Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:43:19 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh Ngạn  (Đọc 57024 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #70 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:50:42 am »

TẬP HỢP, ĐỘNG VIÊN TUỔI TRẺ

Anh Lê Thanh Bình vừa tổ chức xong một cuộc họp với thanh niên tại một làng ven biển Tiền Hải. Đây là những nam nữ thanh niên từ các vùng đô thị tạm chiếm và vùng có đồng bào Thiên chúa giáo đến dự. Số người không đông nhưng ai nấy đều nao nức phấn khởi, nhanh chóng làm quen với nhau. Đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đoàn từ Việt Bắc về, các đồng chí thường vụ Khu đoàn, các bí thư tỉnh đoàn và một số huyện, thị đoàn cũng dự. Ai rất hân hoan được gặp hai đồng chí cán bộ nữ, một hoạt động ở vùng địch tạm chiếm, một là nữ du kích tỉnh Kiến An, vừa đi dự Đại hội Thanh niên và Sinh viên thế giới từ Đông Âu về, kể chuyện các bạn trẻ Liên Xô, Trung Quốc và thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân và thanh niên Việt Nam. Đồng chí bí thư Khu đoàn đọc báo cáo về công tác vận động thanh niên, tăng quân, vào du kích chiến đấu và chống địch bắt lính, chống âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch; biểu dương thanh niên đã cùng gia đình đấu tranh kiên quyết chống âm mưu lập địa phương quân. Nêu tội ác giặc: giữa năm 1953, dội bom xuống nhà thờ Vân và nhà thờ Dốc Lã (Hưng Yên) chết hơn 400 giáo dân. Bọn phản đông lợi dụng Thiên chúa giáo giết hại hơn 200 người ở hầm Quỳnh Lang (Thái Bình). Trong cuộc càn Tiên Lãng, giặc đánh phá nhà thờ Duyên Lão, cả cha xứ lẫn con chiên đều bị giặc đánh đập dã man. Hiểu rõ âm mưu và tội ác giặc, nhiều thanh niên trong tiểu đoàn ngụy của Trịnh Quang Thanh và Vũ Thanh Mai đã bỏ hàng ngũ trở về. Không ít ngời tòng quân, vào du kích để đánh giặc để khỏi bị chúng bắt làm ngụy binh, vệ sĩ…

Trong không khí cởi mở, một số thanh niên lương, giáo tích cực chống giặc bắt lính hoặc từ bỏ hàng ngũ giặc trở về tham gia kháng chiến kể chuyện bản thân. Mắt thấy tai nghe, những người dự hội nghị nghiệt liệt hoan nghênh bạn và ngẫm nghĩ về mình.

Nhóm văn nghệ bộ đội đến giúp vui. Câu hò “Tình bằng ai ơi!”; khúc hát tâm tình gửi người lính ngụy “Anh ơi quay súng về đây! Máu người dân Việt.”; bài ca buồn thảm “Ai đem giặc đến nhà thờ? Ai đem danh chúa mà lừa giáo dân?”; hoạt cảnh “Công Nông Binh kháng chiến”; đồng ca “Địa lôi Phú Thái, Kim Thành. Giặc chết đường số 5…”; tam ca “Hôm nay phá bốt Đào Thành Những người dân lành mừng vui mở cống..”… lại còn tiết mục kể chuyện “Gọi chồng bằng bố”. Người kể mặt non chẹt nhưng vẻ râu ria. Mọi người phì cười, anh ta cứ tỉnh khô, nói rành rọt như rót vào tai mọi người: - Có vợ chồng một anh cầu an. Vợ chạy vào thị xã buôn bán. Chồng chui hầm bí mật trong nhà lại không cạo râu, để giặc tưởng già khỏi bắt”.

“Lâu lâu vợ nhớ chồng về thăm. Anh ta mở mành ló đầu ra đón. Chị vợ thoáng trông ngỡ là ông bố chồng (vốn cũng để râu), bèn cúi đầu lễ phép: - Con chào bố ạ!”
.

Mọi người vỗ tay cười rộ, khen “hay”.

Sâu lắng, sôi nổi, rộn ràng, khiến những người trẻ tuổi trong vùng bị địch tạm chiếm, lương cũng như giáo, bừng tỉnh về một chuyện cực kì hệ trọng trong đời mình.

Nghe đồng chí bí thư Khu đoàn báo cáo, anh Ngạn cười vui: - Cần tiếp tục mở các hội nghị như thế ở các tỉnh, để các huyện rút kinh nghiệm làm theo. Xã có điều kiện cũng nên làm. Ngoài cách họp hành nửa chính trị nửa văn nghệ như thế, còn có cách nào nữa có sức tập hợp và động viên tuổi trẻ đều cần tận dung. Anh em bị lừa phỉnh nhiều rồi, cần thân ái giúp họ hiểu ra.

Bí thư Khu đoàn ghi nhận ý kiến anh Ngạn. Một số cán bộ hỏi: - Ngụy binh chiến đấu kém, không ít kẻ làm nội ứng cho ta diệt đồn, rồi bỏ ngủ, đào ngũ, sao Pháp vẫn cố bám lấy bọn đó?

Anh Ngạn gti: - Là vì chúng thiếu quân, không thể lấy nhiều từ nước Pháp hoặc từ thuộc địa ở châu Phi, vì dân các nơi ấy phản đối. Âm mưu “Dùng người Việt đánh người Việt”, Pháp thực hiện ngay từ khi đánh nước ta cách đây gần trăm năm. Hoàng Cao Khải ở Bắc Kỳ, Nguyễn Thân ở Nam Kỳ, là những kẻ cầm đầu ngụy quân giúp Pháp cướp trọn nước ta.Nay âm mưu ấy càng được đẩy mạnh. Riêng năm 1953, chúng lập thêm 54 tiểu đoàn ngụy. Bảo Đại cùng bọn ngụy quyền ra sức lừa bịp, kêu  gào thanh niên vào lính ngụy “Bảo vệ quốc gia”. Thanh niên vùng Thiên chúa giáo bị những tên phản động đội lốt thầy tu mê hoặc: “Đi lính bảo vệ thánh đường”.

Mặt khác, chi tiêu cho lính ngụy đỡ tốn nhiều so với lính Âu - Phi. Lính ngụy không thuộc địa hình, đi càn có phần xông xáo hơn, dễ sai khiến hơn. Một cái đồn Liên hiệp Pháp ở La Cao điều khiển 19 đồn khác với 19 trung đội ngụy, chỉ cần một quan hai Pháp đứng đầu, mà có thời gian chiếm giữ cả huyện Tiền Hải. Qua thực tế đó, ta thấy lính ngụy rất cần đối với Pháp. Lính ngụy nhiều nhược điểm, Pháp vẫn phải bám là vì thế.

Ngụy quân là còn dao hai lưỡi. Một lưỡi Pháp dùng để chém người ta, một lưỡi sẽ khiến Pháp đứt tay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Địch dùng nhiều ngụy quân như nguiwfì khát nước mà uống thuốc độc”. Song Pháp vẫn cứ phải bám ngụy. Đo đó, ta cần ra sức chống âm mưu của Pháp. tuyên truyền, giáo dục cho thanh niên thấy âm mưu địch, để họ tránh bị giặc bắt làm ngụy. Những người đang là ngụy thì tìm mọi cách để quay về với kháng chiến, với cha mẹ, vợ con. Phải nghiêm chỉnh thực hiện chính sách đối với ngụy binh, như chính sách khoan hồng, chính sách ruộng đất, cho giữ nguyên cấp bậc cũ nếu muốn nhập bộ đội ta. Nếu chiến đấu giỏi thì được khen thưởng; nếu đủ điều kiện có thể trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua…

Thấy anh em muốn hỏi thêm, anh Ngạn nói luôn: - Là vì phần lớn ngụy binh vốn là quần chúng cơ bản của ta, họ ít nhiều đều bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột. Nay họ là nạn nhân của địch. Ta vận động họ về với ta, họ phải được cứu giúp để được sống bình thường, hơn nữa còn được lập công, tiến bộ. Cha ông ta vẫn nói: “Giận kẻ bỏ đi, không giận kẻ tìm về”. Chúng ta phải kiên quyết trừng trị kẻ ngoan cố bán nước; cứu vớt kẻ lầm lạc, và động viên người tỉnh ngộ góp phần chống địch. Đúng không các đồng chí?
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #71 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:51:17 am »

ĐI XE ĐẠP LÊN VIỆT BẮC

Anh Thứ chuyển gác cho đồng chí khác, rồi vào nhà uống nước. Mưa phùn gió bấc, mấy anh em ngồi ấm chân trong những mớ rơm, hai tay hơ hơ trên đống trấu khói tỏa lơ thơ dễ chịu. Tôi và anh Thứ ngồi nhớ lại chuyện đi Việt Bắc, chuyến cuối năm 1953.

Thứ thủ thỉ: “Đường từ đây đi Xích Thổ căn cứ của Liên khu III thì chả phải kể nữa. Vượt sông Hồng, đồn giặc dày sít; lội đồng chiêm trrũng Hà Nam mỏi cẳng, mòn da, ta biết rồi. Từ Xích Thổ lên Việt Bắc không phải qua những cảnh ấy, nhưng chẳng kém phần gian nan nguy hiểm. Khu ta đặt một tổ công tác ở Xích Thổ làm việc hậu cần. Tổ có một số xe đạp để anh em qua đấy đi họp Việt Bắc thì mượn. Chuyến ấy, ông Nam đi đường bị sốt. Tôi múc chậu nước để ông nhúng đầu cho mát. Sau mới biết làm thế nguy hiểm. Ông Nam phải nằm lại ở Chi Nê, rồi đi sau. Đồng chí liên lạc đưa cậu Triệu và tôi đi với anh Ngạn.

Đạp xe từ Xích Thổ sang Hòa Bình, rồi lên Phú Thọ, Tuyên Quang. Không lo giặc phục kích nhưng lo máy bay ném bom. Mấy anh em đạp xe rạc cẳng. Anh Ngạn đạp khỏe, có lúc vượt xe chúng tôi.

Tối ấy ngủ ở chợ Mãn Đức. Sáng sau tới dốc Cun, gặp mấy quả bom chưa nổ, nằm chềnh ềnh như lợn ngủ giữa đường. Đường bị bom phá nhiều lần, đắp vá nham nhở, xe đạp khó lách qua. Ba bốn anh em phải vác xe chạy bộ gần chỗ bom nằm, không biết nó nổ lúc nào. Nhọc thở hơi tai. Phải kiếm cành cây rậm lá buộc vào sau xe làm phanh phụ rồi tuột xuống dốc, bùi tung mù mịt. Má phanh chính bị bóp liên tục, xát vành xe khét lẹt, xe vẫn tuột nhanh. Nhiều lúc phải đạp dép vào lốp cho xe chậm bớt. Đường dốc cũng sợ như bom chưa nổ.

Lên Phú Thọ, gặp xe Môlôtôva, vẫy đi nhờ, được ngay cả người lẫn xe đạp. Nghĩ bụng: vùng tự do sướng thật. Anh Ngạn nói vui: - Cái mùi xăng của xe ta không khét  như xe tăng của Pháp, các cậu thấy không? Rồi anh cùng chúng tôi cười khà.

Xe chạy vừa phải, tôi ngắm núi ngắm đồi, nước suối trong, hoa chuối đỏ, sướng mắt. Một lúc lâu, quay lại nhìn nhau thấy bụi đường bám trắng tóc, trắng áo, vẫn cứ thích thú, người nhẹ lâng lâng.

Tới cơ quan Trung ương, anh Ngạn vào chào Bác Hồ. Tôi cùng đồng chí bảo vệ đứng gần nhìn lại, thấy Bác bước sóng đôi bên anh, thân ái, bình dị, vừa đi vừa hỏi chuyện. Mấy ngày sau, ông Nam lên, khỏi sốt, mừng lắm. Trong lúc anh Ngạn vào họp, ông Nam đến chỗ anh Tố Hữu xin máy chiếu phim…”. Nói tới đây anh Thứ ngừng lời, nhìn tôi, ý bảo kể tiếp. Tôi liền vào chuyện:

- Xin máy chiếu phim không dễ, vì máy quá ít, Liên Xô, Trung Quốc gúip một số máy, ưu tiên phục vụ bộ đội. Anh Tố Hữu bảo: - Khu Tả Ngạn xa xôi, chiến đấu gian khổ sẽ được ưu tiên môt máy!

Máy phải có xe chở về, chứ khiêng vác sao nổi. Tôi nghĩ đến chuyện xin xe. Anh em văn phòng Trung ương gọi ý đến xin anh Đinh Đức Thiện, Tổng cục Hậu cần. Máy về Xích Thổ, rồi từ đó sẽ tìm cách chuyển về Tà Ngạn.

Tôi đến chỗ anh Thiện, trình bày lí do xin xe. Anh vừa nghe vừa chăm chắm nhìn tôi, như để thấy từng nét gian khổ trên gương mặt con người vừa mới từ vùng địch hậu ra. Với giọng chân mộc nhưng thân ái, anh nói: - Mày về bảo thằng Mười nộp vượt mức thuế nông nghiệp, bộ đội ăn no, tao cho mượn xe jeep! Tôi cười tỏ ý tiếp nhận lời anh. Bỗng nhớ tới một nét gian nan thiếu thốn của vùng Tả Ngạn, anh Thiện nói: - Cái máy chữ của khu mày mất chữ K phải thay bằng chữ Rđúng không? “Kênh Kem” mà đánh thành “Rênh Rem”, “khó khăn” thì đánh thành “Rhó Rhăn”, đọc tức cả mắt. Máy với móc, như Rái Ron Róc Rhô! Ông nói vậy mà mặt cứ tỉnh như không. Mình cố nhịn vẫn phải phì cười. Ông lại bảo: - Tao có máy chữ còn mới, lấy không? Tôi đáp: - Dưới ấy đã có máy mới, chiến lợi phẩm thu ơ đồn giặc! Ông cười: - Vậy à! Rồi khen: Tốt!

Sau mỗi buổi họp, anh Ngạn đưa tài liệu cho tôi bảo: - Cậu ghi tóm tắt, ghi mật ngữ, lấy những điểm chính. Họp xong phải trả tài liệu cho bảo mật đấy!

Có một buổi anh Ngạn bảo Thứ và tôi sang chỗ anh Võ Nguyên Giáp. Đường từ bản này sang bản ấy quanh co, lên dốc, xuống dốc gập ghềnh. Người liên lạc đưa qua một con suối cạn, leo một sườn đồi đến chỗ anh Giáp. Đã hẹn trước, anh Giáp ra cửa đón. Anh ngạn giơ tay chào. Anh Giáp chào lại, bắt tay, cười: - Ông tướng du kích ơi, ông chào không đúng kiểu! Rồi hai anh cùng cười.

Anh Ngạn họp xong, lên xe jeep về trước cùng anh Triệu và cái máy chiếu phim, vài hộp phim và cuốn họa báo. Tôi và anh Thứ đi xe đạp sau. Trên đường về tình cờ lại gặp ông chú tôi, nhà ở gần thị xã Tuyên Quang. Ngày tết, đồng bào dân tộc máy áo dài, váy rộng, đeo vòng bạc, xòe ô xanh đỏ. Ngươi Kinh cũng như người Thái, người Tày, ríu rít mừng tuổi, chúc nhau. Tiếng cười vui của bà con ngày tết khiến mình nhớ nhà, nhớ quê. Chúng tôi hỏi nhau: “Bao giờ dân Tả Ngạn mình được đón tết, mừng xuân như ở đây?”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #72 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:51:54 am »

LỰC LƯỢNG ÍT NHƯNG HIÊU QUẢ LỚN

Hôm ấy trời rét, anh Đặng Kinh cùng các đồng chí trong Bộ tư lệnh đến đúng giờ. Anh Ngạn đang viết liền ngừng bút, đứng dậy bước mấy bước ra cửa, hai bàn tay to rộng vỗ bộp vào đôi vai cũng to rộng của đồng chí tỉnh đội trưởng miền biển. Anh Kinh từ Kiến An vượt qua mấy con sông sang đây, trực tiếp nghe chỉ thị của bí thư Khu ủy. Song anh Ngan không nói ngay mà hỏi: - Kiến An sẽ làm gì để thực hện nghị quyết của Khu ủy về đánh sâu vào vùng địch? Các đồng chí tập kích thị xã, tập kích Sở Dầu có kết quả, bây giờ làm gì?

Anh Kinh báo cáo: - Trận đánh sân bay Đồ Sơn đạt yêu cầu khiến chúng tôi củng cố thêm ý định đánh sân bay Cát Bi!

Anh Ngạn hỏi: - Các đồng chí đã chuẩn bị những gì cho trận đánh mới?

Anh Kinh đáp: - Từ tháng 7-1953, tỉnh đội cho tổ trinh sát và điều tra tình hình sân bay. Anh em vợt khó khăn, từ Đồ Sơn vòng đường biển vào Đình Vũ, rồi lội tám kilômét bãi lầy và sông ngòi, thâm nhập sân bay, song chưa xây dựng được cơ sở nhân dân nên không chỗ đứng. Sau đó chuyển sang xã Hòa Nghĩa gây cơ sở, tạo được bàn đạp. Nhiều đêm vượt sông Lạch Tray vào sây bay điều tra, gần sáng rút về hầm bí mật. Anh em vẽ sơ đồ sây bay và nắm được sự bố phòng của địch. Lại liên lạc với một nhân viên làm việc ở sân bay, lấy được bản đồ chính thức. Các nguồn tin điều tra cho hay: sân bay lúc này có 277 chiếc máy bay, 700 phi công, thợ máy… và 44 cố vấn Mỹ. Lực lượng bảo vệ gồm bốn tiểu đoàn Âu - Phi, hai tiểu đoàn ngụy, một đại đội do thám, do một thiếu tướng Pháp chỉ huy.

Địch phòng thủ khá dày: 22 vị trí ngoài hàng rào quanh sân bay, 38 vị trí trong hàng rào, 13 vị trí trọng liên phòng không. Lính Âu - Phi canh gác sát nơi máy bay đậu. Sáu hàng rào thép gai dày sít, treo ống bơ và cài mìn, 2.000 đèn điện và 22 đèn pha chiếu sáng suốt đêm. Từng trung đội Âu - Phi luân phiên tuần tiễu quanh sân bay với xe cơ giới và chó săn. Biển, sông bao bọc ba mặt sân bay, người thường không thể tới gần…

Coi trọng xây dựng cơ sở ven sân bay, tỉnh giao cho huyện ủy Kiến thụy phụ trách. Hai huyện ủy viên bám xã cùng số anh em võ trang tuyên truyền được lựa chọn làm việc này. Nhân dân sợ giặc khủng bố, anh em thuyết phục để bà con giúp đỡ, đào hầm bí mật, đủ cho 130 chiến sĩ ẩn nấp trước và sau trận đánh. Tỉnh đội trưởng trực tiếp chỉ huy, sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh, bảo đảm đánh thắng.

Nghe xong, anh Ngạn đặt ra những câu hỏi từ tổng quát đến chi tiết nhằm giúp cho kế hoạch hoàn thiện hơn. Sau khi các đồng chí trong Bộ tư lệnh góp ý, anh Ngạn nhận xét: - Sự chuẩn bị về mọi mặt như thế là công phu. Từ xây dựng cơ sở đến điều tra thực địa, từ hình thành ý định đến tổ chức lực lượng chiến đấu, luyện sức khỏe và tập huấn kĩ thuật cho bộ đội, v.v. các đồng chí đã rút kinh nghiệm từ mấy trận đánh trước để vận dụng vào trận này. Tôi đồng ý với nhiệm vụ và mục tiêu để ra, nhưng phải cân nhắc thật kĩ hai điểm: 1) Tìm cách dùng lực lượng ít nhưng hiệu quả chiến đấu lớn; 2) Đánh nhanh rồi rút nhanh, bảo toàn lực lượng. Trận này thắng sẽ góp phần quan trọng vào thực hiện nhiệm vụ quân sự Đông - Xuân 1953-1954, phối hợp đắc lực với chiến trường chính và góp phần đánh bại kế hoạch Nava.

Tiếp nhận ý kiến bí thư Khu ủy, anh Kinh trở về cùng các đồng chí hữu quan tìm cách bổ sung kế hoạch đánh địch. Tỉnh ủy Kiến An nhấn mạnh vào những người ch trận đánh là “phải tuyệt đối giữ bí mật, lọt vào tay địch cũng không để lộ”. Thế nhưng khi chuẩn bị đã đạt yêu cần thì địch càn quét, bắt hai huyện ủy viên tại cơ sở. Một đồng chí tự sát. Một đồng chí bị tra tấn đến chết không khai. Tiếp đó, địch bắt hai đồng chí nữa ở hầm bí mật. Các hầm khác bị phá gần hết. Một số đảng viên, nhân dân bị sát hại. Sau đó, tỉnh, huyện phải cử thêm cán bộ xuống xã vận động nhân dân và đảng viên làm lại nhiều việc cho cuộc tiến công. Rất may là ý đồng đánh sân bay vẫn còn được giữ kín.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #73 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:52:57 am »

GẶP TRUNG ĐOÀN TRƯỞNG 42

Anh Phạm Gia Tuân tổng hợp dư luận qua đài báo phương Tây và báo cáo với bí thư Khu ủy: - Mỹ có ý muốn thay thế Pháp đóng vai trò chính ở Đông Dương. Do đó, Mỹ không muốn để mất Đông Dương bằng cách tăng viện trợ quân sự cho Pháp. Tàu Mỹ liên tiếp chở máy bay, vũ khí, thuốc men vào cảng Hải Phòng, nên đường 5 và đường sắt Hải Phòng - Hà Nội nhộn nhịp tàu xe hơn bất cứ thời gian nào trước đây.

Khu ủy và Bộ tư lệnh Tả Ngạn chủ trương “cắt đứt cổ họng của địch, bằng cách đánh mạnh các đường giao thông thủy, bộ và hạn chế tối đa vận chuyển đường không. Bí thư sang Hưng Yên gặp anh Nguyễn Như Thiết, trực tiếp nghe tình hình chiến đấu của Trung đoàn 42.

Anh Thiết được bí thư biết từ hồi còn Chiến khu III (năm 1946). Thiết đã từng tham gia Việt Minh khu Bãi Sậy (Hưng Yên), đóng tỉa lính bảo an của Nhật, tiến vào sân đồn Bần. Anh em cơ sở ta trong đồn phối hợp uy hiếp lính Pháp, khi chúng hoang mang vì Nhật đảo chính ở Hà Nội. Tên quản Pháp và trung đội lính đồn bỏ chạy hoặc hàng. Ta an toàn, thu 26 súng. Tới những năm gần đây anh giữ trọng trách trung đoàn trưởng kiêm chính ủy, được cấp trên và cán bộ, chiến sĩ tin cậy. Gần đây nhất Trung đoàn của anh nhận chỉ thị: đánh phá mạnh tuyến đường 5, đường sắt, làm cho địch khó thực hiện được viẹc tiếp tế từ quân cảng Hải Phòng vào Hà Nội để tiếp viện cho Điện Biên Phủ và Thượng Lào.

Anh Thiết báo cáo: từ ngay 1 đến 12-1-1954, tướng Cônhi dùng hai GM 3 và 8 cùng ba tiểu đoàn khác mở trận càn “Angiêri”, ở phần lớn các huyện Tiên Lữ, Phù Cừ, nam Thanh Miện, tây Ninh Giang, nhằm xua giản lực lượng vũ trang ta, nhất là trung đoàn 42, giải tỏa các đồn bốt đang bị ta uy hiếp và tăng cường phòng ngự đường 5, đường sắt.

Trung đoàn và bộ đội tỉnh, huyện vẫn nhằm hướng đường 5, tiếp tục chuẩn bị hoạt động mạnh. Chỉ để một bộ phận bộ đội huyện và du kích chống càn. Anh em đánh chông, mìn, đạp lôi có hiệu quả. Địch dùng máy bay bắn phá nhiều nơi. Sau đó, Tiểu đoàn 664 và Đại đội 200 trợ chiến được đưa vào vòng càn đánh địch.

Có một tiểu đoàn địch đóng quân ở làng Hải Yến (Tiên Lữ). Chúng luôn thay đổi và giữ bí mật những chỗ đóng quân trong xóm ngõ quanh co. Ta có tổ du kích do một thôn đội trưởng từ hầm lên dẫn đường, nhưng không đủ đáp ứn nhiều mũi của quân ta.

Mặc đêm tối, mưa rét, đường trơn, đơn vị do đại đội trưởng Nguyễn Văn Lợi chỉ huy mở nhiều mũi vào làng, chưa tìm thấy nơi địch đóng. Đại đội trưởng Lê Huy Vinh chỉ huy một tiểu đội dũng cảm tiến vào tìm địch, bị địch nổ súng liên thanh. Vinh trúng thương nhưng nhận ra vị trí địch và tiến đanh. Ở đâu đó địch còn im lặng cũng buộc phải nổ súng. Các mũi của ta liên tiếp chiến đấu. Địch bị chết và chạy trốn một bộ phận, số còn lại dựa vào nhà gạch, tường xây, chống trả ta. Ta đánh giáp lá cà bằng lựu đạn, lưởi lê, rồi dùng bộc phá đánh đổ căn nhà đạt sở chỉ huy của dịch. Kết quả địch chết và bị thương 250 tên, bị bắt 60 tên, số ít trốn chạy. Chúng phải kết thúc trận càn “Angiêri”.

Bí thư hào hứng nghe tường thuật trận dánh mạnh bạo, đúng với tinh thần “Tìm địch mà đánh”. Nguyễn Như Thiết báo cáo tiếp: kế đó, Tiểu đoàn 664 cùng đại đội 61 (Thuộc tiểu đoàn 652) đánh đồn La Tiến. Đồn này khét tiếng tàn ác, dùng dây thép xâu bàn tay hàng chục, hàng trăm người đẩy xuống sông Luộc cho chết chìm. Hơn 1.000 cán bộ, đồng bào ta lần lượt bị hại ở đây. Nó là một “điểm cứng”, có nhiều ụ súng nửa ngầm nửa nổi, nhiều hàng rào thép gai chằng chịt và bãi mìn dày đặc, với một đo được tăng cường hỏa khí. Quân ta do trung đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy, Đảng ủy Trung đoàn đã mời đại biểu nhân dân đến đơn vị tố cáo tội ác giặc, nhằm nung nấu chí căm thù trong cán bộ, chiến sĩ trước giờ vào trận. Rạng sáng 31-1-1954, ta nô súng. Địch chống trả dữ dội ở khu cố thủ. Đồng chí Lê Văn Nổ, chiến sĩ thi đua, cùng tiểu đội dùng tới quả bộc phá cuối cùng, dập tắt sự ngoan cố của chúng. Đồn La Tiến cùng 150 tên địch bị tiêu diệt.

Cùng thời gian, lực lượng vũ trang Hưng Yên, Hải Dương đánh liên tục vào đường 5, đường sắt, lật đổ 14 đoàn tàu, 12 xe cơ giới. Đạt hiệu quả cao nhất là trận đánh do đồng chí Nguyễn Văn Thỏa chỉ huy gần ga Phạm Xá, khiến cả một đơn vị vừa từ Pháp sang gồm 1.017 tên bị chết và thương.

Bí thư Khu ủy khen ngợi cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 42 và các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương. Đồng chí cho hay Bộ Chính trị có chỉ thị: “Cần mở đợt hoạt động ở Tả Ngạn trong một thời gian dài với quy mô nhỏ, liên tiếp hoạt động, đnáh nhỏ ăn chắc, chủ yếu là đánh du kích, khong nên ham đánh công kiên, đánh vận động. Phải lợi dụng mọi cơ hội, phá hoại giao thông, kho tàng, đánh địa lôi, phá cầu đường, làm cản trở vận chuyển của địch. Việt Bắc và Tả Ngạn phối hợp chặt chẽ để mở rộng hoạt động trên đường 5 trong một thời gian dài… đề phòng tư tưởng chuẩn bị đánh to vài trận rồi bộ đội đi nơi khác nghỉ ngơi”.

Thi hành chỉ thị trên, Khu ủy và Bộ tư lệnh Tả Ngạn giao cho Trung đoàn 42 và Hưng Yên, Hải Dương những nhiệm vụ mới, trong đó có đợt tổng công kich đường sắt, đường 5 vào đêm 13-1-1954, lập công giòn giã, thiết thực phối hợp với chiến trường chính.

Bí thư nắm chặt tay Nguyễn Như Thiết, dặn dò thêm: - Cố gắng thật cao, đánh địch nhiều hiệu quả nhưng ta ít tổn thất. Kịp thời rút ra nhưng cách đánh hay để phát huy, chỉ ra những khuyết, nhược điểm để tránh. Những gương chiến đấu dũng cảm, mưu trí cần được biểu dương kịp thời trên bản tin của Trung đoàn và báo Cứu quốc Tả Ngạn. Lập công xuất sắc để góp phần đập tan “Kế hoạch Nava”.

Ngay sau khi rời sở chỉ huy Trung đoàn 42, bí thư đến nơi là việc của tỉnh ủy Hưng Yên, trực tiếp nghe báo cáo và truyền đạt chỉ thị. Theo chủ trương công tác đã định, đồng chí còn đến gặp lãnh đạo tỉnh Hải Dương ở một nơi thuộc huyện Thanh Miện.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #74 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:53:35 am »

THÁI BÌNH LÀ CON SƯ TỬ NGỦ

Tháng 2-1954, sau trận càn “Diều Hâu” vài tuần, các lực lượng vũ trang Thái Bình lại lần lượt tiến lên vây ép các đồn địch. Số đồn đó co lại  bám các trục quốc lộ. Du kích các xã gần đồn vây ép địch với mức độ cao và nhiều cách. Họ thay phiên nhau vừa sản xuất vừa bao vây địch. Đến gần các đồn gọi loa, hát những bài ai oán, làm mềm lòng bọn lính ngụy xa nhà, xa vợ. Đào hào giao thông vào sát hàng rào, gỡ mìn, gỡ dây thép gai, bắn lính gác. Chặn đường tiếp tế, bắn máy bay thả dù. Lính địch không ra ngoài được, râu tóc rậm rịt, tinh thần hoang mang. Lính đồn Cầu Vật (Quỳnh Côi) đang chào cờ, du kích bắn chết tên đồn trưởng. Đồn Cầu Sắt (Thái Ninh) có dòng sông nhỏ chảy bên, du kích đắp đập chặn hai đầu, đổ mọi thứ xuống làm bẩn nguồn nước, khiến địch không có nước ăn uống, tắm giặt, phải tiếp tế bằng máy bay. Đồn Nê (Kiến Xương) là sở chỉ huy tiểu đoàn quân Liên hiệp Pháp cũng bị du kích xã và bộ đội huyện vây nhiều ngày liền.

GM 8 được ém lại Thái Bình sau trận càn “Diều Hâu” nhằm bảo vệ thị xã và đường 10, đường 39. Chúng mở càn nhỏ ba ngày vào năm xã bắc Thư Trì, phá đập chùa Đức Hiệp và nhà thờ họ giáo Tân Mỹ. Dân quân du kích đánh địch chết và bị thương 257 tên. Riêng chông, mìn, đã loai khỏi vòng chiến 110 tên. Tiểu đội du kích thiếu niên xã Hiệp Hòa đánh hai quả mìn, sáu bàn chông, loại 10 tên địch. Đêm chúng đóng tại làng xóm liền bị tập kích. bộ đội tỉnh, huyện kịp thời chuyển ra đánh địch sát thị xã và đường 10, khiến chúng phải bỏ càn, rút đi đối phó.

GM 8 không quên càn làng Nguyễn năm ngày, bắt đầu từ 20-12-1954. Chúng quyết tâm phán tan làng, đuổi hết dân, để hiểm họa xảy từ đây. Làng Nguyễn còn 80 du kích với 12 súng trường và nhiều chông, mìn, lựu đạn. Trước đây hai tháng, vào cuối năm 1953, làng Nguyễn đã đương đầu với GM 5, lúc này chống chọi 1.700 lính GM 8. Du kích gỡ mìn ở quanh đồn Nguyễn, đem về kết hợp với chông sát, đặt ở ven Cầu Mới và miếu Bảo Mẫu Đại Vương, nơi địch thường tụ tập trước khi vào làng. Chông, mìn còn đặt ở các lối đường thôn. Địch tràn tới, mìn nổ, chạy quánh quàng, thụt hố chông, chết và bị thương gần 60 tên, có quan ba Pháp.

Để trả thù, địch đốt cả những lều lán đã chuyển ra ở ven đồng làng, dội xăng thiêu nốt ngôi đình Thượng bảy gian, to nhất vùng và đình Đoài năm gian. Chúng dùng mìn phá bia Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương, lật cả văn chỉ thờ Khỏng Tử, chùa chiền thờ Phật. Đây là lần thứ năm giặc đốt sạch, phá sạch làng Nguyễn. Trong trận càn này, dân làng Nguyễn tản cư sang các xã bên. Có một du kích hi sinh, hai bị thương.

Bất chấp GM 8 còn có mặt, Thái Bình mở đợt hoạt động mạnh suốt tháng 2-1954. Khi quân GM mở hai trận càn kể trên, thì các lực lượng vũ trang Thái Bình đã đánh 141 trận càn lớn nhỏ ở nhiều nơi khác, loại khỏi vòng chiến 759 tên, phá 11 xe (có hai xe tăng), bốn khẩu pháo (có hai khẩu 105 li).

Những kết quả trên được đưa vào báo cáo “Tháng hoạt động mạnh” gửi lên Trung ương và Khu ủy Tả Ngạn. Sau chuyến sang bắc sông Luộc trở về, anh Ngạn dọc một mạch hết bản báo cáo rồi hỉ hả bảo tôi: “Cái tỉnh Thái Bình này như con sư tử ngủ, nó thức dậy là rung chuyển một vùng. Hồi trước cách mạng, mình đã nghe các đồng chí lãnh đạo khen ngợi cuộc biểu tình của nông dân Tiền Hải, khen Thái Bình là tỉnh có phong trào đấu tranh mạnh nhất Bắc Kỳ”.

Ngừng một lát, anh nói về đồng chí Lê Tự: “Ông này quê ở Hưng Yên, là học sinh trường Bưởi. Nhà khá giả những sớm thành cơ sở cách mạng. Khi Nhật hàng đồng minh, ông ấy đưa quần chúng vào giành chính quyền huyện Yên Mỹ, rồi được cửa làm chủ tịch huyện. Là một trí thức, qua những công tác khác nhau rồi làm trưởng phòng địch vận Liên khu III. Năm 1951 về Thái Bình làm bí thư tỉnh ủy thay anh Đặng Tính. Làm việc sâu sát cơ sở, có sáng kiến, biết kịp thời tổng kết để chuyển biến và phát triển phong trào”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #75 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:54:10 am »

“ĐOÀN DŨNG SĨ CÁT BI”

Những người đã hi sinh cho việc chuẩn bị đánh sân bay Cát Bi không bị phụ công. Họ đã được những người còn sống kế tục xứng đáng. Sau một thời gian thận trọng và khẩn trương bổ sung kế hoạch tiến công, theo tinh thần chỉ thị của bí thư Khu ủy: dùng một lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, bí mật, bất ngờ, đánh mạnh, phá hoại lớn, bảo toàn lực lượng, rút về căn cứ trước khi trời sáng.

Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh trực tiếp chỉ huy những việc quyết tâm. Chọn 32 cán bộ, chiến sĩ có quyết tâm cao, nhiều thử thách để trực tiếp đánh vào sân bay. Huấn luyện thành thục về hành quân chạy gấp, tập bơi mang vũ theo vũ khí, bộc phá khong để ướt, tập cắt rào, gỡ mìn khi đèn địch chiếu sáng, tập cách đánh máy bay bằng bộc phá. Mỗi người được phát phao bơi, vải nhựa để vượt hai sông rộng, không thể dùng thuyền. Riêng sông Văn Úc có thuyền, phải đảm bảo đón anh em đi về, mặc trời sáng. Bố trí một số đơn vị kiềm chế địch ở những đồn lân cận để quân ta tiến và rút. Sẵn sàng đánh ca nô, tàu chiến địch trên sông…

Để rút kinh nghiệm thực tế, trước đó Kiến An đã đánh sân bay Đồ Sơn. Một số anh em sẽ đánh Cát Bi vào “thực tập” ở Đồ Sơn: phá máy bay, diệt sở chỉ huy địch. Thực tế đã giải đáp những câu hỏi về cách đánh, củng cố niềm tin có thể đánh chắc thắng. Trước định dùng năm kilôgam thuốc nổ phá một máy bay, sau thấy chỉ cần hai kilôgam. Một người có thể mang số thuốc nổ phá ba máy bay, đáp ứng yêu cầu: người ít, phá hoại nhiều.

Cuối tháng 2-1954, anh Kinh lên báo cáo với Bộ tư lệnh khu, xác định số quân đánh là 32 cán bộ, chiến sĩ. Các đồng chí trong bộ tư lệnh nhất trí với sự chuẩn bị của Kiến An. Chính ủy giao chỉ tiêu: - Phá hủy từ 50 máy bay địch trở lên. Mỗi máy bay bị phá hủy coi như diệt một trung đội địch. 50 máy bay bằng 50 trung đội, tức hai trung đoàn địch. Đánh giỏi, phải bảo toàn lực lượng, rút nhanh và thật xa, không để địch gây tổn thất!

Anh Kinh đề nghị cùng vào đánh với anh em. Chính ủy bảo: - Nhiệm vụ của đồng chí là chỉ đạo trận đánh từ đầu đến cuối, đảm bảo chắc thắng. 32 cán bộ, chiến sĩ được tuyển lựa trực tiếp đánh là đủ!

6 giờ tối 5-3, đơn vị đánh Cát Bi do các đồng chí Lê Thừa Giao, Đỗ Tất Yến nhận lệnh xuất quân. Anh Dương Hữu Miên, phó tư lệnh khu, các đồng chí thường vụ tỉnh ủy Kiến An và đồng chí Đặng Kinh trực tiếp động viên, giao nhiệm vụ cho anh em.

Đêm ấy, các cơ sở ở xã Hoàn Nghĩa, đón bộ đội vào các hầm bí mật. Đồng bào tiếp tế cơm nước, anh em nghỉ ngơi một ngày, chờ trời tối đi chiến đấu. Đêm sau, anh em rời hầm luồn lách qua nhiều bốt gác, tháp canh, vượt bãi lầy và ngòi lạch, tiến vào sân bay sáng quắc và đầy nguy hiểm. Mũi thứ nhất vượt qua mọi khó khăn, đột nhập sân bay. Mũi thứ hai mở liên tiếp được năm hàng rào thì gặp hồ sâu, bèo kín đặc, không thể vượt qua, phải lộn lại theo đường của mũi thứ nhất, một trục trặc không ngờ.

Một giờ sáng ngày 7-3, tiếng bộc phá nổ dữ dội, máy bay địch bốc cháy, lan nhanh từ cái nọ sang cái kia. Bọn linh Âu - Phi tuần đêm và bọn gác nơi máy bay đậu nhanh chóng bị diệt. Xe bọc thép lượn quanh, bọn lính bảo vệ vòng ngoài đổ ra bao vây thì đã muộn. Quân ta rút nhanh ra ngoài, qua sông Văn Úc an toàn. Một số thương binh được bà con cơ sở giữ lại và che chở chu đáo.

Anh Kinh lên khu lược thuật trận đánh Cát Bi với Bộ tư lệnh và báo cáo tin vui: - Bác Hồ có điên kịp thời khen quân dân Kiến An, tặng đơn vị đánh sân bay danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Chính phủ thưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Đoàn dũng sĩ Cát Bi; Huân chương Quân công hạng hai cho người chỉ đạo chuẩn bị trận đánh; Huân chương Quân công hạng ba cho hai chiến sĩ quân báo, và tặng tất cả các chiến sĩ trong Đoàn dũng sĩ Huân chương Chiến công hạng nhất… Chính ủy phấn khởi nói: - Các đồng chí có công trong trận Cát Bi rất xứng đáng được Bá Hồ và Chính phủ khen thưởng. Đồng bào cơ sở trong vùng địch tạm chiếm giúp đỡ bộ đội; các cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích phối hợp ở ngoại tuyến; các đồng chí huyện ủy viên và cán bộ thâm nhập vùng địch chiếm xây dựng cơ sở bí mật để bộ đội có chỗ đứng đánh giặc; các đồng chí, đồng bào bị địch tra tấn dẫu phải hi sinh cũng quyết giữ bí mật cho trận đánh; cả những người chở thuyền cho bộ đội vượt sông, đều xứng đáng ghi công. Đó là biểu hiện rất cao, rất sáng của kháng chiến toàn dân, toàn diện. Hiện nay, các chiến trường chính đang và sẽ mở. Một trong những con đường tiếp tế quân lính và vũ khí của địch ra chiến trường để đối phó với ta là đường không. Ta đánh Cát Bi là đánh vào đôi cánh của địch. Bến cảng Hải Phòng là nơi nhận quân, nhận súng của Pháp, nhận viện trợ quân sự của Mỹ, sẽ không ít khó khăn khi chuyển ra chiến trường cho địch. Giá trị của trận Cát Bi là rất lớn, ta chưa lường hết. Chúng ta sẽ phải đánh tiếp những trận phá hoại đích đáng như thế cả ở trên bộ, trên sông, đường 5, đường sắt…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #76 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:55:14 am »

BÁT CANH RAU CẦN

Hôm nay chủ nhật, không hẹn ai đến làm việc, anh Ngạn đọc báo, nghe đài. Chúng tôi xúm vào nhặt rau cần giúp cấp dưỡng Nghị. Nhìn rau cần lại nhớ cái dạo anh Ngạn ốm. Anh khỏe như thế mà cũng bị một trận ốm khá nặng. Hậu quả của sự làm việc quên giờ giấc, không xem đồng hồ. Có lần anh truyền đạt nghị quyết Khu ủy với các ngành, các tỉnh, nói một mạch từ ba giờ đến quá năm giờ chiều. tôi giơ cổ tay lên xem đồng hồ, cố ý để anh thấy. Nhưng anh quá tập trung vào nói, chẳng để ý tới chung quanh. Anh Thái (Tiệm), bí thư Hưng Yên, vốn tính ngang tàng, “lắm ý kiến”, nhưng khi nghe truyền đạt nghị quyết cũng chăm chú và ghi mải miết như mọi người, do đó không ai nhắc nhở anh Ngạn… thấy anh vẫn nói thao thao bất tận, tôi sợ cả anh lẫn mọi người đều mệt, liền chìa tay ra phía trước tháo đồng hồ, lên dây cót xẹt xẹt. Khi ấy anh mới hỏi: - Mệt à? Thì giải lao một lúc! Tôi vội nói: - Anh cho nghỉ ăn cơm luôn là vừa. Anh bảo: - Đã ăn cơm cơ à? Sớm Thế? Anh Thái (Tiệm) giơ hẳn đồng hồ lên huơ đi huơ lại: - 5 giờ 25. Nghỉ thôi! Mọi người cười xòa.

Anh Ngạn lo và làm. Lo đánh giặc, lo sản xuất, chống đói. Lo chống lụt giữ đê, lo trẻ con dịch đậu mùa. Lo cho các cụ già có con là liệt sĩ, thương binh. Lo nông dân chưa có ruộng cấy, trâu cày. Lo giặc phá lúa, đốt thóc, dồn làng, đuổi dân. Lo cơm ăn, áo mặc và súng đạn cho bộ đội. Có lúc lo mìn, lựu đạn cho du kích. Có cả nỗi lo cho người vợ nhỏ nhắn của mình cũng như bao người phu nữ khác, mỗi khi giặc càn. Bác Hồ và Đảng lo cho toàn dân, toàn quân, toàn quốc. Anh lo trong nỗi lo to lớn, rộng khắp của Bác và Đảng, trong một vùng địch hậu đầy gian nan nguy hiểm. Vì thế anh ốm, đêm không ngủ, trong đầu như có cả một đàn ve kêu, mắt trũng sâu, gò má nhô cao, ăn không thấy ngon, tuy cấp dưỡng Nghị cố làm cơm nóng canh ngọt. Anh bảo chúng tôi đừng nói với Trung ương là anh ốm nặng. Anh nhờ đồng chí Thứ sang Trác Bút (Hà Nam) tới cơ sở cũ của anh mua thuốc viên về uống. Ông bác sĩ Mạo, người Hếu, công tác ở bộ phận dân y, được tìm sang chữa cho anh. Ông có bộ đồ nghe tim, phổi, là y cụ tối tân lúc này. Ông nghe ngực rồi nghe lưng, rồi dùng tay sờ nắn bụng trên, bụng dưới, chẳng tìm ra và chẳng dám kết luấn anh mắc bệnh gì. Ông chỉ tiêm trợ lực và cho mấy viên B1. Bệnh không giảm, ông đem mấy viên thuốc mau bên Hà Nam ra xem bằng mắt thường, rồi lẩm bẩm: “Có lẽ ốm vì cái thuốc vớ vẩn này!”.

Anh ốm nhưng có những việc quan trọng, các cơ quan khu vẫn đến xin ý kiến anh. Anh vẫn phải lo và làm việc, tuy ít. Trung ương được tin anh ốm, cử bác sĩ Khuê theo đường dây vượt sông Hồng vào điều trị. Bác Hồ và anh Phạm Văn Đồng chỉ thị cho Khu ủy và bí thư chi bộ văn phòng, rằng không để anh làm việc khi ốm.

Được các bác sĩ Khuê và Mạo hợp lực chữa bệnh, anh Ngạn dần dần thuyên giảm. Bệnh của anh là do làm việc quá sức chịu đựng của cơ thể. Anh cần được điều trị đúng phương pháp, nghỉ ngơi một thời gian để phục hồi sức khỏe.

Giữa lúc ấy có tin giặc càn Quỳnh Côi, nơi anh Ngạn đang ở. Anh Thứ cùng tổ bảo vệ chuyển anh xuống Cổ Lũng (Thái Ninh). Đi đường thấy những ao rau cần xanh mượt, bỗng anh thèm rau. Tới cơ sở, anh bảo Thứ mua rau đem về nhặt rễ, tuốt lá già. Tôi nghe nói: rau cần chỉ nhiều nước, lắm xơ, không chất bổ, lại mọc ở ao bùn, người ốm ăn có thể ốm thêm. Tôi không cho cấp dưỡng nấu rau. Đến bữa ăn, anh hỏi: - Rau cần đâu? Thứ nói: - Anh Nam bảo không nên ăn rau cần. Anh Ngạn phát bực hỏi tôi: - Sao cậu không cho mình ăn rau? Tôi trình bày lí do. Anh không nói gì, quay đi.

Mấy hôm sau đỡ mệt, anh ôn tồn bảo tôi: Ca do có câu: Con gái mà gả chồng gần. Dẫu bát canh cần nó cũng đem cho. Có nghĩa canh cần là thứ xoàng xĩnh. Nhưng cậu chưa biết kinh nghiệm dân gian: thèm thứ gì được ăn thứ ấy cũng giúp cho khỏi ốm. Đúng không? Anh nói rồi mỉm cười.

Nơi đây khá xa vùng địch chiếm, anh Thứ có thể bắn chim cu gáy để anh em thêm chất tươi. Anh Ngạn bảo: “Phải tiết kiệm đạn!”. Vì thế lâu lâu, Thứ mới xách súng ra bờ tre ven sông Trà Lý bắn một vài con, đem về, cấp dưỡng Nghị mừng lắm, kịp thời vặt lông. Anh Ngạn thấy thế bảo: - Bớt ra một con tặng anh Bính. Anh ấy ốm o, gày còm lắm! Anh Bính, tỉnh ủy viên Thái Bình, được chúng tôi tặng con chim hầm với đậu xanh. Anh không ăn được nhưng cảm on cảm huệ mãi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #77 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:58:05 am »

THÁNG HỮU NGHỊ VIỆT - TRUNG - XÔ

Tháng Mười hằng năm có hai ngày kỉ niệm: Cách mạng Tháng Mười thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Thi hành chỉ thị của Trung ương về “Tháng hữu nghị Việt – Trung - Xô”, Khu ủy Tả Ngạn hướng dẫn các tỉnh, các trung đoàn tổ chức thực hiện, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hiểu về Liên Xô, Trung Quốc, tăng cường đoàn kết với hai nước bạn, đưa cuộc kháng chiến của ta lên những bước mới. Cơ quan tuyên truyền Văn nghệ các cấp phục vụ cho tháng hữu nghị bằng báo chí, tài liệu, truyền đơn, khẩu hiệu, dạy những bài hát có nội dung phù hợp, triển lãm sách báo, tranh ảnh của Liên Xô, Trung Quốc. Cả khu có một máy chiếu phim, mỗi tỉnh có một đèn chiếu ảnh, tặng phẩm của hai nước bạn gửi vào dịp này, được sử dụng hết công suất.

Tôi được anh Ngạn bảo: - Chú Nam đi xem nhân dân ta hưởng ứng tháng hữu nghị thế nào? Huyện Hưng Nhân mở triển lãm Việt - Trung - Xô đoàn hết đấy. Nghe nói người ở Tiên Hưng, Duyên Hà, Quỳnh Côi lần lượt đến xem! Tôi cùng mấy đồng chí bảo vệ đi xem triển lãm ở một ngôi đình làng. Tranh Mác, Ăngghen, Lênin, Stalin, đặt chính diện trên cao. Bộ tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Malencốp, Mao Trạch Đông do các họa sĩ Huỳnh Văn Thuận và Quang Phòng ve và khắc gỗ tại Tả Ngạn treo kế cận. Một số hình ảnh về chiến đấu, sản xuất và xây dựng của ba nước treo chung quanh. Họa báo Liên Xô, Trung Quốc được trưng bày… Tôi thấy người xem, nhất là thanh niên, thiếu niên, biểu lộ cảm tình trước những hình ảnh gửi từ xa về và lần đầu tiên được thấy. Người phụ trách triển lãm cho biết ở Tiền Hải có một phòng tương tự để bà con ở vùng nam Trà Lý xem. Ty Tuyên truyền văn nghệ Thái Bình mở cuộc thi thơ nhằm chủ đề đoàn kết Việt - Trung - Xô, được hưởng ứng trong toàn tỉnh. Có cụ già làm thơ luật Đường với những câu mộc mạc nhưng chân thành: “Nay mừng hữu nghị Việt - Trung - Xô. Kính chúc Ma, Mao, Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chí cả, tài cao, đoàn kết mạnh. Cho ba đất nước vững muôn thu”. Những bài thơ tốt được in đá thành tập mỏng, phát hành về xã… Tôi trở về báo cáo với anh Ngạn. Anh hỏi: - Hình thức còn nghèo, nhưng nội dung chân thực!

Tối hôm ấy, vùng này có biểu diễn văn nghệ. Từ mấy tối trước đã nghe thanh niên, thiếu nhi ca vang xóm ngõ: “Đây Liên Xô vui hát trên đồng hoa. Đây Trung Hoa tiếng hát vui chan hòa…”. Anh Ngạn lại bảo chúng tôi ăn cơm sớm để tối đi xem biểu diễn văn nghệ. Anh nhắc tiểu đội bảo vệ: chia làm hai nhóm, vừa đảm bảo nhiệm vụ thường xuyên, vừa đi xem.  Anh vui hẳn lên và nhắc nhở: có chèo “Cô gái Phong Châu” đấy. Xem cho tử tế, đừng lợi dụng chỗ đông người mà vờ vịt, vớ vẩn, nữ du kích nó bẻ gãy tay! Thấy mọi người tỏ ra thích thú, anh mỉm cười, quay vào nhà ngâm mấy câu Kiều: “Ba quân chỉ ngọn cờ đào. Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Truy”.

Tiếng đồng ca ở trong làng vang vọng, khiến anh lại ra đầu nhà, vịn tay vào cây xoan, chăm chú nghe: “Ta á a dân cày, dân cày, ngày ngày cuốc đất trồng khoai, đêm đêm đi đánh giặc Tây, đánh giặc Tây…” nhạc của Trần Hoàn, lời của Giang Đức Tuệ. Anh hỏi chúng tôi: - Các cậu nghe con cháu hát không?

Chúng tôi nao nức đi xem. Trên sân khấu kê cánh cửa đình làng, dưới ánh đèn “ba dây”, diễn hoạt cảnh “Việt - Trrung - Xô đoàn kết” của đội văn nghệ tỉnh Thái Bình. Đồng cà “Đảng lao động Việt Nam Đảng của chúng ta, vì cơm áo tự do…” nhạc của Lê Nhữ Tiệp. Đọc thơ “Thần Đầu, Thần Huống. Mấy lần Tây đến, mấy lần Tây đi. Tây đi du kích cười khì…” của Nắng Hồng. Đèn chiếu chiếu bộ ảnh liên hoàn “Khu gang thép Thạch Cảnh Sơn” của Trung Quốc; bộ ảnh “Nữ liệt sĩ Bùi Thị Cúc” của Văn nghệ khu. Thanh niên, thiếu nhi nam nữ, mặc váy áo may bằng vải dù của giặc, vừa nhảy chân sáo vừa ca: “Thắm thiết tình Việt – Trung - Xô. Đế quốc còn nhiều nỗi lo”. Nghệ sĩ Ngọc Reo độc tấu “Phá càn Con Trâu”, có câu “Nava mở trận Con Trâu. Con Trâu vỡ sọ; đau đầu Nava”… Người xem vỗ tay hào hứng, phần do nghệ sĩ tấu hay, phần do từ năm 1950 đếnn ay mới lại được xem văn nghệ sân đình.

Chúng tôi về để nhóm thứ hai đi xem. Anh Ngạn đang đọc tiểu thuyết “Tỉnh ủy bí mật” dưới ánh đèn dầu, thấy chúng tôi về, anh hỏi: - Vui không? Tôi đáp: - Vui lắm ạ! Anh bảo: - Các cậu về coi nhà, tớ với anh em khác đi xem.

Mấy ngày sau có báo cáo lên khu. Cuộc mít tinh mừng hữu nghị Việt - Trung - Xô dự kiến vai trăm người, nhưng đồng bào tới dự hàng nghìn. Tổ chức tại một làng thuộc nam huyện Thái Ninh. Trên lễ đài dựng bằng tre luồn có các đồng chí Lê Tự, bí thư tỉnh ủy kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh; Lý Anh Nghĩa, phó bí thư tỉnh ủy. Không có micơrô, đồng chí Ngô Nguyên Lăng, phó trưởng Ty Thông tin văn nghệ khỏe sức, nói to, cầm loa tuyên bố ý nghĩa cuộc mít tinh. Đồng bào vỗ tay vang dậy.

Anh Ngạn rất vui khi đọc bản báo cáo. Anh bảo tôi: - Nhớ lại hai năm trước, khi mình sang Tả Ngạn, sau trận càn “Trái Quýt”, thấy hôm nay làng xóm vui hơn nhiều, ứng với thế kháng chiến ngày càng lên, thế địch ngày càng xuống, đúng không?
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #78 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 08:59:46 am »

GIÀNH DÂN, GIẬT ĐẤT

Nằm trong âm mưu “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, có trò lập trrại tập trung. Bọn ngụy quyền được Pháp giao làm việc này, huyênh hoang gọi là lập “đại xã”. Trò này nhằm biến dân thành lá chắn bảo vệ các trung tâm hành chính, quân sự, kinh tế của địch. Mặt khác để chúng dễ quản lí dân, dễ bắt lính, bắt phu, thu các thứ thuế và làm chiến tranh tâm lí… Nếu ta có bảo bối bám đất, bám dân, làm cơ sở tiến công địch toàn diện, thì chúng cũng nắm dân, giữ đất để chống ta. Ở những nơi đó thường xuyên có đội “gamô” đeo súng nhưng đánh bằng miệng lưỡi, tuyên truyền rầm rĩ cho trò bịp “Người Pháp trả độc lập cho người Nam”, “Nước Việt Nam có quốc trưởng Bảo Đại, có quân đội quốc gia”… Bọn ngụy nhận hàng viện trợ Mỹ phân phát cho một số người dân, coi như là đặc ân, đặc lợi do chúng mang lại. chung quanh “đại xã chúng rào dây thép gai, dựng đồ bốt, tháp canh để kiềm chế dân, nhưng lại nói là bảo vệ dân.

Việc lập “đại xã” đặt ra đã lâu nhưng khó thực hiện, vì dân hiểu âm mưu đich, không muốn quê hương mình trở thành những tụ điểm chống lại kháng chiến. Đến lúc này địch làm mạnh hơn, nhằm dùng dân ngăn ngừa bộ đội tập kích thị xã. Cuối tháng 3-1954, tại Hưng Yên, chúng dồn dân lập trại ở gần đồn Dị Sử, dồn 200 nhà ở rải rác quanh thị xã vào trại tập trung phố Nam Hòa. cho xe ủi sáu làng gần Bần Yên Nhân để dồb dân vào một trại. Chúng cố dồn 3.000 dân vào trại tập trung: Bần, Nghi Xuyên, Ngọc Đồng và thị xã Hưng Yên.

Đồng chí bí thư Khu ủy Tả Ngạn vừa lo chỉ đạo đr quân sự, vừa lo chỉ đạo phá âm mưu dồn dân vào trại tập trung. Khu ủy đã có chỉ thị cho các tỉnh về việc này. Tại Hải Dương, hàng trăm gia đình ở Bung Đại (Gia Lộc) đấu tranh chống dồn làng. Ở Đồng Viễn (Bình Giang), Đồng Bưởng (Cẩm Giàng) cũng ra sức chống. Ở Kẻ Sặt, viên thủ hiến Bắc Việt đã trực tiếp khuyến cáo dân vào nơi tập trung, gọi là “Trại thí nghiệm điển hình Tả Ngạn”. Hàng vạn giáo dân nơi này đấu tranh trong sáu tháng liền chống dồn làng. Những làng xóm bị san ủi đòi bồi thường. Thủ hiến phải xuất 54.000 đồng Đông Dương, đền cho 250 gia đình. Ở Hưung Yên, các nơi như Giai Phạm (Yên Mĩ), Nghi Xuân (Khoái Châu) cũng chống tập trung dân.

Ở Thái Bình, địch dự định lập quanh thị xã bốn trại tập trung. Phía nam là Lạc Đạo, phía đông là Thân Thượng, phía tây là Nghĩa Chính, phía bắc là Mỹ Đức, dựa vào bốn nhà thờ, nhà trường, có linh mục, tu sĩ trông coi. Thủ hiến Bắc Việt đã về đôn đốc ở Lạc Đạo, nhưng không làm nổi. Dân lấy dần vật liệu nên không xây dựng được gì. Nghĩa Chính cũng không nên việc. Song ở Thân Thượng, do địch ngấm ngầm tiến hành nên đã thành khu tập trung, rộng hơn ba kilômét vuông, bao quanh nhà xứ lớn, do các linh mục Nguyễn Quang Ân, Lê Quanh Oánh cầm đâu. Ở đây có 157 tên vệ sĩ và một số tên phản động quanh vùng đến tụ tập. Đồn Thân Thượng được địch cho nhiều súng đạn phòng thủ nghiêm ngặt. Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn Hữu Trí năng nổ ra tay chỉ dẫn lập “đại xã kiểu mẫu”. Y muốn làm nổi đình đám để quan thầy Pháp tin cẩn. Trận càn “Diều Hâu” địch chủ mưu dồn một số dân vùng giáo lân cận vào đây. Mặ khác, nơi này có chợ và bến đò, buôn bán thuận tiện, dân lương cũng đến làm ăn. Một số vùng gần đó bị máy bay, đại bác bắn phá mạnh, dân lo sợ bở nhà vào đây cư trú. Đến đầu năm 1954, chúng đã dồn được 40.000 người.

Thi hành chủ trương của khu về giải tán khu tập trung, Thái Bình dùng vu lực kết hợp tuyên truyền vận động, làm cho dân hiêu rõ âm mưu địch để rời bỏ trại. Giao cho Tiểu đoàn 53 tỉnh và ba đại đội huyện (Vũ Tiên, Kiến Xương, Tiền Hải), có sự phối hợp của dân quân du kích các xã quanh trại, đánh bọn vệ sĩ, đồng thời bảo vệ dân. Tiểu đoàn 53 cử đồng chí Đẩu, cán bộ đại đội, bí mật vào Thân Thượng trinh sát. Ban chỉ huy quyết định: lợi dụng phiên chợ Bật đông người, bộ đội hóa trang làm dân đi chợ đến nơi tập kết gần đồn địch. Bỗng địch phát hiện một chiến sĩ giả làm phụ nữ, chúng liền tóm bắt. Quân ta linh hoát phát hỏa trước giờ dự kiến, đánh thẳng vào đồn. Tổ bộc phá đánh sập lô cốt. Linh mục Nguyễn Quang Ân cầm đầu bọn vệ sĩ bị bắt. Tiểu đoàn 53 chiếm đồn. Các đại đội huyện bố trí quanh trại đón bắt bọn trốn chạy. Chúng bị bắt 58 tên, số còn lại bị loại khỏi vòng chiến. Ta thu 116 súng các loại Đồng bào được giải thoát nhanh chóng về quê cũ.

Lúc này GM 8 vẫn đóng ở thị xã, nhưng không ứng cứu, cũng không lập lại đồn Thân Thượng.

Được báo cáo về trận đánh mưu trí, dũng cảm, hiệu quả cao, đồng chí bí thư Khu ủy yêu cầu Bộ tư lệnh Tả Ngạn ra thông báo chi tiế cho các tỉnh, các trung đoàn nghiên cứu rút kinh nghiệm. Đồng chí nhận xét: - Phá trại tập trung có ý nghĩa quan trọng cả về quân sự, chính trị và kinh tế. Phá ngay từ đầu thì hay nhất, vì dân không muốn bỏ nhà cửa, xóm ngõ của mìh để vào một nơi lạ lẫm, chật chội và bị câu thúc ngặt nghèo. Phá khi trại đã hình thành khó hơn. Nhưng Thái Bình đã phá trại diệt địch, bảo vệ được dân, không đụng chạm đến giáo đường, khiến giáo dân tin nể, là kết quả tốt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #79 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2009, 09:02:58 am »

TỔNG CÔNG KÍCH ĐƯỜNG 5, ĐƯỜNG SẮT

Tin nhanh đưa về: “Ngày 13-3-1954, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công đồi Him Lam ở Điện Biên Phủ”. Chiến trường chính đã khai hỏa. Chính ủy bảo chúng tôi: - Thế là Tả Ngạn đã phối hợp trước được mấy ngày! Chúng tôi biết đợt tổng công kích đường sắt, đường 5 bắt đầu từ đêm 11-3 vừa qua, là nhiệm vụ được Khu ủy và Bộ tư lệnh khu chỉ đạo chặt chẽ, chủ động. Nó không những là đòn phối hợp với Điện Biên Phủ mà còn là đòn đánh mạnh nhằm phân tán phần nào sự chú ý của tướng tá Pháp trước khi ta đánh Him Lam… Chính ủy sang ngay cơ quan Bộ tư lệnh gặp anh Nguyễn Khai. Lúc này anh Miên lên Việt Bắc, họp ở cơ quan Bộ tổng tư lệnh.

Anh Khai quê ở Hưng Yên, được cán bộ binh vận của cách mạng giúp đỡ hoạt động từ thời bí mật. Bị Pháp bắt ngồi tù, anh vẫn không rời hoạt động cách mạng. Gia đình anh ở Yên Mỹ là cơ sở của cán bộ. Ra tù, anh tiếp tục hoạt động qua nhiều công tác. Năm 1949, anh là bí thư tỉnh ủy Hưng Yên, rồi lên công tác ở Liên khu III. Cuối năm đó, anh làm chính ủy Mặt trận 5. Năm 1952, anh là khu ủy viên, phó chính ủy Bộ tư lệnh Tả Ngạn rồi làm tư lệnh trưởng Tả Ngạn.

Anh Khai tập hợp tình hình báo cáo:

- Tuy đến đêm 11-3, khu ta mới chính thức vào đợt tổng công kích, nhưng trước đó, đêm 3-3, 16 cán bộ, chiến sĩ Hà Nội đã xuất phát từ Tả Ngạn vào sân bay Gia Lâm, phá hủy 18 máy bay và một kho xăng.

- Đêm 7-3, 32 cán bộ, chiến sĩ Kiến An đánh sân bay Cát Bi, phá hủy 57 máy bay (đã có báo cáo chi tiết).

- Đêm 11-3, chính thức tổng công kích chặng đường từ Văn Lâm, Mỹ Hào suốt tới Kim Thành, An Dương… Ở bắc Hưng Yên, ta đánh hai đồn, diệt hai đại đội địch, bức rút năm tháp canh và ba đồn khác, đánh sập hai cầu, phá nhiều đoạn đường 5.

- Đêm 12-3, Trung đoàn 42 nhân lênh của Bộ tổng tư lệnh: “Phải đánh đồn Nghĩa Lộ để giam chân một trung đoàn pháo tại đó, không cho kéo lên Điện Biên Phủ”. Tiểu đoàn 664 chiến đấu kiên cường, cơ bản diệt được đòn này, loại khỏi vòng chién gần một tiểu đoàn địch, thu nhiều vũ khí.

Trong trận Nghĩa Lộ nổi lên gương dũng cảm của tổ bộc phá Lê Văn Nổ. Mở được cửa đột phá thì anh em hi sinh phần lớn. Nổ cùng số còn lại phá các lô cốt, ụ súng, tạo điều kiện cho đội xung kích diệt địch, bắt tù binh… Đồng chí Nổ còn ôm bộc phá đánh hầm ngầm, nhưng hầm kiên cố, không diệt được. Địch ẩn dưới hầm và gọi đại bác bắn vào nơi quân ta chiến đấu.

Sáng hôm sau, xe tăng và bộ binh địch từ Bần lên phản kích. Lê Văn Nổ chỉ huy một tổ đánh kiềm chế địch để đơn vị rút. Khi người chiến sĩ cuối cùng của tổ hi sinh, Nổ mới rời trận địa. Anh len lỏi trong vùng tề, qua lại chặng đường gần 40 kilômét, đem thi hài đồng đội về hậu cứ mai táng.

Lê Văn Nổ quê ở Thanh Miện (Hải Dương). Anh đã cùng tổ bộc phá vượt mọi hiểm nguy đánh các “điểm cứng” Đa Lộc, La Tiến, Triệu Nội… Qua trận Nghĩa Lộ, anh càng nổi rõ là gương sáng chiến đấu kiên cường, yêu thương đồng đội, xung phong nhận nhiệm vụ khó trong tình huống hiểm nghèo.

- Ở Hải Dương, một bộ phận của Trung đoàn 50 cùng một đại đội tỉnh và bốn đại đội huyện diệt 72 đồn trong đêm 11-3. Mở vùng giải phóng từ đường 5 tới đường sắt thuộc huyện Cẩm Giàng, nối thông từ bắc sông Luộc đến nam sông Đuống, mở đường lên trung du Việt Bắc.

- Ở bắc Hưng Yên, trong đợt này, bộ đội, du kích phá 42 xe địch, phá hàng nghìn mét đường 5. Bộ đội huyện Văn Lâm đánh đổ một đầu tàu, phá nhiều toa tại ga Nghĩa Lộ. Cùng du kích bắc Hưng Yên mở thêm 73 làng.

- Ở Thái Bình, GM 8 càn vào một số xã thuộc Kiến Xương, Vũ Tiên, Thư Trì. Du kích đánh chông mìn bị thương gần trăm tên, khiến chúng phải bỏ dở trận càn. Giữa tháng 3-1954, Trung đoàn 64 (thuộc 320) vào phối hợp với bộ đội tỉnh bức rút và diệt tám đồn, phục kích hai trận diệt gần 200 tên đich, phá bảy xe cơ giới. Trong đợt này thêm 3.000 thanh niên Thái Bình tòng quân. Ngày nào cũng có hàng nghìn dân công gánh gạo vượt sông Hồng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.

- Riêng Trung đoàn 42, mũi nhọn của đợt tổng công kích, đánh năm trận, diệt ba tiểu đoàn địch, phá 40 xe (có một tăng), thu vũ khí đủ trang bị cho một trung đoàn mới, góp phần làm gián đoạn sự vận chuyển của địch trong một tuần.

Nghe xong, anh Ngạn bình luận: - Điện Biên Phủ tiến công đợt Một, trong năm ngày đánh hai trận lớn có tính then chốt là Him Lang và Độc Lập. Phá vỡ hệ thống phòng ngự phía bắc tập đoàn cứ điểm, mở đường cho chiến dịch phát triển. Ở khu ta, các lực lượng vũ trang chủ động phối hợp, đánh sớm và tương đối đều khắp, hiệu quả cao. Bộ tư lệnh khu cần kịp thời biểu dương thành tích các trung đoàn 42, 50, 64 và các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình đã tổng công kích mạnh mẽ. Chỉ thị các địa phương, đơn vị đó tiếp tục tiến công, dũng cảm mưu trí ngay từ bây giờ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM