Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 11:33:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh Ngạn  (Đọc 57073 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:56:32 pm »

NGUỒN NUÔI DƯỠNG KHÁNG CHIẾN

Xế chiều hôm ấy, anh Ngạn quảy túm rọ cá trên sang làng Bương (Quỳnh Côi). Thứ và tôi đi theo. Qua làng Khả Lang thấy một cụ già quần áo rách, vai khoác thừng kéo bừa. Tháng bé khoảng 13, 14 tuổi cần bừa cố dấn xuống đất cho ông kéo. Tay nó yếu, bừa không bập xuống đật, trượt đi, khiến ông ngã chúi phía trước, bùn nước tóe lên mặt. Ông đưa cánh tay gạt nước, quay lại quát cháu: “Đè nặng bừa xuống!”. Nó kêu: “Cháu đau tay” và khóc hu hu. Anh Ngạn dừng chân nhìn, mắt nhòa đi một hàng nước. Rồi anh bảo Thứ: - Cậu thấy đấy, ông thay trâu, cháu cầm bừa không nổi! Thứ nhìn mảnh ruộng ven ngòi mới vỡ hoang, đất hòn, đất cục lổn nhổ. Anh Ngạn bảo thêm: - Chú Tuân hay chú Nam viết chuyện này có báo Tả Ngạn, cho Đài phát thanh Trung ương.

Tối hôm ấy, anh Ngạn họp với chi bộ xã Toàn Thắng. Các đảng viên nêu tình trạng xã mình còn ruộng hoang mà nông dân nghèo không đất cày. Có anh bộ đội nhà túng quẫn, vợ đẻ, phải bỏ ngũ, về mò cua bắt ốc nuôi cả nhà, muốn cấy lúa không có ruộng. Có anh du kích sao nhãng nhiệm vụ, chạy đầu chợ nọ cuối chợ kia, kiếm lãi nuôi vợ yếu, con thơ… May là có chủ trương của khu và tỉnh về việc đẩy mạnh tịch thu ruộng đất của việt gian, phản động, quản lí ruộng vắng chủ (chạy vào thành phố) đem tạm cấp, tạm giao cho dân nghèo. Cấp công điền công thổ cho nam nữ từ 16 tuổi trên lên, ưu tiên cho tá điền bần cố. Thương binh, gia đình liệt sĩ, quân nhân, du kích được chia ruộng tốt, gần nhà. Giảm tô, giảm tức theo đúng sắc lệnh, làm giấy giao kèo đảm bảo quyền cấy ruộng nộp tô của tá điền…

Những việc trên lâu nay đã được đề cập nhiều lần trên văn bản, nhưng sự thực hành khi được khi không, nơi làm nơi bỏ. Đại bộ phận nông dân, những người lăn lưng vào cày cấy, nộp thuế cho nhà nước, xông ra mặt trận đánh giặc, thì vẫn đói cơm rách áo. Ở xã này, huyện này, nơi khu và tỉnh đặt căn cứ, cũng tới nay mới làm đến nơi đến chốn. Anh Ngạn bảo tôi: - Xuống xã họp một tối hơn một buổi nghe chủ tịch huyện báo cáo.

Hôm sau, anh Ngạn sang nơi làm việc của anh Nguyễn Năng Hách. Anh Hách quê ở Hải Dương, sớm hoạt động yêu nước trong Quốc dân đảng thời Nguyễn Thái Học, bị đế quốc bắt. Trong tù, anh được đồng chí Lê Thanh Nghị, anh ruột mình, giáo dục và vận động vào Đảng Cộng sản. Ra rù, anh làm các công tác Đảng giao. Năm 1948, anh tham gia Liên khu ủy II, rồi làm ủy viên Thường vụ khu ủy Tả Ngạn. Lúc này là phó chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu. Anh Ngạn đề xuất việc rút kinh nghiệm của Thái Bình, chỉ đạo các vùng du kích và căn cứ du kích toàn khu thực hiện: Xem xét tỉnh Hưng Yên thấy có những nét giống Thái Bình: số ruộng tạm giao cho nông dân sau cách mạng là ngót hai vạn mẫu, đến khi địch chiếm (năm 1950) điều chủ đã lấy lại hết. Tô tức cũng không giảm. Ruộng đất bỏ hoang vài vạn mẫu, đến lúc này mới vỡ được gần một vạn. Ở Hải Dương, chỉ riêng huyện Bình Giang bỏ hoang hơn 3.000 mẫu… Anh Ngạn nói: - Cần phải giao, cấp lại số ruộng vắng chủ và ruộng hoang để dân cày bừa. Hướng dẫn bà con vào nhóm đổi công giúp nhau cày bừa, đào mương dẫn nước tưới lúa. Dân Tả Ngạn “dĩ nông vi bản”, chính quyền ta phải dành tâm lực thích đáng để chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Thóc gạo không chỉ để nuôi quân dân trong khu, mà còn chuyển lên Việt Bắc. Nguồn nuôi dưỡng sức dân và sức kháng chiến lấy nông nghiệp là chính. Không thể để nông dân tự lo tự làm. Bác Hồ dạy thi đua chiến đấu, thi đua tăng gia sản xuất làm bởi thế!

Ngay sau đó, Ủy ban Kháng chiến hành chính khu triệu tập đại biểu chính quyền, nông hội khu cùng các tỉnh họp bàn chủ trương: “Kiên quyết thực hành chính sách ruộng đất và giảm tô, giảm tức, đảm bảo đời sống nhân dân và nguồn nuôi súc kháng chiến”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:57:11 pm »

TẢ NGẠN VỪA LÀ TIỀN TUYẾN VỪA LÀ HẬU PHƯƠNG

Cô con gái chủ nhà cơ sở đi chợ về nói toang toác với mẹ: - Úi giời, hôm nay du kích đón đường giáp ranh, khám xét, bắt  nhiều hàng địch lắm! Cô ta nói to và thích thú như kể tin chiến thắng. Anh Ngạn và tôi ngồi viết trên nhà phải ngừng bút để nghe. Rằng có mấy bà ở chợ tề ra mang theo hàng địch. Có bà quấn vải phin vào đùi, mỗi đùi hai mét, đủ may một cái áo “xu mi”. Có bà cho mấy chục viên đá lửa vào “chỗ kín” rồi đóng khố bịt lại, khì khì… Mấy du kích nam biết nhưng chỉ đứng nhìn. Du kích nữ được tức tốc điều ra, đưa các bà vào nhà, khám lôi ra hết, tịch thu… Thế nhưng họ chả chừa đâu. Mai kia họ đi lối khác, canh gác sao xuể. Buôn bán với vùng tề nhiều lãi, bị mất vài chuyến nhưng lọt một chuyến thì vẫn gỡ vốn và có lãi.

Bà mẹ tỏ ra không thích thú chuyện đó, hỏi con: - Vậy mày có bán được chuốii không? Cô gái đáp, giọng buồn thiu: - Không. Các ông ấy bảo bán vào vùng tề là tiếp tế không công cho địch. Bà mẹ càng buồn, lẩm bẩm: - Tiền kiếm không ra được một đồng; chuối thì để chín rũa. Đem ngay cho các em nó ăn kẻo phí!

Anh Ngạn buông hẳn bút, ngẫm nghĩ về câu chuyện giữa cô gái và bà mẹ. Bỗng anh hỏi tôi: - Chú Nam có nhờ cái chuyện bộ đội huyện Vũ Tiên bắn súng thị uy rồi vẫy một chiếc thuyền buôn trên sông Hồng vào bờ khám xét không? Tôi nghe anh em kể: hôm ấy bộ đội tịch thu hàng đưa từ thành phố Nam Định ra, hàng chục súc vải, thuốc tây, dầu hỏa, giấy bút…

Không đợi tôi trả lời, anh bảo: - Nhiều huyện, xã chưa rõ về đấu tranh kinh tế giữa ta và địch. Hội nghị Trung ương tháng 3-1951 đã chỉ ra: “… Không phải ta đặt một hàng rào ngăn hẳn giữa ta và địch, mà vẫn phải mở mang buôn bán giữa hai vùng. Nhưng chỉ cho vào vùng địch những thứ hàng không hại cho ta, và đưa về những thứ hàng cần cho kháng chiến và đời sống nhân dân”. Chưa hiểu rõ nên anh em cấm đoán, bắt bớ như thế!

Ngay sau đó, tôi thấy anh sang gặp anh Nguyễn Năng Hách, hội ý khá kĩ. Rồi một dự thảo kế hoạch của Ủy ban khu đề ra về công tác chống địch phá hoại và bao vây kinh tế ta, trong đó chỉ rõ: Địch cấm đưa những thứ hàng từ vùng chúng kiểm soát ra vùng ta, như thuốc men, bông vải, xăng dầu, văn phòng phẩm… Ta khuyến khích đưa những thứ địch cấm ấy ra vùng ta. Những thứ địch cho đưa ra như thuốc lá, thuốc phiện, rượu chè… thì ta cấm. Ta đưa rau quả, cá, trứng, rổ rá, nồi niêu, mắm muối… những thứ nhân dân cần bán  vào vùng địch để khỏi thừa ế.

Anh Ngạn đọc kĩ dự thảo rồi bảo: Được! Anh nói them: - Có thể cho dân ở vùng ta và địch tranh chấp, bán cả thóc gạo, lợn gà, vì ở đấy có thể địch cướp phá mà ta khó bảo vệ. Nhưng bán mà không lấy tiền Bảo Đại; hoặc lấy thì mua ngay hàng hóa đem về. Chúng ta phải khôn khéo buôn bán giữa hai vùng, không chỉ đáp ứng đời sống, mà còn cho kháng chiến và sản xuất. Chất nổ làm lựu đạn, thuốc hiếm cho thương binh và những thứ cần khác. Dùng ở trung khu ta và dành phần đáng kể lên Việt Bắc, không chỉ thóc gạo mà còn cả những thứ cần mua từ vùng địch. Phải nhớ: Tả Ngạn vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương của chính mình, đồng thời là hậu phương, hậu cần của Trung ương.

Cuối năm ấy, anh Nguyễn Năng Hách sang văn phòng Khu ủy, cùng anh Ngạn hội ý. Anh Hách nói khá kĩ kết quả thực hiện kế hoạch của Ủy ban khu về chống địch bao vây kinh tế. Anh kể: ở Hải Phòng, bộ phận nội thành đang cài một mạng lưới tiểu thương, có cả vài ba nhà tư sản yêu nước, làm việc tiêu thụ hàng từ vùng ta đưa vào, kể cả chổi rơm, rổ tre, nồi đất… tránh thừa ế, giảm khó khăn của thợ thủ công và nông dân ta. Đáng kể là chị em đưa ra những thứ hàng ta cần như thuốc kháng sinh quý hiếm, hàng thiết yếu cho đời sống nhân dân, nguyên liệu cho công nghiệp, thủ công nghiệp, thuốc nổ cho công binh xưởng, và có cả súng đạn. Bọn lính đánh thuê cần tiền thì  đem súng đạn thành hàng lậu buôn bán… Chị em tiểu thương thiên biến vạn hóa, che mắt mật vụ, cảnh sát địch, chuyển hàng cấm ra ngoài. Khi bị lộ, chị em “dúi tay, đấm mõm” cho chúng, để hàng không bị mật và ra tới cơ sở. Chị em còn “mua” cả tiền Đông Dương để ta dùng vào những việc cần thiết… Một phần đáng kể hàng chiến lược từ vùng địch ra, được lên Việt Bắc cung cấp cho Trung ương. Anh em hậu cần trên ấy rất hoan nghênh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:57:55 pm »

KHU ỦY VÀ BỘ ĐỘI ĐỀU BIẾT ƠN NHÂN DÂN

Đồng chí Lê Quân, trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 (thuộc 320) đến báo cáo với bí thư Khu ỷ  Tả Ngạn về hoạt động của Trung đoàn dưới sự chỉ đạo của khu. Anh Quân kể lại những sự việc từ sau chống càn “Thủy Ngân”. Bác Hồ gửi thư khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn đã cùng bộ đội và du kích Tả Ngạn chống càn. Bộ tổng tư lệnh thưởng Huân chương Quân công hạng nhì cho Đại đoàn.

Bác Hồ gửi hai tấm thiếp, tặng Trung đoàn 48 bốn chữ “Giúp dân đánh giặc”, và tặng Trung đoàn 64 bốn chữ “Dũng cảm đánh hăng”. Bác còn hứa thưởng cờ cho hai trung đoàn đó. Cán bộ, chiến sĩ vui sướng chuyền tay nhau xem tấm thiếp, nghe nói tự tay Bác đánh máy.

Cuối tháng 4-1952, Đảng ủy Đại đoàn họp mở rộng nghiên cứu chỉ thị của Tổng quân ủy về “Hoạt động mùa hè và kiên trì để bộ đội chủ lực trong vùng địch”. Các Trung đoàn 48, 52 đều để bộ phận lớn ở lại Tả Ngạn, với nhiệm vụ: - Tiếp tục diệt sinh lực địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ mùa màng, củng cố vùng mới giải phóng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ thế uy hiếp mạnh sau lưng địch… Đại đoàn rút ra căn cứ ba tiểu đoàn để học tập, rồi trở về Tả, Hữu Ngạn, thay cho các tiểu đoàn khác lần lượt ra.

Trung đoàn 52 hoạt động ở Hưng Yên, Trung đoàn 48 hoạt động ở Thái Bình. Tiểu đoàn Tiên Yên phối hợp với bộ đội, du kích địa phương chống càn “Mưa Phùn”, rồi củng cố hầm hố, phá hoại cầu đường, bảo vệ khu căn cứ. Lúa chiêm chín, anh em bảo vệ dân gặt hái. Đại đội 749 (Tiểu đoàn Tiên Yên) cùng du kích vây đồn Cao Mại, không cho chúng ra phá phách, rồi phục kích ở cầu Bắc Trạch diệt một trung đội địch đến giải vây Cao Mại.

Cũng đại đội trên hành quân nhanh từ Tiền Hải lên huyện Thư Trì, đánh địch ở cầu Thẫm, diệt một trung đội địch, khiến cả hệ thống ven đường 10 co lại, để dân ra gặt lúa.

Tiểu đoàn Tiên Yên còn bao vây đồn Ngái, kết hợp đánh viện, bắt một trung đội ngụy.

Ở Thụy Anh, một bộ phận của Tiểu đoàn Kiên Trung phối hợp với bộ đội huyện diệt hai trung đội ngụy trên  đường 39 quãng đồn Kha Lý. Ba ngày sau, anh em lại diệt hai trung đội ngụy và một trung đội Âu - Phi trên đoạn đường đó.

Địch cay cú cho môt đại đội Commăngđô về đóng giữ. Tiểu đoàn Kiên Trung bí mật lội qua đồng nước vào làng An Bài, nơi địch đóng. Trinh sát viên Nguyễn Bẩm luồn vào bụi dứa, bám sát tên lính gác. Thấy lá sột soạt, tên gác thọc mũi lê vào bùi, trúng đùi Bẩm. Bẩm nghiến răng chịu đau, rồi đưa bộ đội vào, diệt cả đại đội địch.

Địch đưa thêm về Thụy Anh một đại đội hỗn hợp ngụy, Âu - Phi. Tiểu đoàn Kiên Trung phục kích diệt gọn, tạo điều kiện cho nhân dân đấu tranh chính trị, chống địch phá nhà, nhổ lúa, phát quan 300 mét trên đường 39.

Bí thư Khu ủy khen: - Trung đoàn 48 để lại hai tiểu đoàn đều có công đánh địch, giúp dân, thế là tốt. Đồng chí cho hay: - Khu còn được báo cáo của Trung đoàn 52 từ Hưng Yên về. Cùng một lúc, Tiểu đoàn Yên Ninh phối hợp với du kích đánh độn thổ và kì tập ba nơi: Phượng Tường, Cầu Ngàng, Đề Cần, bắt một đại đội công binh và một trung đội lính gác đường.

Bí thư rót nước cho Lê Quân vì thấy anh báo cáo đã khan giọng. Người trung đoàn trưởng này để lại ấn tượng đẹp trong bí thư, từ khi anh chỉ đạo đơn vị đánh địch ở làng Bích Du, chuyển quân, chuyển thương binh và hướng dẫn hàng mấy nghìn dân luồn vây, vượt bãi biển.

Lê Quân xúc động kể lại những điều không thể quên về sự giúp đỡ của đồng bào địa phương cho bộ đội chủ lực trong trận càn “Thủy Ngân”. Lần đầu tiên vào Thái Bình mới được vài tháng, số đông anh em quê ở khu Bốn không quen đường đi lối lại, bỗng bị càn lớn nên lúng túng. Ở huyện Thái Ninh, bộ đội bị càn, trong vòng vây to rồi rút lại trong vòng vây nhỏ, được du kích và bộ đội địa phương hướng dẫn đánh địch, phá vây, luồn càn. Dữ đội nhất là tại các làng Thần Huống, Bích Du, Vọng Hải… Bộ đội chủ lực được bảo toàn về cơ bản. Do đó, vừa thoát vây đã xốc ngay lại đội ngũ đánh tạt sườn hoặc sau lưng địch, diệt hàng đại đội Âu - Phi. Thương binh được bảo vệ và chuyển tải qua mé biển và vượt sông Trà Lý. Dân công đói khát vẫn đặt cáng trên vai, không để thương binh bị ướt. Đồng bào xã Đình Phùng (Kiến Xương) cõng 38 thương binh luồn khỏi vòng vây an toàn, trong đêm mưa rét, đường trơn, không để hương binh ngã và đau thêm. Chị Vũ Thị Rụt, du kích, lần lượt cõng bốn thương binh qua ba, bốn cây số và vượt sông Trà Lý. 30 thương binh nặng được các cụ, các mẹ đưa xuống hầm bí mật và chăm sóc chu đáo, bát cháo, ngụm nước. Những nơi hết hầm phải để anh em ở trên, thì nhờ các sư, các trùm họ đạo nhận là phật tử, giáo sĩ ốm đau… Ở vùng Trại Chè, Dương Liễu, du kích và nhân dân cho mượn thuyền, chở cơ quan đại đoàn qua sông Hồng an toàn, bí mật…

Anh Lê Quân tỏ lòng biết hơn Khu ỷ đã giáo dục nhân dân tình thương bộ đội, thương binh. Đồng chí bí thư Khu ủy nói: - Bộ đội do dân mà ra, chiến đấu vì dân nên dân thương mến giúp đỡ. Bác Hồ dạy chúng ta: “Ở đồng bằng các cô, các chú không có rừng cây nhưng có “rừng người”. Đúng thế, dân là nơi tin cậy, là chỗ dựa vững chắc cho chúng ta. Ta ở trong túp nhà giặc đốt ba bốn lần, dân phải ba bốn lần dựng lại. Ta ăn bát cơm do dân hai sương một nắng làm ra. Dân chỉ đường cho ta vượt sông sâu, bãi rộng đi đánh giặc. Dân đào hầm bí mật  bảo vệ ta khi bị thương, v.v. Tất cả những điều mà dân cho chúng ta không thể kể xiết. Do đó, bộ đội cùng khu ủy đều biết ơn nhân dân!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:58:42 pm »

PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG TÂY BẮC

Tháng 9-1952, Trung ương Đảng chủ trương tác chiến: “Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh”, và quyết định mở chiến dịch Tây Bắc. Nhận chủ trương, Khu ủy Tả Ngạn họp và ra nghị quyết: “Đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, mở rộng khu du kích và căn cứ du kích để phối hợp với chiến trường chính”. Anh Ngạn nhấn mạnh những công tác cụ thể: tiếp tục sẵn sàng chống càn; lợi dụng khi địch phải đối phó ở Tây Bắc, ra sức phá âm mưu “Bình định kiểu mới” của chúng ở Nhị Chiểu và đông Thanh Hà. Đồng thời làm tốt việc gặt vụ mùa, hoàn thành thuế nông nghiệp, chuẩn bị làm vụ chiêm 1953…

Cuối đợt hoạt động Thu - Đông 1952, anh Ngạn sang nơi làm việc của Bộ tư lệnh khu, xem xét hoạt động quân sự phối hợp với chiến trường Tây Bắc. Anh Miên báo cáo: - Ở Hưng Yên, Trung đoàn 42 liên tục phục kích các đường giao thông, hạ ba đồn lớn, nối liền khu đông Ân Thi với nam Bình Giang, bắc Thanh Miện, hình thành vùng căn cứ du kích liên tỉnh Hưng Yên - Hải Dương.

Anh Miên lược thuật trận đánh Đoàn Đào. Hai du kích Nguyễn Thị Bích, Nguyễn Thị Lĩnh giúp trinh sát Trung đoàn vào quanh đồn, sờ từng hàng rào, đo từng hào nước, khóa từng chốt mìn… Rồi trung đoàn phó cùng các tiểu đội trưởng đều vào trinh sát, nắm thực địa. Cán bộ đơn vị “đầu tầu” tự tay sờ vào lô cốt. Sâu sát trong điều tra, dũng cảm trong chiến đấu, Đại đội 200 bắn súng cối trúng địch. Chiến sĩ thi đua Đàm Minh Điện chỉ huy đơn vị làm tốt nhiệm vụ ở cửa vào đồn địch. Sau 10 phút, ta điệt và bắt 85 tên địch, thu 79 súng. Ta hai chiến sĩ hi sinh, sáu bị thương. Du kích địa phương phối hợp có hiệu quả, được Trung đoàn thưởng súng trường và nhiều lựu đạn. Hai nữ du kích trinh sát được bầu là Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh. Đây là trận đánh hay, ít tổn thất, tạo kinh nghiệm tốt trong chỉ huy, trinh sát và chiến đấu.

Cũng dịp này, Trung đoàn 42 còn diệt hai đại đội biệt kích ở La Tiến và Tranh Xuyên. Chưa kể những trận đánh phối hợp với quân dân Hưng Yên.

Ở Thái Bình, sự phối chiến với Tây Bắc cũng mạnh. Bộ tư lệnh khu điều thêm Trung đoàn 48 vào cùng Trung đoàn 52 (thuộc 320), hiệp đồng với các lực lượng vũ trang của tỉnh đánh địch. Mở đầu là bao vây đồng loạt 25 đồn. Trung đoàn 48 đánh phục kích bốn trận thắng lợi. Riêng trận ngã ba Dọ, đánh một tiểu đoàn địch cùng 23 xe tăng, xe bọc thép, diệt và làm bị thương 100 tên, phá 19 xe. Sau đó, bức hàng đồn Phương Xá, bắt Mai Đức Tín, phản động đội lột thầy tu. Du kích cũng tự lực vây đồn, bắn tỉa khi địch lấp ló trong đồn; đặt chông, mìn sát cổng đồn, vào hàng rào gỡ mìn. Du kích Bùi Thị Phí có đêm gỡ hơn chục quả mìnở đồn Gọ. Đợt này, ba thứ quân ở Thái Bình diệt và bức rút chín đồn địch.

Ở Hải Dương, ba thứ quân phá “Bình định kiểu mới” của địch ở đông Thanh Hà và khu Nhị Chiểu (Kinh Môn), khiến chúng bớt phá phách.

Ở Kiến An, bộ đội tỉnh, huyện và du kích có bước chuyển rõ rệt trong đợt này: đánh 61 trận lớn nhỏ, diệt 300 tên địch, bắt 17 tên, diệt năm đồn, lật đổ sáu đầu tàu và 58 toa. Căn cứ du kích hai huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo mở rộng ra 35 xã. Cơ sở kháng chiến phát triển mạnh trong vùng địch tam chiếm. Những nơi trước đây cơ sở yếu hoặc chưa có như vùng ven thị xã, sân bay, nay ta có thể vào ém quân để hoạt động quân sự…

Nghe xong, anh Ngạn nhận xét: - Thu - Đông này, quân dân Tả Ngạn lập công lớn, phối hợp có hiệu quả với chiến trường Tây Bắc, góp phần phá cuộc hành quân “Loren” của địch với ba GM lên Phú Thọ. Bộ đội chủ lực qua chỉnh huấn chính trị, rèn luyện chiến thuật, kĩ thuật, đã thắng từ nhỏ đến lớn, từ phục kích đến công kiên, kết hợp mưu trí với dũng lực, làm nòng cốt cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá tan âm mưu “Bình định kiểu mới” của địch, mở thêm vùng du kích, bảo vệ và mở rộng các căn cứ du kích. Như vậy là khu ta đã góp phần thực hiên ba nhiệm vụ: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta và phá kế hoạch bình định của giặc, tạo ra thế mới, lực mới, để tiến lên giành thắng lợi mới lớn hơn.

Tiếp đó, anh nêu câu hỏi: - Nhiệm vụ Xuân - Hè 1953 tới của ta là gì? Rồi tự giải đáp ngay: - Theo quy luật, khi chiến trường chính của ta kết thúc đợt hoạt động, địch sẽ trở lại càn quét đồng bằng. Trận địa chính của chúng là ở đây. Ta phải gấp rút chuẩn bị đối phó. Có thuận lợi à các lực lượng vũ trang ta được tăng cường và nhiều thử thách, giàu kinh nghiệm chiến đấu. Song có khó khăn là vụ mùa này sút kém vì sâu bệnh phá hoại, tháng ba tới sẽ thiếu đói, ta phải ra sức bảo vệ số lương thực còn lại và giúp dân làm tốt vụ chiêm 1953. Địch sẽ còn cướp người, cướp của, ta phải chống càn mạnh mẽ để phá âm mưu mới của chúng.

Chờ anh Miên ghi xong, anh Ngạn lại hỏi: - Khu ta có nên xây dựng thêm một trung đoàn chủ lực nữa không?

Lại một câu hỏi đột ngột, anh Miên nhìn bí thư Khu ủy như để hỏi lại cho rõ hơn. Riêng anh chưa hề nghĩ tới. Bí thư vẫn chăm chú nhìn thẳng vào mắt anh, chờ trả lời.

Suy ngẫm một lcú, anh Miên báo cáo: -Mấy năm trước, khi Trung đoàn 64 chưa đi làm nòng cốt cho Đại đoàn 420 thì Liên khu III có ba trung đoàn (42, 64, 46). Vài năm gần đây ở Tả Ngạn và Hữu Ngạn mỗi nơi một trung đoàn. Có thêm các trung đoàn của 320 khi qua khi lại. Lúc không có địch càn và lúc phối hợp với chiến trường chính, thì quân chủ lực ở Tả Ngạn đủ sức làm nhiệm vụ. Song khi phải chống càn lớn, các trung đoàn của 320 di chuyển sang Hữu Ngạn rồi phối hợp chống càn từ bên ấy, thì bên đây chỉ có Trung đoàn 42. So với lực lượng địch tập trung cao, càn quét lớn thì lực lượng ta mỏng, yếu. Nếu có thêm một trung đoàn nữa chắc chắn là tốt, nhưng phải lo điều kiện vật chất, vũ khí, quân trang, quân dụng…

Bí thư gật đầu: - Đúng, phải lo thêm điều kiện vật chất. Quân và lương, không lo thiếu. Tôi sẽ đưa vấn đề này ra bàn với Khu ủy, chắc chắn được nhất trí cao. Tiết kiệm bộ máy dân sự thì có thể được, chứ không thể tiết kiệm lực lượng chiến đấu, khi địch ngày càng coi Tả ngạn là chiến trường chính. Lại phải trù tính khi Trung ương điều một bộ phận hoặc cả Đại đoàn 320 đi mở chiến dịch nơi khác. Tôi sơ bộ trao đổi ý kiến với các anh trong Bộ tư lệnh: Trung đoàn 42 sẽ phải cử một tiểu đoàn chủ công sang làm nòng cốt cho trung đoàn mới, cả người và vũ khí trang bị. Rồi anh em vừa đánh vừa lấy vũ khí địch trang bị cho mình. Anh thấy được không?

Nhận ý kiến của bí thư Khu ủy, anh Miên bàn bạc với tham mưu phó Nguyễn Sáng, dự thảo kế hoạch Xuân - Hè 1953 dựa vào Nghị quyết Bộ Chính trị và chủ trương tác chiến, trong đó giao cho Liên khu III và khu Tả Ngạn đánh mạnh, tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh phá giao thông thủy, bộ và sân bay. Anh Ngạn nhất trí với kế hoạch trên và nêu ý tưởng: - Tả Ngạn có sân bay Cát Bi. Cần xúc tiến xây dựng cơ sở, tạo bàn đạp, tạo điều kiện để đánh khi đủ điều kiện.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2009, 03:59:36 pm »

VẠCH MẶT BỌN BÙ NHÌN

Anh Phạm Gia Tuân tổng hợp tình hình hoạt động của bọn bù nhìn Bảo Đại trên địa bàn Tả Ngạn. Thực hiện chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt”, từ giữa năm 1948, Pháp đã cho Bôlae (Cao ủy Đông Dương) kí với Bảo Đại một văn bản về việc Pháp “công nhận nền độc lập của Việt Nam”. Ở Tả Ngạn, hệ thống ngụy quyền bù nhìn dần dần được sắp xếp, Vũ Trọng Kỳ làm tỉnh trưởng Hưng Yên, Hà Bỉnh Quân làm tỉnh trưởng Thái Bình… Cuố năm 1949, quân Pháp càn tới đâu, hội tề làng xã mọc lên tới đó. Bọn chúng chuyên lo bắt phu, thu thế, bắt lính, làm thẻ ảnh… theo lệnh của Pháp. Mặt khác, chúng lừa phỉnh nhân dân, trương chiêu bài “Quốc gia độc lập”, đề cao “quốc trưởng Bảo Đại”, phân phát hàng “viện trợ Mỹ”. Mở cuộc kinh lí của Nguyễn Văn Tâm (đại diện Bảo Đại) về Duyên Hà ve vãn sau trận càn “Trái Quít”. Trước một đám người già rầu rĩ, trẻ con nhem nhốc, y ba hoa: “Quân đội Liên hiệp Pháp cùng quân đội quốc gia về giúp dân chống Việt Minh thắng lợi”. Một ông già đứng gần y, hỏi: - Các quan chỉ chống Việt Minh thôi ạ? Y đáp: - Đúng! Ông già lại hỏi: - Con bò nhà tôi không phải Việt Minh sao các quan cũng bắt! Mọi người cười ồ.

Chúng  còn đưa Nguyễn Hữu Trí (thủ hiến Bắc Việt) về thị xã Thái Bình “khuyến dụ đồng bào”. Máy bay Pháp rải truyền đơn có hình Bảo Đại và “lời kêu gọi” của y. Rải tờ rơi có hình trung tướng Nguyễn Văn Hinh, bù nhìn chỉ huy quân đội quốc gia: “Ai giữ giấy này thì Tây không bắt…”.

Để tỏ ra tin cậy ngụy quân, Pháp giao cho viên quan năm ngụy Dương Quí Phan, đứng đầu séctơ Hưng Yên, thay cho một viên quan Pháp. Nguyễn Hữu Trí ra công văn thi hành lệnh tổng động viên của Bảo Đại, bắt thanh niên đi lính cho Pháp. Tên này cón tới Kẻ Sặt (Hải Dương), Thân thượng (Thái Bình) đôn đốc lập “đại xã” (khu tập trung dân). Gần đây, Pháp còn giao cho Trí cùng tướng Đờ Linarét lập đội “Quân thứ hành chính lưu động” (gọi tắt là “gamô”) theo quân GM sau mỗi trận càn, giở trò lừa phỉnh nhân dân, như tiến hành ở đông Thanh Hà và khu Nhị Chiểu (Kinh Môn)…

Anh Tuân còn đưa ra mấy tờ báo phát hành ở Hà Nội, Hải Phòng, in ảnh mấy tên “gamô” chơi bóng chuyền cùng trẻ con, với lời ghi “Quân dân đoàn kết”, ảnh vài tên “gamô” nữ nhi nhảnh nâng cánh tay bà già, với lời ghi “Giúp đỡ đồng bào”, và ảnh chúng nhỏ thuốc vào mắt mấy bàn nông dân bị bệnh lông quặm…

Anh Ngạn xem rồi đập đập bàn tay vào tờ báo, nói với anh Tuân: - Bọn bù nhìn từ trên xuống dưới này đươc Pháp sử dụng khá tích cực đấy. Hàng vạn lính ngụy, hàng mấy trăm ban tề, nhiều lúc làm việc rất đắc lực cho Pháp. Hồi đen tối 1950, chỉ cần mỗi làng vài tên tề ác, mươi lăm tên hương dõng năng nổ, là chúng nắm được quyền cai trị dân, phá cơ sở kháng chiến, giết cán bộ đảng viên… Song do chúng ác nên nhân dân căm ghét, nổi lên phá tề, đánh dõng, đánh ngụy… Nay chúng dùng bọn “gà mờ” đi ve vãn, dùng viện trợ của Mỹ để mua chuộc; dùng báo chí hình ảnh để lừa bịp nhân dân, nhằm thực hiện “Bình định kiểu mới”, như ở Thanh Hà, Kinh Môn, ta không thể coi thường… Để chống lại chúng, cần tích cực thực hiện những việc đã đề ra, đồng thời ngành Tuyên truyền báo chí phải tăng cường hoạt động. Báo Cứu quốc Tả Ngạn, các tờ tin của tỉnh, của trung đoàn cần thường xuyên vạch trần chính sách “Dùng người Việt đánh người Việt”, vạch mặt những kẻ làm tay sai cho Pháp, chỉ rõ những trò ve vãn, mua chuộc, lừa phỉnh của chúng. Đừng để nhân dân ta mư hồ, ngộ nhận bọn chúng.

Thực hiện ý kiến của bí thư Khu ủy, ngành Tuyên truyền báo chí khu và tỉnh Hải Dương tăng cường hoạt động, góp phần chống “Bình định kiểu mới”. Số anh em tạm rời đông Thanh Hà rút sang bên kia sông Ruột Lợn, nay qua mùa mưa rào nước lũ đã trở về bám đất,bám dân, hoạt động trong lòng địch. Một bộ phận của Trung đoàn 42 cùng các đại đội của tỉnh, huyện và du kích đẩy mạnh chiến đấu. Ngày 25-10-1952, Đại đội 77 (Hải Dương) diệt và bắt sống một đại đội “gamô”, thu súng đạn, đàn sáo, thanh la, chũm chọe… Nhằm phối hợp với chiến dịch Tây Bắc. Bộ tư lệnh Tả Ngạn chỉ đạo toàn khu đánh mạnh. Bộ đội tỉnh Hải Dương cùng bộ đội huyện Chí Linh diệt 160 tên địch khi chúng đi càn nhỏ. Các huyện khác cũng đẩy mạnh hoạt động, tiếp cận thị xã Hải Dương và séctơ Kẻ Sặt. Khôi phục các khu du kích đông bắc Bình Giang, tây bắc Ninh Giang, diệt “điểm rắn” Bến Trại. Căn cứ du kích Hải Dương mở rộng, nối liền với bắc Thái Bình, đông nam Hưng Yên thành một vùng rộng.

Thế là cuối tháng 11-1952, địch phải bỏ cuộc “Bình định kiểu mới”, rút hết quân khỏi Thanh Hà cũng như Nhị Chiểu (Kinh Môn). Cuộc càn “Rắn Độc” định kéo dài 18 tháng nhưng mới được năm tháng đã chấm dứt. Sau đó, Khu ủy Tả Ngạn nhận xét: “Hải Dương đã chỉ đạo các huyện Thanh Hà, Kinh Môn căn bản phá tan kế hoạch bình định của giặc. Thắng lợi này có ý nghĩa chiến lược”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:04:41 am »

ĐOÀN KẾT LƯƠNG GIÁO, CHỐNG KẺ PHẢN ĐỘNG

Tháng trước, anh Lê Tự, bí thư tỉnh ủy Thái Bình, báo cáo với Bí thư Khu ủy về tình hình địch lợi dụng đạo Thiên chúa chống ta. Năm 1950, chúng biến 77 nhà thờ trong tỉnh thành đồn bốt, bắt hàng nghìn giáo dân làm vệ sĩ, ngụy binh. Đến giữa năm 1952, ta giải phóng được 41 nhà thờ với sáu vạn giáo dân. Trước thất bại đó, địch tìm cách đối phó. Chúng lôi kéo giáo dân làm chỗ dựa cho chúng. Đôlây định lập một tổ chức gọi là đảng “Xã hội công giáo” để tập hợp bọn phản động chống kháng chiến; lập một mạng lưới do thám; tuyển một số lớn ngụy quân, dùng giáo lí và văn hóa mê hoặc giáo dân.

Thực hiện âm mưu trên, nhóm linh mục do Trần Chấn Chỉnh (xứ Cổ Việt), Lê Quang Oánh (xứ Thân Thượng) cầm đầu trong vùng địch chiếm, lung lạc giáo dân. Để có một chức dânh dễ nghe, Chỉnh xưng là “Trưởng ban cứu tế nạn nhân chiến tranh”, thực tế y cầm đầu hệ thống mật vụ. giám mục Uybécna Ninh (giáo phận Thái Bình) viết thư luân lưu cấm giáo dân tham gia kháng chiến. Vượt khôn khổ tôn giáo, họ xin Pháp cấp nhiều súng đạn cho vệ sĩ, cho nhiều dây thép, xi măng, rào giữ nhà thờ. Cấp lương cho vệ sĩ 500 đồng Đông Dương một tháng. Gia đình ngụy binh và vệ sĩ tử vong được nhận hàng viện trợ Mỹ; cho vệ sĩ được truy lĩnh lương từ khi ta bắt đến khi tha… Để gây thanh thế cho bọn tay chân, Đôlây sẽ về kinh lí giáo phận Thái Bình.

Nghe báo cáo xong, anh Ngạn hỏi: - Âm mưu của chúng nham hiểm, Thái Bình đối phó thế nào? Anh Lê Tự trình bày: - Chúng tôi sẽ đẩy mạnh tuyên truyền giải thích, để giáo dân và tu sĩ thấy âm mưu địch một cách có hệ thống, tránh lầm lạc. Chú trọng lớp giáo dân nghèo, cải thiện phần nào đời sống cho họ, bằng tạm cấp, tạm giao ruộng đất, giảm tô tức, để họ thấy thực sự không phân biệt đối xử. Mặt khác kiên quyết trừng trị bọn phản động ngoan cố, nhiều tội ác; trung lập hóa bọn lừng chừng, lôi kéo những người có xu hướng độc lập dân tộc. Trước mắt, phá cuộc kinh lí của Đôlây, ngăn chặn việc loan truyền thông điệp của y.

Anh Ngạn ngẫm nghĩ rồi nói: - Các đồng chí đã có một kế hoạch tương đối sát hợp, qua thực hiện sẽ bổ sung thêm. Điều cần quan tâm là phải chỉ đạo sát để các huyện, xã làm đúng. Muốn vậy phải có thực tâm cảm hóa giáo dân, nhất là những người nghèo khổ. Họ chiếm đại đa số, nếu hiểu ta, thì họ sẽ làm giảm tác hại của âm mưu địch. Phải làm cho giáo dân hiểu: địch mốn cướp nước ta bằng việc bắt con em họ cầm súng chống lại kháng chiến, giết hại đồng bào. Ta thực tâm đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo, thực tâm mở đường cho những ai lầm lạc trở về làm ăn lương thiện, yêu nước kính chúa. Cần giáo dục cho cán bộ và dân lương tránh kì thị những người lầm lạc trở về. Phải coi giáo dân như mọi người dân khác. Ta có chính nghĩa nhất định sẽ thanh thủ được giáo dân. Nói bám dân, giữ dân là phải nói cả dân lương, dân giáo…

Lĩnh hội ý kiến của bí thư Khu ủy, anh Tự về tỉnh tổ chức thực hiện với nhiều việc cụ thể.

Được biết bọn Trần Chấn Chỉnh có một chương trình nghênh tiếp Đôlây, với dự tính 60.000 đồng Đông Dương. Giám mục Uybécma Ninh thông đạt cho 48 giáo xứ và trường tiểu chủng viện Cát Đàm, đưa bốn vạn con  chiên lên thị xã đón khâm mạng… Ban Chỉ đạo chống địch lợi dụng  tôn giáo của tỉnh liền hướng dẫn tẩy chay cuộc kinh lí của Đôlây. Trong thị xã Thái Bình nổi lên sự bàn tán: “Đức khâm mạng làm việc chúa mà ngồi máy bay của Pháp thì nói năng, làm ăn thế nào?”. Có người bạo miệng hơn: “Khâm miệng về răn bảo con chiên đi lính chống Việt Minh đấy! Đánh thuê cho Pháp bị bắt hàng lũ như ở Phương Xá còn chưa đủ sao?”. Lại có sự tai nghe mắt thấy là tối tối Việt Minh hành quân khiêng súng rầm rập quanh vùng ven thị, và tin Việt Minh phục kích đường 10, đường 218, khiến quân Pháp cũng lo, đề phòng bộ đội chủ lực đánh vào thị xã…

Hôm đón khâm mạng, ban lễ tân của giáo hội sốt ruột khi thấy giờ chót chỉ có gần 1.000 người, chứ không phải bốn vạn như dự định. Các chức sắc tôn giáo, đại diện ngụy quyền tỉnh có mặt nhưng kém vui. Giáo dân mải ngắm máy bay hơn là ngắm đấng bề trên. Sau mấy phút chào hỏi ở sân bay, Đôlây lên xe vào nhà thờ thị xã. Không trải chiếu hao đi bộ, vì hai bên đường không đủ giáo dân làm hàng rào người hộ vệ.

Khi Đôlây ở đây, dân thị xã vẫn rì rầm bàn tán: “Ngài là nhân viên mật vụ của Mỹ, sang đây để giúp Pháp ve vãn con chiên chống kháng chiến…”. Nhiều cửa hiệu đóng cửa, rục rịch dồn bao gói đi tản cư. Chợ búa, bến thuyền thưa thớt. Những bà mẹ, người vợ lính ngụy tử vong đội khăn tang đến khóc lóc, xin đức khâm mạng trợ cấp… Thực  trạng đó khiến Đôlây phải kết thúc cuộc kinh lí, sau khi gặp gỡ bọn Ninh, Chỉnh bàn những việc làm ngoài giáo lí.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:05:49 am »

KHÔNG CHE SAI, GIẤU DỐT

Khu ủy Tả Ngạn họp kiểm điểm sự lãnh đạo của khu trong năm 1952. Sau khi xem xét, đánh giá tình hình chung, cuộc họp nghe đồng chí bí thư đọc bản tự phê bình của Khu ủy. Đồng chí mở đầu: - Phê bình, tự phê bình là động lực phát triển của mỗi tổ chức, mỗi con người. Phê bình cần khách quan, đối với người khác cũng như với mình. Phải chỉ ra được ưu điểm để phát huy và khuyết điểm để tránh. Không che sai, giấu dốt. Nói thật không sợ mất lòng. Chỉ có những ai sợ sự thật mới không dám phê bình và tự phê bình. Sợ phê bình như người có bệnh không dám kể ra, để bệnh ngày càng thêm nặng, cơ thể suy sụp, khó cứu chữa. Phê bình thành thực để hiểu nhau, tin nhau, giúp nhau, đoàn kết tiến lên. Mỗi người tến, cả tập thể tiến thì phong trào chung sẽ tiến, đưa kháng chiến tiến lên nhiều thắng lợi mới.

Sau khi kiểm điểm cụ thể về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế của khu, đồng chí bí thư rút ra những ưu điểm chính về sự lãnh đạo: - Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm, đẩy mạnh được đấu tranh; - Coi trọng sản xuất nông nghiệp, đảm bảo đời sống nhân dân và nguồn lực kháng chiến; - Đối phó kịp thời với những âm mưu mới của địch; - Sát dưới, nắm được tình hình mọi mặt… Và những khuyết điểm chính: - Nhẹ về chỉ đạo xây dựng Đảng; - Nặng tác chiến, nhẹ xây dựng lực lượng; Công tác lãnh đạo tư tưởng yếu; - Nhẹ về chỉ đạo vùng địch tạm chiếm…

Sau khi chỉ rõ những ưu điểm của các tỉnh, đồng chí bí thư phê bình:

+ Kiến An: - Phá các trại tập trung thanh niên bằng quân sự đơn thuần, nhẹ tuyên truyền vận động nên thất bại, sau đó lại không tiếp tục phá; - Huy động nhân lực đào sông, xây cống không trả thù lao nên ảnh hưởng tới đời sống dân; - Bao vây kinh tế máy móc, cắt đứt sự lưu thông thương mại giữa vùng địch và ta, thiệt cho nông dân về bán nông sản…

+ Hải Dương: - Phán đoán chủ quan, cho các trận càn “Cá Măng”, “Rắng Độc” ngắn ngày nên thiếu chuẩn bị tư tưởng cho nhân dân đối phó; - Nhẹ chỉ đạo sản xuất nông nghiệp; - Chỉ đạo chống đói tháng 8- 1952 chậm chạp.

+ Hưng Yên: - Nội bộ lủng củng giữa cấp ủy với các ngành; - Chưa chú trọng công tác thị xã; - Coi nhẹ vận động giáo dân; không nắm vững trọng tâm khi thi hành nghị quyết.

+ Thái Bình: - Bị phú nông, địa chủ lừa trong thuế nông nghiệp, chỉ đóng phần nào đã tưởng họ chấp hành; - Thiếu quan tâm đời sống quần chúng trong việc đào sông, đắp đê; - Chưa nghiêm chỉnh chấp hành chính sách tài chính, lạm dụng, vượt chi…

+ Hải Phòng: - Thiếu cảnh giác, phòng gian bảo mật kém, vỡ nhiều cơ sở quan trọng; - Sơ hở trong việc nắm ngụy quyền, để địch thấy bàn tay điều khiển của ta…

Bản báo cáo cũng phê bình Trung đoàn ủy 42 và các ngành, đoàn thể cấp khu.

Đồng chí bí thư Khu ủy yêu cầu các tỉnh lãnh đạo phê bình nghiêm túc trong tỉnh ủy và các huyện, thị ủy…, chống phê bình xuê xoa “dĩ hòa vi quí”, tránh băm bổ “đao to búa lớn”, làm giảm ý nghĩa và tác dụng của phê bình.

Lần đầu tiên các bí thư tỉnh ủy, trung đoàn ủy, các trưởng ngành, trường đoàn thể nghe phê bình công khai, trung thực, vô tư, thấy có làm theo và có ích.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:07:32 am »

XEM VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG

Một đơn vị bộ đội huyên liên hoan văn nghệ, họ ở cách cơ sở chúng tôi không xa. Cấp dưỡng Nghị có máu văn nghệ tới thăm dò, biết tối nào diễn còn góp tiết mục. Ông ta sang Văn nghệ tỉnh xin được bài độc tấu “Táo Quân về bếp”, vừa thổi cơm vừa nhẩm học.

Lúc này vùng căn cứ được củng cố, thóc mùa đã phơi săn đổ bồ. Tết đến càng khiến người ta náo nức. Bộ đội liên hoan để giữ quân ở đơn vị, kẻo họ lẻn về nhà.

Chúng tôi theo anh Ngạn họp ở làng bên, trở về gặo lúc đang diễn văn nghệ. Anh Ngạn bảo: - Rẽ vào xem anh em hát múa thế nào?

Tới nơi, không thấy sân khấu. Người xem quây quanh chiếc sân gạch rộng nhà ông chánh Củng, nhìn chăm chăm vào giữa sân là nơi biểu diễn.

Anh bộ đội giới thiệu chương trình với giọng nói có duyên, vừa trịnh trọng vừa dí dỏm: - Xin giới thiệu tiết mục “Gà trống, gà mái chửi… Tây”, do A3 biểu diễn!

Gà trống khoác áo tơi lá cọ, đầu đội mũ giấy, mào đỏ chót, mỏ vàng khè, chan đi dép lốp, vừa lom khom bước vừa kêu “Túc… túc…” gọi gà mái.

Gà mái chậm chạp khoác áo tơi ra. Gà trống mổ mổ xuống đất ra vẻ tìm được mồi, gọi gà mái tới. Gà mái vội vã chạy lại, không thấy mồi mà lại bị anh bạn gạ gẫm. chị ta vội tránh ra một bên. Anh ta không đạt ý muốn, liền ngỏng cổ, vỗ cánh áo tơi phạch phạch, cất giọng gáy: - Cu cù cù cú cu… cu… - Cha thằng Đờ Tátxinhi… i… i…

Chị mái nghe giọng gáy có vẻ bực tức, cũng nghển cái đầu có mào và mỏ vùng nghệ, kêu - cục ta, cục tác! Xa lăng, sa lăc…

Thế là người xem vỗ tay ào ào. Tôi thấy anh Ngạn cũng cười.

Người giới thiệu hồ hởi bước ra, giọng tự tin hơn: - Tiết mục “Táo quân về bếp”, độc đáo do thanh niên địa phương trình diễn!

Cấp dưỡng Nghị mượn được cái mũ sắt chiến lợi phẩm, cắt giấy dính làm hai ta mũ, đội xùm xụp trên đầu; cái thân gày xúng xúng trong tấm áo the cũ mượn của ông chủ. Mặc quần đùi, chân đi ủng cao su, theo hình mẫu Táo Quân truyền thuyết “Đội mũ, đi hia chẳng mặc quần”. Anh ta ra giữa sân vể oai nghiêm, cất giọng tấu như rót từng tiếng vào tai mọi người:

Hai mươi ba tết lên trời. Ba mươi về bếp
Ta là Táo Quân, vua của từng nhà
Được Ngọc Hoàng khen: dũng cảm xông pha
Vượt máy bay Tây, bay lên thượng giới!


Tiếng đế: Thế rồi sao?

Táo: Rồi nghe ta tâu cáo việc trần gian
Năm Nhâm Thìn khá hơn năm Tân Mão
Trung đoàn 64 qua bến đò Nhật Tảo
Phá đồn Tây, mở cống Đào Thành


Đế: Phá đồn Tây, mở cống Đào Thành, rồi sao nữa?

Táo: Đại đoàn 320 vào đất Thái Bình
Phá đồn La Cao, bắt Tây “mặt ngựa”
Khu căn cứ thênh thang rộng mở
Tướng Xàlăng như bị búa phang đầu


Đế: Tướng Xàlăng như bị búa phang đầu, thế còn tướng khác?

Táo: Đờ Linarét rụng tóc phò râu
“Thủy Ngân” đổ, “Lạc Đà”gãy cẳng
Quân chết, tướng thua, mấy phen quáng quàng
Ngọc Hoàng vỗ đùi, chê bọn Pháp là ngu!


Cả sân lại rộn tiếng cười và vỗ tay: Người giới thiệu càng tươi tỉnh hơn: - Hát xẩm “Chồng em” do B2 biểu diễn.

Một anh chiến sĩ không còn trẻ, đóng giả nữ, khăn vuông đen, váy nái, tay kéo nhị, chân gõ phách, gân cổ nổ lên, giọng thuốc lào khè khè:

Cái thằng chồng em nó chẳng ra gì
Nhà cao cửa rộng nó thì vào ra
Mặc ai tiền tuyến xông pha tháng ngày
Lấy phải chồng hèn, em không cắn ớt mà cay!


Chúng tôi xem hết chương trình biểu diễn văn nghệ mới ra và. Anh Ngạn vừa đi vừa bảo tôi: - Văn nghệ quần chúng, cây nhà lá vườn, có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ. Anh em vừa đánh giặc vừa ca hát, được thế là khá. Chưa hay nhưng vui!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:08:09 am »

ĐỊCH LẠI CÀN “CON SÂU”, “CON CÓC”

Năm 1952 vừa được tính sổ thì việc năm 1953 đã đến. Anh Miên báo cáo bí thư Khu ủy: - Địch cho các GM 3, 4, 5 và bốn tiểu đoàn pháo binh mở cuộc càn “Con Sâu” (Actoa). Bắt đầu từ 16-1-1953 đánh các huyện Đông Quan, Quỳnh Côi, Phụ Dực. Cách đánh của địch thay đổi: không bao vây rộng, chỉ tiến dọc các quốc lộ, tỉnh lộ, đánh phá các làng ven đường, nhằm xua giãn các lực lượng ta, giải vây, tiếp tế cho các đồn bốt. Nếu gặp hoặc thấy dấu hiệu bộ đội chủ lực ta ở gần đó thì nhanh chóng bao vây và dùng máy bay, đại bác bắn phá mạnh. Quân của chúng đóng ở nơi tiện cơ động, thường nghi binh làm lạc hướng theo dõi của ta.

Ba thứ quân của ta chưa biết cách đánh của chúng thay đổi, nên thận trọng áp dụng cách chống càn sẵn có. Sự dè dặt dò xét của ta dẫn tới thiếu tích cực tiến công hoặc luồn càn, nên địch đã khép kín vòng vây ở một số xã thuộc Phụ Dực, bắt hai nghìn thanh niên.

Sau bốn ngày ở vùng trên, địch lại mở trận càn “Con Cóc” (Cơrapô) vào hai huyện Kiến Xương, Vũ Tiên. Chúng tiến theo các đường 10 và 39, cách đánh cũng như trận “Con Sâu”. Khi ta phát hiện được điểm yếu của địch: không có hỏa lực mạnh yểm hộ thì không dám tiến quân; không rải mỏng lực lượng… ta đã luồn tránh chỗ địch mạnh, đánh vào chỗ yếu, chỗ sơ hở của chúng để bảo toàn lực lượng minh. Địch càn ở phía nam tỉnh thì ở phía bắc Tiểu đoàn Đống Đa (thuộc 320) đánh chi khu quân sự Quỳnh Côi, một đại đội địch ra hàng. Vài ngày sau, Tiểu đoàn 705 bộ đội tỉnh đánh quận lị Quỳnh Côi và đồn Bạch Linh, chúng phải rút chạy. Bộ đội huyện và du kích đánh nhỏ ở những nơi chúng càn. Ba ngày sau trận “Con Cóc”, địch phải rút số đông đi nơi khác, rồi nửa tháng sau, rút hết quân cơ động.

Anh Ngạn hỏi: - Sự phối hợp của các tỉnh chống hai cuộc càn trên thê nào? Anh Miên báo cáo:

- Ở Hưng Yên, Trung đoàn 42 diệt đồn Cầu Tràng, một điểm khó đánh; mở rộng và nối liền căn cứ du kích của hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, thành vùng căn cứ bắc sông Luộc. Căn cứ này lại nối vùng nam sông Luộc thành một địa bàn rộng lớn, liên hoàn.

- Ở Hải Dương, Trung đoàn 42 cùng lực lượng vũ trang địa phương diệt và bức rút bảy đồn địch vào thời gian này. Có trận đánh hay là tổ bộc phá do Trịnh Công Khương chỉ huy và trinh sát Phạm Văn Vách dẫn đường, đánh vào bến tàu địch ở Lộng Khê (Ninh Giang). Trung đoàn phó trực tiếp chỉ đạo trận này, từ các khâu trinh sát thực địa, chọn cán bộ chỉ huy, chọn chiến sĩ, đến khâu tập đánh bộc phá dưới nước, bơi không tiếng động, không nổi sóng, dụ một tạ thuốc nổ không để ướt. Uống nước mắm để chống rét khi bơi lâu dưới nước.

Khi tổ bộc phá bơi từ xa vào bến, lại nhận thấy tàu và ca nô đậu quay mũi ra sông. Đánh vào mũi tàu để kịp rút nhanh thì hiệu quả thấp. Trung độ trưởng Khương liền ém bộc phá vào giữa khoang lái tàu, chờ đồng đội ra tới chỗ an toàn, anh mới điểm hỏa và bơi ra sau. Kết quả: chìm một tàu chiến và bốn ca nô, làm sập cả hai công sự phòng vệ trên bến, diệt 30 lính, phá bảy khẩu pháo 75, 40 và 20 li.

Trận này khiến địch sợ hãi, vì một căn cứ được phòng thủ nghiêm ngặt mà vẫn bị đánh. Ta thắng lợi lớn mà không thương vong.

Anh Ngạn khen “giỏi”, rồi nhận xét: Đấy là thêm một tiền đề cho cách đánh phá hoại lớn mà ta rất cần trong thời gian tới. Đồng chí Trịnh Công Khương là một gương sáng, tích cực tiến công địch, dũng cảm, linh hoạt xử lí trước tình huống nguy hiểm, nhận việc khó để bảo vệ đồng đội. Cần đề nghị Trung ương khen thưởng kịp thời và nêu gương để bộ đội noi theo.

Nhắc lại hai trận càn “Con Sâu” và Con Cóc”, anh Ngạn nói: - Hai trận càn này có hai nét khác nhau. Trận trước, ta chưa thấy nhược điểm của chúng, nên đã thiệt hại trong vòng vây nhỏ Phụ Dực. Trận sau, ta kịp thời đánh ngay ở nơi chúng vừa càn, và biết luòn tránh ở nơi đang càn, nên giảm thiểu tổn thất. Sự linh hoạt của ta khi xem xét về địch và chuyển hướng cách đánh là đáng ghi nhận. Sự phối hợp nhanh và có hiệu quả của Trung đoàn 42, của Hưng Yên, Hải Dương là đáng biểu dương. Mặt khác, ta thấy hai trận càn này của địch là hành động vội vã, chắp vá. Nhưng nhìn chung, địch vẫn còn tiềm lực không nhỏ. Chúng còn có thể càn to, vây rộng. Ta phải chuẩn bị tinh thần và lực lượng để đối phó, tuyệt đối không  được chủ quan!

Tiếp đó, anh Ngạn thông báo: - Khu ủy đã ra nghị quyết về thành lập trung đoàn mới của khu, phiên hiệu là 50. Chỉ định các đồng chí Nguyễn Tiệp làm trung đoàn trưởng, Hùng Lân, chính ủy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:08:47 am »

TẬP KÍCH THỊ XÃ KIÉN AN

Bộ tư lệnh khu Tả Ngạn nghe đồng chí Đặng Kinh, tỉnh đội trưởng Kiến An, báo cáo kế hoạch tập kích thị xã Kiến An, vùng địch chiếm. Nơi đây cách thành phố Hải Phòng tám kilômét. Có cơ quan đầu não ngụy quyền tỉnh, có 17 đồn, trại. Ở trại Pháo thủ có 28 bồn xăng dầu, kho đạn. Ở kho Quy Tức có 60 gian khoét sâu vào sườn ní, chứa bom và đạn đại bác. Ở đền Sùng có một đại đội biệt kích commăngđô. Ngày ngày, cảnh binh kiểm soát người ra vảo thị xã. Mật vụ len lỏi trong các đường phố và làng xóm ven thị, nghe ngóng hoạt động của ta. Đêm đêm, xe tăng, xe cơ giới tuần tra. Đèn pha trên các điểm cao sáng quắc. Địch luôn luôn càn quét các làng ngoại thị, phá cơ sở của ta. Theo chỉ đạo của Khu ủy và Bộ tư lệnh khu đẩy mạnh hoạt động ở vùng địch chiếm, tỉnh ủy Kiến An và huyện ủy An Lão coi trọng việc xây dựng cơ sở vùng ven thị, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chính trị, quân sự. Tỉnh đội coi thị xã là mục tiêu tập kích.

Mấy tháng nay, anh em trinh sát lấy các cơ sở năm xã ven thị làm chỗ đứng, ra vào thị xã điều tra tình hình. Ban ngày cải trang đi quan sát sự bố phòng của địch. Ban đêm bò vào từng cứ điểm rà xét, đo đạc. Lại dựa vào quần chúng để nắm tình hình, dò địa thế… Đồng thời chuẩn bị cơ sở giấu quân cho một tiểu đoàn, và chuẩn bị phương tiện phục vụ chiến đấu…

Tỉnh ủy Kiến An nhận định: Lâu nay thị xã này được địch phòng thủ nghiêm ngặt, ta không dễ vào gần, ít hoạt động vũ trang nên chúng có phần chủ quan. Ta có thể lợi dụng sơ hở đó, tạo yếu tố bí mật, bất ngờ tập kích.

Tỉnh đội sắp xếp lực lượng, gồm ba đại đội tỉnh, một đại đội huyện Tiên Lãng, một bộ phận bộ đội, du kích các huyện Kiến Thụy, An Lão. Cho tập kĩ thuật bộc phá đánh kho, hành quân nhanh, bơi sông rộng. Kín đáo chuẩn bị chiến trường, thuyền đò, bến bãi. Huyện An Lão và một số xã tổ chức các đội dẫn đường, cứu thương, tải thương, phục vụ chiến đấu. Trù liệu cho bộ đội từ căn cứ Tiên Lãng, vượt hai sông Văn Úc, Đa Độ, qua nhiều cánh đồng để tránh đồn địch, kịp vào chiến đấu rồi rút nhanh về căn cứ trước khi trời sáng.

Sau những câu hỏi và giải đáp nhằm bổ sung cho hoàn chỉnh hơn, Bộ tư lệnh khu thông qua bản kế hoạch tập kích thị xã Kiến An.

Anh Kinh trở về cùng cán bộ, chiến sĩ triển khai kế hoạch. Anh quê ở Kiến An, hoạt động trước Tổng khởi nghĩa, học trường Quân chính kháng Nhật, về mở lớp huấn luyện cán bộ quân sự địa phương. Anh tham gia giành chính quyền ở khu Kim Sơn (Kiến Thụy). Năm 1946, anh chỉ huy Mặt trận Cầu Rào - Đồ Sơn… Lần này anh trực tiếp chỉ huy trận đánh thị xã Kiến An.

Hai tuần sau dó, Bộ tư lệnh khu nghe báo cáo kết quả trận đánh: Đêm 20-4-1953, gió lạnh, mưa phùn, đường lầy, các đơn vị khẩn trương tiến vào vùng địch, chiếm lĩnh mục tiêu. Tỉnh đội trưởng ra lệnh phát hỏa bằng một tiếng nổ bộc phá. Đại đội huyện Tiên Lãng cùng một trung đội bộ đội tỉnh diệt bọn chỉ huy và làm chủ trại Pháo Thủ. Đại đội 29 của tỉnh đánh bộc phá vào kho Quy Tức, bom đạn nổ dữ dội.

Đại đội 195 của tỉnh diệt đại đội biệt kích ở đền Sùng. Một bộ phận của 195 đánh dinh tỉnh trưởng, diệt toàn bộ quân bảo chính, cả ban chỉ huy tiểu đoàn và tên tỉnh trưởng, thu nhiều tài liệu quan trọng và nhiều tiền Đông Dương.

Tổ quân báo tỉnh diệt địch ở ngã năm thị xã và phá trạm biến thế điện.

Đại đội 53 của tỉnh mới lập, đánh ty công an ngụy, đã tới mục tiêu, nhưng sau nửa giờ chờ lệnh phát hỏa, anh em cho là quá lâu, tự ý rút. Môt bộ phận của đại đội này được giao kiềm chế đồn Cầu Nguyệt, khi được lệnh diệt đồn thì anh em cũng rút.

Trận đánh gần một giờ. Các mũi chính thắng lợi, diệt gần 300 tên địch, bắt sống 120 tên, thu 190 súng. Thiêu hủy 30 vạn lít xăng, 26 gian chứa bom đạn, vũ khí các loại… Ta ba đồng chí hi sinh, bảy bị thương.

Khi rút, ta phải giải hơn trăm tù binh, mang vác nhiều vũ khí thu được; đường xa, trơn lầy, đi chậm. Tới bờ sông Văn Úc thì trời sáng. Ca nô địch lao tới xả đạn. Quân ta bị động. Một số phần tán vào các thôn xóm. Số đông vào làng Đại Điền chuẩn bị cùng du kích chống địch.

Gần trưa, tàu chiến, ca nô địch vây dọc sông, máy bay ném bom, đại bác bắn phá hàng giờ liền. Nhà cháy ngùn ngụt. Hai tiểu đoàn địch bao vây làng Đài Điền. Quân ta được du kích và dân làng giúp sức, đánh lùi ba đợt xung phong của địch. Đến tối, địch vẫn không vào được làng. Hơn 200 tên chết (có một quan tư, một quan ba). Ta 34 chiến sĩ và 13 đồng bào hi sinh, 80 người bị thương. Đêm ấy ta băng bó thương bỉnh, gửi lại cơ sở và mai táng những đồng chí hi sinh. Sáng hôm sau, ta chia tổ vượt sông về căn cứ. Tàu chiến, ca nô địch phục đánh. ta bị bắt thêm 37 đồng chí, mất 231 súng các loại.

Anh Ngạn nghĩ nhiều về trận đánh này. Anh nói vơi anh Khai: - Đây là trận đánh một căn cứ lớn, nhiều mục tiêu, địch phòng thủ nghiêm mật, trong vùng tam chiếm sâu. Ta sử dụng trên một tiểu đoàn, diễn ra nhanh gọn, phối hợp nhịp nhàng, đạt hiệu quả cao. Lực lượng đánh là bộ đội tỉnh, huyện, có một phần là tân binh, lại vừa trải qua ba tháng hoạt động mùa xuân mệt mỏi, nhưng được chuẩn bị kĩ về tư tưởng, rèn luyện tốt về kĩ thuật, tổ chức chỉ huy sâu sát cẩn trọng, từ khâu xây dựng cơ sở, trinh sát thực địa, đến khâu hành quân vượt sông, chiếm lĩnh mục tiêu và tác chiến..., đó là  những kinh nghiệm tốt. Song có khuyết điẻm lớn: không dự tính đầy đủ những khó khăn khi rút quân, phải vượt hai con sông, đường lầy, đem tối, lại áp giải tù binh, nên chậm chạp. Không dự liệu được sự đối phó của địch rất nhanh chóng và ác liệt. Một bộ phận nhỏ chưa được giáo dục kĩ về kỉ luật chiến trường, tự ý rút khỏi vị trí chiến đấu. Và cũng phải xem xét kĩ về sử dụng lực lượng, có thể ít hơn và tinh nhuệ hơn không? Lấy ít đánh nhiều là cách đánh từ xưa của tổ tiên ta. Cần phải nghĩ nhiều, rút ra những ưu điểm và khuyết điểm của trận đánh này.

Anh Khai nhất trí với những nhận xét đó và trình bày dự kiến nhằm phát huy chiến thắng quân sự, hướng dẫn nhân dân trong vùng tạm bị chiếm, từng đoàn, từng nhóm đến thị xã Kiến An và những đồn giặc quanh đó, đòi thi hai và đòi tiền tử tuất những lính ngụy chết trận; đòi chồng con về để khỏi chết uổng. Một số nguy binh bị bắt, ta giải thích chính sách và khoan hồng cho về, để họ kể lại chiến thắng của ta hoặc bỏ ngũ về gia đình…

Anh Ngạn nhất trí và nói thêm: Dẫu còn những điều bất cập, nhưng ở vùng địch chiếm, ta có cuộc đấu tranh chính trị như nhân dân thị xã Thái Bình đòi thả tù ở chợ Bo, và đấu tranh vũ trang như trận tập kích thị xã Kiến An, là đáng ghi nhận và cần phát huy mạnh mẽ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM