạn còn chỉ đạo cuộc bảo vệ sản xuất ở bên này sông. Đồng chí Tư Quang, phó bí thư tỉnh ủy Thái Bình đến báo cáo về cống Trà Linh bị địch hủy hoại. Đây là chiếc cống lớn nhất của tám huyện phía bắc tỉnh, giữ nước ngọt va ngăn nước mặn cho hơn chục vạn mẫu ruộng. Tháng 4-1950, Pháp đóng đồn sát bên cống. Khi mưa úng, chúng không cho mở cống tiêu. Khi hạn hán, chúng mở cống để nước mặn từ biển ùa vào hoặc để chảy mất nước ngọt. Chúng dỡ đá kè hai mang cố để xây đồn; ném lựu đạn và mìn xuống cửa cống để bắt cá, khiến cánh cống hư hại. Cống hỏng hóc gây khó khăn nặng nề cho nông dân, mùa màng thất thoát.

Đầu năm 1952, bộ đội ta diệt đồn Trà Linh, chính quyền tỉnh, huyện huy động nhân dân chữa cống. Giữa lúc sắp thi công, địch càn “Thủy Ngân”, đóng lại đồn Trà Linh, ta phải đình hoãn. Có nguy cơ vụ chiêm 1952 phải bỏ hoang năm vạn mẫu Bắc Bộ. Tỉnh uỷ Thái Bình chủ trương mở cuộc đấu tranh trong nhân dân vùng tạm bị chếm quanh đó. Đòi địch đóng, mở cống đúng lúc, trước mắt là giữ nước làm chiêm.

Anh Ngạn nghe báo cáo rồi nói: - Hưng Yên, Hải Dương đang chống càn, Thái Bình đấu tranh chính trị, kinh tế là phối hợp đúng lúc, tranh thủ kịp thời. Bọn quân đồn trú chỉ tác oai tác quái khi bọn cơ động càn quét. Khi bọn cơ động đi nơi khác, bọn đồn trú lại phải mềm mỏng với dân. Cống Đào Thành mở bằng võ lực lấy nước cấy chiêm tốt lắm. Cần lấy thắng lợi của Đào Thành mà cổ vũ quần chúng đấu tranh. Không đấu tranh thì địch bỏ mặc. Cống Trà Linh là nguồn sống của nhân dân, của bộ đội, cán bộ ta. Phải làm cho quần chúng kết hợp đòi chữa cống với đòi không nộp thuế, không nôp thóc, vì không cấy được lúa, lấy gì mà nộp. Đòi không bắt lính, bắt phu, vì đói ăn không đi được. Kết hợp đấu tranh hợp pháp với bất hợp pháp; lực lượng nông dân là chính, đồng thời tổ chức nhiều lực lượng khác hỗ trợ. Vừa cảnh cáo vừa thuyết phục trưởng đồn Trà Linh để nó cho mở, đóng cống theo ý ta. Làm đơn đòi ngụy quyền, từ tỉnh trưởng Thái Bình đến thủ hiến Bắc Việt, chữa cống. Địa chủ, phú nông nhiều ruộng, cần kéo họ vào cuộc đấu tranh; họ không thể làm ngơ để rồi “tọa hưởng kì thành”… Với mọi mưu trí, nhièu lực lượng, đòi chữa bằng được cái cống có tầm quan trọng sinh tử ấy. Muốn thu được thuế nông nghiệp nuôi quân, nuôi cán ở Tả Ngạn và gửi ra Việt Bắc, phải làm cho dân cấy được lúa, phải có nước tưới ruộng cho dân. Đúng không? Ban Thường vụ tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo cuộc đấu tranh này. Các đoàn thể Thanh Công Nông Phụ phải tỏa ra vận động quần chúng của mình. Đảng Chính Quân Dân, Tuyên Văn Giáo Huấn phải tập trung chỉ đạo, tuyên truyền, thúc đyả đấu tranh, như mở chiến dịch. Đúng không anh?

Cuộc đấu tranh được nhân dân hưởng ứng manh mẽ. Những nơi tạm bị chiếm thuộc Thụy Anh, Thái Ninh, Đông Quan làm đơn cùng các ban tề đi thỉnh cùa. Đi từng nhóm, từng tổ, đi liên tiếp, dần dần đi đông thành cuộc biểu tình, đòi chữa cống, kết hợp chống nộp thếu, nộp thóc, nộp tre, bắt phu, bắt lính… Nông dân các xã Hồng Châu (thụy Anh), Vị Dương (Thái Ninh) kéo thẳng đến đồn Trà Linh đấu tranh trực diện. Tỉnh đội Thái Bình viết thư cảnh cáo trưởng đồn Trà Linh, yêu cầu cho mở, đóng cống đúng lúc, kịp thời, theo yêu cầu của nông dân.

Cùng lúc ấy, huyện Thư Trí có cuộc đấu tranh phối hợp với Trà Linh, đòi xếp kè Hương Điền. Đoạn kè bảo vệ đê sông Hồng này bị sạt lở có nguy cơ vỡ. Nông dân làm đơn cùng ban tề lên huyện, tỉnh đồi chữa kè trước múa lũ. Tỉnh trưởng Hà Bỉnh Quân ra ý giữ “Thể diện quốc gia”, hứa sẽ sửa chữa. Bọn y phải bỏ ra 250.000 đồng Đông Dương chữa cống Trà Linh; và hứa giao cho trưởng đồn Trà Linh mở, đóng cống đúng lúc. Đồng thời sẽ chữa kè Hương Điền, nhưng viện cớ chiến tranh khó đi mua đá.

Huyện Thụy Anh, nơi có cống thấy địch nhượng bộ, không muốn đấu tranh thêm, sợ già néo đứt dây. Ban Thường vụ tỉnh ủy Thái Bình họp nhận định: “Cuộc đấu tranh có lợi ích thiết thân được nông dân quanh vùng hưởng ứng và bước đầu có kết quả. Song khoản tiền địch cấp chỉ đủ sửa một cánh cống, kết quả nửa vời, tác dụng vẫn hạn chế. Nay đã đến lúc gặt chiêm, những nơi lúa không chết thì dân mải vào việc thu hái. Nếu đấu tranh tiếp ngay lúc này e không huy động lực lượng được đông đảo. Cũng đề phòng sự già néo đứt dây. Cần xin sự chỉ đạo của khu ủy”.

Đồng chí Tư Quang mang nỗi băn khoăn lên báo cáo với anh Ngạn. Anh hỏi: - Vụ chiêm này ở vùng chịu ảnh hưởng của cống Trà Linh như thế nào? Tư Quang buồn bã đáp: - Vụ này vẫn chưa giữ được nước tưới lúa, cánh đồng nứt nẻ, lúa chết vì khô và bốc mặn. Thụy Anh, Thái Ninh, Đông Quan… mất tới gần mười vạn tấn thóc.

Anh Ngạn nói: - Phải lấy việc mất mùa để gây căm thù, tiếp tục mở rộng cuộc đấu tranh đòi chữa cống. Đợt vừa qua đấu tranh phần nào có kết quả. Sức mạnh và lẽ phải của nông dân đã khiến ngụy quyền lùi. Ngụy quyền là bọn tay sai của địch nhưng lại muốn tỏ ra có “Quyền lực quốc gia”. Chúng sợ dân coi là bù nhìn, Pháp bảo sao nghe vậy, nên xử sự ngả theo yêu cùa của dân. Đợt tiếp phải vận động lực lượng đông đảo hơn. Xuất phát từ thực tế: mọi ngời già trẻ, giàu nghèo đều phải ăn, phải “Dĩ thực vi thiên”, “Mất mùa thầy chùa cũng chết”, để lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân tham gia. Dân vùng thạm chiếm đã đấu tranh, phải lôi cuốn cả ngụy quân, ngụy quyền, tề, dõng tham gia. Dân ở thành phố, thị xã sẽ cũng chịu đói kém khi mất mùa, cần vận động họ đấu tranh. Ông sư, bà vãi vận động phật tử; linh mục, thầy tu vận động giáo dân, càng đông người kẻ địch càng phải nhượng bộ. Đừng sợ căng thẳng, càng không sợ chúng tự ái. Chỉ có những kẻ ăn cám mới dám chống lại cuộc đấu tranh vì hạt gạo, miếng cơm này. Đúng không? Nếu sắp gặt chiêm thì tạm ngừng vài tháng, để nông dân những nơi có lúa gặt về nhà. Rồi lại tiếp tục đấu tranh vào tháng sáu, tháng bảy nhân màu nước lũ, thêm sức thúc đẩy…

Anh Ngạn bắt tay đồng chí Tư Quang dặn thêm: - Phải tiếp tục vận động thật sâu sắc, rộng khắp, đánh một đòn quyết thắng!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:13:25 pm »

SAO GỌI ANH LÀ MƯỜI?

Ở địch hậu lúc nào cũng phải tranh thủ. Tranh thủ khi giặc càn xong rút đi nơi khác, mà hàn gắn mọi thứ chúng phá phách. Tranh thủ khi chúng bận mải ở chiến trường chính, mà đánh chúng ở đây. Tranh thủ khi chúng càn ở tỉnh kia, mà đấu tranh chính trị, kinh tế ở tỉnh này. Anh em chúng tôi tranh thủ lúc anh Ngạn nghiên cứu chỉ thị hoặc sửa duyệt văn bản, mà trò chuyện với nhau.

Tôi ngắm anh Thứ, khuôn mặt xương xương kiên nghị, đôi mắt tinh nhanh, đôi tay khỏe khoắn và khéo léo. Tôi nghĩ tới chuyện Thứ bắn súng mỗi phát một chim cu gáy, liền gỏi: - Tại sao ông bắn giỏi thế? Thứ trả lời: “Tôi tập bắn từ khi đi với tướng Nguyễn Bình. Trước đó nhà nghèo, tôi thường sang Đông Triều gặt thuê. Khi ấy ông Nguyễn Bình đã theo cách mạng, ở Chiến khu Đệ Tứ. Tôi thấy ông dũng mãnh, bắn giỏi thì mến phục, muốn đi theo làm lính. Ông nhận ngay và dạy bắn súng. Khi ông vào Nam đánh Pháp, tôi đau bụng không theo được. Trở về, tôi theo ông Nguyễn Lương Bằng ít lâu, rồi vào cảnh vệ tỉnh Hưng Yên. Mấy lần anh Ngạn từ Liên khu III sang, tôi được tỉnh cử đi bảo vệ. Anh ưng ý và bảo tôi đi với anh”.

Kể về mình rồi Thứ kể về anh Ngạn: “Hôm ấy, anh với tôi qua cánh đồng rộng, chân mỏi nhừ. Tới một chỗ có con mương, nước chảy róc rách, anh bảo nghỉ chân. Anh hỏi về bố mẹ tôi. Vui chuyện, tôi tò mò hỏi lại: “Sao bên khu III, người ta gọi anh là Mười?”. Anh vừa phe phảy cái non cho mát, vừa thủ thỉ: - Mình tên là Cống, em mình là Xế. Còn cái tên Mười là từ sau đêm mình trốn khỏi nhà giam Hỏa Lò. Dạo ấy Nhật đảo chính Pháp, anh em tù lợi dụng thời cơ chuẩn bị vượt ngục. Toán ra trước lọt nhưng làm lộ. Toán ra sau không lọt. Mình trốn vào chỗ nhốt tù đi “căng” - đi đày. Ở đó, mình tìm thấy nắp cống, rủ các anh Hòa, Xuân, Bật cùng trốn. Hòa nhỏ người chui xuống trước thăm dò một lúc rồi lên ngay, kêu: “Tối lắm”. Hòa kiếm đoạn dây dài buộc vào cổ tay để nếu cần thì giật, báo hiệu cho anh em ở trên. Lần thứ hai, Hòa chui một đoạn dài hơn, rồi trở lại, nói: “Chui được nhưng mãi không thấy lối ra”. Anh em động viên Hòa chui lần thứ ba. Hòa chui xa nữa, thấy le lói ánh sáng, đội nắp cống nhìn ra, thấy phía trước có chân người đi lại. Hòa mừng lắm, lần theo dây quay lại, gọi anh em cùng trốn. Mình cùng  anh em chui xuống cống, lom khom bò, tối cũng không chùn, quên cả hôi hám. Một lúc lâu ra tới cửa cống ngoài xa. Thế là thoát. Hôm ấy là ngày 30. Nhân ra tù phải đổi tên, mình toán lấy “Ba Mươi” làm tên để nhớ ngày thoát ngục. Nhưng e dài, rút lại là Mười. Anh em cứ thế gọi thành quen. Rồi mình lấy thêm họ Đỗ, chứ mình chính là họ Nguyễn. Nhà mình xưa cũng nghèo như nhà Thứ. bố mẹ mình làm ruộng và chạy chợ kiếm ăn từng bữa. Vợ mình là bà đỡ thôn quê, đỡ được nhiều trẻ mẹ tròn con vuông, nhưng con mình lại bị sảy, rồi bà ấy qua đời luôn.

Tôi lại hỏi: - Sao anh em còn gọi anh là “chị Mười”? Anh mỉnh cười kể: - Dạo ấy mình được Trung ương điều vào công tác miền Nam, đường chưa thông, chưa đi được. Cùng lúc có việc sáp nhập Hội Phụ nữ cứu quốc vào Liên hiệp phụ nữ, nhằm đoàn kết đông đảo chị em tham gia kháng chiến. Chị Hoàng Ngân được Trung ương giao chỉ đạo việc hợp nhất đó, nhưng chị ốm rồi mất. Anh Hoàng Quốc Việt cử mình sang giúp các chị làm việc đó thay chị Hoàng Ngân. Làm xong, mình trở lại Liên khu III rồi vào Tả Ngạn. vì thế, anh em gọi mình là “chị Mười”.

Nói đến đây, hai anh em lại lên đường. Tôi nghĩ bụng: - Cảnh anh thế là khổ, chín tuổi mồ côi mẹ, 12 tuổi đi làm thuê. Ở tù mười năm, vợ con chết sớm…

Lặng lẽ hồi lâu, bỗng thấy ba đứa trẻ cưỡi ba con trâu từ bãi sôgn lên. Một thắng hò, hai thằng đế, giọng cao và trong trẻo, dễ nghe:

Đồn nào dày bằng ven sông Đáy
Giặc nào hung bằng mé sông Hồng
Đêm đêm vượt bãi băng đồng
Thuế nông ta gánh ra vùng tự do…


Anh Ngạn chăm chú nghe rồi bảo tôi: - Đây là bài hò của bố mẹ chúng. Thiếu bài hát thì chúng hò. Chúng khổ vì càn quét, bom đạn, khổ vì không được học hành, lại còn đi ở thuê, chăn trâu cắt cỏ…”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:15:38 pm »

NGÀY THỨ 36 CỦA TRẬN “LẠC ĐÀ”

Trò chuyện với anh em, tôi vẫn đế ý xem anh Ngạn có gọi? Thấy anh từ trong nhà ra, đi đi lại lại ở hiên, tôi lền bước tới. Anh bảo: “Sang bên từ đường”. Rồi vội vàng gọi Lê cùng sang sở chỉ huy. Sau khi ở lại Thái Ninh chữa chân, anh Lê đã về với chúng tôi.

Trận “Lạc Đà” sang ngày thứ 36. Chiều nay phiên trực của anh Khai và anh Hoàng Thế. Anh Ngạn vẫn ngồi xếp bằng ở góc chiếu và hỏi ngay: “Có gì đáng chú ý?”. Anh Khai báo cáo: “Ngày 28-5, ở đông Phù Cừ, Đại đội 50 (thuộc Tiểu đoàn 648, Trung đoàn 42) có tiểu đoàn trưởng Nguyễn Mạnh và một bộ phận đoàn bộ cùng đi, trú quân ở Thọ Lão. Đại đội phải đánh cố thủ với bọn địch đông hơn rất nhiều, có xe, đại bác, máy bay phối chiến. Quân ta do Nguyễn Mạnh trực tiếp chỉ huy, đánh bật sáu đợt xung phong của địch, diệt 220 tên, bất chấp hàng trăm quả đại bác, bom nổ, bom napan dội xuống trận địa. Ta anh dũng chiến đấu, quân số chỉ còn một phần ba. Có chiến sĩ bắn trung liên một mình chặn hàng trăm tên địch ào ạt tràn tới. Một tổ xung kích giành giật một ngôi miếu với cả trung đội địch… Song đơn vị vẫn bị vây hãm.

Để cứu đơn vị trên, tiểu đoàn phó 648 được giao chỉ huy một đại đội cùng một trung đội trợ chiến, lợi dụng đêm tối đánh từ ngoài vào, mở đường cho đơn vị trên từ trong đánh ra. Nhưng người tiểu đoàn phó đó không cho quân tiếp cận đánh mạnh, chỉ ở xa bắn vài loạt đại liên, súng cối rồi rút. Khiến đơn vị bị vây phải cố thủ đến tôi hôm sau, đánh một trận giáp chiến, phá vây, vượt đồng nước ra ngoài, nhưng tiểu đoàn trưởng hi sinh.

Anh Ngạn lặng người đi một lúc rồi nói: - Đây là lỗi của cán bộ cấp trên, không nhận rõ tính chất quan trọng của trận đánh để chọn người chỉ huy trực tiếp đi ứng cứu. Người chỉ huy trực tiếp thiếu tinh thần trách nhiệm và thiếu ý chí tiến công địch, chưa muốn nói là sợ nguy hiểm, làm việc chiếu lệ. Sẽ phải giúp cho anh em kiểm điểm nhận ra sai lầm, để sau đó làm nhiệm vụ cho tốt.

Đúng lúc khẩn trương chỉ đạo chống càn, vệ binh vào báo: “Có một chị bồng con đến hỏi anh Thế”. Anh thế lúng túng trước việc vợ con đến thăm không đúng lúc, không biết nói năng ra sao trước cấp chỉ huy. Anh Ngạn bảo: Đưa mẹ con cô ấy về đây nghỉ chân. Đường xa, đi bộ mệt mỏi!

Đồng chí vệ binh đưa mẹ con chị Thế vòa nhà ông thủ từ ngồi đợi.

Lúc này anh Ngạn thấy Hoàng Thế không đeo đồng hồ. Anh hỏi: - Cán bộ theo dõi tác chiến mà đồng hồ để đâu? Thế nói thật là con ốm phải bán đồng hò mua thuốc. Anh Ngạn nhắc anh Khai: - Anh bảo bộ phận cung cấp có thể mua cho đồng chí Thế một cái đồng hồ? Đấy là công cụ mà người tham mưu không thể thiếu như người chiến sĩ không thể thiếu súng!

Hôm sau, Thế nhận một chiếc đồng hồ. Thế xúc động kể lại với anh em: Lần trước khi  Thế bị thương đi mổ về, chưa thật lành, anh Ngạn xem rồi bảo Thế: - Nói với đồng chí Chật cung cấp cho xuất thêm năm lộ pênixilin, Thế tiêm thật lành vết thương, đừng để tái phát! Thế tỏ ý ngnầ ngại, vì thuốc lúc này rất hiếm, phải mua từng lọ từ vùng địch ra. Anh Ngạn gắt: - Tiết kiệm là phải nhưng tùy từng lúc. Lúc này cần khỏi đau để còn chiến đấu. Đúng không?

Xế chiều có thêm tình hình do liên lạc ở vùng càn ra. Bộ phận vô tuyến với máy phát điện quay tay cũng đưa sang sở chỉ huy một bức điện của Tư: “Địch có triệu chứng kết thúc trận càn. Tiếp tục đề phòng chúng càn lại, đồng thời theo dõi sát và phán đoán hướng càn khác”.

Anh Ngạn bắt tay anh Khai, mắt sáng lên: - Sắp hết một keo! Trung đoàn 42 cho đến lúc này là được bảo toàn về cơ bản rồi. Rất tiếc cái trận Thọ Lão, anh em không đều tay, tổn thất… Ta lại chỉ đạo cho Hưng Yên, Hải Dương giải quyết hậu quả ổn định tình hình sau càn; rút kinh nghiệm kip thời chuẩn bị chống càn trận tới!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:16:21 pm »

THÀNH LẬP KHU TẢ NGẠN SÔNG HỒNG

Ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ra nghị quyết về việc thành lập khu Tả Ngạn sông Hồng. Nội dung: “Xét sự phát triển mới của tình hình địch hậu Tả Ngạn; để tăng cường lãnh đạo đấu tranh ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ: 1) Tách Tả Ngạn khỏi Liên khu III thành lập một khu mới là khu Tả Ngạn sông Hồng. 2) Khu Tả Ngạn đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Tư, Chính phủ và Bộ tổng tư lệnh. 3) Liên khu III và Liên khu Việt Bắc có nhiệm vụ hết sức giúp đỡ khu Tả Ngạn về giao thông liên lạc, vận chuyển tiếp tế, huấn luyện cán bộ và các việc khác trong điều kiện có thể của minh. 4) Chỉ định đồng chí Đỗ Mười làm bí thư Khu ủy kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu và chính ủy Bộ tư lệnh. 5) Việc tổ chức Khu ủy, Ủy ban Kháng chiến hành chính khu, Bộ tư lệnh khu và các cơ quan chuyên môn, đồng chí Mười thảo luận với Liên khu ủy III rồi đưa lên Trung ương duyệt. Tổ chức nhẹ nhàng, được việc, thích hợp với hoàn cảnh địch hậu. 6) Tổng quân ủy, Liên khu ủy Việt Bắc, Liên khu ủy III và đồng chí Đỗ Mười chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này”.

Thi hành Nghị quyết trên, ngày 27-5-1952, đồng chí Võ Nguyên Giáp có mật điện gửi anh Mười (đồng điện các anh Lê Thanh Nghị, Văn Tiến Dũng, Đặng Tính) về nhiệm vụ Bộ tư lệnh Tả Ngạn:- Chỉ đạo và chỉ huy  xây dựng tác chiến các lực lượng vũ trang địa phương Tả Ngạn (kể cả Trung đoàn 42). Bộ tư lệnh Liên khu III và Liên khu Việt Bắc có nhiệm vụ giúp đỡ Tả Ngạn theo Nghị quyết của Trung ương. - Bộ tư lệnh Tả Ngạn chỉ huy các trung đoàn chủ lực hoạt động độc lập ở Tả Ngạn trong trường hợp không có cán bộ đại đoàn trực tiếp phụ trách. Các đơn vị chủ lực sẽ được trực tiếp chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực mình hoạt động. việc bổ sung và cung cấp cho các đơn vị chủ lực do Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn phụ trách. - Tổ chức cơ quan tư lệnh khu lấy cơ quan Mặt trận 5 làm cơ sở, gồm tham mưu, chính trị, cung cấp, một đại đội trực thuộc… Bức điện còn chỉ rõ: bộ máy đơn giản nhẹ nhàng, ít người, việc nào kiêm nhiệm được thì bớt người… Bắt đầu từ ngày 1-6-1952, Bộ tổng tư lệnh sẽ ra chri thị trực tiếp cho Bộ tư lệnh Tả Ngạn.

Ngày 4-6, Ban Trung ương khu ủy Tả Ngạn họp có ba đồng chí: Đỗ Mười, Đạng Tính, Nguyễn Năng Hách. Đầu tiên là bản vấn đề tổ chức. Trên cơ sở số người hiện có, đồng chí Đỗ Mười giữ các chức vụ cho Trung ương chỉ định, kiêm trưởng ban Tuyên Văn Giáo Huấn. Đồng chí Hoàng Bá Sơn, sắp sang, phó bí thư thường trực phụ trách Dân vận, Kiểm tra. Đồng chí Đặng Tính, tư lệnh trưởng. Đồng chí Dương Hữu Miên, phó tư lệnh khu kiêm tham mưu trưởng. Đồng chí Nguyễn Khai, khu ủy viên, phó chính ủy quân khu, phụ trách địch vận kiêm trưởng phòng Chính trị. Đồng chí Nguyễn Năng Hách, phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu, v.v. Cuộc họp cũng đề cập bộ máy lãnh đạo Đảng và chính quyền các tỉnh trong khu. Về cơ bản dựa vào và phát triển bộ máy sẵn có, nên hoạt động thuận lợi.

Trung ương nhất trrí với sự phân công như trên. Ít ngày sau do yêu cầu công tác, Bộ tổng tư lệnh điều động đồng chí Đặng Tính lên Trung ương. Anh Nguyễn Khai làm tư lệnh trưởng thay anh Tính. Anh Tính quê ở Hải Dương, tuổi ngoài ba mươi, năng động, giạu nghị lực. Trước Cách mạng Tháng Tám, anh hoạt động ở Chiến khu Đệ Tứ. Sau Cách mạng Tháng Tám, anh làm bí thư tỉnh ủy Hải Dương. Khi địch chiếm vùng đường 5, anh được Liên khu ủy III phân công làm bí thư Đảng ủy Mặt trận 5, cùng làm việc với các đồng chí trong Bộ chỉ huy là Nguyễn Khai, Dương Hữu Miên… chỉ đạo chiến đấu cho sát với tình hình địch hậu. Địch đánh chiếm Thái Bình, anh được Liên khu ủy cử về đấy làm bí thư tỉnh ủy. Anh là người có công lớn góp phần đưa phong trào Thái Bình nhanh chóng vượt qua thời kì đen tối đầu năm 1950. Khi phong trào Thái Bình đã hồi phục, cấp trên rút anh sang Bộ tư lệnh Liên khu III. Lập khu Tả Ngạn, anh lại trở về làm tư lệnh trưởng. Anh đi khỏi Tả Ngạn nhưng anh em luôn nhớ anh, người lãnh đạo, người chỉ huy mẫu mực và một “cây văn nghệ” có duyên.

Theo sự phân công kể trên, các đồng chí ở khu Tả Ngạn nhận nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao, khắc phục khó khăn việc nhiều người ít. Một chương trình công tác sơ bộ đạt ra để thực hiện ngay. Chiến đấu thì theo kế hoạch hè - thu 1952 đã vạch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM