Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Mười Một, 2026, 06:31:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh Ngạn  (Đọc 57129 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:17:06 pm »

XEM XÉT TRẬN TRƯỚC, CHUẨN BỊ TRẬN SAU

Trận càn “Lạc Đà” 36 ngày, dài nhất từ trước cho đến lúc này, ác liệt cùng vào hạng nhất. Báo cáo từ Hưng Yên về: địch dùng xe cóc quần nát hàng nghìn mẫu lúa chiêm sắp chín. Đốt cháy hoặc đổ xuống ao hàng trăm tấn thóc. Cướp giết hàng vạn trâu, bò, lợn, gà,… Nhiều làng xóm cháy trụi hoặc bom đạn cày xới. Gần 2.000 người chết, bị thương, bị bắt. Xã Phú Cường (Kim Động) chết 78 người, bị thương 23, bị bắt 305 người. Sau đó vài tuần, địch càn lại khu tây Kim Đồng, bắn phá cả nhà thờ Sài Quất, làm chết và bị thương 150 người; hãm hiếp con chiên, đánh đâp linh mục. Chúng đóng lại tám đồn ở bắc Khoái Châu… Song quân dân Hưng Yên đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.416 tên địch, góp phần đánh bại âm mưu tìm diệt bộ đội chủ lực ta.

Báo cáo từ Hải Dương về: ba thứ quân chống càn khá đều ở sáu huyện phía tây, loại khỏi vòng chiến 783 tên địch.

Bộ tư lệnh Tả Ngạn tổng hợp tình hình: quân dân ở vùng bị càn đã đánh chết và làm bị thương hơn 2.000 tên địch, khiến các mục tiêu cuộc càn của chúng không đạt: không chiếm đợc căn cứ hoặc khu du kích nào; Trung đoàn 42 cơ bản bảo toàn được lực lượng và có những trận đánh nhiều hiệu quả. Bộ đội các huyện cùng du kích đánh hàng trăm trận lớn ngoài vòng càn có kết quả, rút được kinh nghiệm thiết thực… Song ta cũng có những thiếu sót: tiểu đoàn 698 hoạt động ở ngoài vòng càn (đông Hải Dương) chưa dủ khiến địch phải bị động đối phó, nên chúng vẫn càn theo dự định. Đại đội 58 cứu viện ở Thọ Lão không kết quả do cán bộ chỉ huy thiếu tinh thần trách nhiệm. vì địch vây ép và vì ta chưa chú ý chuyển quân vào những trận địa chống càn đã chuẩn bị, nên có đơn vị bất lợi trong đánh địch, tổn thất đáng tiếc…

Anh Ngạn nghe anh Miên báo cáo rồi nói: - Bộ tư lệnh đưa ra những nhận định sơ bộ nhưng đã phần nào phản ánh được tình trạng về phía ta và phía địch. Rồi dây phải tổng hợp tình hình mọi mặt, thảo luận kĩ lưỡng, so sánh với các trận càn trước đây để rút ra ưu khuyết điểm. Quá trình tổng kết kinh nghiệm trận này cùng là quá trình chuẩn bị chống càn trận sau!

Tiếp đó, anh hỏi: - Rút “Lạc Đà”, địch sẽ càn ở đâu? Anh Miên trả lời: - Địch vừa càn một trận lớn và dài ngày. Tổn thất không ít, chúng phải có một thời gian củng cố, bổ sung lực lượng. Do đó, trước mắt có thể chúng mở những trận càn vừa hoặc nhỏ, nhằm khoét sâu thêm những thiệt hại của ta. Hướng càn có thể là đông và bắc Hải Dương, nơi mà cuộc càn “Lạc Đà” bỏ ngỏ, lực lượng ta ở đó đã được củng cố có thể lấn ra.

Anh Ngạn ngẫm nghĩ và nhất trí với phán đoán đo. Anh nói: - Càn quét rồi chiếm đóng đã trở thành một hình thức tác chiến chủ yếu của địch ở Tả Ngạn. Kể từ trận càn “Con Quay” (năm 1949) ở Hưng Yên, Hải Dương và trận “Cái Thùng” (năm 1950) ở Thái Bình đến nay, địch đã cần nhiều trận ở Tả Ngạn. Cho nên sắp tới và tiếp theo nữa, địch còn càn quét. Bộ tư lệnh ta phải kịp thời rút kinh nghiệm, tốt cũng như xấu, của những trận chống càn trước, nhất là hai trận “Thủy Ngân”, “Lạc Đà” để sắp tới vận dụng vào công tác chỉ đạo, đạt hiệu quả cao và đỡ tổn thất. Ba thứ quân cũng cần rút kinh nghiệm về chiến đấu qua những trận đánh hay và dở. Từng tiểu đoàn, đại đội, từng uyện, xã rút kinh nghiệm qua thực tế mà bồi dưỡng, nâng cao năng lực chiến đấu. Cần đặt ra những câu hỏi sát thực: - Vì sao ta phá vây ở Kim Quan đạt yêu cầu mà phá vây ở Thọ Lão thất bại?, v.v. Cần chân thành, thẳng thắng, tự phê bình và phê bình để thấy sự thật và tiến lên… Ngừng một lát, anh tiếp: Rồi lại phải tìm hiểu để thấy sắp tới, với sự tăng cường can thiệp của Mỹ, với sự tích cực sử dụng con bài Bảo Đại - “Cuốc ra cuốc vào”, thì các trận càn sắp tới của địch sẽ kèm theo những mưu mánh, ngón nghề gì, ngoài việc bắt, giết người, cướp phá của, lấn chiếm đất, đóng thêm đồn bốt… Lúc này có một chuyển biến rất quan trọng mà ta rút ra là: - Trận “Trái Quýt” địch biến cả vùng căn cứ du kích ba huyện thành vùng tạm chiếm chỉ sau hơn một tuần. Trận “Thủy Ngân” địch chỉ đóng lại được sáu đồn, không chiếm được vùng du kích nào. Trận “Lạc Đà” lớn hơn hai trận trước mà chỉ đóng thêm được tám đồn. Như thế là chất lượng các cuộc càn của địch không tương ứng với số lượng ngày càng tăng. Còn ta, càng chống càn càng có hiệu quả, nhất là về mặt giữ đất. Trong chiến tranh, bên nào giữ được đất là bên ấy có lợi thế hơn. Anh thấy đúng không?
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:24:18 pm »

ĐỪNG “LÍ LUẬN SUÔNG” VÀ “GIẢNG CHAY”

Anh Ngạn sang văn phòng Khu ủy, hội ý về công tác chỉnh huấn với anh Hoàng Bá Sơn, phó bí thư Khu ủy phụ trách công tác Đảng. Anh Sơn quê ở Nam Định, hoạt động cách mạng từ năm 1936, bị Pháp cầm tù năm năm rưỡi. Vượt ngục, anh nhận các nhiệm vụ: bí thư tỉnh ủy Sơn Tây, khu ủy viên Liên khu X kiêm bí thư tỉnh ủy Hà Giang. Cuối năm 1949, anh là ủy viên Thường vụ Liên khu ủy III rồi sang Tả Ngạn… Hai anh nhất trí theo Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ ba, coi chỉnh huấn là cuộc vận động xây dựng Đảng lớn nhất từ trước đến lúc này. Khu ủy cần đặt kế hoạch thực hiện cho đúng với tầm quan trọng của cuộc chỉnh huấn. Nhằm làm cho các đảng bộ và từng đảng viên tiến lên một bước rõ rệt, vững về tổ chức, mạnh về tư tưởng, để làm tốt nhiệm vụ tiền phong gương mẫu, đáp ứng yêu cầu của kháng chiến ngày càng cao, trong tình thế ngày càng gay go, ác liệt.

Hai anh soát lai tình hình xây dựng Đảng ở Tả Ngạn, thấy thời kì 1948-12949, ta phát triển Đảng ồ ạt, đưa cả những người không đủ tiêu chuẩn vào đảng. Những năm 1950-1951, địch khủng bố ác liệt, nhiều chi bộ đảng tan vỡ, nhiều đảng viên bị bắt hoặc cầu an, bỏ nhiệm vụ, có một số đầu hàng địch, phản bội Đảng. Lây tỉnh Hưng Yên chứng minh cho tình hình đó: năm 1945 có 35 đảng viên, cuối năm 1949 lên 15.027 đảng viên. Rồi qua hai năm chiến tranh chỉ còn 4.579 đảng viên, tức gần 1/4 còn hoạt động. Một sự sàng lọc khắc nghiệt. Phần lớn số đảng viên còn lại đang ra sức làm nhiệm vụ, cùng nhân dân đấu tranh chống địch, đẩy mạnh chiến đấu, sản xuất, bảo đảm đời sống, đưa cuộc kháng chiến tiến lên. Song trước yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới, đảng viên cần được bồi dưỡng về tư tưởng, tác phong, nâng cao vai trò đầu tàu gương mẫu, không sợ nguy nan, nhận bất cứ việc gì Đảng giao, dù phải hi sinh cũng cố gắng làm tròn.

Anh Ngạn nói: - Tôi đã đọc kế hoạch chỉnh huấn do các đồng chí huấn học dự thảo. tôi nhất trí với toàn bộ dự thảo đó, về cách đặt vấn đề, tài liệu nghiên cứu, phương pháp giảng giải, học tập, v.v. Tôi muốn nhấn mạnh một điểm quan trọng trong phương pháp là nêu những điển hình dũng cảm, để đảng viên học tập noi theo. Từ ngày Tả Ngạn bị địch chiếm đóng đến khi ta vùng lên chóng lại, đã xuất hiện hàng trăm, hàng nghìn gương anh dũng, trong số trên dưới vạn rưỡi đảng viên đã được sàng lọc qua sự khủng bố ác liệt của giặc, qua thử thách tôi luyện của kháng chiến gian nguy. Được giáo dục bằng lí luận sách vở lại được mắt thấy tai nghe những điển hình sống động, đảng viên sẽ dễ hiểu biết và chuyển biến tích cực hơn. Cần nêu gương tốt của những đảng viên gần gũi, ở tỉnh nào, huyện nào cũng có. Hưng Yên có Bùi Thị Cúc, Thái Bình có  Nguyễn Thị Chiên danh vang toàn quốc, Hải Dương có Mạc Thị Bưởi nổi tiếng khu ta. Tôi nghe Hội Phụ nữ báo cáo, Bưởi quê huyện Nam Sách. Giặc đóng đồn hai đầu xã, vệ sĩ cắm bốt giữa xã. Trong xã có một kẻ phản động gian ác, đi đâu cũng có bốn tên dõng kèm bảo vệ. Xóm làng đen tối, Bưởi vẫn bám đất, bám dân, làm giao thông liên lạc và xã đội phó, trong khi bí thư chi bộ cùng hàng chục cán bộ, đảng viên của xã bị giặc tàn sát. Rồi tên phản động nhận súng giặc, rào làng lập tề võ trang, lùng sục bắt bớ, khiến cán bộ, đảng viên còn lại phải ra cánh đồng đào hầm bí mật để hoạt động. Buổi là người duy nhất giữ vững sự liên lạc của chi ủy. Hoạt động công khai, nắm địch tình, ta tình, rồi nhận chủ trương của chi ủy truyền cho đảng viên, quần chúng. Bưởi còn giữ mối liên hệ giữa chi bộ xã mình với hai chi bộ xã bên và huyện ủy. Đường lên huyện phải qua sông Kinh Thầy, Bưởi mang công văn bơi sông, ra giữa dòng thì hai ca nô địch nối tiếp nhau đến. Bưởi giấu mặt vào mảng bèo, dìm mình xuống sông, tránh được ánh đèn dõi tìm của chúng. Bưởi lập được tổ phụ nữ trung kiên, viễn tiêu làm ám hiệu cho đảng viên ẩn tránh khi giặc trong làng đi tuần và giặc ngoài làng biệt kích. Rồi vận động nhân dân chống làm thẻ tề, dây dưa nộp thuế, chống đi phu. Cuối cùng có kẻ chỉ điểm. Hai cán bộ bị giặc đào hầm, phải dùng lựu đạn tự sát. Bưởi bị bắt, tra khảo cực kì đau đớn, qua sáu ngày liền. Trưởng đồn Pháp và hai tên Việt gian cắt tiết Bưởi rồi lăn xuống ao. Nhân dân ai cũng thương xót. Tấm gương của Bưởi soi sáng cả một vùng. Ngay ở xã Bưởi, một trung đội nữ du kích mang tên “Mạc Thị Bưởi” tiếp tục chiến đấu thay Bưởi…

Ngừng một lúc, anh Ngạn bình luận: - Rõ ràng Mạc Thị Bưởi là một đảng viên điển hình về tinh thần trách nhiệm cao, việc gì được giao cũng đảm nhận và vượt gian nguy để thực hiện. Khi bị địch bắt thì chịu đựng tra tấn, kiên quyết không khai báo. Chỉnh huán nhằm làm cho đảng viên ta “Sống anh dũng” như chị Cúc, chị Bưởi, và khi cần thì hi sinh oanh liệt… Các tỉnh ủy, trung đoàn ủy phải chỉ đạo cho đúng với tầm quan trọng của chỉnh huấn, chỉnh Đảng, chỉnh quân. Đánh giặc, ta xin vũ khí từ Trung ương, cướp vũ khí từ tay giặc và chiến đấu có hiệu quả. Xây dựng tư tưởng đúng, phê phán tư tưởng, hành động sai, ta có tài liệu lí luận từ trên về, và có những gương sáng ngay tại địa phương, để chứng minh cho thêm sinh động và dễ thấm nhuần. Đừng “lí luận suông” và “giảng chay”.

Tôi ghi nhanh ý kiến của anh Ngạn. Sau đó tôi thấy Hải Dương phát động phong trào học tập gương sáng Mạc Thị Bưởi. Các tỉnh đều chọn nhữmg điển hình sống động báo cáo tại các lớp chỉnh huấn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2009, 05:25:18 pm »

GẶP CHỦ TỊCH HUYỆN

Anh Ngạn bảo tôi tìm đồng chí Lưu Đình Điến, chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện Quỳnh Côi đến hỏi tình hình. Huyện là một trong những căn cứ của khu. Điến vội vàng đến nơi anh Ngạn ở. Hai người ngồi chung chiếc giường tre. Anh Ngạn hỏi:

- Vụ chiêm vừa gặt có tốt hơn vụ trước?

Điến trả lời:

- Nghe bà con nói thì… có tốt hơn trước ạ!

- Cụ thể là thế nào?

- Ư.. ư… vụ trước bình quân tám thùng một sào. Vụ này lên chín, mươi thùng ạ!

- Có tăng diện tích không?

- Dạ… Các xã chưa có báo cáo ạ!

- Các xã chưa báo cáo thì huyện phải hỏi chứ! Để biết ruộng đất có cấy trồng hết hay không. Năng suất tăng mà diện tích hụt cũng bằng không.

Điến nhận ra là mình không nắm chắc tình hình, nhận sẽ làm lại. Anh Ngạn tiếp:

- Xem ngay để chỉ đạo làm vụ múa này cho hết diện tích. Huyện đã chia hết ruộng vắng chủ cho nhân dân nghèo và gia đình liệt sĩ, thương binh chưa?

- Đã chia ạ! Nhưng còn một số chủ ruộng do sợ giặc chứ không phải là việt gian, phản động.

- Gặp họ, nói rõ là không được để ruộng hoang. Nếu không cấy thì cho xã mượn tạm giao cho dân nghèo cày cấy. “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang. Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu”, dân ta vẫn nói vậy. Mượn có giấy tờ dấu ấn để họ yên tâm là không phải tịch thu. Ở đây đã chuyển thóc thuế nông nghiệp sang Hữu Ngạn chưa?

- Đã tập trung đủ số cần giao, nhưng khó là bao bì đựng thóc. Mua một số bao gai, nhưng phần nhiều nửa mạc, lại khuân chuyển qua đò, đi đêm vật vã, e thủng vỡ.

Anh Ngạn nhìn thẳng vào đôi mắt lo âu của Điến. Anh đứng dậy vỗ hai tay và vai Điến vào bảo:

- Hưng Nhân đã chuyển được thóc sang bên kia sông, rất gọn. Họ không cần bao gai, vì không tốt như anh nói. Họ gói bằng rơm và lá chuối, chằng quanh bằng lạt tre, dây đay, thành những gói thóc tròn như quả bí ngô. Người gánh hai gói, đi đêm, lột bãi, xuống thuyền gọn nhẹ, không sợ rách thủng… Cho người sang đấy mà học chách làm. Đó là cách gói thóc, ngâm mộng mạ của nông dân. Dân làm ra thóc, nộp thuế, rồi gói ghém, gánh đi tiếp tế bộ đội. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Gặp những khó khăn, quần chúng ra tay là làm được, đúng không, chủ tịch ơi?

Anh Ngạn hỏi sang việc hộ đê, phòng lụt:

- Đê ở đây có những đoàn nào xung yếu nhất?

- Dạ… có các đoạn kè bến Hiệp, Yên Lộng, Đại Nẫm…

- Gần đây huyện đã đi kiểm soát chưa? Mùa lũ sắp đến rồi!

- Dạ… đã… đã phân công đồng chí ủy viên phụ trách hộ đê đi soát ạ!

- Có phát hiện gì không?

- Tôi chưa hỏi lại đồng chí ấy.

- Đê huyện vỡ, ai chịu trách nhiệm chính?

- Chủ tịch ạ!

- Thế mà anh chưa hỏi xem kết quả kiểm soát thế nào. Liệu ông ủy viên ấy đã đi soát chưa? Cũng chưa hỏi lại chứ gì. Ngay ngày mai phải có cách hợp pháp hóa việc kiểm tra đê kè. Nếu nắm được tề thì giao cho họ đứng ra kiểm soát, người của ta xen vào làm nòng cốt. Không nắm được thì tổ chức cho một số cụ già thúc giục tề kiểm soát, các cụ cùng đi để nắm, rồi có biện pháp sát thực sửa chữa. Mấy năm nay cho chiến sự, không chở được đá núi về, kè Hương Điền, kè Mễ Sơn ở Thư Trì bị sạt, dân đang đấu tranh đòi địch sửa chữa. Hàng trăm người gánh đá cầu ao, cối đá thủng, đá kê chân cột nhà cháy, đem đến xếp kè… Công tác ở một huyện, địa bàn hẹp, dân không đông, chủ tịch huyện phải sát cơ sở, trong từng thời gian phải nhắm chắc những vấn đè chủ yếu, để có biện pháp thực hiện sát đúng. Chắc anh lại cho tôi hỏi đột ngột, không kịp chuẩn bị để đối đáp chứ gì.

Thấy Điến thực lòng lo lắng, anh Ngạn nắm chặt bàn tay Điến, nhắc nhở thêm với giọng thân tình: - Nhiệm vụ chính lúc này là: “Giặc đến thì đánh, giặc đi thì cày”. Cày hết diện tích, cấy lúa tốt, đảm bảo sức dân và sức kháng chiến. Muốn vậy phải giữ đê, phòng lụt. “Lụt thì lút cả làng. Muốn cho khỏi lụt, thiếp chàng cùng lo” đúng không? Câu dặn dò về cuối khiến Điến tươi tỉnh lai.

Một tuần sau, Điến lên chỗ anh Ngạn, báo cáo đã kiếm soát xong đê. Đoạn xung yếu hơn cả là đê Đồng Trực. Khu và tỉnh đều cử cán bộ về giúp huyện chỉ đạo đấu tranh. Dùng các cụ già đốc thúc mấy ban tề, làm đơn lên tỉnh trưởng đòi chữa đê, sửa kè. Cùng lúc đó có các cuộc đấu tranh đòi chưa đê, kè, cống ở Thư Trì, Thái Ninh, Thụy Anh… Trần Đình Trọng mới về nhận việc thay tỉnh trưởng ngụy cũ, muốn giữ “Thể diện tân quan”, tìm cách làm theo đòi hỏi của dân.

Anh Ngạn cười vui: - Cần làm tốt hơn nữa. Đảm bảo từ nay đến hết rằm tháng bảy âm lịch, giữ được đê, cấy xong vụ mùa, được không?

Điến mạnh bạo hẳn lên: - Được ạ!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:50:56 pm »

GIÚP DÂN CHỮA BỆNH, ĐÓNG CỐI

Lại có buổi nghe anh Thứ kể chuyện: “Ở một trại lẻ thuộc làng Dô (Tiên Hưng) anh em mình trọ nhà ông già nghèo, không sắm nổi cái cối xay, phải giã thóc bằng cối đá chày tay, rồi sảy trấu lấy gạo, vừa lâu vừa mệt sức. Có lần thằng cháu ông giã thóc phồng rộp da tay, đau chảy nước mắt.

Nghe nói trong nhóm chúng tôi có cậu biết đóng cối xay, anh Ngạn bảo nên giúp cho ông già. Chúng tôi nghe theo. Vườn ông già có cây nhãn chết, cậu phó cối ngả xuống, mượn cưa, cưa cây thành những khoanh nhỏ, chẻ là nêm cối. Rồi bảo tôi chặt tre chẻ nan cho cậu ta đan lồng cối. Lại dạy tôi luyện đất dẻo, nặn cốt cối, để cậu chêm vào… Mỗi người góp một tay, kể cả anh Ngạn, ngày chủ nhật làm xong cái cối…

Hôm sau, cối xay mẻ thóc đầu tiên, ông chủ nhà vốc một nắm, thổi trấu phù phù, rồi gieo những hạt gạo từ bàn tay này sang bàn tay kia, lẩm bẩm khen: “Cối chín lắm. Gạo rất dộng”.

Gạo xay rồi vẫn phải giã. Chủ nhật sau nữa, anh Ngạn bảo chúng tôi và ông gì hạ nốt cây bưởi cỗi, vạc đẽo làm cần cối, mỏ cối. Rồi hạ các cối giã thay thành cối đạp chân. Bố con ông già rất mừng. Mấy nhà trong trại đem gạo sang giã nhờ, thì thầm khien: “Thầy trò ông cán sự thật khéo tay, hay làm”.

Nghỉ một lúc, Thứ kể sang chuyện khác: “Hôm ấy một anh chủ nhà trẻ, cũng ở Tiên Hưng, làm chõ xôi cúng gia tiên, rồi bưng xuống biếu anh Ngạn và anh em mình. Tôi biết nguyên do cách đây mấy tháng, thằng con anh chủ nhà bị kiết lị. Không tiền mua thuốc, anh kiếm lá má, cỏ cước, rau sam cho con ăn, uống, bệnh không khỏi mà nặng thêm. Thằng bé gày quắt, mắt trũng, má hõm, ai cũng nghĩ nó khó sống. Anh Ngnạ hỏi bệnh rồi lục hộp thuốc phòng thân cho cháu mấy ống êmitin. Thứ thuốc đặc hiệu, tiêm vào, bệnh khỏi dần, rồi khỏi hẳnn. Thằng bé thoát chết. Anh chủ nhà mừng lắm. Để tỏ lòng biết ơn, anh bàn với vợ làm chõ xôi như thế”.

“Lúc ấy - Thứ kể tiếp:,anh em chả mấy bữa no đủ, được ăn xôi thì hay. Nhưng anh Ngạn nhỏ nhẹ nói: - Nhà này nuôi con ốm, lâu nay túng thiếu. Có được chõ xôi là phải vay mượn. Chúng mình nhận tấm lòng, còn xôi thì để vợ chồng, con cái anh ấy ăn! Nghe vậy, anh em nhất trí. Người chủ nhà rưng rưng nước mắt, tần ngần bưng xôi về”.

Cùng sống bên nhau, cùng ăn một bếp, anh em coi nhau như con một nhà. Cấp dưỡng Nghị khéo nấu nước, còn khéo tay làm đàn bùa. Một ống luồng, một vỏ hộp sữa, một cái dây đàn xin bên chỗ anh Trần Hoàn, nhạc sĩ. Thế là Nghị có một nhạc cụ. Anh ta hứng lên hát rồi gảy đàn đệm: "Quay quay cho cách xa quay. Cho tơ em tuốt, em may áo chàng. Mai ngày chiến thắng reo vang. Thỏa lòng em đợi mong chàng, cái anh chàng ơi!”.

Tiếng đàn tiếng hát của Nghị khiến anh em bốc lên đồng ca, nhỏ thôi: “Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi. Nào có mong chi đâu ngày trở về. Ra đi ra đi bảo tồn sông núi. Thù bao năm xưa có bao giờ nguôi…”.

Anh em vui khiến anh Ngạn vui lây. Tôi lảng qua chỗ anh ở, xem anh có ý kiến gì về việc chúng tôi ca hát không. Nhưng từ ngoài cửa, tôi đã nghe anh ngâm mấy câu Chinh phụ, giọng hơn khan nhưng nghe cũng êm: “Nước thanh bình ba trăm năm cũ. Áo nhung trao quan vũ từ đây. Sứ trời sớm giục đường mây. Phép công là trọng, niềm tây sá nào…”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:51:37 pm »

GẶP BÍ THƯ “CHI BỘ THÉP”

Anh Ngạn đến cơ quan huyện ủy Hưng Nhân gặp đồng chí Từ Quang Kỳ. Kỳ là bí thư chi bộ xã Tân Thịnh, nơi có bến đò Nhật Tảo, một trong những cửa ngõ chủ yếu của Tả Ngạn sang Liên khu III, vào Liên khu IV, lên Việt Bắc. Anh Ngạn nghe Kỳ báo cáo về hoạt động của bến đò quan trọng này. Đây là vùng ngã ba sông Hồng, sông Luộc, làm nơi “một con gà gáy, ba tỉnh (Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam) cùng nghe”. Bến không đóng đinh một chỗ mà di đồng trong một đoạn sông, dài năm, sáu kilônét, từ Nhật Tảo đến Thanh Nga, gồm những bến chính và bến phụ. Khi chuyển từ Hà Nam sang, thấy bến nào có tín hiệu thì ghé vào bến ấy. Quá đoạn này lên đoạn trên thì qua bến Yên Lệnh… Nơi hai con sông lớn gặp nhau này tạo thành một vùng đầm bãi rộng thênh, trống ắng. Mùa đông, gió bấc thổi hun hút, buốt da thịt. Mùa hè, nước lũ cuồn cuộn, một con thuyền loại vừa cũng phải lắp ba, bốn tay chèo mới đi nhanh và đỡ bị trôi.

Kẻ địch biết đây là cửa ngõ ra vào có tính sinh tử của ta. Chúng đóng hai đồn Đê Đìa và Dốc Văn, kẹp bến Nhật Tảo vào giữa. Rồi rải đều phía dưới, phía trên và phía trong tám, chín đồn nữa, nhằm chặn thuyền đó và đánh ta từ nội địa ra hoặc từ bến vào. Khi phát hiện người hoặc thuyền đến bến, lính ở hai đồn gần nhất kéo ra bao vây, súc bắt. Đồn Vũ Điện (Hà Nam) có riêng hai ca nô chuyên tuần tiễu, ngăn chặn đoạn sông và bến này. Khi cần, địch cho thêm tàu chiến, ca nô lượn qua lượn lại, bắn bừa bãi lên bờ. Ban ngày máy bay trinh sát, ban đêm pháo sáng soi bói, thấy nghi ngờ là gọi đại bác từ đồn Cầu Không (Hà Nam) và từ Tiên Hưng bắn chụp.

Chi bộ xã Tân Thịnh được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông qua bến Nhật Tảo. Đặt bến chính, bến phụ ngụy trang không để lộ. Mau thuyền to nhỏ, tổ chức đội ngũ thủy thủ. Đào hầm hố bảo vệ cán bộ, thương binh khi tam trú. Lập một trung đội bảo vệ bến, cùng bộ đội và du kích bám đồn địch, chống đột kích, phục kích. Viễn tiêu làm mật hiệu báo động báo yên. Anh em trong đội dũng cảm, mưu trí. Đội viên Đỗ Văn Thọ bị thương nặng vẫn bám vị trí, làm mật hiệu đến khi kiệt sức. Đỗ Văn Tiến gan dạ làm nghi binh, đánh lạc hướng địch, cho dân công cáng thương binh tới nơi an toàn. Trần Thế Trúc trèo lên cây cao viễn tiêu, bị trúng đạn vẫn dùng mật ngữ báo cho đồng đội hiểu tình hình địch; nói nhỏ không rõ thì nói  to, mặc cho địch bắn, cốt ta không hỏng việc. Không ít anh em bị địch phục kích, bắt và tra khảo, chết đi sống lại vẫn không khai điều bí mật.

Dân công và thủy thủ bến Nhật Tảo cũng kiên cường. Hễ trời tối là mò thuyền từ ao, sông nội địa lên. 20 người khiêng một thuyền, từ nơi cất giấu ra bến; mỗi đêm hai lần lên, xuống các dốc Đường Thầu hoặc Phù Vật, bất chấp mưa dầm, đường lầy, chèo lái thuyền qua sông làm nhiệm vụ rồi trở về, xen giữa những chuyến tàu chiến, ca nô địch tuần tiễu. Gần sáng lại vội vã khiêng thuyền vào giấu ở nội địa. Người này bị thương, bị chết, người khác thay ngay.

Nhân dân trong xã đào hầm cất giấu người và tài sản nhà nước, qua đây bị lỡ đò, nằm lại. Cán bộ thương binh, vũ khí có khi tồn đọng năm, sáu ngáy, được bà con bảo vệ. Có đợt dân công chuyển hơn 300 gánh thóc sang sông an toàn. Ba đại đội lên Việt Bắc nhận súng đạn qua đây trót lọt, nhưng giao thông viên Nguyễn Văn Nghinh hi sinh cạnh bến đò. Bà Hiệu, bà Khiêm cho mượn nhà, nấu giúp cơm nước, ngụy trang hầm bí mật cho bộ đội, thương binh khi giặc lùng sục…

Anh Ngạn chăm chú nghe bí thư Kỳ báo cáo. Nghe ít cảm thông nhiều, vì đã bao lần anh qua sông, qua đò, lần theo đường dây. Anh ngồi sát bên người cán bộ xã, hỏi những điều thiết thực: - Bến này như thế là lộ rồi, địch biết rồi! Sao các đồng chí vẫn hoạt động được?

Bí thư Kỳ đáp: - Vâng, lộ rồi! Nhưng vẫn có những cái còn giữ được bí mật. Chúng biết ta đi đêm, nhưng vào giờ nào, ở bến chính hay phụ thì chúng không biết. Ta lại biết nhiều về chúng. Khi chúng hoạt động, ta tránh. Khi chúng nghỉ ngơi, ta tranh thủ làm. Quân chúng ngại khó, sợ nguy hiểm; phục kích, tuần tra chiếu lệ, không phải lúc nào cũng hăng hái, quyết tâm như anh em ta…

Anh Ngạn vỗ vai bí thư Kỳ, khen: - Đúng, đúng như thế. Các đồng chí đã tìm ra nhược điểm chủ yếu của địch, để có cách hoạt động của mình. Chúng là kẻ cướp nước, bán nước, không thể có tinh thần vì nước, vì dân như ta. Chúng từ xa đến không thể hiểu luồng lạch, bến bãi như ta. Ta hơn hẳn địch về lòng dũng cảm và mưu trí. Ta phải bảo đảm hoạt động của đoạn sông, bến đò này, giữ cho mạch máu kháng chiến lưu thông. Đứt thì nối ngay. Không đi được bến chính thì đi bến phụ. Thiên biến vạn hóa. Lâu nay các đồng chí đã làm tốt nhiệm vụ, Đảng và nhân dân sẽ ghi công. Tôi đến gặp đồng chí là để nói lên sự tin cậy của Đảng đối với chi bộ và lòng biết ơn đối với đồng bào xã này.

Sau đó không lâu, Khu ủy Tả Ngạn tặng chi bộ xã Tân Thịnh danh hiệu “Chi bộ Thép”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:52:19 pm »

CHỐNG BÌNH ĐỊNH KIỂU MỚI

Dự đoán của Bộ tư lệnh Tả Ngạn về hướng hoạt động của địch sau trận càn “Lạc Đà” là đúng, nhưng không dự đoán được âm mưu “Bình định kiểu mới” của chúng. Báo cáo của tỉnh đội Hải Dương gửi lên: “Cuối tháng 6-1952, địch đưa 2.000 lính bộ và một tiểu đoàn lính dù, với 35 xe cóc, 3 ca nô, 8 máy bay, do quan năm Bơlăngke chỉ huy, đánh huyện Kinh Môn, mở đầu cho trận càn “Bôlêrô I”. Tiếp đó, chúng đánh rộng ra các huyện Chí Linh, Nam Sách, phía bắc tỉnh”.

Ít lâu sau, địch mở tiếp trận càn “Rắn Độc” (Vipêrin) rồi mở càn “Bôlêrô II” vào các huyện Thanh Hà, khu căn cứ của cơ quan tỉnh Hải Dương và Trung đoàn 42. Cuộc càn này thực hiện kế hoạch tấn công toàn diện: quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lí… Đầu tiên, chúng càn đi, quét lại từng xã, nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và đánh bật cán bộ địa phương, xóa bỏ cơ sở kháng chiến của ta, nhưng không đốt nhà, cướp bóc, hãm hiếp. Tiếp đó, các đội biệt kích và đội “gamô” (quân thư hành chính lưu động, do thủ hiến bù nhìn Bắc Việt cùng tướng Đờ Linarét nặn ra, nhằm thực hiện “Bình định kiểu mới”) cùng bạn phản động tại chỗ dụ dỗ, lừa phỉnh dân, mở chợ búa, trường học, trạm phát thuốc bệnh, đưa hàng viện trợ Mỹ về bán giá rẻ, mau hàng của dân trả giá cao… Bọn “gamô” đến từng nhà dân, nhận cha mẹ nuôi, lấy chồng, lấy vợ người địa phương. Chúng làm cho dân tưởng là có bàn tay của “quốc gia” thì quân Pháp sé không tác hại như các cuộc càn trước, mà còn có phần dễ sống.

Tiếp nữa, chúng dùng bọn phản động lập tề, dõng, ép dân chụp ảnh, làm thẻ; bắt thanh niên ngủ tập trung ở nơi có trò cờ bạc, trai gái, chơi bời. Cuối cùng là xây đồn bốt, kiềm chế nhân dân, thu các thứ thuế, vơ vét thóc gạo, dụ dỗ thanh niên đi lính… Ta chưa  từng đương đầu với âm mưu mới của địch nên gặp nhiều khó khăn; cơ sở đảo lộn ghê gớm, cán bộ bật đất, nhân dân có bộ phận nghiêng ngả…

Cuộc họp Bộ tư lệnh khu có anh em tham mưu, tác chiến và tỉnh đội trưởng Hải Dương tham dự, nghe báo cáo về hoạt động địch, dự đoán mọi diễn biến, dự kiến những biện pháp đối phó. Người dự họp thấy tình hình rối như tơ vò, như sa vào trận bát quái. Chính ủy vẫn điềm tĩnh lắng nghe. Tổng hợp mọi ý kiến, rút ra từ những điều trái ngược nhau, chính ủy nêu lên kết luận của mình: - Chúng ta đã bàn kĩ với tinh thần trách nhiệm cao, nhằm chống âm mưu mới của giặc. Việc mới bao giờ cũng khó, điều quan trọng là phải dựa vào trí tuệ tập thể, tìm ra cách làm. Có đồng chí báo: “Cần thỉnh thị Trung ương”. Điều đó đúng, nhưng công việc xảy ra ở đây, trước hết những người ở đây phải tìm hiểu âm mưu của địch, tìm ra cách đối phó sát hợp. Không thể nhất nhất chờ đợi, ỷ lại Trung ương. Đúng không?... Tôi sơ bộ nêu ra một số điểm như sau: - Lúc này Khu ủy và Bộ tư lệnh cần tăng cường chỉ đạo đối với Hải Dương. Trước hết là, đưa ba đại đội của tỉnh vào hai khu nam và bắc Thanh Hà, ra sức củng cố lại khu du kích Trường Thành, làm chỗ đứng đánh địch; diệt địch ở những chỗ chúng sơ hở. Thực tế cho thấy thằng địch đang hung hăng nhưng bị đánh một trận đau thì co lại. Hai là, đẩy mạnh vũ trang tuyên truyền vào nơi địch chiếm, vạch âm mưu địch và tranh thủ lòng dân. Ba là, tạo điều kiện đưa cán bộ về bám đất, nắm lại dân. Bốn là, bắt một số tề để giáo dục, hạn chế hoạt động của chúng, làm rời rã chân tay địch. Tóm lại là phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, Bộ tư lệnh khu cho thêm lực lượng của Trung đoàn 42 vào Thanh Hà, làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh, đẩy lùi địch từng bước… Các đồng chí xem xét, góp ý thêm, rồi chúng ta bắt tay thực hiện. Quá trình lầm thấy có gì chưa sát đúng, sẽ uốn nắn kịp thời. Âm mưu nới của địch rất xảo quyệt, nhưng chúng ta sẽ có cao kiến, cao thủ, không chịu bó tay. Đúng không các đồng chí?

Thực hiện ý kiến của chính ủy không dễ dàng. Song như cỗ máy bị trục trặc được tu bổ kịp thời và khởi động nhịp nhàng, Hải Dương, Thanh Hà và Trung đoàn 42 tăng cường hiệp đồng, đẩy mạnh hoạt động. Cán bộ, bộ đội quyết tâm cao hơn, lặn lội vào nơi đầy rẫy khó khăn, làm nhiệm vụ. Sau đó, địch có phần dè dặt hơn, nhưng ở Thanh Hà, chúng vẫn ngoan cố tập trung mọi cố gắng để thực hiện âm mưu đã đặt ra. Cuộc đấu tranh giành đất, giành dân giữa ta và địch vẫn rất gay go, phức tạp. Các thủ đoạn nham hiểm của địch đã khiến một bộ phận nhân dân ta phân tâm, ngại đấu tranh, sợ địch khủng bố. Và chính điều đó khiến ta rất khó khăn trong việc phá âm mưu địch.

Rồi một tình huống gay gắt xảy ra. Lúc này gặp mùa nước lũ và mùa mưa rào; mực nước chung ở đây dâng cao. Địa thế thấp, hầm bí mật bị nước đe dọa. Khi thủy triều lên, nước ngập tới ngực người, ở hầm rất khó thở. Nước rút vẫn ngập nửa ống chân, nhớp nhúa, ghẻ ngứa. Bộ đội, du kích ta không thể sống kéo dài trong tình trạng đó, xin tỉnh cho rút ra ngoài.

Anh Chất, tỉnh đội trưởng Hải Dương lo lắng, không biết giải quyết thế nào cho đúng. Không cho anh em rút thì họ không thể chịu đựng nổi, sức khỏe giảm sút dẫn tới tinh thần bạc nhược. Cho anh em rút thì không thực hiện được chủ trương bám đất, giành dân. Anh vội lên khu báo cáo tình huống nan giải đó.

Anh Sáng cùng anh Chất gặp chính ủy. Nghe phản ánh thực trạng đó, chính ủy nói:

- Thủy triều dâng mỗi ngày một lần, sớm hoặc chiều không thay đổi. Nhưng nước lũ và mưa rào thì diễn ra có mùa nhất định. Cả ba cái đó dồn vào một lúc gây khó khăn lớn cho ta. Khi hai trong số đó qua mùa, thì mức nước sẽ trở lại bình thường. Đúng không?

Sùng và Chất đồng thanh: - Đúng!

Chính ủy hỏi: - Vậy nên xử lí thế nào?

Chưa ai trả lời. Chính ủy hỏi anh Sáng: - Tham mưu thuộc lịch sử, có nhớ khi quân Nguyên vào nước ta thì vua tôi nhà Trần đối phó thế nào không?

Sáng đáp: - Trước thế giặc khá mạnh, vua Trần tạm rời kinh thành Thăng Long, lui vào Thanh Hóa. Giặc vào thành, bị dân binh Thăng Long quấy rối và đánh nhỏ, sinh ra mệt mỏi, thiếu lương cho người, thiếu cỏ cho ngựa, phải rút vè nước. Quân Trần truy kích, thắng lợi!

- Tức là trong một tình hình cụ thể, xét thấy thực sự bất lợi cho ta, thì ta tạm rút để giữ lực lượng, rồi trở lại đánh địch khi có điều kiện, phải khong?

- Phải ạ!

- Trong tình huống cụ thể của ta lúc này - Chính ủy nhấn mạnh: - Tạm thời cho số anh em ở đông Thanh Hà rút sang bên kia sông, ém kín chờ thời cơ. Nhưng cần để  lại một số đồng chí già yếu, sống hợp pháp trong dân, nắm tình hình địch báo cáo ra ngoài. Được không?

Thấy hai đồng chí ra ý tán đồng, chính ủy nhấn mạnh: - Đừng quên mặt khác của vấn đề là phải liên tục tìm cách chống địch, ddánh địch ở những nơi có điều kiện. Khi vua Trần tạm rời Thăng Long, dân binh vẫn bám địch quấy rối, đánh nhỏ, khiến chúng ăn không ngon, ngủ không yên. Dân quanh vùng không bán gạo, bán cỏ cho giặc nên chúng cạn lượng thảo, phải bỏ Thăng Long. Nay ta không thể để cho giặc yên ổn thực hiện âm mưu của chúng. Ngay ở Thanh Hà, nơi nào không quá khó khăn như phía đông huyện, anh em vẫn cần bám dân, bám đất, tạo điều kiện, đón thời cơ, thậm chí tạo thời cơ đánh địch. Nhất là ở Kinh Môn, đất cao ráo, hầm hào vững chắc, bộ đội, du kích phải quyết bám đất, bám dân chống địch. Khu sẽ yêu cầu sự phối hợp của tỉnh Quảng Yên với Hải Dương. Hai tỉnh láng giềng cần dựa vào nhau chống ấm mưu quỷ kế của địch. Đánh địch thật mạnh ở Kinh Môn sẽ khiến chúng nhụt chí, co vòi ở Thanh Hà, vì cả hai nơi ấy chúng đều thực hiện một âm mưu. Đồng thời, khu cũng chỉ đạo cho các tỉnh trong khu đẩy mạnh hoạt động trong mùa mưa 1952 này, để phối hợp, chia lửa với Thanh Hà. Đúng không?

Anh Chất và anh Sáng tiếp nhận ý kiến của chính ủy. Ra về, Sáng nói với Chất; - Chính ủy quyết định thật là phù hợp với thiên thời, địa thế và nhân tâm!

Sau đó, chính ủy nói thêm với anh em văn phòng chúng tôi: - Thằng địch lâu nay dùng tàn sát, khủng bố, hòng khiến dân sợ, dễ khuất phục. Nhưng làm trò ấy không có hiệu quả, lại khiến dân căm thù, quyết tâm chiến đấu cao hơn. Nay chúng làm kiểu này là nhằm mua chuộc, lấy lòng dân. Dân đang gian khổ thấy chúng vuốt ve mơn trớn thì dễ chịu, dễ ngả lòng. Ở địch hậu, không nỗi lo nào bằng lo mất dân. Mất đất mà còn dân thì còn có ngày giành lại đát. Mất dân thì mất tất cả! Đúng không?

Không lâu sau đó, báo cáo của Hải Dương gửi lên: - Có sự phối hợp chiến đấu của hai đại đội tỉnh Quảng Yên, quân dân huyện Kinh Môn và các huyện bắc Hải Dương, chống càn “Bôlêrô I” diệt 750 tên địch, có quan năm Bơlăngke. Địch vẫn chiếm khu Nhị Chiểu gồm 5 xã, thực hành âm mưu “Bình định kiểu mới” như ở Thanh Hà…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:14 pm »

CHỈNH HUẤN XONG PHẢI DŨNG CẢM HƠN

Anh Nguyễn Như Thiết, trung đoàn trưởng kiêm chính ủy Trung đoàn 42 đến báo cáo với anh Ngạn về công tác chỉnh huấn trong đơn vị: - Cán bộ giảng dạy cho chiến sĩ về các tài liệu “Cách mạng Việt Nam”, “Kháng chiến trường kì gian khổ nhất định thắng lợi”, “Quân đội nhân dân Việt Nam”… giúp anh em thấy được sự phát triển của cuộc kháng chiến trong những năm qua và nhiệm vụ của quân đội trong thời gian tới. Đã nêu bật những gương chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đồng thời kiểm điểm về tư tưởng cầu an, dao động, thiếu tinh thần tích cực tiến công địch; một số đảng viên chưa thực sự làm đầu tàu trong chiến đấu... Những cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị có thành tích tốt, chiến công cao, được nêu gương điển hình, báo cáo trước cuộc chỉnh huấn để anh em học tập noi theo.

Anh Thiết trao cho anh Ngạn tờ “Trung Dũng” do Trung đoàn ấn hành, giấy học sinh, in trên đá, có bài nói về những gương dũng cảm trong trận Hoàng Xá (Hải Dương). Phối hợp với ban chỉ huy huyện đội Kim Thành, tiểu đoàn trưởng Mạc Đình Vịnh đã tổ chức trận địa, hiệp đồng tác chiến. Đêm tối, bộ đội vào mấy làng tề, được dân che giấu. Không biết quân ta ở trong làng, bọn lính đồn Đồng Xá đến bắt phu, thu tre. Quân ta êm gọn bắt tám tên, giải thích chính sách khoan hồng rồi tha về đồn. Đồn trưởng Đồng Xá xin vội một đại đội Âu - Phi ở đồn gần đó tới càn quét. Bọn Âu - Phi kéo tới, bị quân ta vây chặt. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Căng dẫn đầu một đơn vị đánh địch. Căng bị thương những vẫn cùng các đơn vị bạn đánh mạnh, khiến địch co cụm lại ở Hoàng Xá. Bốn máy bay địch ném bom; hai đồn gần đó bắn đại bác chi viện, nhưng địch vẫn bị ta bám sát, đánh gần. Một đơn vị địch từ đồn lân cận đến cứu, bị bộ đội Kim Thành và du kích xã diệt một trung đội, phải tháo chạy

Ở Hoàng Xá, quân ta đánh giáp lá cà với địch. Đồng chí Nguyễn Văn Vấn dùng gậy tre đánh địch, cướp được đại liên. Nguyễn Văn Căng bị thương vẫn chỉ huy chiến đấu, buộc một tên quan ba đùa hàng. Tên này liền bị tên quan một da đen bắn chết. Căng diệt tên da đen và tiếp tục gọi hàng. Tên quan hai Lađơi cho lính hạ súng. Máy bay trinh sát tới chỉ điểm cho máy bay chiến đấu bắn phá. Căng buộc Lađơi dùng khăn trắng đánh tín hiệu giải tỏa, máy bay rút, quân ta an toàn. Trên đường về, Căng thấy hai lính da đen lẩn trốn, gọi chúng không hàng, còn bắn lại. Căng nổ súng diệt, rồi Căng ngất vì kiệt sức. Nghe tiếng súng, anh em trở lại cứu Căng.

Trận đó diệt gọn một đại đội Âu - Phi (có 60 tên bị bắt) cùng một trung đội ngụy. Tiểu đoàn 664 được biểu dương công trạng. Tiểu đoàn cổ vũ tập thể cán bộ, chiến sĩ và nêu gương dũng cảm của Nguyễn Văn Căng, Nguyễn Văn Vấn… trong cuộc chỉnh huấn.

Đọc xong bản tin, anh Ngạn nhận xét: - Trung đoàn chỉnh huấn như thế là đúng phương pháp. Cần nhớ lí luận là ánh sáng soi rọi để thấy hướng đi và đích tới. Còn đi như thế nào để tới đích cụ thể là do ta tự tìm. Có nhiều người đi, nhiều cách đi để tới cùng một cái địch. Cần tìm ra trong số những người dũng cảm và cách đi vững chắc của họ để học tập, làm theo. Chỉnh huấn để đạt yêu cầu như thế. Trung đoàn 42 qua chiến đấu xuất hiện nhiều gương dũng cảm. Nhớ lại năm 1950, Trung đoàn phải phân tán từng nhóm, từng tổ, tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở Hưng Yên, nằm hầm bí mật, bám đất, giành dân, gây cơ sở, gian nan, nguy hiểm vô cùng. Chỉ một tháng, một đại đội của các đồng chí hi sinh và bị bắt gần một nửa. Từ khó khăn cực độ như thế, các đồng chí chiến đấu và trưởng thành như lúc này là do có quyết tâm vượt khó khăn, tích cực tiến công địch. Nay chỉnh huấn nhân quyết tâm đó lên, noi theo những gương dũng cảm đã có và tạo nên những gương mới, nhằm làm tốt nhiệm vụ mới. Tất nhiên, chỉnh huấn cũng liên hệ tìm ra những yếu kém trong tư tưởng và hành động của mình, để phê phán và sửa chữa. Yêu cầu đặt ra là chỉnh huấn xong, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải sáng tỏ thêm về lí luận, dũng cảm hơn trong chiến đấu, góp phần đưa kháng chiến tới những thắng lợi mới hơn, lớn hơn!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:54:05 pm »

NHỮNG BỮA CUA, ỐC VÀ THỊT CHUỘT ĐỒNG

Vụ chiêm 1952, vùng Tiên - Duyên - Hưng khá hơn vài vụ trước nhờ có nước cống Đào Thành. Song vùng Thái Ninh, Thụy Anh thu hoạch kém vì cống Trà Linh hư hỏng, đóng mở không đúng lúc. Bình quân sản lượng lúa cả tỉnh Thái Bình vẫn sút, giá gạo vẫn đắt, đời sống nhân dân khó khăn. Anh em  trong bộ phận chúng tôi số đông tuổi tre, ăn nhiều, khẩu phần lương thực có hạn, bửa nào cũng lép dạ. Anh Ngạn được hưởng tiêu chuẩn tiểu táo nhưng thường ăn như anh em. Mâm cơm đạm bạc, rau lang chấm mắm cáy hoặc rau muống chấm tương. Anh bảo chúng tôi: - Các cậu ra đồng bắt thêm cua, ốc được không? Ăn chỉ có gạo thì không no mà thiếu chất. Mỗi cậu bắt ba con cua góp lại là được một bữa, kho hoặc nấu canh. Mình khi 14, 15 tuổi đã bắt của cho cả nhà mấy người ăn.

Anh Lê bàn với anh Thứ, phân công anh em kiêm nhiệm, bảo đảm việc chính hằng ngày, còn một nhóm thay nhau ra đồng kiếm thêm thực ăn. Anh em đan những cái rổ to, ra bờ ngồi xúc cua rốc, ốc biêu về nấu với củ chối, hoa chuối, ăn ngon và chắc dạ. Cấp dưỡng Nghị luôn luôn biểu dương anh em về thành tích bắt nhiều cua, ốc. Được ăn lại được khen, anh em trổ tài. Tân, Khâm, Triều, Mập, Bẹ, Triệu, Sử… những tay trai khỏe khoắn, giỏi việc ruộng đồng, thạo bắt cá tôm. Họ đan rọ đánh cá rô, cá trê. Khi anh Ngạn đi đâu thì quảy theo để hóa trang. Tối tối anh em đem đi đánh cá, có lần hí hửng bưng về mấy chục con. Anh Ngạn ngạc nhiên hỏi: - Các cậu đổ trộm của dân à? Anh em chối, anh không tin, đi theo xem thế nào. Đêm trăng, anh ra tận bờ ngòi thấy mặt nước gợn sóng lăn tăn, báo hiệu cá đến tìm mồi và chui rọ. Đổ cá ra rỗ giãy đành đạch, anh mới yên tâm. Có lần anh Thứ khiến cả nhà ngạc nhiên: tay vo bắt được con cá vược to khi lội qua sông Đô Mom. Anh Triều giỏi bắt lươn bằng ống nứa, mồi giun. Con lươn vào tay người khác thì luồn qua, nhưng bị kẹp vào hai ngón tay anh, không thể luồn được. Lươn ngon và bổ được đánh giá cao hơn cua, ốc. Mùa kho, anh em đào chột đồng ở các gò đống. Lúc này chuột ăn nhiều thóc mùa, béo múp đầu, bắt về, vặt lông, thui vàng, làm thịt nấu giả cầy. Anh em “múa đúa” thoải mái. Anh Ngạn và tôi sợ món giả cầy, chỉ ăn muối vừng, rau muống.

Ăn xong, anh em chúng tôi xúm quanh ấm nước chè tươi, vừa uống vừa chuyện trò rôm rả. Anh Ngạn khen cái giống chè Cổ Tiết hương thơm  vị đậm; mới uống thấy chát ở lưỡi, uống xong ngọt mãi vào họng. Rồi anh kể chuyện bà tướng Bát Nàn cầm quân đánh giặc Hán, nay còn đền thờ ở làng Tiên La (Hưng Nhân). Bà chúa Ngừ quê ở vùng nay, lo nơi ăn chống ở cho thân quyến nhà vua và tướng lĩnh, để các vị ra tiền phương yên tâm đánh giặc, được vua Trần phong là Linh Từ quốc mẫu. Anh còn kể: cách đây vài trăm năm ông Nguyễn Du đến vùng này trú thân và lấy vợ. Người ta bảo ông viết truyện Kiều ở đây, không biết có phải? Nhưng truyện Kiều thì các cụ vùng này nhiều người thuộc. Cụ chủ nhà mình rụng gần hết răng mà còn ngâm. Kiều, nghe phập phà phập phùng nhưng vẫn lí thú…

Cạn ấm nước, anh em tản về từng nhà. Cấp dưỡng Nghị vừa thu dọn ấm chén, vừa nổi hứng ngâm Kiều:

Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau


Rồi anh ta nhại Kiều:

Trăm năm trong cõi người tàu
Chị nghèo đi đất, em giàu đi hia
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:00 pm »

ĐỢT 2 ĐÒI CHỮA CỐNG TRÀ LINH

Tôi theo anh Ngạn đến nơi tỉnh ủy Thái Bình làm việc. Anh bảo: - Xem cuộc đấu tranh đòi chữa cống Trà Linh tớ đâu rồi?

Anh Tư Quang, quyền bí thư báo cáo: - Do việc sửa chữa cống khá tốn tiền nên tỉnh trưởng Hà Bỉnh Quân, tiếp theo là Trần Đình Trọng đều bế tắc. Tuy lúc này Pháp cố ý đề cao vai trò “quốc gia” của bọn ngụy quyền Bảo Đại - Nguyễn Văn Tâm, nhưng chúng không dễ bỏ tiền ra sửa chữa một lạt đê, kè, cống, vì chiến tranh tàn phá hoặc lâu ngày hủy diệt. Thực hiện chủ trương của khu và tỉnh, rút kinh nghiệm đấu tranh hợp pháp đòi chữa đê Đồng Trực (Quỳnh Côi), đợt này những xã vùng tạm bị chiếm huy động đông đảo nhân dân hơn trước, kéo lên đồn nộp đơn yêu cầu chữa cống. Lấy thiệt hại vụ chiêm mất ngót mười vạn tấn thóc, khiến dân thiếu đói, để mọi người xót xa mà ra sức đấu tranh. Gia đình các ban tề, lính ngụy, các địa chủ, phú nông đều chịu chung thiệt hại, đã có mặt trong các cuộc đấu tranh đông người. Chị ruột và em gái thủ hiến Phạm Văn Bính, họ hàng nhà tỉnh trưởng Trần Đình Trọng, cũng được ta vận động đem đơn lên Hà Nội xin chữa cống. Ta còn nhờ nhân mới viết bài đưa lên đăng báo Tia sáng, yêu cầu dư luận toàn Bắc Việt chú ý và thúc đẩy việc bảo  vệ đê, kè, cống. Cao hơn là lôi cuốn được hàng nghìn ngụy binh, đồn trưởng quê ở Thái Bình viết thư thỉnh cầu hoặc đơn kiện. Giói giáo sĩ viết thư cho Tòa Khâm mạng ở Hà Nội, yêu cầu can thiệp với nhà cầm quyền để bảo vệ đời sống giáo dân. Sở công chính ngụy quyền được vận động đứng ra nhận thầu chữa cống…

Anh Ngạn nghe rồi nhận xét: - Cuộc đấu tranh này xuất phát từ nồi cơm, đấu gạo, từ vấn đề sinh tử của mọi người, mọi nhà, nên lôi cuốn được đông đảo quần chúng nhập cuộc. Lại bám trúng vào tử huyệt của ngụy quyền, tự xưng là “quốc gia, quốc trưởng” thì phải tìm cách đòi Pháp đáp ứng quyền lợi của dân. Bọn Pháp thẳng tay tàn phá khi càn quét nhưng không thể im lặng trước yêu cầu chính đáng của dân ở nơi công sở. Rồi đây đấu tranh chính trị hợp pháp ở vùng tạm chiếm hay công khai ở vùng căn cứ du kích, điều có thể áp dung linh hoạt kinh nghiệm của vụ Trà Linh này.

Cuộc đấu tranh dai dẳng gần một năm. Tin cuối cùng cho hay: tỉnh trưởng Trần Đình Trọng đã phải chi một triệu đồng Đông Dương để chữa cống Trà Linh, gấp sáu lần số tiền chúng dự chi ban đầu. Tiếp đó, cống được đóng, mở theo yêu cầu của sản xuất. Nông dân trong vùng rất phấn khởi. Anh Ngạn đánh giá: “Cuộc đấu tranh kinh tế ở Trà Linh có giá trị như chiến thắng cấp chiến dịch”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:47 pm »

HỘI NGHỊ CHUYÊN ĐỀ VÙNG ĐỊCH TẠM CHIẾM

Tin từ vùng địch tam chiếm đưa ra khiến anh Ngạn suy nghĩ nung nấu. Anh đi đi lại lại trong nhà, vẻ bứt rứt, băn khoăn. Chúng tôi hiểu mỗi khi anh ngồi không yên như thế là có việc, hoặc là địch sắp càn hoặc ta sắp đánh một đồn lớn. Bỗng anh đứng lại bảo tôi: - Chú Nam tập hợp cho mình tình hình gần đây ở vùng địch tạm chiếm nhé!

Tôi mở tập báo cáo của liên tỉnh Hải - Kiến, tập hợp tình hình từ giữa năm 1951 lại đây. Địch tăng cường hệ thống phòng thủ Hải Phòng, nhằm biến vùng cảng biển này thành nơi đóng quân an toàn, nơi tiếp nhận viện binh từ Pháp và vũ khí viện trợ Mỹ. Chúng xây hàng loạt lô cốt boongke, mở rộng sân bay Cát Bi, đuổi dân lấy đất mở sân bay mới ở Kiến An, Đồ Sơn, làm đường xe lửa đén sân bay Kiến An, khoét núi Qui Tức xây dựng nhiều kho tàng quân sự. Sân bay Cát Bi đã có hàng chục máy bay ném bom do Mỹ viện trợ. Nội thành có hàng nghìn quân cơ động. Mạng lưới cảnh sát, mật vụ, chỉ điểm giăng tới từng ngõ hẻm.

Các cơ sở bí mật của ta gặp nhiều khó khăn. Một số nơi tổn thất nặng nề. Một người thợ bị nghi ngờ, chúng bắt cả kíp. Nhà có người theo kháng chiến, hoặc chứa cán bộ, chúng bắt cả gia đình tra khảo, bỏ tù. Nhiều đảng viên ta nằm im, không hoạt động, một số đầu hàng địch…

Vùng tạm chiếm ở nông thôn quanh Hải Phòng và thị xã Kiến An bị địch càn quét liên tục, bắt bớ, tra khảo những người đáng ngờ. Dùng kẻ phản bội chỉ hầm, chỉ cán bộ. Bưng bít tin chiến thắng của ta. Tuyên truyền rùm beng ngụy quyền Bảo Đại, thực hiện âm mưu bắt thanh niên vào “Quân đội quốc gia”. Tung hàng viện trợ Mỹ ra bán với giá hời, phát chẩn gạo cho người nghèo, phát thuốc, sữa cho người hồi cư, nhằm dụ dỗ, lừa mị dân ta.

Nghe tình hình trên, anh Ngạn bảo tôi: - Cần phải làm rõ hơn nữa nhiệm vụ vùng địch tạm chiếm là tranh thủ nhân dân, củng cố và phát triển cơ sở bí mật, đẩy mạnh đấu tranh kinh tế, chính trị, phá âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Muốn tranh thủ được dân phải vạch trần tội ác địch, những tội xảy ra tại địa phương hoặc vùng lân cận, mắt thấy tai nghe. Nhân dân sẽ căm thù địch và bồi đắp tinh thần yêu nước, quyết tâm kháng chiến. Phải tuyên truyền chiến thắng của ta ở các mặt trận để nhân dân tin tưởng. Vạch âm mưu địch vừa khủng bố vừa lừa bịp. Truyền đơn viết ngắn gọn rõ ràng tung vào. Tuyên truyền miệng là chính, một điều rỉ tai bằng hai điều diễn thuyết. Tổ chức những cuộc vũ trang tuyên truyền, Dùng những lính ngụy được ta khoan hồng về kể chiến thắng của ta và kể tội ác địch. Lợi dụng nơi đông người, lớp đại chúng học vụ, trường trung - tiểu học, trại tập trung, đám giỗ, đám cưới, v.v. để tuyên truyền. Dân không thể chỉ nghe địch mà cần được nghe ta. Đây là một cách nắm dân, giành dân. Tuyên truyền giỏi thì tranh thủ được dân. Có dân thì sẽ củng cố, phát triển được cơ sở bí mật. Có cơ sở thì sẽ có đất, có dân mà bám và sẽ đẩy mạnh được đấu tranh phá âm mưu địch. Có cơ sở thì mới có đấu tranh chính trị, kinh tế và có cả đấu tranh vũ trang. Không có nhân dân, không có cơ sở, thì sẽ không có việc gì làm được ở vùng địch tạm chiếm, hơn nữa, ta sẽ thua địch ở đó!

Anh Ngạn để ra ba công tác cụ thể: dân vận, ngụy vận và tổ chức Đảng. Các biện pháp thực hiện được rút ra từ thực tiễn đấu tranh, đã qua thử nghiệm, và có hiệu quả… Chúng tôi viết đề án hội nghị về vùng địch tạm chiếm 26 trang. Hội nghị sẽ còn nghe những báo cáo điển hình đấu tranh ở vùng địch tạm chiếm Kiến An. Huyện Tiên Lãng đưa dân lên đồn Đông Xuyên đòi chồng con, địch phải thả 200 người. Huyện Đồ Sơn vận động hơn nghìn dân chống hàng trăm lính về vây bắt thanh niên đưa lên xe. Thị xã Thái Bình đấu tranh hợp pháp chống trò “Bầu cử Hội đồng” hàng tỉnh, hàng xã và “Đại hội liên hoan thanh niên học sinh”. Huyện Thụy Anh vận động nhân dân 12 làng ven đường 39 và đường 218 đấu tranh chống cắt lúa, dỡ nhà bên đường. Dân lương, dân giáo, nhà giàu, nhà nghèo, muốn bảo vệ nhà cửa, lúa má của mình đều ra sức đấu tranh. Nhiều người viết thư khiếu chống, các cụ già đem đơn lên quận trưởng ngụy quyền và đồn trưởng Diêm Trình viết: “Trận càn “Sứa Biển” quân đội quốc gia đốt phá cả làng tôi, chỉ còn một ngôi chùa và sáu cái miếu. Nay dân chúng tôi muốn dựng lại cái đình một gian hai chái, quận lại bắt dỡ nhà, bạt tường dậu, chặt cây cối thì dân tình ai oán lắm!”.

Quan đồn Kha Lý bốn lần đốc thúc dân dỡ nhà không được. Địch bắn đại bác, chết và bị thương một số người. Chi ủy lại lãnh đạo dân đấu tranh chống bắn pháo, đòi bồi thường thiệt hại về người và của. Chúng phải thôi bắn nhà. Từ chỗ địch muốn phát quang mỗi bên đường 300 mét rút xuống 100 mét dân chỉ mất một ít nhà.

Hội nghị chuyên đề về vùng địch tạm chiếm do anh Ngạn trực tiếp chỉ đạo, anh Hoàng Mậu, bí thư Thành ủy Hải Phòng điều khiển.

Sau khi nghe báo cáo tình hình, nhiệm vụ và kinh nghiệm đấu tranh ở vùng địch chiếm, hội nghị chăm chú theo dõi chuyện nhân dân thị xã Thái Bình đấu tranh giải thoát gần một vạn người bị giam ở “căng” chợ Bo. Đồng chí Lý Anh Nghĩa, một trong năm tỉnh ủy viên Thái Bình bị giam ở đó đã tham gia lãnh đạo đấu tranh kể lại: “Chợ Bo ở phía bắc thị xã Thái Bình, một mặt gần sông Trà Lý, một mặt gần cánh đồng Bồ Xuyên. Chợ to nhất vùng nhưng đã bị đốt phá hết quán xá, chỉ còn là cái bãi trống thênh, bẩn thỉu. Địch chăng dây thép gai vây quanh biến thành trại nhốt người sau mỗi trận càn. Tháng 10-1951, chúng bắt gần một vạn người trong trận càn “Trái Quýt” nhốt vào đây. Những người tù không nón lá, áo tơi, đầu trần chịu nắng gắt, mưa rào. Đứng lâu mỏi chân phải ngồi xuống đất. Không hố tiêu, hố giải, người tù phóng uế bừa bãi, giòi bọ nảy sinh. Sau mỗi trận mưa, bùn nước dềnh lên, ngập mu bàn chân, gây lở loét. Giòi bọ theo nước tràn lên, leo cả lên chân, người, ngứa ngáy, khổ cực. Tù đông, địch tiếp tế không xuể, khiến nhiều anh em đói khát, nói không ra tiếng hoặc ốm nặng. Mấy ngày sau đã có người chết. Có ngày quá nắng, chết ba chục người.

Nhận chủ trương của tỉnh, thị ủy do đồng chí Phạm Gia Tuân làm bí thư, liền chỉ đạo chi bộ nhà tù Thái Bình, cử các đồng chí Bích, Huấn, Tiên đến trại giam chợ Bo với vai trò hợp pháp là “cai tù”, liên hệ với các đồng chí ta. Tôi và anh Tuấn Giao, bí thư tỉnh đoàn thanh niên, nhận kế hoạch đấu tranh, phổ biến cho các đồng chí khác và vận động anh em tù hưởng ứng.

Anh em tù nhanh chóng rỉ tai nhau. Ngay hôm ấy, hàng trăm người đứng gọn vào một nơi, hướng ra cửa trại có những tên lính gác, cầm súng lăm lăm. Anh em đồng thanh hô: “Cơm! Cơm! Nước! Nước!”… Tiếng hô lôi cuốn hàng nghìn, rồi gần như tất cả trài hô theo, trừ những người ốm yếu.

Cùng lúc đó, các cơ sở của ta ở thị xã vận động đồng bào phố xá, góp cơm nắm, gạo rang, nước chai, nước lọ, đem đến chung quanh trại, trao qua rào thép gai cho tù nhân. Có người hảo tâm mua cả rổ bánh đúc, cả vác mía ủng hộ. Lần đầu, việc tiếp tế còn lẻ tẻ, thị ủy tập trung tất cả cán bộ đảng viên nội thị và ba xã ngoại thị vào việc vận động quần chúng cứu tế. Lôi cuốn cả phật tử, giáo dân, người nhà ngụy quân, ngụy quyền tham gia, liên tục, nhiều ngày. Suốt sáng đến chiều, hàng trăm người lần lượt thay nhau đến cứu giúp tù nhân.

Rồi ta chủ trương trốn chạy. Tối xuống, anh em tù tràn ra gần trước trại, hò hét, đòi: “Thả ngay những dân thường! Thả ngay những người già yếu!”. Bọn lính ngụy lặng lẽ làm ngơ. Khi phía trước ồn ào thì phía sau êm ắng, anh em tù lần lượt trốn ra cánh đồng Bồ Xuyên, ra bờ sông Trà Lý, có những người hướng dẫn tới nơi tạm trú. Một anh bộ đội bơi sông Trà Lý sang làng Sa Cát, được bà Hệ, giáo dân, giấu vào chỗ hậu sự của mình; tối hôm sau, bà chỉ đường cho anh ra căn cứ. Cô Hợi bán kẹo, bà Cử dân phố, tham gia đấu tranh liên tục nhiều ngày, vận động nhiều người tham gia.

Suốt gần một tháng, cuộc đấu tranh tiếp diễn. Ta còn cử người viết bài tố cáo địch ngược đãi tù nhân, đăng báo Hà Nội. Buộc địch phải thả phần lớn đồng bào ta. Phần còn lại, chúng nghi là cán bộ, bộ đội, đưa vào nhà tù hoặc đưa sang Nam Định. Cuộc đấu tranh còn bồi dưỡng được khí thế cho đồng bào vùng tạm chiếm. Viên quan tư chỉ huy séctơ thị xã Thái Bình nói với đồng bọn: “Dân chúng ở đây đều là Việt Minh…”.

Các đồng chí dự họp tiếp nhận nhiệm vụ, biện pháp và cả kinh nghiệm thực thế, phong phú, đa dạng. Song nhiều người vẫn còn băn khoăn chung quanh vấn đề đối phó với hội tề. Ý kiến khác nhau, có lúc phải tranh luận. Một số cho là cần “diệt tề”. Một số khác cho là “cứ lập tề rồi nắm tề để đối phó với địch”. Anh em đưa người thực, việc thực ở địa phương mình ra, chứng minh cho lập luận của mình là đúng. Anh Ngạn để nọi người nói hết ý kiến, rồi thuyết giải: - Các đồng chí đều có thực tế về vấn đề này, cần xem xét cho đúng và có cách giải quyết phù hợp, không thể làm bằng, nhất loạt như nhau. Đây không phải là vấn đề chỉ tùy thuộc ý muốn của ta, mà còn phần nào chịu sự chi phối của địch, mở những nơi chúng mạnh. Ngươc lại, ở nơi ta có điều kiện, dẫu chưa mạnh vẫn có thể tự ta quyết định số phận của tề. Kinh nghiệm mấy năm qua cho thấy ta không thể diệt hết tề ở những nơi địch mạnh. Bởi tề do địch dựng lên, rất cần cho chúng, mất tề này chúng lập tề khác. Vì thế, ta chỉ diệt từng điểm, còn thì phải tìm cách khác. Vì thế, ta chỉ diệt ở từng điểm, còn thì phải tìm cách “nắm tề”, với mức độ khác nhau, chặt hoặc lỏng, tùy nơi tù lúc, miễn là có lợi ít nhiều cho ta và không đẩy tề đi hẳn với địch. Trước cách mạng, ta còn tìm cách “nắm” bọn kì lí để bí mật hoạt động, thì sao bây giờ không “nắm tề” để đối phó với địch. Chỉ diệt những tên nào thật phản động, gian ác, diệt đi đôi với tuyên truyền giải thích, khiến những tên khác phải tự xét mình, để tìm cách xử sự cho vừa phải hoặc ngả theo ý ta. Nếu diệt hàng loạt, diệt lan tràn, chúng thấy không còn lối thoát sẽ trở thành “chó cùng dứt dậu”. Nói chung ta không cho lập tề. Những nơi buộc phải cho thì cố tìm cách “nắm”. Đưa những người có  thể “nắm” được ra làm tề. Nếu có thể thì đưa người cảu ta ra làm, để dễ điều khiển. Cho lập tề nhưng phải dựa vào dân để “nắm” và điều khiển tề; nếu tề nắm dân là ta mất dân. Tề nhận việc của đich nhưng chịu sự hạn chế của ta; nhận rồi không tích cực làm, dây dưa bắt lính, bắt phu; lừng chừng nộp thuế, làm thẻ ảnh… Khôn khéo làm những việc ta cần và địch cũng không thể bỏ qua: sửa kè, cống, bảo vệ đê, chống lut… Như thế là những nơi ta không thể lập chính quyền thì ra sức “nắm” ngụy quyền để làm lợi hoặc đỡ hại cho ta. Đó là thứ “tề hai mang”, “tề ấm ớ” đang hình thành trong thực tế. Quá trình “nắm” chúng, nếu có hiện tượng xấu thì uốn nắn, kê kích. Khi không cần nữa thì phá hẳn… Các đồng chí phải xem xét cụ thể địa phương mình, để lập tề, “nắm” tề và phá tề thật linh hoạt, tránh tả, hữu khuynh. Khi cần diệt tên nào phải được tỉnh xét đồng ý, tránh diệt ẩu, gây hại. Đồng ý không, các đồng chí?

Nghỉ họp, ăn cơm. Vừa ăn vừa kể chuyện. Anh Lê, bảo vệ, nói:

- Hôm ấy, tôi đưa anh Ngạn, anh Nam và Thứ vượt đường 10, ở giữa đồn La Uyên và Thẫm. Tôi cho là mính nắm được cơ sở nên mạo hiểm vượt đường không cần giao liên. Cơ sở này là một anh “tề hai mang” của làng La Uyên, tên là Kều (anh ta cao nên bà con gọi là Cao Kều). Ban ngày Kều vênh vang qua lại cửa đồn tỏ ra mình có chức vụ. tối xuống, nhà Kều có Việt Minh ra vào.

Trước khi vượt đường, chúng tôi lén trong bóng tối vào nhà Kều tạm nghỉ. Kều theo dõi từ chiều, không thấy địch từ đồn ra phục kích. Nhưng lúc này anh vẫn ra soát lần nữa cho chắc chắn, rồi nhanh nhẹn đưa chúng tôi đi.

Kều đưa anh em qua đường 10 rồi lột sông Bari sang cánh đồng thuộc xã Hòa Bình. Tôi nằm bên cảnh giới cho các anh đi lọt rồi vượt sau. Bất nờ súng nổi từ đồn La Uyên. Đạn bay  veo véo, một viên trúng chân, tôi bị thương. Tôi nép mình xuống vệ đường, sẵn sàng đối phó nếu địch kéo đến. Nhưng không, chúng ngồi trong đồn bắn vu vơ để dọa nạt. Rồi tôi được Kều băng vết thương, đưa ra ngoài.

Nghe xong, anh em nhận xét: - Ông Lê đã báo cáo một điển hình sinh động.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM