Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:32:54 am » |
|
Thơ VỀ TIỀN GIANG…
“…Mời bạn về quê tôi: Mỹ Tho… Ngã ba rẽ trái – Một đường to Dừa đang độ ngọt, xoài đương trái Đất của những người yêu tự do…”
Mời bạn về ngã ba Trung Lương Quả mận năm xưa ngọt lịm đường Bây giờ chỉ có trong… tiềm thức Gợi hồn lữ khách lúc ly hương!
Vĩnh Tràng, mái ngói phủ rêu phong Đón khách về thăm, ấm cõi lòng Bảo tàng liệt hạng, còn di tích Mỹ Tho, mấy độ trải đông phong…
Mời bạn về thăm miền Chợ Gạo Lúa xanh ba vụ mát cánh đồng Đường lên hạnh phúc chân trời rộng Vui cùng gió mát với trăng trong
Thẳng hướng biển Đông bạn tới nhà Gò Công – đất biển đỏ phù sa Tân Điền, Vàm Láng, trời Gia Thuận Sáng gương Trương Định - bản hùng ca!
Cù lao huyện mới dọc ven sông Ngọt sữa phù sa, mát gió đồng Trải bao năm tháng còn gian khó Đây là vùng đất Tân – Phú – Đông
Hướng Tây mời bạn thăm Cai Lậy Chiến công Ấp Bắc, rạng oai hùm! Ba Rài – một trận còn vang tiếng Sống mãi muôn đời với núi sông!
Cái Bè, đang ngọt mùa cây trái Bạn hãy cùng tôi sưởi ấm lòng Nước dừa mát giọng trưa nắng hạ Vẫn nhớ hoài cô gái má hồng.
Rẽ sang hướng Bắc về Tân Phước Đất phèn, khóm vẫn vượt lên xanh Bông mướp khoe vàng trên đất mới Gọi người vào vụ hướng thâm canh
Hướng Nam, mời bạn về một chuyến Thăm đất Long Hưng một sáng này Tiếng trống Nam kỳ còn đọng lại Gọi người vào trận mới hôm nay!
Tiền Giang, thứ nhất là tình bạn… Đón người, như đón cả mùa Xuân! Người dân Nam bộ, luôn chân chất Tình cảm chan hòa, đầy nghĩa nhân
Phương Nam tài tử hòa trong máu Tiền Giang, mấy độ vẫn trông hoài… Đón bạn về thăm, chơi một chuyến. Người về, lưu luyến…phút chia tay!
Đinh Phạm Kiều Mời các bác về Tiền Giang một chuyến đi ạ!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:11:32 pm » |
|
Tản mạn quanh bài thơ “MÀU TÍM HOA SIM” “Màu tím hoa sim” là bài thơ nổi tiếng của Hữu Loan bởi trước hết bài thơ ra đời từ một chuyện có thật. Sau nữa, bài thơ rất xúc động và hấp dẫn lạ lùng, vì thế mà ngay từ lúc còn truyền miệng chứ chưa được in ra, bài thơ đã có sức lan toả rất rộng, khắp trong Nam ngoài bắc đều biết, đều ngâm, đều thuộc, dĩ nhiên là không tránh khỏi “tam sao thất bản”. Từ khi được phổ nhạc, bài thơ lại càng được phổ biến hơn nữa ( dù nhạc chưa xứng với thơ! ) Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Nhà nghèo nhưng chăm học nên ông đỗ được bằng tú tài I, sau thi đỗ thư ký văn phòng toàn quyền nhưng vì ghét Pháp nên không nhận việc, chỉ đi dạy ở các trường tư thục để mưu sinh. Ông tham gia cách mạng từ năm 1936 rồi tham gia phong trào Việt Minh, sau được điều lên làm Ủy viên văn hoá trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá. Từ những ngày đầu kháng chiến, ông phụ trách tờ báo Chiến sĩ của quân khu 4. Năm 1954 tiếp quản thủ đô ông được mời ra làm trong ban biên tập báo Văn nghệ. Bài thơ “Màu tím hoa sim” được Hữu Loan viết năm 1949. Bài thơ tuy chỉ kể chuyện riêng của mình mà hình ảnh mỹ cảm đã thoát ra khỏi “cái tôi” nhỏ hẹp để đến với nhiều người, tạo nên sự đồng cảm sâu xa, chan hoà trong thế giới tâm linh huyền diệu. Vào khoảng năm 1937 – 1938 cậu học trò Hữu Loan rời quê lên tỉnh, học tại trường trung học ở thị xã Thanh Hoá. Tại đây, Hữu Loan làm gia sư ở nhà ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng thanh tra nông lâm Đông Dương, về sau là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt nam dân chủ cộng hoà. Vợ ông Kỳ, bà Đới Thị Ngọc Chất, rất thương yêu Hữu Loan nên nhận làm con nuôi. Còn cô học trò nhỏ Lê Đỗ Thị Ninh lúc đó mới 8 tuổi, kém thầy chừng 13, 14 tuổi, rất mến thầy và luôn quấn quýt bên thầy. Họ sông êm đềm như thế cho đến khi cô Ninh lớn lên và yêu thầy lúc nào không biết! Năm 1941, Hữu Loan lên Hà Nội thi đỗ bán phần tú tài rồi trở về Thanh Hoá dạy học và tham gia Việt Minh. Năm 1947, trong buổi mít-tinh khai mạc “Tuần lễ vàng”, Hữu Loan đọc một bài diễn văn hùng hồn kêu gọi lòng yêu nước và hy sinh của toàn dân, cô Ninh từ trong hàng ngũ bước ra, tháo bỏ vòng xuyến để quyên góp cho Chính Phủ. Sau đó, Hữu Loan nhập ngũ, phụ trách báo Chiến sĩ và vẫn được coi như con cái trong nhà ông Kỳ, bà Chất; thỉnh thoảng vẫn đi, về thăm cha mẹ nuôi và “em nuôi”. Thế rồi, tình yêu của Hữu Loan đến với cô Ninh lúc nào không hay, và cha mẹ cô Ninh cũng vun vén vào cho đôi trẻ. Ngày 6-2-1948 một đám cưới đơn giản giữa anh chàng Vệ quốc quân và cô “em nuôi” được tổ chức trong sự vui mừng và tình thân yêu của gia đình, bè bạn: “…Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới Tôi mặc đồ quân nhân…” Hữu Loan không chung sống với vợ mới được lâu bởi còn phải lo nhiệm vụ của người lính: “…Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi…” Bà Ngọc Chất - mẹ vợ của Hữu Loan – có biệt nhãn đối với ông. Theo Hữu Loan thì thoạt đầu bà muốn gả em gái mình cho Loan, nhưng cô này say đạo, chẳng nghĩ gì đến việc trần duyên nên xin vào tu viện và ở luôn tại đấy. Về sau, khi cô Lê Đỗ Thị Ninh lớn lên, bà nhất quyết gả cô Ninh cho Loan mặc dù cô này có nhiều người ngấp nghé. Bạn bè, chị em của bà thắc mắc sao bà quý “thằng Loan” thế? Bà đáp: “Tôi quý nó ở chổ nó có nhân cách”! Hữu Loan cũng quý trọng mẹ vợ, coi bà như mẹ đẻ của mình và đối với bà như đứa con trai hiếu thảo. Ngày 29-5-1948, khi đang là Trưởng ban tuyên huấn của sư đoàn 304 đóng ở Thọ Xuân, Thanh Hoá, Hữu Loan bổng nhận được tin sét đánh: cô Lê Đỗ Thị Ninh đã chết!! Nhà thơ Vũ Cao kể: “Tôi còn nhớ cái buổi ấy…ngồi trong một quán nhỏ ở Thanh Hoá, anh ( Hữu Loan ) báo cho tôi biết cái tin đột ngột: Ninh vừa mất! Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung toé xuống bàn, mặt anh tái xanh. Và mãi sau này ở Việt Bắc, tôi mới được nghe: “…Ba người anh Từ chiến trường Đông - Bắc Biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng…” Câu thơ thật như cuộc đời có thật. Không có gì chữ nghĩa mà xúc động biết bao”! Cái tin sét đánh ấy khiến Hữu Loan tan nát cõi lòng. Nỗi đau dồn nén ấy sang năm sau – 1949 – thì chín muồi để bật ra thành lời, thành một bài thơ bất tử! Bài thơ chỉ viết xong trong hai tiếng đồng hồ vào một buổi trưa vắng, không phải sửa chữa gì. Tuy nhiên, lúc bấy giờ chiến sự đang ác liệt, chuyện riêng tư đành xếp lại bên lòng. Bài thơ được Hữu Loan cất mãi trong túi áo, cho đến một hôm, Vũ Tiến Đức – biên tập cũ của Hữu Loan – tình cờ lấy được, đem đọc cho bè bạn, cho bà Ngọc Chất nghe, thế là bài thơ được phổ biến nhanh chóng. Về sau Nguyễn Bính đem bài thơ ấy đăng trên báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956) mà tác giả không hề hay biết! Bài thơ gây xúc động mạnh vì những lời tình tự của Hữu Loan, những lời tình tự chân thành, không làm dáng, không tô vẽ:
“…Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại Lấy chồng đời chiến chinh mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê…” Nhưng người lính không chết mà chết cô gái nhỏ ở hậu phương, lúc Hữu Loan về thì chỉ còn ngôi mộ: “…Tôi về không gặp nàng Mẹ tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh…” Cái hình ảnh “chiếc bình hoa” biến thành “bình hương” mà “bình hương tàn lạnh vây quanh” tạo cho người đọc một cảm giác rờn rợn. Và một bóng người cô đơn vây bọc bởi bóng tối, một người đàn bà ngồi bên mộ con im lặng trong nỗi đau xé ruột, không còn nước mắt để khóc, không thốt nên lời. Rồi tác giả thở than: “…Em ơi! Giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau một lần…” Cưới nhau mới ba tháng, sống với nhau có mấy ngày, thế mà đến lúc vĩnh biệt không được thấy mặt nhau lần cuối, hỏi còn có cái đau nào hơn? Rồi những mùa thu qua, những mùa thu qua với “gió sớm thu về rờn rợn nước sông” hay “gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí” tạo những hình ảnh thật buồn, cộng với nỗi cô đon của người nằm dưới mộ khiến ai đọc đến cũng phải xót xa! Ôm nỗi đau thầm lặng, tác giả cùng đồng đội hành quân qua những đồi sim trong buổi chiều hiu quạnh, những đồi sim bạt ngạt màu tím – cái màu mà thuở sinh tiền nàng yêu thích - những đồi sim chạy dài tưởng chừng như không bao giờ hết trong chiều hoang biền biệt, như nỗi thương nhớ khôn nguôi, như niềm đau bất tận. Bài thơ đứng được trong lòng người là nhờ tính chân thật của nó, và cũng nhờ lối diễn đạt tài hoa của tác giả. Có mấy ai yêu nhạc, yêu thơ bài màu tím hoa sim của Hữu Loan đã cảm nhận được hết cái đau khổ tột cùng của tác giả? Cũng như cái “thần” của một bài thơ bình dị, thân thiết mà cũng rất cao xa!
Đinh Phạm Kiều
(Tổng hợp từ tư liệu của Vũ Cao,Nguyễn Sĩ Đạt, Đào Bích Nguyên và Hữu Vi)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 09:43:55 pm » |
|
TIẾNG CHIM TU HÚ
“…Con chim tu hú Mày kêu, mày hú Làm tao nhớ nhà Nhớ mẹ cùng cha Nhớ chái hè với lại hàng ba Tiếng kêu ôi nghẹn ngào…!” (Dân ca Khơmer Nam bộ )
Tu hú (Eudynamic-scopolacea ) trong bộ Cuculiformes - là một giống chim có bộ lông màu xám tro, trên nền bụng màu trắng chạy những sọc nâu. Mỏ dài, đuôi xoè, hình dáng trông thanh lịch - mà theo người đời đánh giá là độc ác, vô tình và bất nghĩa với câu ca dao: “Gớm thay tu hú vô tình Đã ăn mất trứng, lại giành mất con..!”
Cũng như xã hội loài ngưòi, thế giới loài chim có những bà từ mẫu hy sinh tất cả cho con, cũng có những chị đàn bà hư đốn như…tu hú và dòng họ lãnh đạm với con cái, để mặc cho các loài chim khác chăm sóc trứng và con mình! Theo căn cứ khoa học thì chim tu hú không biết làm tổ, tới mùa động dục anh chị cứ giao phối thoải mái, với “chế độ đa phu”, tới mùa sinh sản thì đẻ nhờ vào tổ của các loài chim khác như sáo sậu, ác là, giẻ cùi, quạ… ( bởi thế mới có thành ngữ “quạ nuôi con tu hú” ) sau khi đã “xơi” bớt số trứng trong tổ, nhất là tổ chim sâu! Muốn đẻ trứng, chị tu hú đợi cho chị mái chủ tổ bay đi kiếm ăn, mới lén đẻ trứng mình vào đó. Xong xuôi, chị bèn ngậm một trứng của khổ chủ mà bay đi để ăn ngon lành! Thành thử, có lúc người ta thấy tu hú ngậm trứng ở mỏ. Nhưng, trứng đó bao giờ cũng thuộc về loài chim khác. Chị tu hú vừa vô trách nhiệm, vừa gian hùng! Còn về chim sâu thì không phân biệt chim con, cứ thấy chim non nở trong tổ thì “chắc cú” là con của mình! Cứ tưởng tượng hình ảnh một con chim sâu mẹ lớn hơn ngón chân cái của ta chút xíu, mà phải kiếm mồi về nuôi đứa con nuôi to gấp mấy lần mẹ nuôi thì cũng nực cười! Trong thiên nhiên, tình mẫu tử của loài chim rất cao, chúng sẵn sàng nuôi cái gã báo cô đó mà không hề tiếc công sức, mà cái gã chim tu hú con này rất khoẻ, có bản năng “lưu manh” bộc lộ từ khi mới nở, khi chưa mọc đủ lông cánh, chưa mở mắt được, chỉ 12 giờ sau khi ra đời tu hú con đã có một sức mạnh đáng kể. Trong người y đã có sẵn dòng máu “bất lương”, nó lấn trứng và chim non cùng tổ rơi xuống đất để giành lấy sự chăm sóc của chim bố mẹ nên lớn rất nhanh. Một con chim tước mẹ, hay con chim sâu mẹ bắt buộc phải đút mồi một “chim con” tu hú rất bự. Cái họng cậu cứ há rộng, bên trong nóc màu cam chói rực và một cái đuôi thù lù một khúc. Quý tử hỗn hào, ngự trị một mình trên cái tổ gần như bị san bằng với sức nặng ngày càng gia tăng của nó. Nó cứ ngẩng đầu, há họng ra, miệng kêu inh ỏi không ngớt đòi ăn. Như thế không giống chim con của các chị tước, chị chim sâu, chị hoạ mi tý nào! Thế mà, các bà mẹ nuôi bị mê hoặc một cách kỳ lạ, không thể nào chối bỏ đứa con nuôi được… tu hú lại thuộc loại “hạm con”, vừa ăn nhiều lại vừa kềnh càng, không phải chỉ cha nuôi, mẹ nuôi là phải thay phiên nhau đút mồi cho gã “quý tử” này mà các loại chim lạ, khác loài đôi khi cũng như bị thôi miên bởi cái nóc họng màu cam đó mà phải mang đồ ăn đến, sốt sắng đút mồi cho đứa con của “thiên hạ”! Một điều đặc biệt là, nếu chim tu hú mẹ đẻ trứng “ký gửi” vào tổ các con chim khác như chèo bẻo và quạ, thì tu hú con lớn lên có cái biệt tài giả dạng giống y như các chú chim con khác cùng nằm chung trong tổ. Từ cách đòi ăn, tư thế nằm…cả đến màu lông thời kỳ này cũng thay đổi theo chim con cùng tổ. Trên đầu và lưng gã lông đều mọc đen tuyền như lông quạ, lông chèo bẻo, mẹ nuôi chỉ nhìn được phía trên đầu, trên lưng của bầy con nên ít khi khám phá được đứa con “lộn dòng” ẩn náu trong đám, thật tuyệt diệu! Đó cũng là một bí ẩn của thiên nhiên mà người ta không thể nào giải thích được.Nhưng cũng đừng vội kết tội tu hú, nó cũng là loại chim có ích cho nhà nông, tu hú ăn tất cả các loại sâu bọ, côn trùng hại lúa, hại trái cây (nhưng gã cũng là tên ăn trái cây non số một! ) Thôi thì, công tội của tu hú hãy đễ cho người đời phán xét…Riêng tôi, như lời bài dân ca Khơmer Nam bộ, tiếng chim tu hú là nỗi nhớ nhung, khắc khoải, nỗi lòng đau đáu nhớ quê hương, cũng như tiếng bìm bịp kêu nước lớn vậy! Nhất là khi được nghe những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu:
“ Khi con tu hú gọi bầy Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần Vườn râm ran tiếng ve ngân Bắp rây vàng hạt, đầy sân nắng đào Trời xanh càng rộng, càng cao Đôi con diều sáo lộn nhào từng không…”
Vâng, tiếng chim tu hú kêu là báo hiệu đã vào mùa hè, trên đồng thì lúa chiêm chín vàng, trái cây trong vườn đã chín rộ…Những tiếng kêu khắc khoải:.. “tu hú…ù…ù…” thoát ra từ các lùm cây nghe sao mà buồn thê thiết! Và trong mỗi người chúng ta, hình ảnh quê hương một buổi chiều mùa gặt như vẫn còn vấn vương đâu đó trong tâm não:
“Tu hú kêu giòn trên rặng vải Lúa chiêm chín trĩu gié no lành Mùi hương nhè nhẹ, êm êm toả Trên cánh đồng quê nhạt sắc xanh.
Thợ gặt lô nhô khắp cánh đồng Những vành nón trắng úp lưng cong Ven bờ bầy trẻ ngây ngô hát Khi lũ bò đang uống nước sông
Trên nẻo đường vòng tới xóm quê Nhà nông gánh lúa rủ nhau về Mặt bừng đỏ thắm, mồ hôi ướt Từng lớp dần xa khuất luỹ tre…” Tiếng chim tu hú và tiếng chim vịt kêu chiều, tiếng bìm bịp kêu nước lớn đã theo tôi suốt một thời tuổi trẻ lênh đênh phiêu bạt. Khi còn trong quân ngũ, mỗi lần đơn vị dừng quân ở một làng quê nào, mỗi lần nghe tiếng chim tu hú buồn khắc khoải, nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ cứ da diết trong lòng tôi và các đồng đội của tôi…theo từng lời bài thơ của nữ thi sĩ Anh Thơ:
“Bỗng tiếng chim tu hú Đưa từ vườn vải ra Quả bắt đầu chín bự Ngọt như…nỗi nhớ nhà!
Rồi tiếng chim tu hú Vang suốt những mùa hè Con đi dài thương nhớ Mười năm chửa về quê!” Quê tôi ở miền sông nước Tây Nam bộ nên không có những vườn vải chín ngọt lịm, cũng không có hoa gạo đỏ rực khi mùa hè đến…Chỉ có hoa phượng vỹ đỏ rực trên những tàn cây, nhưng tiếng chim tu hú thì ở nơi nào trên quê hương cũng được nghe và mỗi lần nghe là mỗi lần nỗi nhớ dâng đầy trong tâm khảm! Bây giờ, sống ở nội ô thành phố Mỹ Tho, ồn ào ngựa xe, với nhịp đời hối hả, không còn được nghe tiếng chim tu hú gợi nhớ quê hương khắc khoải trong những lùm cây! Nhưng trong lòng những đứa con xa quê chắc ai cũng như tôi, cũng cồn cào nỗi nhớ quê cho dù không còn nghe tiếng chim tu hú! Bởi, “quê hương mỗi người chỉ một” mà!
Đinh Phạm Kiều Đoàn nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 10:57:38 pm » |
|
Tản mạn cuối tuần CÂU CÁ LÓC Khi những cơn mưa mang nước từ trên trời đổ đầy các ao, đầm, mương, vũng. Và khi mà nước từ thượng nguồn đổ về làm đầy ắp các ao, con kênh, ngọn rạch là những người có máu mê câu cá lại nghe trong lòng nôn nao, rạo rực. Chuẩn bị đồ nghề để đi câu, mà khoái nhất là…câu cá lóc! Câu cá lóc cũng có nhiều cách: câu “cắm’, câu “nhắp”, câu “rê”, và câu “vịt”, nói tóm lại câu cách nào cũng có bí quyết riêng. Câu cắm thì tiện nhất; người đi câu sắm cho mình chừng vài chục cần câu cắm, có thể mua ở chợ ( nhưng không nhạy và chắc bằng cần câu mình tự làm ) Không thì bỏ công ra kiếm một đoạn tre, trúc thật cứng nhưng phải có độ dẻo, dai cần thiết xong rồi chuốt thành từng cây cần câu. Tuỳ theo độ sâu, bờ bụi nơi mình cắm câu mà làm cần câu cho phù hợp, có người làm cần câu dài khoảng 0,8 mét, có người làm đến 1 mét! Làm cần câu xong phải hơ lửa, bẻ, uốn tạo độ cong để cần câu “bật” tốt, cá không sẩy được. Khó nhất là “tóm” lưỡi câu, cái nầy đòi hỏi phải có tay nghề, vì nếu “tóm” lưỡi câu không khéo, sẽ chẳng có con cá nào ăn; mà nếu nó “vui lòng” ghé lại, ăn hết mồi rồi cũng “dọt”. Lưỡi câu mua ngoài chợ phải chọn loại lưỡi thép tốt, to một chút đem về còn phải uốn, lấy kềm “bẻ” cho lưỡi hơi nghiêng cá ăn mới dính mép được. Nhợ câu cũng phải lựa loại nhợ gân, hoặc nhợ “ny-lông”. Làm cần câu xong xuôi, muốn cắm câu thì phải có “mồi”, mà mồi câu cắm cá lóc nhạy nhất là những chú “dế nhũi”, cá lóc khoái nhất là dế nhũi, và hơn nữa dế nhũi sống rất dai, có khi cắm câu cả đêm không có con cá nào ăn, con dế nhũi làm mồi câu vẫn còn…sống nhăn, có thể dành làm mồi cho lần sau. Còn tìm không ra dế nhũi thì đào tìm một mớ “trùn” ( còn gọi là con “giun đất”) mà làm mồi câu cũng được, nếu câu bằng dế nhũi thì móc lưỡi câu vào lưng dế, cắm cần câu sao cho chú dế vừa chạm mặt nước, dế nhũi sẽ chạy vòng vòng trên mặt nước, đánh động những chú cá đói tìm tới, “cá lóc thích ăn mồi động, cá trê thích ăn mồi chết” người đi câu nào cũng biết bí quyết trên.Nếu không tìm được dế nhũi thì móc mồi trùn mà thả câu, cá đói thì gặp mồi nào cũng “xực” tuốt! Có người thả câu “ngầm”, tức là chỉ cần một khúc tre, trúc nhỏ, không cần dài lắm buộc nhợ câu vào một đầu, móc mồi rồi thả chìm xuống nước, đoạn còn lại cắm sâu dưới đất, cá ăn mồi, mắc câu rồi thì chạy vòng vòng dưới nước, hoặc lủi vào bụi, lùm nào đó rồi nằm im, chịu chết. Câu kiểu nầy có khi dính cá lóc, cá trê và cả lươn nữa! Nhưng câu cắm cực ở chổ người đi cắm câu phải thường xuyên theo dõi các cần câu của mình, nếu cá cắn câu mà không gỡ gặp cá lớn sẽ giật đứt dây câu, coi như mất toi cả lưỡi câu và cá! Hoặc cá ăn câu rồi chết, sẽ bị sình ươn hoặc cua, tép, cá khác tới rỉa hết thịt, sáng ra đi gỡ câu chỉ còn lại…cái đầu cá như chọc quê! Câu “rê” thì là cả một nghệ thuật, cần câu là nguyên cả một cây trúc hoặc tre dài có khi tới 6,7 mét! Dây câu cũng dài hơn thân cần câu, người câu rê chặt một cái nạng bằng cây ( giống như cái ná thun ) cắm ngược dưới thân cần câu làm chổ tỳ vào đùi để “rê” lưỡi câu, mồi câu rê thường là nhái, bù tọt hoặc đối đế lắm thì bắt “thằn lằn” làm mồi, chỉ cần thấy mồi nhảy nhảy, chấp chới, xao động trên mặt nước là cá lóc nhào tới “bập” liền! Lưỡi câu rê sau khi móc mồi xong, thường được người đi câu bẻ một cọng cỏ, gắn vào đầu nhọn của lưỡi, đoạn cỏ còn lại gắn vào cái “nòng” trên sợi nhợ, chủ yếu là để lưỡi câu nhọn không mắc kẹt vào lùm cây, bụi cỏ khi đang rê câu! Câu rê thường dính cá lớn, có khi dính cả ếch to! Cậu Út tôi câu rê không cần mồi, chỉ cần nhìn thấy con cá lóc nổi lên, lấy cần câu rê dần dần cho tới khi lưỡi câu nằm dưới bụng cá là giật, mười phát không sẩy một! Câu “nhắp” gần giống như câu rê, chỉ khác là cần câu không cần dài quá, khi câu thì “nhắp, nhắp” với khoảng cách đều, kích động mấy chú cá đói. Gần đây, ngưòi ta còn dùng vịt để câu, bắt một con vịt con cột một chùm lưỡi câu vào dưới hai chân của con vịt, tìm nơi nào có bầy “ròng ròng” mà thả vịt, cá lóc mẹ sợ bị ăn mất con nhào tới “đánh đuổi” kẻ quấy rối, táp một phát - cả một chùm lưỡi, hụt lưỡi nầy cũng “thiếm xực” lưỡi kia - thế là…dính câu! Có khi cá táp hụt lưỡi câu, táp luôn vào bụng vịt con, lòi cả ruột gan thấy phát khiếp! Câu cá bằng vịt dã man quá nên ít có người câu, còn khi chúng tôi đi câu gặp cá lóc mẹ dẫn bầy “ròng ròng” đi “dạo mát”, chúng tôi bỏ qua, không bao giờ câu, sợ cá con mất mẹ sẽ làm mồi cho cá khác! Mai mốt lấy cá đâu mà câu? ( Không như bây giờ, ngưòi ta dùng cả xung điện để bắt cá mẹ, cá còn “vị thành niên”, và cả cá con, thì nguồn tài nguyên thiên nhiên nầy không bị cạn kiệt mới là chuyện lạ! ) Trước kia, khi những ao nước dưới chân cầu Rạch Miễu, bên Thành phố Mỹ Tho chưa được thổi cát san lấp, có người xách cần câu máy tới câu, cũng được khá nhiều cá, còn khi đài phát thanh Tiền Giang còn ở chổ cũ, cứ con nước rong tháng Mười đổ vào những con mương, trảng cỏ bên đài là chúng tôi có dịp câu “ké” những con cá lóc to, còn gặp cá trê thì nhảy qua dùng “xà búp” mà đâm – có con hai, ba ký – đâm dội cả tay chứ chẳng chơi! Câu cá lóc nói dễ chứ thật ra không dễ, nó đòi hỏi người đi câu phải hội đủ các điều kiện: mắt tinh – tay dẻo – giỏi nhìn nguồn nước và địa thế ao đầm nơi mình sắp câu. Bây giờ, trong xu thế “đô thị hoá” những ao, hồ, mương, vũng trong nội ô lần lượt bị san lấp để lấy đất xây dựng, người “ghiền” câu cá phải ra ngoại ô, mà mương vũng ở ngoại ô bây giờ hình như cũng không còn cá lóc, chỉ có cá rô, cá sặc mà thôi! Mua một con cá to ngoài chợ không phải là không mua nỗi, nhưng thưởng thức các món chế biến từ con cá của mình câu được lúc nào cũng khoái hơn, đúng không? Và câu cá cũng là một thú tiêu khiển cho những ngày nghỉ cuối tuần đối với những người có máu mê “câu cá”.
Phạm Kiều Đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 10:59:45 pm » |
|
Viết ngắn
CÂY DỪA NƯỚC… Đọc những trang của Đoàn Giỏi, của Sơn Nam viết về miền đất phương Nam, ta có thể nhận thấy một điều: - Cây dừa nước là hình ảnh gắn bó thân thiết nhất với người dân miệt sông nước miền Tây – Nam - Bộ, gần như song song với cây dừa mà chúng ta vẫn uống nước hàng ngày! Dừa nước, mọc ven sông, rạch bờ mương, chổ nào có nước là ta có thể trồng… dừa nước. Kể cả vùng đất phèn, đất lợ chỉ có một điều là nó không phát triển tốt, sum suê như trồng ven sông, rạch nước ngọt. Không rõ tự bao giờ, dân ta đã biết khai thác sản phẩm từ cây dừa nước? Lá dừa nước dùng để… lợp nhà, điều đó ai cũng biết. Nhưng lá lợp nhà cũng có nhiều loại, mỗi loại lại có một giá trị khác nhau về kinh tế, độ bền lá dừa nước để nguyên tàu, xé ra làm đôi theo chiều dọc gọi là “lá xé” lợp nhà thì tuyệt vời. Nếu lợp dầy, khít có thể cầm cự được với nắng mưa tới 9, 10 năm! Còn lợp thưa thì tệ lắm cũng phải 5,6 năm - với điều kiện là không có con chuột nào làm ổ trên nóc nhà, và không có những chú “rắn rồng” chuyên tìm bắt chuột - làm cho nóc nhà của ta bị tơi tả, rách nát và xuống cấp trầm trọng! Còn lại một kiểu lá nữa, gọi là lá “cần đốp” (?) hay lá “chằm cốp”(?) không biết tên gọi nào đúng, loại lá này người ta phải róc rời từng tàu lá dừa nước, phơi cho dôn dốt nắng, bẻ gập miếng lá theo quy cách 2/3 cặp vào “sống” lá mà chằm cho kết dính lại.“Sống” lá – cũng bằng thân cây dừa nước - dài ngắn tuỳ theo “lá hàng” hay “lá đặt”! Lá hàng thì người ta làm sơ sài, khoảng cách giữa hai miếng lá hơi thưa, nhưng cũng khá bền chiều dài tấm lá chỉ khoảng từ 0,8 đến 1 mét, dài lắm là 1,2 mét. Lá đặt thì khác, người ta chằm kỹ hơn, khoảng cách giữa hai miếng lá khít hơn, sống lá cũng dài hơn - chủ yếu là do người đặt muốn dài bao nhiêu? Có khi tấm lá chằm có chiều dài tới…hai mét! Còn thì 1,8 mét, 1,6 mét là thường gặp ở loại lá nầy. Lợp nhà phải có “lạt” buộc, “lạt” cũng làm từ phần dưới thân cây dừa nước mà dân gian quen gọi là “bập dừa”, lạt dừa được chẻ ra từ đây ( có nơi người ta lợp nhà bằng lạt tre ) nhưng thường thì muốn cho “đồng thanh, đồng thủ” người ta lợp nhà bằng lạt dừa, gọi là có tình, có nghĩa. Lạt dừa, trước khi xỏ, lợp phải được chuốt nhọn một đầu, đem thui trên lửa cho cứng, phần còn lại đem nhúng vào nước cho dai, không bị gãy khi cột. Lợp nhà bằng kiểu lá nào cũng phải dùng tới lạt dừa, nói như thế để cho ta thấy rằng cây dừa nước không bị chê một bộ phận nào! Còn cây dừa nước non, nhọn hoắc gọi là “cà bắp” cũng có công dụng lắm, ngày trước nghe nói khi khẩn hoang, lập ấp cá sấu vùng Bình Ninh, quê tôi ( chổ bến đò sông Cái ) nhiều vô số kể! Nhất là cá sấu hoa cà, người ta dùng “cà bắp” để đâm vào thân thể cá sấu thì cá sấu bị khống chế ngay! Càng vùng vẫy, “cà bắp” càng ăn sâu hơn! Có một bài thuốc Nam nói rằng “Ăn thịt con cá sấu, lấy cọng dừa nước xỉa răng phù mặt chết!” không biết có đúng không? Đã có ai đã thử chưa chứ tôi…chưa dám thử! Trái dừa nước cũng làm nên lắm chuyện, cơm dừa nước nấu chè, làm dừa đá ăn cũng ngon không kém gì vải thiều hay dừa nạo, dừa Xiêm đâu nhé! Còn bập dừa nước là phương tiện cho tuổi nhỏ tập bơi, tập lội, mỗi chiều khi bìm bịp kêu nước lớn đầy sông, mỗi đứa ôm một cái bập dừa vùng vẫy, quậy nước đùng đùng vui vô kể! Ngày xưa, mỗi khi đi đò về quê nhìn hai bên bờ sông là những rừng dừa nước, chen lẫn với những cây bần ổi sum suê, xanh mướt và khi nhìn thấy rặng dừa nước quen thuộc hiện ra trên bến sông là lòng tôi thấy bồi hồi, xao xuyến vì đã tới nhà rồi, đứng đón tôi trên bến sông là ngoại tôi với cây gậy trúc đỡ tấm thân gầy và mái tóc bạc phơ màu hoa bần trắng! Xã hội đã tiến triển mọi mặt về kinh tế, văn hoá đời sống người dân vùng sông nước miền Tây cũng được nâng cao, người dân đã lợp nhà bằng “Fibbro-ciment”, bằng “tole”, có người xây nhà đúc hai, ba tầng thậm chí xây nhà theo kiểu biệt thự hay cung đình với những kiến trúc vẽ từ bên…Tây! ( Kiểu nhà này mấy ông Tây khoái lắm đây, vì đi qua Việt Nam, nhìn thấy kiến trúc nhà ở của Việt Nam cũng giống như…bên nhà, ít ra cũng đỡ chạnh lòng nhớ mẫu quốc! ) Bây giờ, ít - hoặc không còn ai – lợp nhà bằng lá dừa nước nữa, những “hàng dừa nước lung linh ru mình trong nắng mới” ( lời bài ca cổ “Dòng sông quê em” ) cứ xác xơ theo từng đợt sóng vỗ bờ của các loại ghe, tàu. Và có nguy cơ bị “xoá sổ” trong danh mục các loài cây vì nạn khai thác cát bừa bãi, làm sạt lở bờ sông! Thi thoảng mới gặp những mái lá nhô lên từ những rặng cây mắm, cây bần của những người dân nghèo sống dọc ven sông. Và nếu ai có dịp về thăm vùng đất Mũi – Năm căn sẽ thấy chạnh lòng hơn với những mái nhà lá mục nát, xập xệ, càng nghe lòng quặn thắt hơn với câu thơ: “ Tuyết sương đất khách đã nhiều, Nhớ sao sợi khói lam chiều yêu thương!” Những sợi khói lam chiều không bao giờ vương vấn trên những căn nhà lợp “tole”, lợp “fibbro-ciment” hay nhà lầu đúc ba, bốn tầng đâu! Khói lam chiều chỉ vấn vương trên mái rạ, mái tranh, mái lá…nó chui ra từ những khe hở của những mái nhà đã quá xập xệ, len lỏi thoát ra và phiêu diêu, lãng đãng trên mái nhà! Những ai xa quê, có nhớ sợi khói lam chiều len qua mái lá thì hãy mau quay về mà ngắm nhìn đi!Cây dừa nước ngày càng mất đi vị thế của nó, và hàng dừa nước ven sông, nơi tuổi thơ hồn nhiên đi chặt từng quày dừa nước đem về cho mẹ nấu chè, ôm bập dừa nước vẫy vùng tập bơi, tập lội có lẽ mai sau chỉ còn trong…quá khứ! Thương lắm những cây dừa nước của vùng quê ven sông quê bạn, quê tôi và quê của tất cả mọi người.
Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 11:02:47 pm » |
|
Bút ký SĂN "KÌNH NGƯ" TRÊN SÔNG TIỀN, SÔNG HẬU. Cách đây không lâu, tôi tình cờ gặp một người bạn học chung thời tiểu học, nó có cái tên nghe rất ư là “trôi nổi” Giang Lục Bình! Nó cho tôi biết đang cùng gia đình vợ con sống “lang bạt kỳ hồ” trên chiếc thuyền câu lớn. Thuyền câu cá, lưới cá sông mà to như thuyền đánh lưới quàng, hôm tôi gặp nó là hôm nó đi tìm mua một mớ dây câu và tay lưới mới, chuẩn bị cho mùa đánh bắt cá sắp tới, đó là mùa nước lũ về trên sông Tiền và sông Hậu. Nó rủ tôi vào quán nhậu, tìm cái gì đó khề khà tâm sự, như cái thuở hai thằng còn sống trong quân ngũ, cách đây gần…ba mươi năm! Nó càng nhậu càng tỉnh, đúng “phong cách” của con nhà lính…Càng nhậu, nó càng có những câu chuyện hay về nghề câu của nó, gặp tri kỷ nó dốc hết tâm sự, nó kể cho tôi nghe những ngày lang thang, phiêu bạt tìm bắt cá hô và câu cá bụng (ba sa) để bán cho người ta gây giống…Sau đây, tôi xin kể chuyện “săn cá hô”: …Sông Tiền, sông Hậu như hai con rồng uốn khúc, quẩy mình vươn ra biển Đông. Theo “thống kê” sơ sơ của các nhà “ngư học” nghiệp dư, thì từng xuất hiện trên hai con sông này có tới hơn…200 loài tôm, cá có những loài “kình ngư” to như chiếc xuồng, nặng 3- 4 trăm ký! Chính vì thế, cư dân sống dọc hai bờ hai con sông này, từ xa xưa đã hình thành một nghề độc đáo: nghề săn bắt “kình ngư” (cá hô) và câu cá “bụng”. Đâu chỉ có cá hô, họ hàng “kình ngư” trên sông Tiền, sông Hậu có hàng chục loại, mỗi loại có tính cách rất đặc biệt đi vào huyền thoại. Có con được dân gian xem như “thần”, khi bắt được đem nhang, đèn lễ vật đến cúng vái, xin “ngài” tha tội vì đã lỡ đánh bắt nhằm “ngài” (!). Nhưng rồi sau đó, “ngài” dĩ nhiên cũng phải bị mổ bụng, phanh thây và đem ra chợ bán cho dân nhậu, những người chuyên tìm mua cá to về nhậu, với giá không rẻ một chút nào! “Xin lỗi mày! Không bán thì lấy cái gì mà nuôi vợ, nuôi con?” - với giọng xót xa, nó nói với tôi như thế! Cá hô tựa như cá mè nhưng con nhỏ nhất cũng cả chục ký lô! Chỉ riêng “đùm trứng” của cá mẹ đã khoảng…20 ký! Con lớn cân nặng có khi lên tới 3 – 4 trăm ký là chuyện nhỏ. Mùa nước đổ, cá hô xuôi dòng “Bắc tiến”, nhưng thật kỳ lạ, chỉ đến địa phận An Giang, Đồng Tháp thì quay lại. Thịt cá hô thơm, ngon, ngọt, nấu canh chua là “vô địch thiên hạ”, được tiêu thụ rất mạnh. Tại chợ, hôm nào có cá hô chỉ vài tiếng đồng hồ là hết sạch, dù giá không rẻ, tương đương – có khi mắc hơn - giá thịt heo! Một số người Hoa không dám ăn cá hô, nói rằng đó là “cá hoá long” (có lẽ thấy nó to quá!) Riêng dân nhậu thì thịt…“khủng long” cũng chơi luôn, chớ đừng nói cá mới “hoá long” chưa thành “rồng”! Bệnh gì mà cữ? Bình nói cho tôi biết, hồi trước cá nhiều, lại là cá to nên ngư dân thường dùng lưới “quàng” để bắt. Lưới quàng vốn lớn, cả chục lượng vàng một giàn lưới! Nay cá ít, ngư dân chỉ còn dùng lưới “câm” vốn nhỏ, mỗi tay chỉ dài trên, dưới 100 mét. Nghề này cũng hên xui nhằm mùa, có khi giăng cả tháng không được con nào. Nhưng có khi chỉ một tuần bắt được năm, sáu con, mỗi con trị giá cả “cây” vàng! Tôi hỏi nó, có bắt được con cá hô nào chưa? Nó cười khành khạch: bắt được tất cả 4 con! Con nặng nhất 300, con “mèn” nhất 100 ký! Mày coi phim “Ông cá hô” do Lê Vũ Cầu đóng chưa? – nó hỏi tôi - rồi, tôi đáp. Mày thấy con cá hô trong phim không? Cá “dỏm” đó! Cá “dỏm” mới quậy từa lưa như thế, chứ cá thật vào lưới rồi nằm im re hà! Tại sao tao nói cá “dỏm”? Tại vì…cá hô hiền khô, vào lưới rồi thì nằm im re, không hề giãy dụa, với lại đâu còn con cá hô nào cho mấy ổng bắt mà quay phim, người ta tàn sát hết rồi mày ơi! Trong đó có tao! Mười mấy năm về trước, nước lũ lớn nên cá hô về nhiều. Năm 1999, mày biết không, một đàn cá hô chừng 20 con bị mắc lưới dài từ Phú Tân xuống Mỹ Hoà Hưng (Long Xuyên), được ngư dân đem ra chợ “phanh thây” làm mồi “đặc sản” cho dân nhậu.Rồi cũng chừng ấy năm, không còn một con cá hô nào dính lưới cả! Có người tiếc tiền đã bỏ ra mua giàn lưới, nên cũng còn cố vớt vát, bủa lưới ngày này qua ngày nọ, mà có dính được con nào đâu? Dính một con tao chết liền! Các loại “kình ngư” coi như bế mạc cuộc đời trên sông Tiền, sông Hậu này hết rồi! Coi như chúng nó “tuyệt chủng”, “mất giống” hết trọi, hết trơn rồi…nói tới đây gương mặt của nó đăm chiêu, thấy mà tội nghiệp. Tôi rót cho nó một ly rượu thuốc ngâm…củ cải (mà dân nhậu “tôn xưng” quen gọi củ sâm), hỏi bây giờ mày làm gì sống? Nó bỗng trở nên linh hoạt hơn, cho tôi biết là nó đang chuyển nghề câu cá “bụng”, còn gọi là cá ba sa. Đắp đổi qua ngày và nuôi ba cái tàu há mồm, với một bà vợ sắp “bể bầu”, chứ không mong làm giàu như xưa. Dòng sông Mê-Kông là dòng sông mẹ, ban tặng nhiều sinh vật, sản vật cho đồng bằng Cửu Long. Mỗi năm một mùa lũ, cá từ Biển Hồ xuôi dòng về hạ lưu “du lịch” dài ngày. Đâu chỉ có “kình ngư” như cá hô, mà hàng trăm loài cá khác nữa như con cá “mồm” (chỉ lớn bằng đầu tăm), cá linh, cá bông lau…Đặc biệt là con cá ba-sa (mà tôi sẽ hầu chuyện cùng bạn đọc trong bài viết sau). Cá nhiều vậy đó, con người còn nhiều hơn! Họ sẵn sàng dùng mọi phương tiện đánh bắt, kể cả nổ mìn giết hại cá con, cá bột, cá…vị thành niên! Nếu con người không dừng tay huỷ hoại môi trường, nhất là môi trường sinh thái và môi trường thuỷ sản, thì e rằng chỉ vài năm nữa thôi, con cá…lòng tong cũng không còn để cho ta bắt.../.
Đinh Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2008, 09:58:22 pm » |
|
Tùy bút: LỤC BÌNH ƠI! THƯƠNG NHỚ QUÁ…
“…Đứng nhìn dòng sông chảy, Từng đám lục bình trôi Màu hoa tim tím dại Ví như cuộc đời tôi Lênh đênh không bờ bến. Trôi dạt bốn phương trời!...”
Không biết tự bao giờ tôi yêu màu tím của hoa lục bình đến vậy! Trong cuộc đời lênh đênh, giang hồ phiêu bạt của mình. Mỗi lần dừng chân ở một bến nước sông quê nào, màu hoa lục bình tim tím luôn làm tôi chạnh lòng nhớ quê hương và nhớ những người bạn năm nào…
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, nhà ngoại tôi ở ngay bên bờ con sông cái. Trước nhà có một cái doi đất, mà hễ có “doi” thì phải có “vịnh” - mặc dù là cái vịnh trước nhà tôi chỉ là một khoảng đất bị nước xoáy mòn - trên bờ và cả dưới sông mọc nhiều những cây bần dĩa, cứ đêm tối là đom đóm ở đâu bay về đậu, chớp sáng cả một khoảng trời. Dưới sông, ngay trong cái vịnh nhỏ là những giề lục bình bị nước cuốn xoáy vào, nằm im ở đó chờ nước lớn, nước ròng lại cuốn theo triều nước mà ra đi. Dù vậy, cái vịnh đó vẫn là nơi bọn trẻ chúng tôi ra đó mỗi chiều, để tắm sông, hái bần và hái những bông lục bình tim tím chơi trò bán hàng, chơi đám cưới Hồi đó, tôi về ở với ông, bà ngoại khi mà chiến sự ác liệt đang nổ ra trên quê hương Bình Ninh của tôi. Không về cũng không được, vì má tôi bận công tác không rảnh để chăm sóc chúng tôi, thế là “gà con xa mẹ, lạc bầy kêu chíu chít” cũng may nhờ ông bà ngoại thương, nên chị em chúng tôi còn có nơi núm níu trên mảnh đất quê nghèo sáng bom, chiều đạn này. Ngày đó, tôi có một cô bạn nhỏ tên Chanh (nghe cái tên không thôi đã chảy nước miếng vì …chua). Chanh rất hiền và nhút nhát,có một người cha là nông dân, chết vì pháo bầy của Mỹ, và một bà mẹ lam làm, giỏi chịu đựng. Cùng với hai người bạn lớn hơn tôi đến năm, sáu tuổi nhưng khoái “mày, tao” với tôi hơn là thằng Me và thằng Út Đẹp…Lúc đó, chúng tôi thường hay bày trò đánh trận giả mà không đứa nào chịu làm…lính ngụy hết! Vì làm lính ngụy dễ bị “giải phóng” bắn chết, nên tụi nó chỉ khoái làm “quân giải phóng”, rồi đẻo súng bằng bập dừa, lấy lọ nồi bôi cho đen cũng khá giống súng thật. Lá ngụy trang kết bằng những dây bìm bìm hoa tím, dây bòng bong với những chùm trái tròn tròn. Rồi chia phe ra, bắn nhau bằng miệng “cành cành, chíu chíu” ỏm tỏi. Cũng “rung rinh lá ngụy trang lưng đèo gió lộng”(lời bài hát “Ta ra trận hôm nay” của Văn An) tan trận đánh, mỗi đứa dù là “phe địch” hay “phe ta” đều được ăn dừa nước, mật ong mệt xỉu, những thứ này luôn có sẵn trong những bụi dừa nước và trong các rừng cây mọc dại quanh bờ sông. Vui nhất vẫn là trò chơi bán hàng, mà người mua trả tiền bằng lá cây, người bán thì bán những ổ bánh mỳ bằng cọng lục bình mập mạp, xẻ ra nhét bông lục bình vào đó làm chả lụa, “giăm-bông”, rồi chơi cất nhà chòi bằng những thân cây dừa nước mọc quanh bờ vịnh, chơi trò đám cưới chú rể, cô dâu trên đầu giắt đầy những bông hoa dại mọc nhiều vô thiên lủng quanh vườn. Pháo cưới được làm bằng bông bụp đỏ chói, cổng hoa trang trí bằng dây bìm bìm, dây tơ hồng - không trồng cũng mọc - “cô dâu” còn được giắt đầy trên tóc những bông hoa “dành dành” trắng, thơm phức. . Những cái đám cưới của bọn con nít, mà sau đám cưới cô dâu, chú rể không có ai phải tất bật lo chuyện cơm, áo, gạo, tiền…Chỉ có cười giỡn, cãi nhau chí chóe vì giành nhau một cái bánh bò, hay vài cái bánh men.
Ngày đó, tôi có thói quen lội xuống sông ngay con vịnh trước nhà, hái những bông lục bình tim tím về ăn với mắm đồng kho, cá kho hoặc chỉ ăn với…nước mắm kho quẹt mà nghe ngon lạ, ngon lùng. Còn nhớ, một buổi chiều cuối mùa Hè, tôi giả từ ngoại tôi để đi cho kịp chuyến đò về Mỹ Tho vào sáng hôm sau để nhập học cho kịp. Bà cháu tôi lưu luyến chia tay, ngoại tôi khóc nhiều lắm, bà rất thương tôi nay phải gạt nước mắt tiển tôi đi vì sự học hành của tôi. Con nhỏ Chanh từ đâu chạy lại, giúi vào tay tôi một cái giỏ bàng trong chứa đầy những ổi, những bần, những trái ô môi đen trủi. Nó nói trong hàng nước mắt: “Mầy về Mỹ (Mỹ Tho, chứ không phải Hoa Kỳ) đi học cho giỏi, lâu lâu về chơi với tụi tao…Tụi tao lúc nào cũng nhớ mầy hết á!” Rồi nó vụt chạy đi, cái dáng gầy guộc, bé nhỏ khuất dần sau rặng bần trổ đầy bông trắng, màu hoa bần trắng rưng rưng như màu tóc của ngoại tôi! Bông lục bình chiều nay hình như theo nước cuốn về cái vịnh tuổi thơ của tôi nhiều hơn, và cũng nở nhiều hơn những cánh hoa màu tim tím. Tôi nhìn lại lần cuối cùng hình ảnh bến nước quê nhà, cái vịnh nhỏ, những bông lục bình tím, những rặng bần dĩa có màu hoa trắng, rưng rưng như hai hàng nước mắt của tôi, của ngoại rồi bước lên đò. Từ đó về sau, chiến sự ngày một ác liệt tôi ít có dịp về quê, mãi đến ngày hòa bình 30/4/1975 tôi về thăm ngoại mới biết tin con Chanh, thằng Me, thằng Út Đẹp đều theo quân giải phóng và hy sinh hết rồi! Thằng Đẹp hy sinh trận Mậu Thân, thằng Me hy sinh trên chiến trường Đông Nam bộ, con Chanh ngã xuống ngay mảnh đất quê hương này! Hiện mộ của tụi nó nằm ở nghĩa trang liệt sĩ của xã…tôi lội xuống cái vịnh tuổi thơ của chúng tôi, hái một mớ bông lục bình tim tím, rồi thả bộ ra nghĩa trang. Mộ của các bạn tôi đây rồi, tôi đặt bó hoa lục bình trước nấm mộ của từng người, lột cái mũ tai bèo xuống đứng im mặc niệm những người bạn mà nghe lòng tê tái buồn. Thôi, tao không kịp mua nhang, tụi bây hãy nhận của tao một nén hương lòng nhé Đẹp, nhé Me, nhé Chanh! Bông lục bình lên khỏi nước bắt đầu héo rũ màu tím nhạt phớt ánh vàng tâm chuyển thành màu tím bầm, như trái tim của tôi đang tím bầm nỗi nhớ! Chiều nghĩa trang buồn thê thiết, gió lạnh từng cơn…Tôi cúi đầu đếm bước../.
Đinh Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:02:15 pm » |
|
Tuỳ bút VỀ VỚI QUÊ HƯƠNG! Cuộc sống bận rộn, với bao nhiêu là công việc có tên và không tên đã làm cho tôi không còn thời gian trở về sống lại những chuỗi ngày ấu thơ nơi quê ngoại. Nên mỗi lần về quê đối với tôi là một niềm hân hoan, một nỗi sung sướng không thể nói hết bằng lời, rũ bỏ hết mọi công việc, mọi phiền toái, mọi khó khăn trong cuộc sống đời thường, tôi lại là một cậu bé con cởi trần ( có khi còn…cỡi trâu ) dang nắng đi bắt ốc, mò tôm cùng các em, các cháu (mà có đứa đã lên chức “ông” từ lâu lắm!) Thú nhất vẫn là đi câu cá rô, cá lóc, tát mương, hoặc ra sông lặn mò bắt tôm càng…Mà mỗi lần về quê là mỗi lần có cái thú vui riêng! Nếu đi câu cá rô thì khi bắt được cá rồi, đem về làm món ăn cũng đâm ra rắc rối tợn! Bởi đám em, cháu không có đứa nào “khẩu vị” giống đứa nào, nên hể bàn tới cách làm món là cãi nhau ỏm tỏi! Rốt cuộc, tôi vẫn là người quyết định, dù sao mình cũng là bậc “ông, anh, chú” mà! Cá rô tôi đem ra vườn, chặt một bẹ dừa róc hết lá, chẻ làm thành những cái “gắp” rồi kẹp cá rô vào đó, đốt lửa vỏ dừa đã phơi khô lên, chờ tới lúc có than đỏ rực mới đặt những “gắp” cá rô lên mà nướng, sai một đứa đi đào mấy củ gừng, một đứa đi hái ớt, đứa hái chanh…có các thứ tôi xắn tay làm món nước mắm gừng (cá rô nướng chín vàng, thơm phức mà không có nước mắm gừng ăn thì uổng phí công lao đi câu, đi tát mương quá!) Tôi đâm gừng với ớt thật nhuyễn, thêm một tý nước sôi, một chút đường khuấy đều lên cho đường tan ra, rót một miếng nước mắm ngon, nêm, vắt chanh vào, lại nêm sao cho nước mắm gừng có vị cay của ớt, mùi thơm của gừng, vị chua chua của chanh, ngọt ngọt của đường và mằn mặn của nước mắm là đạt yêu cầu. Nếu cầu kỳ một chút, có thể cắt chanh ra từng múi, rồi lấy dao tách cho từng tép chanh nhỏ rời ra, bỏ vào tô nước mắm nhìn trông ngon mắt hơn! Cá rô nướng trên than gáo dừa chín vàng, toả mùi thơm điếc mũi, có thể nói: “Cách ba xã cũng ngửi được mùi thơm”! Mỡ cá chảy xuống than hồng xèo xèo, thơm lừng, bỏ cá vào dĩa lớn, chế nước mắm vừa ngập, rau ăn kèm thì vô số, có sẵn chung quanh vườn nhà, nào là đọt ráng, đọt nhãn lồng, lá cách, bông ô-rô, cải trời, ngắt một mớ lá ớt hiểm, một mớ lá chanh non là đã có đủ đồ “tẩn liệm” cho một bữa tiệc cá rô đồng nướng. Còn nếu không muốn nướng thì ăn cá rô “chiên xù”, cá để nguyên con chao nước muối cho sạch nhớt, bắc chảo mỡ lên bỏ cá vào, đến khi cá “xù” vảy lên là gắp ra, cũng ngon không kém! Chút nữa thì quên, sai đứa nhỏ nào đó chạy ù ra tiệm mua về một lít rượu đế nếp, trong veo nhìn vào thấy tăm còn sủi! Rồi thì xúm lại, anh em, chú cháu cùng nhau khề khà, hỏi chuyện mùa màng, chuyện trồng cây trái, chuyện lan man đứa nào có vợ, có chồng, đứa nào còn treo giá…Hứng chí thì xách cây đàn cũ sì, sứt sẹo ra lên dây, làm sáu câu “Tình anh bán chiếu” cũng đủ ngất ngây trời mây, vui sảng khoái, rũ bỏ hết mọi vướng bận cơm áo gạo tiền theo từng ly rượu trong vắt, từng miếng cá rô nướng béo ngậy chấm với nước mắm gừng. Chẳng mấy chốc mà hết veo cả mâm mồi màng, rượu đế…ngà ngà say, mắc võng giữa hai cây cau mà ngủ, vui cảnh “quạt gió, đèn trăng”. Bữa khác, mò được mấy con tôm càng to “biết nói” – tôm càng này không ai nuôi, chúng từ sông vào ở trong mấy cái mương vườn, muốn bắt chúng chỉ cần chặt vài khúc chuối cây rồi hai thằng hai đầu mương, hè nhau đẩy cho tới lúc dậy bùn non, rồi để đó lên bờ ngồi hút thuốc, chờ tới khi tôm chịu không nỗi bùn non, trồi lên quơ quơ cặp càng với đôi mắt đỏ màu ngọc và mấy sợi râu là nhảy xuống bắt, vậy thôi - cũng nhường cho “thợ nấu” từ thành thị về… Dễ thôi mà, nướng tôm lên bằng than gáo dừa, hái một trái bưởi chua chua, tách từng tép bưởi ra, xé tôm trộn vào bưởi, nhớ chừa gạch tôm để lên mặt, thắng một chén nước mắm đường hơi sền sệt đổ tất vào dĩa gỏi, trộn đều lên…hái, xắt nhuyễn một mớ lá chanh, hoặc rau răm, ngò gai gì cũng được. Chủ yếu là lấy mùi thơm mà, trộn tất cả vào với nhau rồi xúm lại, nhậu, ca vọng cổ, kể chuyện đời xưa, đời nay…! Nếu mấy đứa em, cháu muốn “tận tình địa chủ”(xin lỗi, địa chủ đây là ám chỉ chủ vườn, chủ nhà chứ không phải địa chủ thu tô, phát canh tá điền ngày xưa đâu nhé! Đừng hiểu lầm mà tội cho người viết) mà trong nhà không có cái gì để đãi người xa trở về, cứ leo hái vài trái xoài, trái ổi cũng có cái đưa cay rồi! Hạnh phúc quá! Thoải mái quá mà sao giữa chốn bon chen của thị thành ta không thể nào có được – dù là một phút – vui chơi sảng khoái như ở quê hương! Có thể vì người dân quê chân chất, mộc mạc, hiền lành như hạt lúa, củ khoai? Ăn nói không bẻm mép, không biết văn hoa, cứ “phang ngang, bửa củi”, chửi thề vài tiếng vậy mà thích, mà yêu! Hay vì quê hương ta mọi sản vật đều có sẵn dưới mương, dưới ruộng, trên vườn ta cứ mạnh tay, thoải mái mà bắt, mà hái không có bỏ tiền ra mua, không “thâm lạm” vào “ngân quỹ” gia đình, không bị vợ cằn nhằn nên “nhậu” cũng thoải mái hơn chăng? Cũng có thể đúng mà cũng có thể sai, thôi thì cũng nên thể tất, chủ yếu là được sống dù chỉ một ngày nơi quê hương, được vui với anh em, dòng tộc, họ hàng cũng vui vẻ, cũng thoải mái hơn những giờ phút căng thẳng, mệt nhoài với bao thứ “hằm bà lằng” không tên, không tuổi nơi phố thị ồn ã, chật chội, bon chen. Tâm hồn người nhà quê rộng mở, khí hậu nhà quê mát mẽ, không gian nơi quê hương ta là bầu không khí ta thở, ta sống những ngày ấu thơ, hạt lúa củ khoai góp phần nuôi ta khôn lớn, nên vai, nên vóc với đời. Quê hương không bỏ người, thì người đừng chối bỏ quê hương! Dù quê hương ta còn nghèo nhưng đã dưỡng nuôi ta, dù người dân quê ta còn lam lũ, nhưng đã che chở, đùm bọc ta! Hãy về với quê hương đi, hỡi những đứa con còn phiêu bạt trăm miền!
Đinh Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:06:50 pm » |
|
Tuỳ bút
HOÀI NIỆM MỘT MIỀN QUÊ!
Cho đến bây giờ, dù đã đi vào lứa tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh” nhưng sao lòng tôi vẫn bồi hồi khi nghe ai đó nhắc đến hai tiếng “Quê hương”! Vâng, ai sinh ra trên đời lại không có quê hương để thương, để nhớ? Bình Ninh quê tôi là xã anh hùng! Tôi rất tự hào về điều đó! Hơn nữa quê hương là nơi tôi “chôn nhau - cắt rún”, là nơi nuôi tôi lớn lên, là nơi đã cho tôi tất cả tuổi thơ vừa ngọt ngào, vừa dữ dội và cũng lắm mộng mơ! Tôi còn nhớ mãi mùi thơm trên tóc của các dì, các mợ tôi. Hồi đó, ở quê các bà, các dì hay thắng dầu dừa để…chải tóc cho mượt! Còn tôi thì chỉ thích ngoại tôi thắng dầu dừa để tôi “hưởng xái” cái cơm dừa vón cục trong chảo ( còn gọi một cách dân dã là …“cứt dừa”), ăn vào vừa béo, vừa bùi, vừa thơm! Nhưng mà, ăn nhiều quá dễ bị “tháo dạ” lắm đấy!
Ngày xưa, trong thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX, các cô, các chị gái trong làng đâu có biết dầu gội là cái gì! Đến cục xà bông “Cô-Ba” cũng thuộc vào hàng “quý hiếm”, ấy vậy mà tóc của các dì tôi vẫn dài, vẫn mượt, vẫn thướt tha tung bay trong gió như thường! Mỹ phẩm nuôi dưỡng tóc của các dì đâu có xa lạ với dân quê! Nó vẫn được trồng làm hàng rào cho mỗi nhà đó thôi, đó là lá “dâm bụt” ( có chỗ gọi là “bông bụp” ) với bông hoa xoè to, đỏ thắm hoặc lốm đốm trắng. Chỉ cần hái lá “dâm bụt”, vò nát hoà với nước là các dì, các cô có ngay một loại dầu gội thượng hảo hạng, hoặc hái trái “bồ kết” nướng lên cho cháy rồi hoà với nước mà gội; gội đầu bằng lá “dâm bụt” hay “bồ kết” tóc mượt mà, đen nhánh, không thua gì dầu gội “Sun-shilk” bây giờ đâu! Thỉnh thoảng, các dì tôi lại nấu nước lá sả để gội đầu, cũng thơm đáo để. Lúc đó, cục xà bông “dầu” đen thui trong nhà cũng thuộc hàng “xa xí phẩm”dùng để tắm, rửa chén…đâu có được xài bậy bạ! Nên chúng tôi lấy lá bông bụp vò nát, pha với nước bỏ vào cái gáo dừa, cắm cái ống trúc rỗng vô đưa lên và…thổi, bong bóng bay ra cũng đẹp vô cùng, nó lại hiền dù có bị văng vào mắt cũng không sao. Hồi nhỏ, tôi cũng kén ăn ghê lắm, cơm thì phải nấu bằng gạo “lúa Tiêu”, thức ăn quanh năm tôi chỉ khoái có cá lóc kho tiêu và tép rang, mà phải là tép bạc đất mới được!
Lớn lên, lên tỉnh học bà ngoại tôi thỉnh thoảng cũng gửi lên cho tôi chục lít gạo lúa Tiêu, hạt tròn, trắng, ăn dẻo, thơm và tép bạc đất rang với nước dừa…Mà tôi biết, để có gạo Tiêu gửi lên cho tôi, ngoại tôi đã phải dành riêng một khoảnh ruộng, cấy lúa tiêu cho tôi, còn lại bà cấy “Sóc Nâu”, “Gié Vàng” hay “Nàng Chá” tuỳ mùa để ăn…đủ biết bà cưng tôi cỡ nào! Tép bạc đất ngoại muốn gửi lên cho tôi, mấy cậu, mấy dì phải bỏ công ra sông cất vó – cái vó lớn che rợp một khoảng sông - mất mấy ngày, rộng trong khạp để khi nhiều nhiều một chút mới gửi lên, con nào cũng to, bà ngoại tôi rang tép với muối hột và nước dừa xiêm, chứ đâu có bột ngọt hay đường cát mà rang! Vậy mà con tép cứ đỏ au, béo ngậy, trong từng hạt gạo “lúa Tiêu”, trong từng con tép bạc đất tôi ăn nghe như có mùi phù sa nồng nàn của con sông quê hương, có vị mặn mồ hôi của các dì, các cậu đánh đu trên cái vó lớn, xúc từng gàu tép bạc, và ngọt ngào, ấm áp như tình thương của ngoại dành cho tôi! Hồi xưa không có bao ny lông hay bao xốp như bây giờ, mỗi lần gửi tép lên cho tôi ngoại tôi lấy bẹ chuối ốp lại, và cột bằng dây chuối.Hoặc bà lấy lá môn, lá bạc hà ( thứ dùng để nấu canh chua ) bỏ tép vào, gói lại cột dây chuối, dây lát là xong! vật đựng nầy bỏ ngoài bãi rác vài ngày là phân huỷ ngay, chứ đâu có “tồn tại” lì lợm cả mấy chục năm như bao xốp, bao ny-lông!
Bây giờ, hình như những con tôm lóng, tôm càng và tép bạc đất không còn về trú ngụ trong dòng nước sông hiền hoà ngày xưa nữa! Dòng sông chở nặng phù sa ngày ấy bây giờ dường như bị thu hẹp lại, đầy những lục bình và mùi thuốc trừ sâu từ trên ruộng chảy xuống! Không còn cái vó lớn nào trên sông để mà người dân vó cá, vó tép…Điện khí hoá nông thôn, quê tôi cũng không ngoại lệ, bây giờ nhà nào cũng có “ăng-ten” máy thu hình chĩa thẳng lên bầu trời, phá tan cái mảng màu xanh của tre, của dừa, dây điện dọc ngang, chằng chịt thay cho những dây “bìm bìm” hoa tím, dây “cứt quạ” hoa trắng, dây “nhản lồng” với những trái ăn ngòn ngọt, chua chua! Những trụ “ăng-ten” điện thoại di động cũng thi nhau mọc lên, quê tôi đã thay da, đổi thịt, đã đi lên từng ngày theo xu thế tiến bộ, giàu mạnh hơn… Nhà nào cũng có “Ti-vi” để xem, xem riết phát chán đâu còn ngong ngóng chờ mong đoàn “Văn công Giải phóng” của những ngày xưa, và đoàn Nghệ thuật tổng hợp của hôm nay về biểu diễn! Nhưng sao trong lòng tôi vẫn cảm thấy có một cái gì đó, như là nuối tiếc, như là hoài niệm một hình bóng quê hương của những ngày xưa! Những ngày theo các cậu ra đồng lùa trâu, theo các dì đi “bắt hôi” cá trong những cái ao vừa tát, theo ngoại ra đồng đốt rơm, rạ lấy tro bón ruộng, gánh từng gánh phân trâu đem về chà mặt sân nhà để làm sân phơi lúa. Bây giờ đã có phân hoá học, phân hữu cơ bón ruộng đâu còn cần những mớ tro, sân phơi giờ tráng “xi-măng” đâu còn cần tới những thúng phân trâu để chà lên mặt sân chống nứt?! Buồn vậy thôi, chứ tôi cũng phải vui lên vì sự thay đổi đi lên của quê hương, nỗi nhớ quê hương chỉ còn trong kỷ niệm!
Đinh Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2008, 10:09:56 pm » |
|
Bạn đọc viết THÓI QUEN UỐNG TRÀ
Mới đầu, tôi dự định để cái tựa bài là “Thú uống trà”, nhưng lại sợ có ai đó “dịch nghĩa” chữ “Thú” (thói quen) uống trà, thành ra “Thú” (động vật) uống trà! Mà nói tới từ “trà đạo” thì có vẽ “đao to, búa lớn” quá, nên tôi chỉ dám đề cập tới “thói quen uống trà” thôi. Chứ nâng “trà” lên thành một cái “đạo” thì còn lâu mới dám.
Không biết tôi nghiện trà từ lúc nào? Có lẽ tôi nghiện từ ông ngoại tôi trong những ngày ấu thơ về sống nới quê ngoại. Ông ngoại tôi ghiền trà, mà phải là trà Tàu pha thật đậm, với thuốc rê “ông Tề” chính hiệu. Trà mà ông ngoại tôi pha, người không quen uống trà, chỉ cần hớp một hớp là…quên ngủ ngay tắp lự! Một cái bình nhỏ xíu, chừng năm, sáu ly nước là đầy mà ông bỏ vào đó tới hai, ba gói trà “bánh ú” Hiệp Phát hiệu “con dơi”! Nhìn vào bình chỉ thấy toàn trà là trà, trà chế ra ly đậm đặc tưởng tượng có thể cắm đứng cây tăm vào đó được! Còn thuốc rê của ông thì ai không quen hút, chỉ cần hít một hơi là “ngậm nghe” luôn, bởi vì nó nặng quá, khói thuốc cứ ở lỳ trong cuống phổi! Cứ sáng sớm là ông trở dậy, lục đục đi nhóm bếp, súc bình, rửa ly chuẩn bị pha trà, ông uống trà với đồ “cầm tay” là vài cục đường tán. Thi thoảng có vài miếng kẹo đậu phộng mẹ tôi gửi về, hoặc dăm ba miếng mứt dừa mà mỗi lần bẻ dừa rám xuống là bà ngoại tôi “chế biến” chút mứt, dành cho ông. Tôi thì khoái ăn đường tán nên mỗi sáng ông pha trà là tôi cũng tốc mùng dậy theo, ra ngồi hưởng xái mấy cục đường, lâu lâu cũng “chơi” một hớp, thét rồi đâm ghiền trà lúc nào không hay. Có lần, vì tài lanh tôi giúp ông súc bình trà bằng…xà bông! Bị ông “tế” cho một trận nhớ đời. Trà mua về, ông ngoại tôi cũng phải gia công, chế biến lại cho thơm hơn chứ không phải để nguyên xi vậy mà uống. Bà ngoại tôi thường ra vườn nhặt mấy cái hoa bưởi rụng về cho ông tôi ướp trà, mặc dù nhà ngoại cũng có một hàng hoa lài, hoa ngâu. Tôi thắc mắc thì bà cốc đầu tôi, âu yếm bảo: “Hoa Lài, hoa Lý, Hoa Ngâu… Không bằng hoa bưởi thơm lâu, dịu dàng”
Từ đó, tôi mới biết thêm cách ướp hoa bưởi vào trà mộc để tạo hương vị riêng cho trà, hoa lài, hoa ngâu cũng thơm nhưng mau phai hương, chỉ có hoa bưởi là “thơm lâu dịu dàng” như lời ngoại tôi nói. Mà nói tới trà chắc phải nói…cả ngày vì cái phong phú, đa dạng của trà; nào là trà ướp lài, trà ướp sen, trà ướp sói, trà mộc (nguyên vị, không ướp gì cả) rồi còn trà nguyên, trà nát…Chợ Mỹ Tho xưa “nhãn” trà đảm bảo thương hiệu gồm: trà Hiệp Thành Lợi, trà Vạn Đại hiệu con cua xanh, trà Ích Nguyên hiệu cái kéo, trà Hiệp Phát hiệu con dơi…là ngon nhất, đều do người Hoa tẩm ướp, chế biến. Còn một loại trà nữa, mà người ta gọi là trà tươi (hay chè tươi) uống cũng rất đậm đà hương vị, hãy đọc bài thơ sau thì biết, cái thú uống trà tươi của người lao động:
“…Đồng trưa, nắng chói đỉnh đầu, Thợ cày nghỉ mát thả trâu bên đồi… Khoan thai thưởng chén trà tươi Trà xông hương đậm, nước ngời ngời xanh Uống xong mấy chén ngon lành Thảnh thơi, chợt nhớ chút tình…vợ con! Vợ lo pha nước vừa ngon, Con lo xách nước lon ton ra đồng…”
Mấy năm đầu giải phóng, trà ngon không có mà uống, ông ngoại tôi phải thay trà bằng lá xoài khô, tôi đi công tác lâu lâu về thăm nhà đều không quên mang về biếu ông tôi vài trăm gram (lạng) trà ngon, nhưng trà bắc ông tôi lại không khoái, nên tôi phải đi lùng tìm cho bằng được trà Hiệp Phát chính hiệu con dơi cho ông. Về quê mà đem bánh trái về ông, bà ngoại tôi đều không thích, chỉ cần mua cho ông vài lạng trà Tàu với vài tán đường, mua cho bà tôi vài xếp trầu tươi, dăm quả cau là quá quý!
Phải công nhận một điều, uống trà làm cho con ngưòi sảng khoái, tỉnh táo trà lại không độc hại bằng cà phê và uống rượu (dù có tài liệu cho rằng cà phê không có hại, chỉ có lợi), uống trà những lúc bế tắc trong suy nghĩ có thể làm loé lên vài ý tứ nào đó cho ta, phiên trực đêm mà có một bình trà nóng là cứ tỉnh như sáo! Mỗi sáng uống vài ly trà đậm và nóng, chất “ta nin” trong trà giúp cho ta tỉnh táo hơn trong xử lý công việc, trà kích thích tiêu hoá làm cho ta mau đói hơn, nhất là loại trà mộc (trà bắc) không ướp hương vị. Thi sĩ Tản Đà từng có bài thơ: Một trà, một rượu, một…đàn bà! Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta Chừa được thứ nào, hay thứ ấy Có chăng chừa rượu vói chừa trà! Vậy thì nguy to rồi, kính thưa vong hồn ông thi sĩ của sông Đà, núi Tản, kẻ hậu sinh nầy không dám nghe theo lời ông vì trót đã nghiện trà mà chưa dám nghiện hai thứ kia! Ông chừa rượu, chừa trà mà không…chừa đàn bà hèn chi ông “trực vãng Tây phương” sớm quá!
Bây giờ, nếu không đi công tác thì cứ tối tối là tôi là vài ông bạn trong xóm lại bày ra một cái bàn trà, rồi vừa uống trà vừa nói chuyện bao đồng, trên trời dưới đất thật rôm rả và thật vui. Cứ lâu lâu không có dịp ngồi với nhau để uống trà là lòng nghe nhơ nhớ. Uống trà đã thành thói quen thì dù trà đậm đến cỡ nào cũng không có chuyện mất ngủ, sáng dậy làm một bình trà cảm thấy cuộc đời phơi phới, tâm hồn rộng mở và đầu óc sảng khoái hơn. Tôi và vài ông bạn vốn là cựu chiến binh, bàn bạc với nhau rằng mai kia, mốt nọ nếu có về nghỉ hưu thì hùn vốn lại mở một quán trà, chỉ bán trà và bánh ngọt chứ không bán thứ gì khác. Đặt cho một cái tên là quán trà “đồng đội một thời” nghe cũng rôm rả quá phải không? Thêm vào một vài bàn cờ tướng để các cụ vừa uống trà vừa đánh cờ thì nhất trần đời rồi! Bốc đồng thì bàn chơi vậy thôi, chứ bán theo kiểu mấy ông không khéo có ngày sập tiệm vì lỗ vốn! Vì sao ư? Đơn giản là vì cha nào cũng nghiện trà, uống trà theo kiểu “UTQ” (uống trà quạu), lại sẵn cái tính hào sảng của “con nhà lính, tính nhà quan” thì chẳng mấy chốc mà không còn đồng vốn. Còn cái quán trà “Đồng đội một thời” của cánh “Xê xê bê” (cựu chiến binh) chúng tôi chỉ là…nói cho vui trong lúc “trà dư, tửu hậu” thế thôi!
Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
|