Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 10:43:02 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh Ngạn  (Đọc 57064 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:14:53 am »

NHÀ NGHÈO CHO CHẤT ĐỐT, NHÀ GIÀU LẤY TIỀN CƠM

Mấy tháng xuân mưa dầm dai dẳng, chúng tôi ở một trại thuộc làng Tè (Tiên Hưng). Vụ mùa qua, lúa bị bệnh và sâu, rơm rạ ít, chất đốt khan hiếm. Bếp của chúng tôi hơn chục người ăn, tốn cái đun nấu. Hôm ấy bến lạnh, tôi bảo anh Thứ đi mua củi ở xóm trong. Mưa vẫn dầm dề, ra khỏi nhà là ướt át. Cụ chủ nhà bảo Thứ: “Chú dỡ cái chái nhà xuống, lấy rạ làm bữa cho khỏi muộn”. Anh Ngạn thấy thế bảo: “Không được. Nhịn một bữa không sao”. Cụ chủ nhà thành thật nói: “Nhà thời chiến, nay còn, mai giặc đốt. Mình cần thì dỡ tạm  cái chái. Đến mùa, có rạ thì lọp lại. Cả tre nứa, cứ dỡ, rồi sau kiếm cái khác thay”. Anh Ngạn vẫn băn khoăn: “Nhà mất chái thì mưa hắt làm mòn tường vách”. Cụ chủ nhà bảo: “Tường mòn thì đắp lại. Các chú đừng vì giữ cái chái nhà mà đói ăn”.

Có chất đốt, nồi cơm nóng hổi. anh Ngạn bưng bát cơm tỏa khói, nói nhỏ với anh em: - Cái nhà nhày nhỏ hẹp nhưng lòng cụ chủ nhà không hẹp. Các cụ có thấy cơm này ngon hơn mọi bữa không?

Nhân chuyện trên, anh Thứ kể cho nghe chuyện khác: “Một hôm, anh Ngạn và tôi từ căn cứ Thanh Miện về Quỳnh Côi. Qua sông Luộc thì trời tối sập. Đồng chí dẫn đường đưa vào trọ một nhà gần bến Hiệp, nhờ họ nấu giúp gữa cơm. Nhà này giàu, nấn ná một lúc rồi mới cho người ở nấu cơm giúp chúng tôi. Sáng sau tôi quen như mọi lần, đưa tiền trả bữa cơm và cảm ơn. Nhà chủ không chần chừ, cầm tiền ngay. Ra đường, anh Ngạn bảo: - Cậu trả tiền à? Họ có lấy không? Tôi cười: - Họ lấy ngay, không ngần ngại! Anh Ngạn cũng cười. Rồi anh chặc lưỡi: “Nhà giàu thì thế, còn ông già nghèo ở làng Tè thì…””.

Ở cái nhà nhỏ làng Tè ấy, anh Phạm Gia Tuân nhờ bộ đội lắp ghép cho một máy thu thanh để nghe mấy đài phương Tây. Những tài liệu sách báo tiếng Pháp từ nội thị gửi ra, anh đọc rồi rút lấy những điều cần thiết, báo cáo để anh Ngạn tham khảo tình hình địch. Anh Tuân nguyên là thông phán tòa sứ Thái Bình, tham gia Việt Minh trước Tổng khởi nghĩa, vượt gian khổ hoạt động ở vùng địch hậu, làm bí thư thị ủy thị xã Thái Bình, rồi lên đây.

Việc làm của Tuân giúp anh Ngạn khá nhiều. Sau mỗi cuộc càn, Tuân tập hợp được số thiệt hại do địch thú nhận, để đối chiếu với số liệu mà ta có. Hoặc trước một cuộc càn, chúng để lộ hướng tiến, sau cuộc càn, chúng rút quân đi đâu…

Lần này, đài phương Tây đưa tin: Tướng Xalăng sau một năm thay thế Đờ Lát mở liên tiếp hai mươi trận càn to nhỏ, không xoay chuyển được tình thế. Cuối cùng bị Việt Minh và Cộng sản Lào đánh cho chạy dài, mất tỉnh Sầm Nưa và một phần các tỉnh Xiêng Khoảng, Phông Xa Lỳ, để cho vùng Thượng Lào nối liền với vùng Tây Bắc Việt Nam. Thế là kế hoạch Đờ Lát phá sản hoàn toàn. Tướng Hăngri Nava, tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương, được Chính phủ Pháp cử làm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương thay Xalăng.

Anh Ngạn đưa tay lên xoa râu và cười: Thế là trong hai năm rưỡi, từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1953, chúng nó phải thay ba viên tổng chỉ huy. Nếu tính từ đầu kháng chiến thì chúng phải thay sáu viên, phá sản bốn kế hoạch. Ta nhìn chúng để hiểu phần nào về ta, và thêm tự tin, tụ cường, sẵn sàng đối phó với Nava.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:15:30 am »

LÚC NÀY TÌNH THẾ TA HƠN HẲN TRƯỚC

Cũng lúc này anh Ngạn nhận được tin của Trung ương: Địch thay đổi tổng chỉ huy. Viên tướng Nava có kế hoạch mới, được Mỹ ủng hộ với mức độ cao nhất, nhằm xoay chuyển tình thế. Anh Ngạn họp Bộ tư lệnh, quyết định đẩy mạnh hơn nữa hoạt động Xuân - Hè 1953, tạo thế chủ động đối phó với những thủ đoạn mới của Nava.

Anh Miên báo cáo tình hình chiến đấu mấy tháng gây đây:

- Trung đoàn 50 mới lập được hai tháng đã khai chiến thắng lợi, diệt hai đồn Quỳnh Lạng, Bến Hiệp.

- Trung đoàn 42 đánh 10 trận, diệt ba đồn, có đồn chỉ cách thị xã Hải Dương một kilômét, loại 534 tên địch, bắt 271 tên, thu vũ khí đủ trang bị cho một tiểu đoàn.

- Bộ đội Hải Dương diệt hai đồn và một xe tăng…

Anh Ngạn nhận xét: - Cùng với trận đánh thị xã Kiến An, Xuân - Hè này ta có điểm mới là hoạt động mạnh và sâu trong vùng địch chiếm, uy hiếp đô thị - trung tâm hành chính, quân sự của địch. Xây dựng ngay trong lòng địch những cơ sở giấu quân, làm chỗ đứng để tiến lên đánh địch. Cần rút ra những kinh nghiệm thiết thực trong đợt này; chuẩn bị công phu hơn để sắp tới có những hoạt động mạnh hơn ở những nơi mà địch tưởng là bất khả xâm phạm. Đã tới lúc chúng ta không chỉ thụ động chống càn, phá càn ở vùng căn cứ của ta, mà chủ động vào đánh địch ở căn cứ của chúng. Thực tế cho thấy ngày càng rõ: mỗi lần địch thua là một lần chúng thay tướng chỉ huy, đến Nava là lần thứ bảy. Và mỗi khi chúng thay là có một kế hoạch mới hoặc kế hoạch bổ sung: tăng quân, tăng vũ khí, tạo thế lực mới để đánh ta. Lần này Nava được Mỹ thỏa thuận với Pháp chọn ra, chúng sẽ hà hơi tiếp sức để Nava diễu võ dương oai. Ta đã đẩy lùi sáu viên tổng chỉ huy của chúng, trong tình thế ta chưa mạnh lắm. Lúc này tình thế ta hơn hẳn trước. Ta sẵn sàng đấu lực, đấu trí, tin chắc ta sẽ đương đầu mạnh mẽ với viên tướng được cả Mỹ và Pháp ủng hộ này.

Ngừng một lát, uống bát nước chè, anh Miên báo cáo tiếp về tình hình du kích. Lâu nay bộ đội chủ lực và tỉnh, huyện được tăng cường đáng kể, nên ít nhiều xuất hiện tư tưởng coi nhẹ dân quân du kích. Cần phải giải quyết tư tưởng này trong các cấp lãnh đạo tỉnh, huyện, xã, và trong các đơn vị bộ đội. Ở khu ta, sau khi địch chiếm sâu, những trận đánh mở đầu là của dân quân du kích, chứ chưa phải bộ đội.

Anh Ngạn nói ngay:

- Đúng! Đúng! Anh đề xuất đúng! Vì thế, giữa năm 1952, Trung ương mở Hội nghị chủ trương du kích Bắc Bộ, đã nhận xét Hưng Yên là một trong những điển hình chiến tranh du kích phát triển cao. Tất nhiên, chiến tranh du kích không chỉ có dân quân du kích đánh. Bộ đội cũng thực hành chiến tranh du kích, nhưng lực lượng du kích đóng vai trò quan trọng.

Anh Miên tiếp:

- Ở Hưng Yên, nam nữ du kích làng Từ Hồ dùng đòn gánh đánh chết một tên Pháp ở giữa chợ, gây thành phong trào dùng vũ khí thô sơ đánh địch. Trong lão du kích có phong trào thi đua “Vua địa lôi Sáu Đậu”. Phong trào nữ du kích Hưng Yên khá rộng. Chị Trương thị Tám cùng chị em giả đi buôn chuối, dùng đòn gánh và liềm đánh chết một giặc và bị thương hai đứa, thu một điện đài ở đồn Phương Trù. Chị Dân ở xã Cộng Hòa ra đường 39 bắn chết lái xe, dùng lựu đạn phá đầu xe. Tổ chị Nghét ở xã Hiệp Cường (Kim Động) rủ lính ngụy vào xóm chơi, bắt sống hai tên, thu hai súng. Tổ chị Nhẫn ở xã Nghĩa Dân (Kim Động) vòa chợ Tương Xá, diệt một địch, thu súng… Du kích thiếu niên có em Nguyễn Văn Tự ở làng Tiên Cầu, trèo lên cây đa cao ven đường 39, thả lựu đạn xuống xe chở lính địch chạy qua, làm chết và bị thương nhiều đứa.

Ở Hải Dương, có trung đội du kích huyện Kim Thành đánh giỏi, năm 1948 đã được thư khen của Bác Hồ có những câu: “Du kích như cá, nhân dân nưh nước” và “Giết nhiều giặc, cướp nhiều súng để giật giải thưởng trong cuộc luyện quân lập công”. Tỉnh đã mở Hội nghị Bô lão thi đua đánh giặc, nêu gương “Ông già Thìn” nổi tiếng. Một đội nữ du kích huyện Thanh Miện vào chợ Thọ Chương diệt năm tên địch, làm bị thương hai, bắt sống một, nổi tiếng mưu trí dũng cảm. Nữ du kích xã Đồng Thanh dùng mìn phá ba khẩu pháo địch. Nữ du kích xã Thủ Sĩ diệt xe địch trên đê sông Luộc…

Ở Kiến An, một trung đội du kích thôn Thái Lai tự lực đánh địch, khi xuống hầm khi lên hào, dùng chôn mìn, lựu đạn diệt hơn trăm tên địch, trong một cuộc càn dai dẳng hơn 20 ngày. Cụ Khuông, du kích xã Vinh Quang (Tiên Lãng) dùng mã tấu chém chết chỉ huy giặc khi cúng càn vào làng.

Ở Thái Bình, trong trận chống càn ở thôn An Định (Thụy Anh) du kích cùng trung đội bộ đội huyện dũng cảm đánh địch. Cụ Nguyễn Kiên, trung đội trưởng Bạch đầu quân xông pha cùng đội viên chiến đấu tới lúc hi sinh tại trận. Cụ Nguyễn Văn Giang cùng con rể chiến đấu trong một đoạn hào. Con rể bị thương, cụ băng bó, cõng về phía sau cho y tá săn sóc, rồi trở lại đánh địch. 15 nữ du kích An Định dùng mìn, lựu đạn, liềm, dao chiến đấu tới lúc hi sinh gần hết. Chị em cô May, cô Mắn, khi giặc xông tới bắt sống, hai cô đã nổ quả lựu đạn cuối cùng, hi sinh anh dũng và khiến ba tên địch chết.

Tại thôn Sơn Đồng (Quỳnh Côi) du kích chống càn. Dân quân gõ trống mõ, hò hét đuổi giặc. Cụ Nhiêu Bào dùng đòn gánh đuổi giăc, giật được một khẩu súng. Nữ du kích làng Cát Hộ (Đông Quan) ra đường 10 dụ một tên giặc vào xóm, chụp rổ lên đầu, trói tay đưa về khai thác tin tức.

Anh Ngạn chờ tôi ghi chép xong rồi nói với anh Miên:

- Gương chiến đấu của dân quân du kích, nam cũng như nữ, già cũng như trẻ, ở các làng xã không ít. Tiêu biểu là các ông Già Thìn, Sáu Đậu, là các chị Bưởi, chị Cúc, chị Chiên… cần nêu trên báo chí, báo cáo ở các hội nghị thi đua, ở các cuộc họp rút kinh nghiệm chiến tranh du kích. Qau đó mà phổ biến rộng, nhiều người làm quen. Chiến tranh du kích đánh Pháp tưởng như là châu chấu đã voi, nhưng chấu đã nhiều, đá mái, voi cũng phải lòi ruột. Đúng không anh?

Anh nói rất vui, khiến chúng tôi cùng cười.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:10 am »

TỘI ÁC GIẶC Ở QUỲNH LANG, PHƯƠNG XÁ

Anh Ngạn nghe ông Ngô Duy Đông, phụ trách Mặt trận Liên Việt khu Tả Ngạn, báo cáo về việc tỉnh Thái Bình khai quật hài cốt những người bị bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo ở đồn Quỳnh Lang (Quỳnh Côi) sát hại. Đầu năm 1950, giặc Pháp chiếm nhà thờ Quỳnh Lang đóng quân. Thầy tu Anvare Cao, người nước ngoài, cho bọn tay sai là tên Hưng - trưởng đồn, tên Ân - cai tù, gây nhiều tội ác với nhân dân quanh vùng. Chúng giết hàng chục người chôn trên bãi hoặc đẩy xuống sông Luộc. Ngày 7-10-1950, bọn vệ sĩ Quỳnh Lang càn hai xã Toàn Thắng, Khắc Vinh, bắt hơn 200 người nhốt vào tầng hầm lô cốt, mỗi chiều bốn mét. Nhiều lớp người chồng chất, đè nén lên nhau, nực hơi, ngạt thở. Qua một ngày đêm, chỉ còn 14 người sống sót. Tội ác bị nhân dân phản đối quyết liệt ngay từ lúc đầu. Họ đội khăn tang đi trắng đường, kéo vào đồn đòi thi hài đi mai táng. Bọn gian ác không cho lấy, đem chôn xuống ba hố to. Qua 49 ngày, theo gia lễ, dân lại kéo lên đồn đòi rước vong linh nạn nhân về nhà. Mặt trận Liên Việt phát động “Tuần lễ căm thù vụ tàn sát Quỳnh Lang”. Toàn tỉnh hưởng ứng, vang dội sang các tỉnh lân cận. Bác chí ở Hà Nội đăng bài về vụ trên và phát thanh rộng. Anvarê Cao bị các gia đình nạn nhân kiện lên thủ hiến Bắc Việt. Người ta phải chuyển Cao đi nơi khác cho khuất mặt, rồi mở phiên tòa xử y cho qua chuyện.

Tháng 4-1953, đồn Quỳnh Lang bị vây, 120 tên vệ sĩ ra hàng. Ngay sau đó, ta tổ chức khai quật các hố chôn người. Hàng nghìn dân chứng kiến và đưa gần 200 bộ hài cốt vào nghĩa trang. Ảnh chụp và bài viết về cuộc khai quật được công bố rộng rãi trong tỉnh và một số nơi ngoài tỉnh.

Cũng dịp này, nhân dân khai quật hài cốt 60 người bị tên Mai Đức Tín, trưởng đồn Phương Xá (Đông Quan), đội lốt thầy tu, cho đồn bọn giết hại, chôn ở đồng làng. Lúc này đào lên là những bộ sọ bị đóng đinh thuyền từ đỉnh xuống, đóng cọc tre xuyên từ tai nọ sang tai kia; những xương cổ còn dây thép, dây chão thắt vòng quanh… Những hiện vật kinh khủng ấy được nhiêu người chứng kiến và chụp ảnh tại chỗ.

Ủy ban liên lạc Công giáo Kháng chiến tỉnh Thái Bình đã họp xem xét kĩ hiện trường và những bức ảnh cùng giấy tờ, bút tích, dấu ấn của Tín; nghe anh Tân, anh Trình, nhân chứng sống sót kể lại tội ác của Tín và đồng bọn. Qua một ngày làm việc nghiêm cẩn, hội nghị Ủy ban đã luận tội Tín, nhất trí đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh mở phiên tòa xét xử công khai, kết án tử hình y.

Tiếp đó, Ủy ban nhận được hàng nghìn lá đơn với hàng vạn chữ kí của đồng bào Thiên chúa giáo khắp nơi đề nghị xử tử Tín.

Phiên toàn xử Tín có 238 đại biểu Hội nghị những người Công giáo Kháng chiến cùng hàng nghìn nhân dân lương giáo trong tỉnh tham dự. Mọi người xem những hình ảnh tội ác của bọn Tín, nghe những bà mẹ chỉ vào mặt Tín và hỏi: “Con tao có tội gì mà máy giết hại nó?”. Trước những bằng chứng rõ ràng, Tín đã cúi đầu nhận án tử hình.

Anh Ngạn lặng người hồi lâu trước nỗi bất hạnh của các nạn nhân Quỳnh Lang, Phương Xá. Anh nói với vị phụ trách Mặt trận Liên Việt: - Qua nhưng tội ác rành rành, mắt thấy tai nghe, giáo dân Thái Bình càng ghê tởm bọn sát nhân đội lốt tôn giáo. Qua bao nhiêu đau khổ của người đã khuất và thân nhân họ còn sống, nhân dân Thái Bình, giáo cũng như lương, căm thù giặc Pháp đã biến nhà thờ thành đồn bốt, biến thanh niên công giáo thành những tên lính hung tợn sát nhân. Nhiệm vụ của Mặt trận Liên Việt, của tất cả chúng ta, là phải làm cho toàn quân, toàn dân thấy những sự thật kể trên để khắc sâu căm thù và nâng cao quyết tâm đánh giặc, bảo vệ dân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:47 am »

GIỜ GIẢI LAO, GÓP CHUYỆN VUI

Kháng chiến gian khổ, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả sinh hoạt văn hóa. Ở chỗ chúng tôi có cái máy thu thanh nhỏ, thường nghe Đài tiếng nói Việt Nam. Giữ bí mật, anh em nghe kín đáo vào đêm tối, giữa trưa vắng, kẻo lũ trẻ nhỏ trong xóm biết. Anh Tuân có cái máy thu thanh tự tạo cũng phải “nghe trộm”. Tôi tranh thủ lúc không làm việc với anh Ngạn, đọc báo ta, báo địch, vừa nắm tình hình, vừa giải trí. Đôi lúc, tôi cùng anh em kể chuyện về bố mẹ, vợ con hoặc người yêu, đủ đề tài. Có một đề tài anh em thích là chuyện vui về các đồng chí trong Bộ tư lệnh.

Anh Thứ kể về những đêm trực ban ở Bộ Tư lệnh. Khi giặc càn nơi nào đó trong khu vực xa, xen vào lúc chờ tin tức, các anh Ngạn, Khai, Miên bày tú lơ khơ ra đánh cho khỏi buồn ngủ, để các anh Lễ Nghĩa, Hoàng Thế thường trực. Các anh không nói to, nhưng khi hứng lên cũng vật bài đen đét, chả kém anh em lính.

Đang vui chuyện thì ông Nguyễn Sáng đến. Ông quê ở thị xã Thái Bình. Cách mạng thành công, ông tòng quân. Một năm sau được điều ra Hải Phòng, nơi sắp có chiến sự, ở một đơn vị mà sau này là Trung đoàn 42. Ông đánh Tây ở nội thành, làm chỉ huy trưởng Mặt trận An Dương- Hải Phòng, gan dạ, mưu trí, được cấp trên khen. Rồi làm trưởng phòng tác chiến Liên khu III. Năm 1949 làm tham mưu trưởng Mặt trận 5, nay là tham mưu phó khu Tả Ngạn. Ông thường cùng anh Miên sang làm việc chỗ anh Ngạn.

Ông Sáng cũng hay nghe chuyện. Sau khi báo cáo hoặc thỉnh thị chính ủy, nếu việc không cấp bách phải về, ông thường xuống chỗ anh em chúng tôi uống nước chè xanh, nghe chuyện vui. Nghe rồi ông cũng góp cho “có đi, có lại”. Ông kể: “Hồi mới lập Bộ chỉ huy Mặt trận 5, ông Miên phân công tôi tổ chức đường dây giao thông, đón anh Khai qua sông Hồng về làm chính ủy. Anh em ở nhà dân, mùa gặt thường kéo đá, trục lúa giúp chủ nhà. Tôi trẻ, khỏe hơn khoác dây kéo đá, anh Khai cầm gậy đẩy đá. Mới vào sân cả hai đều hăng hái, bước đều như tập đội ngũ “Mốt… hây.. Mốt… hây…”. Sau ông Khai mệt dần, bước ngắn, bước dài chuệch choạc. Lúc đầu thật sự ông cầm gậy đẩy đá, sau tôi cảm thấy như ông chỉ giữ cho gậy khỏi rơi. Thế là mình phải cố và cũng mệt nhoài, đánh ra khẩu lệnh dứt khoát: “Nghỉ!”. Ông chính ủy không phân biệt “lệnh trên, lệnh dưới”, chấp hành ngay.

Ngày ăn cơm chưa no, tối kéo đá hồi lâu, ông Khai kêu đói. Tôi về xin cụ chủ nhà củ khoai luộc cho ông. Khoai còn nóng hổi, ông “giải quyết ngay”. Khoai bở, bọng khô, ông cắn miếng to nhai trếu tráo, bị nghẹn. Ông nấc liền máy cái. Tôi hơi hoảng, hỏi: “Sao đấy anh?”. Ông chỉ gật gật đầu, miệng lúng túng. Tôi tưởng ông ngộ gió. Ông đập nhẹ vào vai tôi, ra ý không sao. Một lúc lâu mới xuôi, ông nói khẽ: “Nghẹn tưởng chết! Công nhận củ khoai rất bở”. Tôi hiểu ra, vừa buồn cười vừa thương ông chính ủy”.

Thấy chúng tôi hưởng ứng, ông Sáng liền tiếp: “Cũng hồi ấy, ông Đặng Tính được liên khu cử sang làm Bí thư Đảng ủy. Ông này vui tính, thuộc nhiều bài hát, đọc cho anh em chép rồi khe khẽ dạy hát, lại biết thổi kèn ácmônica. Khi trò chuyện ông đối đáp linh hoạt, thông minh. Anh em gọi là “ông văn hóa”. Có ngời bảo ông là dân tiểu tư sản đặc sệt, ông cười khờ khờ. Khi mưa rỗi, ông chấp vần làm thơ hoặc ghi chép. Ông có mấy tập sổ nhỏ bằng ba đầu ngón tay, khá dày, ghi chữ nhỏ tí như con kiến, hoặc viết tắt, người khác khó mà đọc. Ông ghi được ba tập, gửi tôi giữ giúp, để sau này viết chuyện kháng chiến. Hôm ấy giặc càn, tôi gói cùng sổ sách của tôi vào chiếc chăn chui đầu, thường gọi là “chăn tabo”, chiến lợi phẩm thu của địch, đưa xuống hầm bí mật ở Bổng Thôn (Tiên Hưng) bị mối xông hết. Ông cũng như tôi, tiếc ngẩn tò te, nhưng ông không trách tôi. Còn tôi thì căm tức đàn mối đến tận… xương tủy!”. Anh em lại cười. Ông Sáng nói luôn: “Hồi còn Mặt trận 5, tình hình trong khu u ám; tin tức từ Việt Bắc đưa vào không kịp thời. Ông Tính trực tiếp chỉ đạo bộ phận thông tin liên lạc. Với Trung ương thì dùng vô tuyến điện; với các tỉnh và Trung đoàn 42 thì dùng liên lạc “chạy chân”. Có trận giặc càn, anh em không kịp vác máy phát điện chạy, phải quẳng xuống ao, may còn máy dự phòng nhưng thỉnh thoảng lại trục trăc, anh em phải chữa cật lực, quay đến toạc da tay, sầy da chân vẫn cứ trơ như cục đá. Ông Tính và nhất là tôi sốt ruột sốt gan như ngồi trên lửa. Bô chỉ huy hỏi tôi: - Có tin gì mới không? Tôi cứ ngẩn người, không trả lời được, hoặc có trả lời thì tin đã cũ rích. ÔngTính mải việc nhưng chốc chốc lại xem chữa máy đến đâu rồi. Cảm thông với anh em, ông làm thơ động viên: “Lính ta chân chạy, tay quay/ Cái đầu lo nhiệm vụ, cái dạ dày thiếu chất tươi/ Cái miệng muốn mếu vẫn cười/ tin lên, tin xuống, vẫn khơi được nguồn”.

Thấy anh em thích thú, ông Sáng kể thêm về anh Miên: “Ông tướng này gan lì cóc tía, bị giặc 14 đồn đến vây, ông ở trong làng Khuốc vẫn bình tĩnh chỉ đạo cho quân báo sang làng Nguyễn truyền lệnh đánh nghi binh phối hợp, khiến giặc phải rút chạy. Có lần quân Giem vây ở Cổ Tiết, một số người luống cuống, ông vẫn chỉ đạo luồn vây, và luồn được. Cũng như anh em, ngày vài bữa có sao ông ăn vậy, xuề xòa dễ tính nhưng hút thuốc thì bậc nhất. Có những khi hết thuốc bao, ông xé lề công văn để quấn thuốc. Được  thứ pơluya trắng mua từ vùng tề còn đỡ, không thì giấy thô, cứng quèo. Quấn rồi thấm nước bọt mấy lần mới dính thành điếu thuốc. Bật lửa châm thì nước bọt khô, giấy cứng bật ra, thuốc rơi xuống áo, lại nhặt nhạnh vun vén, quấn lại. Khói đen sạm, mùi giấy khét át mùi thuốc, ông vẫn hút say sưa, không hề bực tức. Hút hết điếu này quấn ngay điếu khác. Nghiện lắm. Thế mà khi Khu đoàn phát động thanh niên không hút thuốc, tránh tốn tiền, ho hen, ông bỏ ngay lập tức, vì ông không bỏ thì lính nó cứ lấy nê, cứ hút. Tưởng ông bỏ để nêu gương một thời gian rồi lại hút, nhưng không, ông bỏ đứt. Cũng có thể gọi là tài!”.

Anh em nghe xong cười khà. Rồi ai nấy trở lại với công việc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:17:18 am »

CÓ MIỆNG THÌ GẮP, CÓ NẮP THÌ ĐẬY

Do lộ cơ sở, máy bay địch ném bom thôn Duyên Trang (Hưng Nhân), trúng nơi trú quân của một đơn vị thuộc Đại đoàn 320, một số cán bộ, chiến sĩ thương vong, hai cán bộ trung đoàn Lê Quân, Lê Điện hi sinh. Trước đó máy bay địch ném bom thôn Phương La, hơn trăm người chết và bị thương. Xưởng công binh và trạm quân y đóng ở đây tổn thất. Trận máy bay địch bắn phá làng Lưu Phương, nơi Đại đoàn 320 đóng cũng có phần do chỉ điểm. Lại có tin bắt được Trần Sánh Tiệp, gián điệp cài vào hàng ngũ ta. Và tin bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo chăng mạng lưới mật vụ rộng tới các vùng do ta kiểm soát. Bọn này phối hợp với hệ thống gián điệp do “phòng nhì” nắm… Khu ủy chủ trương đảy mạnh hơn nữa cuộc vận động phòng gian, bảo mật trong toàn quân, toàn dân.

Anh Ngạn rất quan tâm đến cuộc vận động này. Trong các cuộc họp Quân Dân Chính Đảng, Thanh Công Nông Phụ, Tuyên Văn Giáo Huấn, anh đều kêu gọi mọi người đề cao cảnh giác: - Do thám, gián điệp là tai mắt của địch. Muốn đánh ta ở đâu địch phải hiểu lực lượng và sự bố phòng của ta. Chúng dùng máy bay trinh sát chưa đủ, phỉ dùng do thám, gián điệp, chỉ điểm. Để chống bọn này, ta phải theo dõi phát hiện và trừng trị. Làm rõ những vụ đau thương do bọn chúng gây ra để nhân dân căm thù. Mặt khác, ta phải giữ bí mật triệt để, khiến chúng có tai như điếc, có mắt như mù. Thực hiện: việc ai người nấy làm, không tò mò, dò dỏm công việc người khác. Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy, đả phá bệnh ba hoa. Đảm bảo đi không ai biết, về không ai hay. Ra đường hóa trang như nhân dân. Không có điều kiện hóa trang thì đêm tối hãy ra khỏi nhà. Phải bảo quản tài liệu chu đáo, đừng để công văn túi áo, thông báo túi quần. Ít dùng giấy tờ, cấp trên xuống truyền đạt cho cấp dưới, cấp dưới lên báo cáo với cấp trên…

Anh đề ra rồi tự mình chấp hành. Mỗi cơ sở chỉ ở ba, bốn ngày. Chuyển chỗ ở nhất thiết phải vào buổi tối. Đúng giờ “xuất quân” là anh bước ra ngõ, đi nhanh. Đuổi theo ngay là tôi, Lê, Thứ. Ông Lê tập tễnh bước vì hai chân đều đã bị thương. Chân trái bị quân ở bốt La Uyên (Thư Trì) phục kích bắn trúng. Chân phải trúng đạn địch khi luồn càn Mecquya. Anh em khác lỉnh kỉnh súng ống, cuộc xẻng, nồi niêu xoong chảo đi sau rốt, nhưng phải liệu mà bám sát, không biết đêm nay ông Lê dẫn đến ở làng nào.

Chủ trương phòng gian bảo mật được thực hiện rộng khắp. Công an và các lực lượng vũ trang bắt hàng trăm tên, làm rạn vỡ hệ thống gián điệp nằm lì, chui sâu của chúng, hạn chế thiệt hại của ta.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:18:25 am »

“DIỆT SINH LỰC ĐỊCH, PHÁ TAN NGỤY QUÂN"

Thủ hiến Bắc Việt vừa ra bản lập “địa phương quân” ở các vùng tạm chiếm. Anh Ngạn sang làm việc với anh Khai. Được biết chúng đang chuyển số lính ở các đồn hương dũng, tổng dũng, quận dũng và vệ sĩ Thiên chúa giáo thành địa phương quân. Đây là cách đôn quân hỗn tạp lên chính quy và tăng gánh nặng cho bọn này; kiểm soát chặt chẽ hơn các làng tề; phá mạnh hơn phong trào du kích chiến tranh tại chỗ, tạo nguồn bổ sung cho quân cơ động… Biện pháp của chúng vẫn là càn bắt thanh niên, lừa phỉnh, lôi kéo giáo dân vào lính. Địa phương quân hơn bọn dũng  và vệ sĩ là được hưởng 500 đồng Đông Dương một tháng, vẫn được đóng quân gần nhà, nhưng phải luyện tập theo bài bản “quân đội quốc gia”, và nuôi đầu óc sẵn sàng đi cơ động, bay nhảy bốn phương.

Anh Ngạn nói: - Nava vạch kế hoạch nhằm chuyển bại thành thắng trong 18 tháng. Trong kế hoạch có điểm chính là tăng quân cơ động gấp ba lần số hiện có. Muốn thế, chúng phải đưa quân từ Pháp sang nhưng có hạn; cần ráo riết bắt thanh niên ta vòa lính ngụy. Âm mưu lập địa phương quân là nhằm phục vụ cho “Kế hoạch Nava”. Chúng rất cần người để lấp vào lỗ hổng thiếu quân do bọn tướng tiền nhiệm gây ra. Chỉ trong một tháng đánh Hòa Bình, Đờ Lát nướng 45 đại đội, vừa Âu - Phi vừa ngụy. Chiến lược “Dùng người Việt đánh người Việt” của chúng là cực kì tham độc. Chúng ve vãn, mua chuộc người của ta đánh ta, nhằm đạt mục đích cuối cùng là cướp nước ta. Ta phải đánh địch bằng mọi cách, trong đó có cách phá âm mưu dùng người ta đánh ta.

Chẳng cần biết anh Khai có định nói gì không, anh tiếp: - Ở khu ta, nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh chuẩn bị chống càn, có thể chúng càn rất lớn; tăng cường mọi hoạt động chiến tranh du kích; nâng thêm trình độ chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương; nhằm nơi sở hở, chỗ yếu, kể cả vùng địch chiếm, để đánh những đòn tiêu diệt hoặc phá hoại nặng. Đồng thời phải bằng mọi cách đẩy mạnh ngụy vận, chống giặc bắt lính. Phải ra sức thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, gói trong bốn câu dễ nhớ: “Diệt sinh lực địch. Phá tan ngụy quân. Đẩy mạnh du kích. Tranh thủ nhân dân”.

Anh Khai liền báo cáo với chính ủy một kết quả về ngụy vận. Ở xã Minh Tân, huyện Kiến Thụy, đồng chí Lê Thị Thu, 20 tuổi, được giao công tác ngụy vận. Trưởng ban địch vận huyện gặp Thu hướng dẫn phương pháp vận động lính ngụy về với kháng chiến. Thu nhờ mẹ vay cho 200 đồng Đông Dương, sắm quang thúng bán hàng xén ở chợ Đổi.

Thu làm quen với bọn lính ở đồn quận lý, trò chuyện lân la, rồi bắt mối với Ngận, một người bị ép đi ngụy. Sau đó, bọn chỉ huy đồn sinh nghi, bắt Thu tra hỏi. Qua một tuần dụ dỗ rồi dọa dẫm, Thu không khai báo. Chúng không có chứng cứ phải tha.

Sau đó hai tháng, địch lại bắt Thu, quay điện, đổ nước điều trộn ớt vào miệng, bắt Thu khai báo. Thu cắn răng chịu đựng, không lộ điều gì. Đánh chán rồi chúng giam giữ trong đồn, bắt quét rác, nhổ cỏ. Lợi dụng khi đi làm, Thu giữ mối với Ngận và trò chuyện với bọn lính.

Tiếp đó, Thu gặp Doãn, một lính mới chuyển về đây. Doãn là bạn chăn trâu hồi nhỏ của Thu. Lựa tìm cách gần Doãn, Thu hỏi: “Sao lâu lắm anh không về thăm gia đình, thày bu nhớ lắm đấy”. Doãn buồn bã: “Tổi phải đi vây càn liên miên, về sao được. Vắng mắt là sĩ quan Pháp nó phạt nặng”.

Thu tiếp tục gặp gỡ, biết Doãn làm cai trong một đơn vị do quan hai tên là Nhàn chỉ huy, dưới sự kiểm soát của sĩ quan Pháp. Đơn vị này đóng ở đồn An Khê gần cầu Rào. Một hôm Doãn bảo Thu: “Cô đưa tôi trốn ra vùng tự do được không?”. Thu bảo Doãn: - Được, nhưng hãy từ từ. Trước mắt làm giấy bảo lãnh với quận trưởng Kiến Thụy, rằng Thu là em gái con ông chú của Doãn, xin được tha. Quận tha Thu những vẫn giao cho tề giám sát tại làng.

Thu bắt liên lạc với trưởng ban địch vận huyện, báo cáo việc bắt mối gây nhân trong đơn vị Hai Nhàn. Rồi Thu nhận kế hoạch tiếp tục. Bất ngờ lúc này đơn vị Hai Nhàn chuyển vào Hải Phòng.

Thu lại làm co hàng xén, rồi vào thành phố Hải Phòng, về chợ Đổi. Tại Hải Phòng, Thu gặp Doãn với vai trò là em gái Doãn. Bạn bè Doãn xúm lại ngắm cô em xinh xắn. Khi chỉ còn hai nguời, Doãn lại nhắc việc đưa Doãn ra.

Thu bảo Doãn rủ thêm người ra. Rồi tuần một lần, Thu đến thăm Doãn cho quà, hỏi tình hình, giao việc. Doãn nói đã rủ được bốn người cùng xã. Thu tiến thêm một nước: - Anh rủ thêm nữa, càng nhiều càng tốt, kể cả Hai Nhàn. Nhàn bị sĩ quan Pháp quát nạt mấy lần, tức lắm đấy!

Doãn nhận lời, làm theo kế hoạch của Thu, vận động được cả hai Nhàn theo kháng chiến.

Đầu năm 1950, đơn vị Nhàn nhận lệnh đi càn ở Tiên Lãng. Thấy đây là dịp cho những người muốn trốn hành động, Thu bảo với Doãn; - Chọn những người tích cực nhất giết sĩ quan Pháp; phân công người bí mật tháo hết đạn trong súng của những tên ngoan cố… Doãn được Thu giao chỉ huy hành động.

Đến ngày đi càn, Hai Nhàn cho lính hành quân ra đê Văn Úc. Tối xuống, dựng lều bạt đóng quân. Trong đơn vị có chín nhân mối của ta. Khi cả đơn vị ăn no nằm ngủ, Doãn chỉ huy anh em nổ súng diệt sĩ quan Pháp và những tên ngụy ngoan cố, kêu gọi những người khác mang theo súng đạn ra với kháng chiến. Cùng lúc, theo sắp xếp của Thu, sáu chiếc thuyền từ Tiên Lãng sang đón. Gần hết đơn vị đó đi theo ta. Ta cho lập thành một trung đội, sáp nhập với bộ đội tỉnh Hải Kiến, trừ Hai Nhàn và vài người khác theo nguyện vọng của họ.

Nghe xong, Chính ủy bình luận: - Một cô hàng xén 20 tuổi, dùng mưu ngụy vận phá tan một đơn vị ngụy, biến thành một đơn vị ta. Chiến thuật ngụy vận có tác dụng khôn lường!

Anh Khai trình bày một đề án tổng hợp về tuyên truyền, vận động quần chúng, nhằm đối phói với kế hoạch bắt lính của địch. Về ngụy vận, anh đề nghị kết hợp giữa đánh và kéo, như Thái Bình đánh trận Kênh Kem, bắt sống Trịnh Quang Thanh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn vệ sĩ đội tên “Trần Hưng Đạo”. Ta thuyết phục Thanh để y viết thư cho tiểu đoàn phó Vũ Thanh Mai, nói rõ chính sách khoan hồng, đối xử tử tế của ta. Mai ngả theo Thanh, lừng chừng trong việc thi hành lệnh đi càn quét, khiến bọn Pháp ngờ vực. Chúng cho một đơn vị Âu - Phi do quan năm Pháp chỉ huy, về đồn Đông Hướng, sở chỉ huy của Mai, lấy quân trong tiểu đoàn của Mai đi đánh nơi khác. Mai không cho quân đi. Quan năm Pháp sai lính Âu - Phi khóa tay Mai và phơi dưới nắng, không cho ăn luống. Lính của Mai căm phẫn, nhất tề trả lại súng, về quê. Ta truyền nhanh tin đó, khiến tiểu đoàn của Mai đóng quân rải rác trong vùng Kiến Xương, Vũ Tiên tan rã hai phần ba, số dao động. Kết cục, địch phải giải tán cả tiểu đoàn đó. Thái Bình đã khuếch trương rộng rãi thắng lợi, nhằm làm cho việc bắt người vào ngụy quân gặp khó khăn. Có bài ca về trận Kênh Kem:

Súng trường, mã tấu xông pha
Trận tiền bắt được quan ba tiểu đoàn
Những tên lính ngụy quáng quàng
Bảo nhau xách súng ra hàng quân ta.


Anh Ngạn tỏ ý thích thú những câu ca đó. Anh góp ý chi tiết cho bản đề án của anh Khai, rồi dẽ dọt nhắc lại Nghị quyết của Hội nghị Cán bộ Trung ương lần hai: “Tác chiến quan trọng thế nào thì địch vận cũng gần như thế. Công tác địch vận không phải riêng của bộ đội, mà cả đoàn thể cũng phải làm. Phải dùng mọi hình thức, nắm lấy mọi cơ hội mà tuyên truyền làm tan rã tinh thần địch làm cho binh lính địch nhận rõ ta với họ có chung một kẻ thù là thực dân Pháp, khiến họ thỏa hiệp với ta, vác súng chạy sang với ta…”. Anh còn tiếp: - Làm ngụy vận phải kết hợp cả dũng lẫn mưu. Thái Bình đã làm được điều đó có hiệu quả cao. Thái Bình là đất căn cứ khu, các cơ quan khu cần hỗ trợ nó, nhằm tạo được những điển hỉnh tốt, kinh nghiệm hay, phổ biến rông.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:19:12 am »

ĐÒN ĐẦU TIÊN CẢNH CÁO TƯỚNG PHÁP

Những ngày hè năm 1953, Bộ tư lệnh tả Ngạn thường xuyên hội ý, theo dõi sát những hoạt động của Nava đối với đồng bằng Bắc Bộ. Y đã nói rõ: “Bắc Bộ là khu tác chiến chủ yếu”, “Đồng bằng sông Hồng là chiến trường chính”, mất nơi này là dẫn đến sự sụp đổ của toàn Đông Dương”. Qua  đó, anh Ngạn nhận định: - Nava sẽ vẫn dùng ngón đòn sở trường của các viên tướng chỉ huy trước y là càn quét. Xalăng đã đẩy mức độ một số trận càn lên cao và ác liệt nhất so với trước đây. Nava sẽ đẩy lên cao hơn, giống như con bạc càng thua càng dốc túi ra đánh to hơn hòng gỡ nhanh. Tập trung quân đông, tăng cường phi pháo, nhằm nơi và lúc ta sơ hở là chúng đánh. Ta phải đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị phá càn, bằng những kinh nghiệm xương máu đã được rút ra. Khi chúng chưa càn ta phải chủ động đẩy mạnh hoạt động du kích, tạo những thuận lợi để phá càn; chống khuynh hướng nghỉ ngơi khi địch chưa đánh tới; phải xây dựng, huấn luyện, chuẩn bị mọi mặt để vào trận mới; bộ đội chủ lực tránh đánh phân tán một chiều hoặc chỉ đánh tiêu hao mà bỏ lỡ cơ hội có thể tập trung tiêu diệt từng bộ phận địch; tích cực đánh giao thông, nhằm bọn khinh quân và địa phương quân mà tiêu diệt; tập kích những nơi trú quân, trại huấn luyện; ở vùng địch chiếm thì nhằm phá kho tàng, sân bay, đường sắt; đồng thời đẩy mạnh ngụy vận…

Anh Miên báo cáo: - Lúc này tỉnh ủy Kiến An chỉ đạo cho tỉnh đội tiếp tục đánh vào hậu cứ địch. Rút kinh nghiệm trận tập kích thị xã Kiến An để đánh Sở Dầu Thượng Lý (Hải Phòng), nơi tập trung nhiều bồn xăng và kho chứa đan dược, với sự bảo vệ của lính Âu - Phi.

Theo tin đầu tiên, huyện An Dương đã sớm cho cán bộ vào xây dựng cơ sở gần Sở Dầu, đào hầm bí mật đủ cho 40 người làm chỗ đứng khi vào đánh, và làm nơi ẩn tránh khi chưa kịp rút ra xa. Quân báo còn điều tra thực địa, đo chiều cao chiều rộng và độ dày của bồn xăng để tính lượng bộc phá cần đánh. Dân quân du kích giả làm người buôn đưa thốc nổ từ ngoài vào… Tỉnh đội tuyển lựa năm tiểu đội tinh nhuệ, thuộc bộ đội tỉnh và đội vũ trang tuyên truyền An Dương, chia thành hai đơn vị đánh kho dầu và kho đạn. Sự chuẩn bị đã xong, chỉ còn chờ vào trận.

Anh Ngạn nhận xét: - Trận này có mấy điểm đã được tính toán kĩ hơn trận tập kích thị xã; - Dùng lực lượng nhỏ tinh nhuệ; - Có nơi ẩn tránh khi chưa kịp rút ra xa… Song phải cố gắng giữ bí mật; động viên anh em dũng cảm, mưu trí, đánh thắng… Phải khiến cho Nava thấy đây là một trong những đòn cảnh cáo đầu tiên của Tả Ngạn đối với hắn.

Anh Miên báo cáo thêm: - Tỉnh đội Kiến An cũng chuẩn bị tập kích sân bay Đồ Sơn.

Sau đó không lâu, anh Đặng Kinh từ Kiến An lên báo tin chiến thắng: Ngày 17-6-1953, quân ta bí mật vào tập kết tại các cơ sở. Đêm 18-6, đơn vị đánh vào kho dầu do đồng chí Quách Phú trực tiếp chỉ huy, tiếp cận mục tiêu. Bị địch phát hiện khi chưa tới giờ phát hỏa, Quách Phú kịp thời ra lệnh đánh. Khu kho dầu bốc cháy. Một tiểu đoàn Âu - Phi bó tay đứng nhìn 47 triệt lít xăng dầu thành khỏi lửa.

Địch vội vàng chặn các ngả đường, tàu chiến, ca nô giăng dọc sông Văn Úc. Nhưng quân ta không rút ngay mà nằm lại các cơ sở, đêm sau mới lẹ làng về căn cứ Tiên Lãng. Rất tiếc là đơn vị đánh kho đạn chưa kịp tới mục tiêu thì bên kho dầu đã phát hóa, đánh rút chạy, êm gọn.

Anh Ngạn khen trận đánh hay, kết quả lớn mà bảo toàn được lực lượng. Bộ đội dũng cảm chiến đấu, cơ sở bảo mật tốt… Đó là những tiền đề chuẩn bị đánh các trận sau. Điều cần chú ý: những hoạt động táo bạo của quân ta sẽ khiến địch tăng cường đói phó. Chúng đã càn quét nhỏ nhưng dai dẳng ác liệt như sau trận ta đánh thị xã Kiến An. Chúng có thể càn ác liệt hơn sau trận Sở Dầu. Kiến An phải sẵn sàng chống trả.

Anh Đặng Kinh hứa với Khu ủy và Bộ tư lệnh: - Có ngay kế hoạch đối phó với địch, đồng thời chuẩn bị đánh sân bay Cát Bi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2009, 08:19:59 am »

NAVA CHĨA MŨI NHỌN VÀO TẢ NGẠN

“Kế hoạch Nava” được Chính phủ và Hội đồng quân sự Pháp thông qua; Mỹ ủng hộ bằng tăng cường viện trợ quân sự, năm 1953 tăng gấp ba lần so với năm 1952, chiếm gần nửa tổng ngân sách chiến tranh ở Đông Dương. Chính phủ Mỹ cử một phái đoàn do tướng Ô Đanien cầm đầu sang Đông Dương đốc thúc và quan sát việc dùng tiền viện trợ.

Nava dự định tác chiến qua hai bước: 1) Thu - Đông 1953 và Xuân 1954 giữ thế phòng ngự từ vĩ tuyến 18 trở ra; bình định miền Nam, miền Trung Đông Dương, xóa bỏ vùng tự do Liên khu V; 2) Nếu đạt được bước một sẽ chuyển sang tiến công miền Bắc, giành thắng lợi quân sự to lớn buộc đối phương phải đàm phán theo điều kiện có lợi cho Pháp.

Nava chọn tướng Gămbiê làm tham mưu trưởng, tướng Cônhi làm tư lệnh chiến trường Bắc Việt. Viện binh từ Pháp sang và sắp xếp lực lượng tại chỗ, có tới 106 tiểu đoàn. Tiếp đó lại rút bảy tiểu đoàn bộ binh và pháo binh từ Nà Sản về tăng cường cho đồng bằng Bắc Bộ.

Đúng ngón đòn quen thuộc của địch vẫn là càn quét. Theo tin tổng hợp của báo Cứu quốc Tả Ngạn: từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10-1953, địch mở cuộc càn “Thánh tử vì đạo” ở các huyện Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định). Tướng Ginlơ chỉ huy bị thương nặng, quân càn bị đòn đau, phải rút.

Cuộc càn “Cờlốt” ở huyện Tiên Lãng (Kiến An) với hai GM 3, 5 và năm tiểu đoàn, có năm đại đội Commăngđô và “Gamô” đi theo để “Bình định kiểu mới”, một thủy đội và một bộ phận không quân hỗ trợ. Qua 21 ngày, bị bộ đội tỉnh, huyện và dân quan du kích đánh liên tục. Đại đội 235 của tỉnh luồn tránh và đánh địch rất linh hoạt, nhiều kết quả. Một tiểu đội du kích Thái Lai, không sợ xe cóc, bám địch diệt hàng chục tên. Du kích thôn Cổ Thụy dùng súng trường bắn bị thương máy bay trinh sát… Được Thái Bình hỗ trợ 1.000 bàn chông sắt, du kích các xã đặt khắp đường ngang, lối tắt, khiến một giặc dẫm chông, hai thằng phải khiêng, những thằng khác chùn chân sục sạo. Kết thúc càn, địch chỉ đóng thêm được một đồn, nhưng bị chết, bị thương hơn 800 tên.

Đồng thời, tướng Cônhi sắp xếp lại một phần binh lực ở vùng bắc sông Luộc. dóng thêm hai đồn phòng thủ thị xã Hải Dương, bốn đồn phòng thủ thị xã Hưng Yên. Xây thêm công sự xi măng cốt sắt, đặt thêm nhiều bãi mìn để phòng vệ đường 5, đường sắt. Đặt căn cứ của sư đoàn 2 cơ động ở thị xã Hải Dương. Đặt căn cứ một số GM trên trục đường 5, nhằm hỗ trợ kịp thời cho các đồn bốt chung quanh.

Bắc sông Luộc vẫn là vùng hoạt động của Trung đoàn 42. Lúc này, anh em vừa củng cố lực lượng, vừa phối hợp với bộ đôi, du kích địa phương, đánh 10 trận phục kích và tập kích, diệt và bức rút sáu đồn địch, phá hủy hai xe tăng và bốn pháo 105 li, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng chống càn…

Đêm ấy, Bộ tư lệnh Tả Ngạn làm việc tới hai giờ sáng xem xét tình hình trên. Anh Ngạn phân tích: - Nava dương đông kích tây và rõ ràng đã chĩa mũi nhọn vào Tả Ngạn sông Hồng. bộ tổng tư lệnh vừa điên cho chúng ta: “Chuẩn bị chống càn quét ở địch hậu”. Tại khu ta, sắp tới địch có thể: 1) Càn trung bình một vài Giem phối hợp với khinh quân và bọn “gamô” thực hiện “Bình định kiểu mới” từng khu nhỏ. Chúng đã nhằm Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, có thể sẽ nhằm nam và bắc thanh Hà. 2) Có thể chúng càn kiểu đó ở các huyện ven đường 5 và các huyện Tiền Hải, Kiến Xương. 3) Có thể chúng càn lớn ở căn cứ du kích ta. Khả năng này có nhiều, triệu chứng này đã lộ phần nào qua sự bài binh bố trận của chúng ở Hưng Yên, Hỉa Dương. Cần nhận ra điểm mạnh của địch: - Tập trung quân vào một khu nhỏ, tiếp cận nơi chúng mạnh và cơ sở ta yếu, càn lâu quét kĩ, đánh bằng vũ lực đồng thời ve vãn, lừa mị bằng chính trị, kinh tế. Và điểm yếu của địch: - Lực lượng chính để càn quét, bình định là khinh quân. Bọn này là tổ chức mới, kĩ thuật non, ta có nhiều điều kiện để phá. – Địch vẫn phải phân tán đối phó với ta ở nhiều nơi. Khu ta mở đợt hoạt động mạnh thứ hai của kế hoạch từ nay đến hết tháng 10-1953, phá các cuộc càn to, nhỏ, chủ yếu là phá “Bình định kiểu mới”, diệt nhiều sinh lực địch; bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân, giữ vững cơ sở… Đây là cuộc đấu tranh, toàn dân toàn diện của ta; không hoàn toàn mới, mà là tiếp tục phát triển trên cơ sở những thắng lợi và kinh nghiệm chống càn thời Đờ Lát và Xalăng. Tất nhiên, ta không chủ quan khinh địch về mặt chiến thuật, song về chiến lược, ta đang ở thế tiến công, thế quyết chiến quyết thắng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:33:31 am »

PHÁ CÀN “CÁ MĂNG”

Các nguồn tin qua điện từ trên xuống, qua trinh sát, tình báo đưa về, cho hay một cuộc càn lớn mang tên “Cá Măng” (Bơrôtsê) đang hình thành. Nava coi đây là “một trong mấy cuộc hành quân đại quy mô vào căn cứ của đối phương”, nhằm “Tiêu diệt toàn bộ các căn cứ địch ở những vùng kế cận nhất, tạo điều kiện bảo vệ trục giao thông Hà Nội - Hải Phòng”. Vùng càn là toàn bộ căn cứ du kích nam và bắc sông Luộc. Lực lượng càn khá lớn: 5 GM cơ động, một GM dù, hai tiểu đoàn xe cơ giới, hai thủy đội và nhiều máy bay, tám tiểu đoàn pháo… Địch nhanh chóng hình thành thế bao vây vùng càn, nhằm tiêu diệt các lực lượng vũ trang ta, chủ yếu là hai trung đoàn chủ lực của khu.

Báo chí, đài phát thanh của địch làm rùm beng về cuộc càn “đại quy mô” này, nhằm khiến ta chỉ mới nghe phóng thanh đã khiếp vía kinh hồn.

Bộ tư lệnh Tả Ngạn đều đặn có người thường trực tại sở chỉ huy, nhận tin từ vùng bị càn:

- Mở đầu từ hạ tuần tháng 9-1953, địch tiến vào khu nam Hưng Yên và huyện Thanh Miện (Hải Dương). Các lực lượng vũ trang ta đã chủ động chiến đấu đều khắp.

Tại nam Hưng Yên, có 130 làng cài chông mìn. Địch sa vào 185 hố chông, dẫm nổ 124 ổ mìn và đạp lôi. Ba thứ vũ khí thô sơ tự tạo của dân quân du kích, đánh địch ở khắp làng, góc ngõ, xó vườn, khiến chúng tới đâu cũng bị thương vong, chùn chân lùng sục.

Tại Thanh Miện, nhiều làng đánh càn, diệt 80 tên.

- Giữa cuộc càn, địch từ Hưng Yên sang Hải Dương, tăng thêm một GM, đánh khu nam Gia Lộc, bắc Thanh Miện và bắc Ninh Giang. Du kích xã Đức Xương cùng một trung đội bộ đội huyện Gia Lộc chống càn ban ngày. Đêm lại từ hầm bí mật lên, diệt và làm bị thương hơn 100 tên địch.

Tiếp đó, địch thấy chủ lực ta luồn sang bắc Thái Bình, liền kéo sang càn Hưng Nhân, bắc Duyên Hà, tây Quỳnh Côi. Song phần lớn chủ lực ta lại luồn về bắc sông Luộc.

Nhiều nơi ở ngoài vòng càn, các lực lượng vũ trang địa phương đánh tương đối đối, tiêu hao địch và phá hủy xe pháo.

- Cuối cuộc càn, địch vẫn ở nam Thanh Miện, tây Ninh Giang, rồi trở lại càn quét Ân Thi, Phù Cừ, Tiên Lữ lần nữa.

Sau đó, đich buộc phải rút sang Nam Định, đối phó với hoạt động mạnh của quân dân bên ấy. Kết thúc 21 ngày càn “Cá Măng”, các lực lượng vũ trang Tả Ngạn loại khỏi vòng chiến đấu 2.700 tên địch, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh.

Chính ủy nói với các đồng chí trong Bộ tư lệnh Tả Ngạn: - “Cá Măng” là trận càn lớn mà Nava đặt nhiều hi vọng. Nhưng chúng thu được kết quả kém xa so với trận “Lạc Đà”. Hai trung đoàn chủ lực của ta được bảo toàn khá hơn, cùng bộ đội địa phương và du kích ba tỉnh đánh địch, chống càn. Có một số trận đánh tích cực và hiệu quả. Du kích chiến tranh phát triển với nhiều cách đánh; nhiều vũ khí thô sơ tự tạo đánh địch có kết quả không nhỏ. Những tên địch phải cưa chân để lại vì không tháo khỏi bàn chông, đã gây tâm lí sợ hãi cho đồng bọn. Những hoạt động phối hợp mạnh của ba thứ quân bên Nam Định đã khiến địch phải rút sang đối phó một cách bị động. Rõ  ràng ta đã phá được càn “Cá Măng”. Niền tin của quân dân ta được nâng lên hơn trước. Với những kinh nghiệm thiết thực về chống phá càn lần này, ta lại chuẩn bị sang trận mới. Vật liên tục, qua keo này sang keo khác, đô nào dai sức, nhiều mẹo sẽ thắng! Đúng không?

Chính ủy nghiêm cẩn nói tiếp: - Song chúng ta phải thẳng thắn kiểm điểm, rút ra những ưu điểm và khuyết điểm, trong sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh cũng như sự chấp hành của các trung đoàn, tiểu đoàn và các tỉnh đội. Riêng vấn đề tập trung, phân tán và di chuyển ta có những đièu cần bản kĩ. - Địch dùng lực lượng lớn để vây càn nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng ta. Ta chủ trương phan tán, hoặc vừa đánh vừa luồn để chống càn. Phương châm xây dựng của ta là: - Bộ đội chủ lực lấy đơn vị tác chiến là tiểu đoàn; các tiểu đoàn bố trí trên một vùng rộng, không dồn vào một chỗ; khi cần có thể tập trung hai tiểu đoàn hoặc phân tán từng đại đội, để tránh hoặc luồn càn. - Bộ đội tỉnh đánh là chính. Khi di chuyển thì tùy theo địa bàn, phân tán nắm du kích nếu du kích yếu, hoặc chia từng trung đội, hoặc hoạt động từng khu vực.

Trong cuộc càn “Cờlốt”, Đại đội 235 của Kiến An vận dụng phương châm trên khá linh hoạt, đánh địch khu trên rồi luồn xuống khu dưới. Địch xuống khu dưới, anh em lại luồn lên khu trên, tìm ra sơ hở của địch và đánh tiếp, nên đã cùng du kích phá được càn.

Trong cuộc càn “Cá Măng”, thấy địch tập trung lực lượng lớn, Bộ tư lệnh vận dụng phương châm trên, điều Tiểu đoàn Thắng Tân (tức 652 của Trung đoàn 42) từ Hưng Yên sang Hải Dương, nhằm phân tán rộng lực lượng ta, làm loãng mục tiêu công kích của địch. Nhưng Thắng Tân chủ quân, không chuyển, khi địch bao vây thì luồn rất khó khăn.

Khi địch càn bắc sông Luộc, khu tập trung tiểu đoàn Thắng Mỹ (tức 664 thuộc 42) và Tiểu đoàn Giang Tây (thuộc Trung đoàn 50) cho tập kích vào mũi kiềm chế của GM 2 ở Quỳnh Côi. Nhưng không thực hiện được mấy, vì lệnh tới chạm và địch di chuyển. Thật tiếc, mũi kiềm chế của địch thường đóng quân cô độc, dễ bị tiêu diệt.

Tiểu đoàn Thắng Tân và Tiểu đoàn Thắng lợi (Tức 698 thuộc 42), chiến đấu bị động và bị tiêu hao ở Hưng Yên, rồi tự ý luồn về bắc Thái Bình, giữa lúc địch có hiện tượng càn sang nơi này. Thấy bốn tiểu đoàn dồn vào một nơi, khu cho Thắng Mỹ và Thắng Tân luồn ngay lại Hưng Yên, Hải Dương, kịp thời phối chiến với bắc Thái Bình. Mặt khác, cho Thắng Lợi luồn sang Thư Trì rồi vòng xuống Thái Ninh, cho Giang Tây phân tán từng đại đội vừa đánh vùa luồn, thay thế bộ đội tỉnh vì không có mặt ở bắc Thái Bình.

Các đơn vị trên đã luồn khỏi vòng vây địch.

Khi địch rút khỏi băc Thái Bình sang đối phó với hoạt động của ta ở Nam Định, rồi chuẩn bị quét lại bắc sông Luộc, khu cho Giang Tây tập trung để hoạt động. Cho Giang Đông sang phối hợp đánh địch ở Nam Định, nhằm chia lửa với bắc sông Luộc. Mặt khác, cho các đơn vị ở bắc sông Luộc tập trung lực lượng đánh địch, nhưng rất tiếc anh em không làm được nhiệm vụ.

Với bộ đội tỉnh Thái Bình, khi địch sắp càn phía bắc tỉnh, khu điều hai đại đội lên đố phó, nhưng không lên được vì địch ngăn đường.

Thực tế trên cho thấy sự chỉ đạo của khu về việc tập trung, phân tán và di chuyển nói chung là linh hoạt: lực lượng tuy phân tán rộng nhưng khi cần tập trung vẫn mau lẹ. Với những đơn vị tập trung khi cần thì phân tán từng nơi để đánh địch. Cho các đơn vị luồn từ nơi này sang nơi kia khi địch sắp càn lớn là đúng và kịp thời, tránh được tổn thất mà lại diệt được một phần sinh lực địch.

Nhưng khuyết điểm không ít. Có những đơn vị không thực hiện đúng sự chỉ đạo của khu (thắng Tân không chuyển sang Hải Dương, Thắng Mỹ và Giang Tây bỏ lỡ việc đánh mũi kiềm chế của GM 2). Về phần khu, khi Thắng Mỹ về bắc sông Luộc, khu không nắm đwọc đơn vị nào nữa để làm tiểu đoàn cơ động, thế là phạm khuyết điểm “phân tán bình quân”.

Nếu Thắng Tân chuyển sang Hải Dương thì không đến nỗi phải đánh cố thủ ở Hoàng Cúc, Hoàng Xá, mình và địch đều bị tiêu hao. Khi Thắng lợi qua Thư Trì xuốn Thái Ninh, nếu cán bộ gan dạ, di chuyển có tổ chức thì không đến nỗi để thất lạc cả một đại đội; khi tới địa điểm không phải qua sáu, bảy ngày mới liên lạc được với cấp trên.

Khi địch càn bắc Thái Bình, Thắng Tân và Thắng Mỹ ở Hưng Yên, Hải Dương không tập trung lực lượng diệt một bộ phận quân cơ động của địch, không đánh tập kích, loay hoay bố trí đánh đồn, bỏ lỡ thời cơ.

Tiểu đoàn 38 bộ đội Thái Bình chuyển quân chậm chạp, lại không bố trí cẩn thẩn, bị địch phục kích tiêu hao, không làm được nhiệm vụ. Lúc GM 2 đến kiềm chế ở Quỳnh Côi, bộ đôi huyện Tiên Hưng đã phân tán từng tiểu đoàn. Ngược lại, khi địch đưa ba GM tới càn thì bộ đôi huyện Duyên Hà lại tập trung đại đội.

Các đơn vị mắc khuyết diểm trên cần kiểm điểm, sửa chữa. Vấn đề tập trung, phân tán, di chuyển trong chống càn là rất quan trọng. Khi vận dụng phải linh hoạt, phải tùy tình huống khách quan, không được theo ý muốn chủ quan; thực hiện phải khẩn trương mau lẹ; di chuyển có tổ chức, thì sẽ bảo toàn được mình, tạo thời cơ diệt địch. Ngược lại, sẽ không tránh khỏi thất bại. Đúng không các đồng chí?

Rồi đây chúng ta sẽ tổng kết về hai trận “Cờlốt”, “Cá Măng”, rút kinh nghiệm về các mặt khác nữa, để tiến lên chống phá những cuộc càn khác. Trước mắt phải làm kế hoạch Đông - Xuân 1953-1954, trên cơ sở những thắng lợi, những ưu điểm, khuyết điểm của Hè - Thu vừa qua.

Bộ tư lệnh Tả Ngạn đang làm kế hoạch Đông - Xuân 1953-1954, thì nhận được nhiệm vụ của Bộ tổng tư lệnh giao: “Đánh địch mạnh mẽ, tiêu hao, tiêu diệt địch, đánh phá các đường giao thông thủy bộ và sân bay, giam chân quân chủ lực”. Kế hoạch của khu bổ sung cụ thể, giao cho các trung đoàn và các tỉnh triển khai. Khu ủy động viên các ngành giới vận động quần chúng ra sức thực hiện nhiệm vụ Đông - Xuân, quyết tâm đánh bại “Kế hoạch Nava”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2009, 08:34:09 am »

MỘT THÁNG RƯỠI PHÁ HAI TRẬN CÀN

Khu mở cuộc họp cán bộ quân sự và các ngành liên quan rút kinh nghiệm vè hai cuộc phá càn “Cờlốt”, “Cá Măng”, Bộ tư lệnh báo cáo tổng quát về thi phá càn. Đại biểu huyện Tiên Lãng và các tỉnh bị càn báo cáo bổ sung. Chính ủy khu Tả Ngạn phát biểu tổng kết. Đồng chí nói: - Trong một tháng rưỡi, ta liên tiếp phá hai cuộc càn lớn, dai dẳng, ác liệt. Mặc dù ta mắc nhiều khuyết điểm, nhưng nói chung ta thắng lợi lớn; - Địch không diệt được lực lượng vũ trang ta, nhất là quân chủ lực. Ngược lại, bị ta loại khỏi vòng chiến 3.500 tên, có nhiều tên Âu - Phi; - Địch không bình định được Tiên Lãng, cả kiểu mới lẫn kiểu cũ; - Khu du kích và cnă cứ ta ở nam bắc sông Luộc vẫn còn nguyên như trước khi càn; tất nhiên là có bị tàn phá.

Do thành tích trên, quân dân Tiên Lãng được thư khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Hai đơn vị chống càn “Cá Măng” được đề nghị thương Huân chương Quân công.

Thắng lợi trên khiến chúng ta tin tưởng vào khả năng phá càn to và dài ngày, xóa bỏ phần lớn tư tưởng bi quan trước “Kế hoạch Nava”.

Đạt thắng lợi là do: - Kết quả của chỉnh huấn, chỉnh quân, bồi dưỡng tinh thần tiến công địch; nhờ kĩ thuật chiến đấu của bộ đội được nâng lên; - Kết quả thực hiện chính sách ruông đất, giải quyết nạn đói… khiến nhân dân thêm tin tưởng, hăng hái giúp bộ đội, du kích chống càn; - Các chiến trường, nhất là Hữu Ngạn, phối hợp có hiệu quả, khiến địch phải phân tá đối phó; - Bộ tư lệnh  chỉ đạo chặt chẽ. Các cấp ủy Đảng trong và ngoài quân đội chỉ đạo chống càn có tiến bộ; - Địch có nhiều nhược điểm cũng là điều kiện để chúng ta phá càn thắng lợi.

Song điều cần thấy là ta chưa thể phá được hoàn toàn cuộc càn; ta còn thiệt hại nhiều: nhân dân bị bắt, bị chết và bị thương 6.000 người. Đảng viên bị bắt và hi sinh 250 người (có 58 cán bộ tỉnh, huyện, xã, 10 đồng chí là tỉnh ủy, huyện ủy viên). Bộ đội chủ lực và địa phương hi sinh và bị bắt gần hai đại đội. Du kích bị bắt hơn 200 người. Có 20 làng bị san phẳng, 2.000 mẫu lúa màu bị phá nát. Mất 340 tấn thóc, 883 trâu, bò, hơn 50 triệu đồng Ngân hàng (vừa bị địch lấy vừa bị nhân viên ta tham ô. Ở Hải Dương có nhân viên lấy cắp 12 triệu). Nhà cửa đồ đạc bị cháy, bị mất rất nhiều.

Thiệt hại nặng nề do địch tàn ác. Phần khác do ta thiếu ý thức bảo vệ người và của, chưa tích cực vận động nhân dân làm hầm hố bảo vệ. Cần nghiêm túc rút kinh nghiệm để phòng tránh về sau.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM