Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2008, 09:29:58 pm » |
|
Tuỳ bút (nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11) THẦY ƠI!!
Cứ mỗi lần nhạc ve vang vang trên những cành phượng vỹ, màu hoa đỏ nhuộm hồng sân trường học cũ, với biết bao kỷ niệm của tuổi học trò một thời gắn bó với mái trường thân yêu. Là lòng tôi lại cồn cào nỗi nhớ thương thầy cô, bạn bè thời tiểu học. Nỗi nhớ nhung da diết ấy cứ dằn xé trong tim tôi, dường như đã trở thành một vết thương lòng không bao giờ chữa lành được! Còn nhớ, năm tôi học lớp Năm 5 của trường tiểu học cộng đồng Vòng Nhỏ (nay là trường Nguyễn Huệ), thầy dạy tôi năm đó rất hiền, thầy có vóc người tầm thước, nước da ngâm ngâm với nụ cười luôn thường trực trên môi. Dù có lúc thầy rất bực mình với đám học trò tiểu học “nhất quỷ, nhì ma…” Thầy có giọng giảng bài rất lôi cuốn, từ những lời giảng trang nghiêm mà tha thiết của thầy trong những giờ học môn Quốc sử, mà chúng tôi thấm dần tình yêu quê hương, đất nước. Thầy tôi hình như là một “công chức” (cách gọi các thầy, cô ngày xưa) của chế độ cũ, nhưng lại “nặng lòng với “phía bên kia” hơn! Trong các buổi chào cờ đầu tuần, thầy ít khi có mặt tại sân trường như các thầy, cô khác! Thầy ở trong lớp, mở sổ ghi bài, dò bài cho học sinh chứ không tham dự lễ chào cờ…Trong giờ học các môn “Công dân giáo dục”, “Quốc sử” thầy thường hay nhấn mạnh đến tình nhân loại, tình yêu thương đồng bào ruột thịt, chứ không dạy chúng tôi “yêu chế độ”! Còn nhớ, năm 1970, khi cơn bão tàn phá các tỉnh miền Trung, lệnh từ văn phòng Hiệu trưởng đưa xuống là tổ chức cho các học sinh đi lạc quyên, gom góp tiền tài, vật phẩm giúp đỡ miền Trung thân yêu, thầy tổ chức cho chúng tôi đi lạc quyên ngoài xã hội, đích thân thầy cắt, dán câu khẩu hiệu mà tôi còn nhớ đến bây giờ: “Tình Trường Sơn, nghĩa Cửu Long, Miền Trung bão lụt đau lòng miền Nam!” Và thầy làm một cái thùng lạc quyên, cho chúng tôi cầm biểu ngữ đi tuần hành trên các đường phố kêu gọi mọi người giúp đỡ đồng bào miền Trung đang bị tai ương, hồi đó đường phố trong thị xã Mỹ Tho nhỏ hẹp, dân cư cũng thưa thớt lắm, ấy vậy mà người dân Mỹ Tho đóng góp rất nhiều và rất nhiệt tình. Chúng tôi thu hoạch được rất nhiều với số tiền lên đến hơn một triệu đồng (quá lớn so với vật giá và mức sinh hoạt thời đó) cùng một số quần áo, mùng mền của bà con đóng góp. Đích thân thầy kiểm điểm tiền bạc, vật phẩm cứu trợ ghi rõ số tiền, số quần áo, mùng mền cùng với những bức thư của bọn học sinh chúng tôi viết để an ủi, động viên và chia sẻ với các bạn học sinh miền Trung ruột thịt. Tôi là lớp trưởng nên được thầy tin tưởng giao nhiệm vụ “ôm” thùng tiền, danh sách bà con đóng góp và các thứ khác lên văn phòng Hiệu trưởng. Lớp chúng tôi được khen và được biểu dương toàn ngành giáo dục lúc đó. Ngày tôi chuẩn bị thi vào lớp sáu, thầy kêu tôi và một số bạn bè đến nhà và bỏ ra hàng giờ ngồi kềm cặp cho chúng tôi, tôi vốn học giỏi nên được thầy giao thêm “chức trách” kèm các bạn yếu hơn. Năm đó, chúng tôi thi đậu nhiều, tôi đậu hạng cao, có học bổng nên thầy tặng cho tôi một cây viết máy hiệu “Pilot”, (rất tiếc tôi không giữ được lâu vì khi vào chiến khu, tôi đã làm rơi mất cây viết của thầy tặng trong lúc vượt qua sông Bảo Định). Năm học lớp bảy tại trường Nguyễn Đình Chiểu, chiến sự ác liệt, tôi lại bị đuổi học vì nghỉ học quá nhiều (thời gian nghỉ học là thời gian tôi làm nhiệm vụ tiếp tế cho các chú, bác ở quê tôi)! Má tôi sợ tôi bị bắt lính nên đưa tôi về quê ngoại và gửi gấm tôi cho ngoại, nhờ đưa tôi vào “căn cứ” với các cậu, nhưng tôi không chịu ngồi yên một chổ, nên lại “dọt” về Mỹ Tho, xin vào “học nhảy” lên lớp Chín tại một trường Trung học tư thục. Tại đây, tôi được giác ngộ lý tưởng cách mạng và tôi quyết tham gia. Trước khi ra đi không hẹn ngày trở lại - lúc đó chúng tôi thường nói vui “Vượt sông Bảo Định, tìm vào chiến khu với cách mạng cũng giống như tráng sĩ Kinh Kha sang sông Dịch, với câu thơ “Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn. Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn…” - tôi tìm đến thăm thầy lần cuối. Thầy lấy xe đạp, cọc cạch chở tôi đi uống sinh tố tuốt dưới đường Trưng Trắc, xong về nhà thầy ăn cơm, bữa cơm kỷ niệm với thầy tôi không bao giờ quên, có canh chua nấu bằng cá linh đầu mùa với bông so đũa, thầy không uống rượu nhưng bữa đó thầy cũng mua rượu về để uống với tôi, vợ của thầy thì tất bật chạy lên, chạy xuống khi dọn lên món này, khi đem xuống món kia để hâm cho nóng! Xế chiều, thầy lại lấy xe chở tôi đến trường Nguyễn Huệ - lúc này học sinh đã nghỉ hè, vắng ngắt - hai thầy trò vào sân trường, đi vòng vòng trong sân và dừng dưới gốc cây phượng vỹ già nua giữa sân trường, cây phượng này là giống “phượng son” hoa cứ đỏ rực như màu máu. Tóc thầy nhuốm bạc ánh lên trong ánh tà dương, những hoa phượng vỹ cuối mùa đỏ rực cứ rơi rơi, từng cánh hoa rơi xuống vai của hai thầy trò, rơi xuống sân trường và nằm im như tiếp tục chảy máu! Giọng trầm buồn, thầy nói tôi cứ đi theo lý tưởng của mình, thầy móc trong túi áo ra một tờ giấy bạc 500 đồng, có in hình Đức Trần Hưng Đạo (tờ giấy bạc có mệnh giá khá lớn so với vật giá lúc bấy giờ), thầy dúi vào tay tôi, tôi từ chối không nhận. Thầy nói tôi không nhận thì thầy sẽ giận, đây là tấm lòng của thầy vì thầy nghèo, nếu giàu hơn thì thầy sẽ cho tôi nhiều hơn để làm lộ phí lên đường. Tôi rưng rưng nước mắt, bỏ tờ giấy bạc thầy tặng vào túi áo bên trái, ngay chổ trái tim mà nghe tình thầy trò dâng lên ấm áp! Đêm đó, thầy lấy xe đạp, chở tôi đến bến đò “nhà thiếc”, cho tôi sang sông vào căn cứ, thầy nhìn tôi rất lâu rồi lặng lẽ quay đi sau khi dặn dò tôi: “Khi đất nước hoà bình, về nhớ ghé thăm thầy”. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, tôi cứ bị cuốn hút theo khí thế hừng hực của cách mạng trong những ngày đầu giải phóng, rồi sau đó tôi được bổ sung vào lực lượng “An ninh nhân dân vũ trang” tận Madagoui, tháng 12 năm 1975 có lệnh đổi tiền, bấy giờ tôi mới nhớ tới tờ giấy bạc năm trăm đồng thầy tặng (vẫn được tôi cất rất kỹ trong bóp) và nhớ cả lời hứa sẽ đến thăm thầy khi đất nước hoà bình. Thế mà, giờ đây tôi vẫn còn lêu têu trên miền núi rừng đầy sương giá này…Chuyến về phép đầu tiên trong cuộc đời quân ngũ – cũng một ngày tháng Năm - tôi đến thăm thầy ngay, nhưng căn nhà năm xưa giờ chỉ còn lại cái nền nhà nằm trơ vơ, tôi hỏi thăm lối xóm thì được biết, sau giải phóng ít lâu, thầy dở nhà về quê rồi! Quê hương thầy ở đâu tôi cũng không biết, những người hàng xóm cũng không biết! Tôi rảo một vòng qua trường cũ, cây phượng vỹ năm nào chứng kiến cuộc chia tay của thầy trò tôi vẫn còn đó, thân cây phượng sù sì, già nua bây giờ chi chít những cái tên, những dòng chữ của các em học sinh thế hệ sau chúng tôi, những hoa phượng vỹ của tháng Năm vẫn rơi rơi, màu hoa “phượng son” đỏ bầm như máu tim tôi ứ dâng, nghèn nghẹn. Thầy ơi! Em có lỗi với thầy! Bây giờ thầy ở đâu thầy ơi!? Thầy có biết em đang nhớ thầy lắm không? Em không gặp được thầy, để thầy vỗ vai khen thằng học trò ngày xưa đã lớn, đã thành một anh bộ đội cụ Hồ rắn rỏi, mạnh khoẻ chứ không phải cậu học trò yếu ớt, mảnh khảnh ngày nào! Tôi rưng rưng nước mắt và bật khóc, khách ngồi trong quán nước trước cửa trường xưa cứ ngạc nhiên nhìn tôi, không hiểu “chú bộ đội” này làm gì mà đến đây rồi khóc? Hoa phượng cứ rơi, tôi cứ khóc và lững thững đi, dáng hình ngôi trường xưa nhạt nhoà qua màn lệ, một bản nhạc cũ từ quán nước bên đường như xói thẳng vào tim tôi, lời hát mà ngày xưa thầy trò tôi đều yêu thích : “Phượng vẫn rơi xác phượng tả tơi! Nghe tiếng ve réo gọi hồn tôi…!” Bây giờ thầy đang ở đâu, thầy của con ơi! Mỹ Tho, những ngày cuối Hạ… Kính tặng thầy dạy lớp Năm “5”, niên học 1969 – 1970 của con! Đinh Phạm Kiều
|