Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 10:34:30 am » |
|
Tản mạn cuối tuần YÊU VỢ HAY SỢ VỢ? Tôi có một thằng bạn, khi nó giả từ cuộc sống “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân”, tức là cưới vợ. Tụi tôi đi mừng đám cưới và cũng mừng cho nó, vì thời gian còn “mặn nồng hương lửa” vợ chồng nó rất hạnh phúc. Nhưng, tới khi có một đứa con thì vợ nó lại quay ngược 180 độ, không còn hiền hòa, dịu dàng như trước kia. Mà dữ như…bà chằn! Nó yêu vợ, yêu con nên vợ nó cứ dựa vào đứa con “bảo bối” mà ăn hiếp nó quá thể, nó ngoài những lúc đi làm ở cơ quan về nhà là lu bu đi chợ, nấu nướng. Thét rồi nó nấu ăn không thua gì Yankencook! Một bữa nọ, chúng tôi – đám bạn bè cùng học chung trường hồi ở truồng tắm mưa – tới thăm nó, rủ nó đi nhậu. Nhưng con vợ nó thì không cho đi, mà bắt nó phải ở nhà, nấu cơm (!) Thế là chúng tôi đành phải đi nhậu mà không có nó, tức là thiếu vắng những mẩu chuyện tiếu lâm cười ra nước mắt của nó, cũng buồn. Trong bữa nhậu, chúng tôi bốn thằng, mỗi thằng làm hai câu thơ để tặng cho nó và cho bà vợ “sư tử Hà Đông” của nó, bài thơ như sau: “Lửa bếp hồng lên tợ má em Mồ hôi nhỏ giọt, ướt tèm lem. Cơm sôi, hở nắp trào sùng sục Than nổ trong lò lách tách lên Hĩnh mũi, đâu đây mùi khét nghẹt! Lắng nghe tiếng chửi khuất sau rèm Giật mình mới biết…lời bà xả! Lại vợ, xin tha đừng “uýnh” em!...” Và chúng tôi viết ra giấy cẩn thận, gửi tới cho nó. Sau đó, nó gặp chúng tôi và tâm sự: Không phải nó “sợ vợ” mà là vì quá “yêu vợ”. Hỏng lẽ thằng đàn ông thân trai bảy thước mà đi “ăn thua” với phụ nữ? Thôi, hồi mới cưới về lỡ…sợ rồi! Bây giờ tiếp tục sợ cũng đâu có chết thằng Tây nào? Bó tay! Mãi về sau, khi tôi cưới vợ tôi mới biết thương nthằng bạn của tôi! Nó coi vậy mà còn diễm phúc hơn tôi, bởi vì vợ của nó mà gặp vợ của tôi là phải kêu bằng “sư phò” ngay tắp lự! Nói vậy các bạn cũng hiểu là sao rồi! Và tới phiên nó, nó và đám bạn bè quỷ sứ làm cho tặng tôi một bài thơ, nhại theo bài thơ “Hai sắc hoa Ti-gôn” của TTKH, bài thơ bây giờ tôi vẫn còn nhớ, xin viết ra đây cho các bạn đọc chơi: “…Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn Tới tháng lãnh lương mới hết hồn! Bạn rủ đi chơi, nào có dám Tôi chờ người tới để…giao lương. Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng Xấp tiền lương mỏng, hỏi lung tung Rằng lương sao có nhiêu đây thế? Chắc là “diếm” bớt, phải hay không? Người ấy thường hay móc bóp tôi Khảo tiền mỗi lúc bóp tôi vơi! Bảo rằng tôi móc còn hơn để… “Ghệ” móc tiền ông, mới khổ đời. Thuở ấy nào tôi đã biết gì Trẻ người, non dạ quá ngu si Bao nhiê tiền bạc, tôi “dâng” hết… Chẳng giữ cho mình được…tý ty! Đâu biết tiền đưa bả tháng này Là tiền dành dụm bấy lâu nay Bao nhiêu tiền mặt, “người” chơi hết Lấy gì vui với bạn bè đây? Từ đấy thu, rồi thu, lại thu Lòng tôi còn giá đến bao giờ “Người kia” đã biết tôi sạch túi! “Người ấy” cho nên vẫn hững hờ! Tôi vẫn đi…bên cạnh một người… Dữ như sư tử của lòng tôi! Và từng thu chết, từng thu chết Vẫn sợ “vợ” hơn cả…sợ trời! Buồn quá, hôm nay xem lại túi Không còn một cắc để…ăn xôi! Bao nhiêu tiền lẻ, người gom hết Chỉ thí cho tôi…một nụ cười! Tôi nhớ lời người chửi xéo tôi Một chiều ngồi dựa cửa ăn xôi Đến nay, tôi hiểu thì tôi đã… Làm lỡ đời trai, muộn mất rồi! Tôi sợ chiều thu, bóp hết tiền Hêt tiền, túi xẹp, dạ gần điên Gió về lạnh lẻo chân mây vắng Người ấy ra sân đứng…ngóng tiền! Nếu biết rằng tôi…lấy vợ rồi Cuộc đời trai trẻ, thế là thôi… Có ai nghĩ tới mà thương xót Sợ vợ làm chi, để chúng cười! Thế đấy, bạn bè mà chơi nhau “cạn tàu, ráo máng” như thế! Nói vậy chứ tôi vẫn giữ bài thơ, buồn buồn lấy ra ngâm nga chơi cho bà xả của tôi nghe xem bả có…động lòng trắc ẩn chút nào không? Nhưng sau khi nghe xong bài thơ bả cười hè…hè…(rất ứa gan) và phán một câu: “Ai làm thơ hay quá vậy?” Bó tay chấm com! Nhân ngày Phụ Nữ Việt Nam, tôi xin mạn phép viết bài này gửi cho các đấng trượng phu trên toàn cõi Việt Nam, ai thấy tôi tội nghiệp thì làm ơn gửi thư về Hoisovo@yahoo.com an ủi tôi nhé! Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:13:48 am » |
|
Nhịp sống đồng bằng
NGHỀ ĐẶT VÀ DỠ CHÀ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG.
Nếu ai có dịp xuôi dòng Cửu Long bằng đò dọc hay những chiếc ghe tam bản chạy dọc theo sông, sẽ thấy thấp thoáng trên các bãi sông, đây đó nổi lên những đống “chà” đồ sộ có, nho nhỏ cũng có…Đó chính là những ụ chà của người dân sống dọc theo hai bờ sông, đặt để dẫn dụ tôm, cá vào để bắt. Hàng năm, khi con nước “quay”, vào khoảng mùng 5 tháng 5 âm lịch, cá tôm từ thượng nguồn xuôi theo dòng nước về rất đa dạng và phong phú. Chúng tràn về, lần theo kinh, rạch để vào đồng ruộng nhằm sinh sôi, nảy nở, duy trì nòi giống. Dựa vào quy luật này, người dân sống ở ĐBSCL, kẻ câu, người lưới, đặt lờ, lợp để đánh bắt. Nhưng nổi bật và bắt được nhiều chủng loại cá tôm là nghề “đặt và dỡ chà”! ( Hiện nay, trong đánh bắt thuỷ sản ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ có nghề “đặt, dỡ chà” là một cách bắt được khá nhiều chủng loại cá, tôm mà ít hao công sức nhất…) Người dân nông thôn ĐBSCL có 2 dạng đặt chà: Đặt chà để kinh doanh ( chuyên nghiệp ) và đặt chà “tài tử”! Muốn có được một đống chà kinh doanh, cần phải có sự đầu tư vốn tương đối. Vào khoảng tháng 8 – 9 âm lịch, các “ngư phủ chà” ra quân. Đầu tiên, họ chọn các bãi lý tưởng để thuê, công việc tiếp theo là mua các loại cây cứng, lớn để cắm cọc chung quanh lô chà theo hình chữ nhật bề ngang từ 14 x 19 mét, hoặc từ 15, 16 x 20 mét ( tuỳ theo người đặt ). Khi đã hình thành cái sườn, người đặt mua nhánh me nước, dài độ 6 – 7 mét, phải còn nguyên nhánh, lá chất vào trong ruột, đồng thời thả lục bình và cỏ thêm vào đó. Việc kế tiếp không kém quan trọng là dùng mồi để…dụ ( nhử ) cá vào chà, thường các mồi dụ như cám, bắp xay, lúa ủ, hột gòn…có nơi người ta dùng cả xương trâu, bò. Mỗi ngày phải hai buổi rải thức ăn vào chà và phải thường xuyên theo dõi, trông nom để không bị “Lý Thông” câu trộm, làm cá nhát bỏ chà. Người đặt chà thường dỡ chà 3 lần theo 3 con nước, nhưng nay thì không cần vậy, lúc cho ăn thấy cá nhiều là dỡ thôi. Mùa dỡ chà trúng nhất là khoảng tháng 10 âm lịch, vì lúc này toàn bộ đội quân cá, tôm bấy lâu nay “dạo chơi” trên đồng, lần lượt “rút quân” ra sông, nhường lại đồng ruộng cho người sản xuất. Khi ra đến sông, chúng sẽ chui vào chà ẩn trốn và kiếm ăn vì đây là nơi dễ sống, vừa có mồi, vừa êm. Người đặt chà thấy cá ăn mồi đông đủ, cá đen lên dội nhiều thì bắt đầu bao lưới, dỡ chà. Trước khi dỡ, chủ chà phải mướn một giàn lưới cùng với 10 đến 15 công nhân và thợ lặn. Tổng số tiền mướn các thứ không dưới…bạc triệu! Dùng lưới có viền lòi tói bên dưới để bao xung quanh chà, rồi dỡ từng nhánh me nước lên, nhổ cây xung quanh. Các tay thợ lặn, lặn xuống giậm lưới, lần vô tới khi gạn ( đè mí ) xong chặc chịa đâu đó là bắt cá. Mỗi lô chà nếu trúng có khi lên tới cả tấn cá, tôm chứ không ít! Mèn lắm cũng kiếm được vài trăm ký! Mỗi lô chà dỡ phải mất 7 – 8 tiếng đồng hồ mới coi như xong xả. Cứ xoay vòng, có cá thì dỡ đến khi hết vụ, chủ chà lấy các nhánh cây cắm chà đem…cưa củi bán cũng đủ tiền mua cây lúc ban đầu rồi! Nhà ngoại tôi ở ven sông nhỏ, đâu có tiền mà mua cây cắm chà nên đặt chà theo lối “tài tử miệt vườn” cho chắc ăn! Tận dụng cây nhà, lá vườn nên từ khâu bãi đến bắt cá khỏi tốn tiền thuê mướn, cứ ra ngoài bãi sông thuộc “lãnh thổ” của mình mà đặt chà. Đốn tre hay trâm bầu cắm bốn cây cọc với diện tích nhỏ, lấy lá tre, lá trâm bầu hay bình linh mà thảy xuống, vớt lục bình ( lúc nào cũng có sẵn trên sông ) đắp lên là xong. Thường chà “tài tử” thì làm theo cỡ “mi ni” chừng 4 x 5 mét, rất gọn, coi vậy chứ mỗi khi dỡ chà cá tôm cũng nhiều lắm chứ đâu có ít! Bắt được cá lớn, nếu không bán, không ăn ngoại tôi đem thả vào ao nuôi chung với cá tra, gần Tết thì lưới bắt lên làm món ăn cho ba ngày Xuân cũng dư dật chán! Tiền bán cá cũng kha khá, đủ để các dì tôi đi chợ mua đồ về ăn một cái Tết xôm tụ ra trò. Nghề đặt và dỡ chà ở ĐBSCL là nghề mang đậm tính dân tộc, dân gian rất được ưa chuộng. Nghề này tuy không làm giàu, nhưng cũng đem lại cuộc sống khá sung túc cho từng gia đình ở dọc ven sông. Hơn nữa, nghề đặt và dỡ chà này cũng kéo theo một số người có công ăn việc làm lúc nông nhàn, cũng là “nhất cử, tam tứ tiện” phải không? Đó là lúc trước, chứ hiện nay, trên các đồng ruộng nông dân xài phân bón hoá học, sử dụng thuốc trừ sâu thì vô tội vạ, ngay đến con cua với “áo giáp sắt” mà còn “ngỏm củ từ”, thì các loại cá chắc cũng không hy vọng gì còn sống để ra sông sau khi “rong chơi cuối trời quên lãng” trên các cánh đồng để sinh con, đẻ cái! Nghề đặt và dỡ chà chắc cũng dần dần mai một trong tương lai gần thôi! Thật tiếc, ước gì người nông dân thực hiện tốt “3 giảm – 3 tăng” trong đó giảm tối đa đi đến triệt tiêu lượng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng thì các loài cá mới có cơ may sống sót, và người làm nghề đặt, dỡ chà mới còn chổ để “hành” cái “nghề” mang đậm tính dân gian này! Bằng không, chắc thế hệ con cháu chúng ta chỉ còn được nghe kể lại: “Ngày xửa, ngày xưa chổ bãi sông đó, có một…đống chà…”! Nghĩ mà buồn!
Phạm Kiều – đoàn Nghệ thuật tổng hợp Tiền Giang
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #52 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:20:32 am » |
|
Bút ký NGHỀ CÂU CÁ BỤNG (CÁ BA-SA) Đồng bằng sông Cửu Long, khi con nước sông đã chuyển sang màu đỏ đặc phù sa, là lúc bắt đầu mùa đánh bắt nhiều loại thuỷ sản. Cá tôm từ thượng nguồn, nhất là từ biển Hồ Campuchia theo dòng nước về hạ lưu sông Tiền- sông Hậu, tràn lên đồng chọn nơi trú ngụ, sinh sôi nẩy nở, nhằm duy trì…nòi giống! Một trong những loại cá di trú ấy, người dân khẩn trương đánh bắt phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày đó là cá bụng, còn gọi là cá basa. Cá basa cùng họ với cá tra, cá hú, nhưng mỗi loại có những điểm khác nhau về hình dáng. Cá bụng thân tròn “cụt đòn”, thịt trắng “bụng phệ” nhiều mỡ, không như cá tra thân dài, thịt vàng khi nấu chín có mùi hơi khẳn, cá bụng là mặt hàng “xuất khẩu” sang nhiều nước Âu, Á. Khi đánh bắt, người ta dùng câu neo, bắt sống bán cho các chủ nuôi bè. Chủ bè thả nuôi và “nhân giống”, tạo ra con cá bụng để phục vụ cho xuất khẩu. Chứ như bây giờ, cá thiên nhiên làm sao đủ cho nhu cầu xuất khẩu ngày một tăng? Tháng 6 – 7 âm lịch, dân săn cá bụng ra tay đánh bắt quyết liệt, vì lúc này cá đã về đông đủ. Những người chuyên nghiệp câu cá bụng ở đầu nguồn chuẩn bị đồ nghề từ những tháng trước, chớm vào vụ là có mặt tại ngư trường. Người không chuyên câu tài tử “giải sầu” cũng “xông pha vào trận”. Thường nghề nào cũng vậy, kiếm sống được là cả xóm cùng “hưởng ứng” với câu nói quen thuộc muôn đời “chim trời, cá nước ai bắt được nấy ăn”, nơi nào câu cá bụng là kéo nguyên khu vực rất đông vui. Đầu tiên, họ mua sắt bằng ngón tay út (cỡ “phi” 8 - 10) dài 2 mét, về bẻ thành hình vòng cung, mỗi vòng cung có từ 10 đến 11 lưỡi câu. Dây câu làm bằng “ni-lon” rất chắc. Ở hai đầu của vòng cung người ta cột một sợi dây gân băng ngang. Dọc theo cọng dây gân là lưỡi câu, cách nhau 2 tấc một lưỡi. Từ mũi xuồng một sợi dây dài nối vào giữa các cánh cung để kéo lên, thả xuống. Mồi câu cá bụng là trùn huyết, nhạy nhất là trứng kiến. Muốn lấy được trứng kiến phải dùng sào, làm bằng tre hoặc trúc dài khoảng 5 mét, trên đầu làm cái gàu (giống như gàu múc nước) bằng lưới ny-lông. Tìm đến những nơi có tổ kiến dùng gàu chụp nguyên tổ lấy trứng. Canh con nước vừa “chớm lớn”, người săn cá bụng ra sông thả câu. Cá bụng chỉ có ở thượng nguồn hai con sông Tiền – sông Hậu. Từ tờ mờ sáng, nếu bạn đi đường thuỷ sẽ thấy xuồng, ghe câu cá bụng đậu chật nhiều khúc sông. Những người không có xuồng thì dùng đủ phương tiện như “tắc ráng”, ghe chở lúa, “trẹt” v..v… ra giữa dòng sông quăng neo, đậu lại câu. Mỗi xuồng thường có ba giàn câu. Cá bụng không có nhiều để mà cân ký lô, người chuyên nghiệp câu một ngày cũng chỉ được 15 – 20 con, còn “không chuyên” cũng được 5 – 10 con. Tuy nhiên, giá cá bụng lúc đó rất cao, một con bằng ngón tay, bán cho “lái” sẽ được 5 – 6 ngàn đồng. Nếu làm siêng, bơi lại bè bán cho chủ nuôi bè sẽ được từ 8 đến 10 ngàn đồng một con. (đây là giá của thời buổi năm 96, chứ bây giờ còn…rẻ hơn cho!) Tới 25 tháng 9 âm lịch mùa câu cá bụng chấm dứt, các tay câu cá chuyên nghiệp chuyển sang săn lùng các loại cá khác. Nghề câu cá bụng nuôi sống biết bao nhiêu người, và “làm giàu” cho các ông, bà chủ bè “giả dạng thường dân” đi mua cá bụng về…ăn! Mà thực ra là mua đem về… nuôi, con cá bụng khi vào bè rồi mới có một cái “lý lịch” mới: tên là cá Basa! Chỉ sau 6 tháng nuôi trong bè, con cá basa tăng trọng lượng gần 2 ký, trở thành món hàng xuất khẩu. Ở đồng bằng sông Cửu Long, nghề câu cá bụng là một trong những nghề đặc trưng đánh bắt vào mùa nước nổi, tuy không làm giàu được, nhưng cũng đủ ăn hoặc “dư chút đỉnh”, sống tạm qua cơn thắt ngặt, chờ mùa nước rút lại sẽ đi tìm việc khác mưu sinh. Như đã hứa, hôm nay tôi xin kể lại chuyện câu cá bụng ở sông Tiền, sông Hậu mùa nước nổi do thằng bạn thân của tôi kể lại cho tôi nghe, sau khi con cá hô không còn tồn tại nữa. Nhớ lại ngày trước, tôi cũng thường theo các chú câu cá tài tử trong xóm, xuống “cầu tàu” (khu điều hành du lịch sông Tiền, cạnh nhà hàng Chương Dương bây giờ) để xem các chú câu cá, thỉnh thoảng chạy đi mua cho mấy chú vài điếu thuốc Ru-By, khi về có khi còn được các chú tặng cho một con cá cũng kha khá. Ngày đó, cá basa, cá hú, cá bông lau, cá “vồ cờ”, cá tra bần… nhiều lắm các chú câu khoảng vài tiếng đồng hồ cũng kiếm được 5 – 6 con cá hú hoặc cá bông lau, mà con nào cũng to! Mồi câu của các chú thường là gián đất, hoặc một miếng bông gòn thấm nước “a-ngùy”, câu rất nhạy và cũng đỡ tốn công đi “thọt” kiến vàng hay đào trùn. Cá hú, cá bông lau thích ăn mồi gián, cá tra bần, tra nghệ, vồ cờ thích mùi “A-ngùy”. Nếu tôi nhớ không lầm, thì khoảng thập niên 60 của thế kỷ trước, đi xuồng xuôi xuống miệt Lý Hoàng - Cả Thu hoặc nơi giáp nước giữa biển và sông còn câu được cả cá hô! Có người câu cá hô, đem về thả nuôi trong ao, trong đìa, ruộng…nhưng thường cá hô thả nuôi không lớn như cá trong tự nhiên. Bây giờ, con cá bụng không còn lội thảnh thơi trên các dòng sông mùa lũ về, con cá hú, cá bông lau cũng không còn trên dòng sông Tiền cho bà con câu nữa, cá basa, cá tra thì đã được nhân giống bằng cách thụ tinh nhân tạo, nuôi bằng bè mỗi lần mấy chục ngàn con. Môi trường sinh thái bị hủy hoại nên con cá cũng bỏ người mà đi, những người như thằng bạn tôi lại phải rày đây, mai đó gạo chợ, nước sông để tìm cách mưu sinh. Tội nghiệp, cuộc đời của nó cũng trôi nổi như cái tên của nó: “Giang Lục Bình”, thế nên nó phải mang cuộc đời và tâm sự của loài thực vật thuỷ sinh hoa tím đó, mà lang thang cuối đất, cùng trời./.
Đinh Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:23:09 am » |
|
MÙA CÁ LINH…
“Tháng Mười, mùa nước nổi Bàn thờ lạnh khói nhang! Cha ơi! Xin thấu hiểu Con…quá đỗi cơ hàn!”
Mỗi lần nhìn con nước son cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về, dâng đầy trên các con kinh, ngọn rạch là lòng tôi lại bồi hồi nhớ lại mùa cá linh năm ấy… Mùa cá linh thường bắt đầu từ tháng 5 âm lịch theo con nước lũ từ thượng nguồn, nhưng có lẽ chỉ rộ lên nhiều nhất là vào khoảng trung tuần tháng 8 âm lịch. Lúc này những con cá linh đã to cỡ ngón tay cái, và nhỏ nhất cũng lớn hơn đầu đũa ăn cơm.
Còn nhớ, năm 1992 khi gia đình tôi lâm vào cảnh thắt ngặt do nợ nần vì vỡ hụi và buôn bán ế ẩm, tôi đành “muối mặt” đùm túm vợ con về “ăn chực” tại nhà của ba, má tôi. Một là chúng tôi gửi con cho ông, bà chăm sóc giúp, hai là chúng tôi có thời gian để vừa chạy nợ, vừa buôn bán kiếm miếng ăn đắp đổi qua ngày. Ba má tôi nghèo, làm nghề bán vé số dạo, được cái ba má tôi rất thương con tôi, vì nó là đứa cháu nội đầu tiên trong cuộc đời làm “ông, bà”. Còn nhớ, ngày hôm đó, má tôi đi chợ mua về một mớ cá linh, bà đem nấu canh chua với bông so đũa một mớ, mớ còn lại bà dùng để chiên giòn, giầm nước mắm gừng cho ba tôi ăn, vì ông rất thích món cá linh chiên! Tội nghiệp cho ba, má tôi cảnh nghèo đeo đẳng không chịu buông nên món ăn mà thiên hạ cho là tầm thường nhất, đối với ba, má tôi lại là những thứ “cao lương, mỹ vị”. Hôm đó, tôi và vợ tôi đi bán về đến nhà ba má tôi, mặt mày buồn so vì bán ế lại phải è cổ ra đóng tiền góp bạc 12! Tôi buồn vì cảnh nghèo của hai gia đình đến nỗi không muốn ăn cơm, xuống bếp thấy ba tôi đang chiên cá, ông bảo tôi rửa mặt rồi đi ăn cơm, tôi nhìn thấy ba tôi bóc một con cá vừa chiên xong, bỏ vào miệng nhai ngon lành mà muốn sa nước mắt. Cả cuộc đời làm con, tôi chưa bao giờ lo cho ba, má tôi được đầy đủ, cả quãng đời thanh niên trai trẻ, tôi cứ như một con ngựa bất kham suốt ngày lao vào công tác, ba má tôi chỉ thấy mặt tôi mỗi khi tôi…vào bệnh viện vì kiệt sức hay vì bệnh gì đó! Má tôi còn mắng yêu tôi “chỉ khi nào mầy bệnh mới thấy cái mặt mày thôi!” Không tròn chữ hiếu nay lại về báo cô! Trong bữa ăn, tôi thoái thác do mệt nên không muốn ăn cơm, ba tôi lại ngỡ tôi giận thằng em út nên không ăn, ông để dành cho tôi một dĩa cá linh chiên đầy nhóc trong tủ đồ ăn, dặn má tôi nếu ngày mai tôi có về nhà thì lấy ra cho tôi ăn.
Sáng sớm hôm sau, tôi bàng hoàng khi nghe tin ba tôi bị xe đụng! Cũng đồng thời là xe đạp mà do người kia đi mua cá linh về bán, (cũng lại là cá linh!) sợ cá ươn nên chạy hết tốc lực, đụng vào ba tôi đang chạy sát lề đường. Tôi chạy ào vô bệnh viện thì ba tôi đã hôn mê sâu, tay chân bắt đầu co giật và khi được chuyển lên Chợ Rẫy thì ba tôi trút hơi thở cuối cùng khi xe mới vừa tới địa giới tỉnh Long An! Đám tang của ba tôi cũng khá đầy đủ, có cả nhạc lễ vì lối xóm thương ba má tôi nên kẻ ít, người nhiều xúm nhau lo cho tang lễ của ba tôi. Treo trên đầu quan tài là tấm Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, mà ba tôi vừa nhận được trước đó gần một tháng! Cả cuộc đời ba tôi chỉ có tấm huy chương nầy là thứ quý giá nhất trên đời, nay ba mất đi, má tôi đem tấm huy chương treo trên đầu áo quan, âu cũng là phần an ủi vong linh của ba tôi, mong ông ngậm cười nơi chín suối! Trong đám tang, má tôi bưng ra một dĩa cá linh chiên đã nguội ngắt và nói với tôi trong nước mắt: “Dĩa cá này là ba con để dành lại, dù thèm nhưng ông cũng không dám ăn mà chừa lại cho con”. Tôi bưng dĩa cá linh mà nước mắt chảy tràn. Ba ơi! cuộc đời ba tôi có ngày nào gọi là sung sướng đâu? Cha, mẹ không có, anh chị em cũng không, chỉ sống và vui với vợ, con trong quãng đời nghèo cực. Chính ba tôi đã dạy cho tôi từng đường quyền, ngọn cước đầu đời, tập cho tôi cái nghị lực chịu đựng mọi thứ nghịch cảnh trong cuộc sống bằng chữ “Nhẫn” của cái “Tâm” và bằng chính cái sức chịu đựng của mình!
Từ đó, hàng năm đến ngày giỗ ba tôi, cũng vào tháng Mười âm lịch, khi phù sa nồng nàn chảy trên những dòng sông quê hương, mang theo những con cá linh béo ngậy. Tôi đều dâng cúng một tô canh chua cá linh nấu với bông so đũa, một dĩa cá linh chiên giòn, vậy thôi! Và cứ mỗi mùa cá linh là mỗi lần lòng tôi đau đáu nhớ về ba tôi. Một người cha suốt đời chịu đựng mọi khổ cực, chỉ để cho các con mình sung sướng, nên người. Tôi mong, ở cõi vĩnh hằng nào đó, ba tôi sẽ vui với cuộc sống không lo toan, tính toán. Và cứ đến ngày giỗ, lại về mà hưởng món cá linh béo ngậy của con nước tháng Mười đỏ quạch phù sa.
PHẠM KIỀU
|
|
|
|
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Mười Một, 2008, 08:22:41 pm gửi bởi Đinh Phạm Kiều »
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:26:07 am » |
|
SỨC SỐNG MÙA NƯỚC NỔI .
Ngoài những đặc sản trái cây nhiệt đới miệt vườn, thiên nhiên còn ban tặng cho đồng bằng sông Cửu Long một món quà vô giá – đó là mùa nước lũ hàng năm - cứ đến mùng 5 tháng 5 âm lịch, con lũ từ thượng nguồn đổ về mang lượng phù sa vô tận bồi đắp cho những cánh đồng lúa bát ngát và những vườn cây trái sum xuê. Cùng với lượng phù sa là nguồn lợi thuỷ sản phong phú chủng loại cá, tôm. Không chỉ cung cấp cho bữa cơm hàng ngày của những người dân miền Tây sông nước, mà còn toả đi cung ứng trăm nơi cho các thành phố công nghiệp và phục vụ cho xuất khẩu. Khi nước sông “quay” là báo hiệu mùa thu hoạch cá, tôm đã đến. Lũ cá sinh sản từ Biển Hồ theo dòng nước, theo sông Tiền, sông Hậu “rẽ” vào các dòng kinh, rạch toả khắp ruộng đồng là cá linh, cá cơm, cá ba-sa.
Cá linh là loại cá sinh sản nhiều và mau lớn, là nguồn thực phẩm phong phú cung cấp cho bữa ăn hàng ngày của người dân miền Tây suốt năm. Lúc đầu cá còn nhỏ, cỡ đầu đũa đến bằng ngón út, người dân gọi là “cá linh non” Đánh bắt được, đem “mần” cho sạch, thả vào nhúng giấm ăn với rau đồng như bông súng, điên điển, rau mác, rau dền…Nếu ăn cơm thì đem kho lạt hay kho sả, cùng với nồi cơm gạo mới nóng hổi bảo đảm ta sẽ ăn tới “vét nồi, vét ơ” mới chịu thôi!
Khoảng rằm tháng bảy âm lịch, con nước “xô” lên đồng là lúc cá đã lớn, việc đánh bắt rất khó vì chúng không tập trung nên số lượng không nhiều, chỉ dùng lưới để giăng, chủ yếu để ăn hoặc bán lẻ. Đến khoảng tháng mười âm lịch – mà cao điểm nhất là các con nước kém (từ mùng 10 đến 25 trong tháng) – cá bắt đầu đổ xô ra ồ ạt, dày đặc cả kinh rạch chuẩn bị cho chuyến “hồi hương”. Dân nghèo ở vùng nông thôn lúc này cũng bắt đầu xôn xao việc bắt cá, nhà không có tiền mua dụng cụ thì dùng thùng thậm chí dùng tay không để bắt, vậy mà cũng nhiều vô số đến bán chứ ăn không hết! Lúc này, không sống nghề “hạ bạc” nhưng thấy thiên hạ bắt cá nhiều quá tôi cũng đâm ham, về lấy cái mùng rũ hai ba thằng xuống kéo hoảng 2 – 3 tiếng đồng hồ kiếm được cả giạ chứ không giỡn! Những người có đủ dụng cụ xuồng, chài, lưới thì thả sức “tung hoành” trên sông nước như “thần cước trên sông Chu”. Tung một chài xuống kéo lên phải hì hục vì cá mắc trắng cả chài! Lượng cá nhiều đến nỗi phải dùng lu, hũ, khạp chứa để làm mắm hay ủ nước mắm hoặc phơi khô để dự trữ phòng những tháng ngày thắt ngặt lấy ra dùng. Đâu chỉ nuôi sống dân nghèo vùng lũ, mùa lũ đầy những cá, tôm còn góp phần làm giàu cho những người mối lái hoặc chuyên mua bán thủy sản. Mỗi mùa nước lũ là thương lái các nơi lại đổ xô kéo đến “triển khai” các hoạt động thu mua tôm, cá chuyển lên thành phố Hồ Chí Minh, hoặc bán lại cho các đơn vị xuất khẩu. Người ta đấu thầu nguyên lô, dùng đăng lưới, nhất là đáy lúc nào cũng to mồm, mỗi miệng đáy rộng khoảng 5 – 6 mét bề ngang và túm lại ở phần đuôi như cái phễu, cuối phễu là túi chứa cá. Đánh bắt kiểu này số lượng rất lớn, đem bán cho những bạn hàng hay chủ vựa hoặc các hãng để chế biến nước mắm. Bắt đầu từ tháng 10 con nước rút, cá từ đồng cũng bắt đầu lần lượt rút ra kinh, rạch, loại cá linh ra trước, sau đó đến lượt cá “đen” như cá rô, cá trê, cá lóc và tôm. Loại này đi theo chiến thuật “đặc công bò sát mặt đất” rất khó bắt! Dùng chài hoặc mò tay, thọc hang bắt thì cũng chỉ kiếm ăn đủ cho gia đình chứ không dư để đem bán.
Mùa nước nổi mời bạn đến Tiền Giang quê tôi, làm một cuộc dạo chơi về đồng bằng miền Tây như những khách giang hồ lãng tử. Rồi bạn cùng với những người nông dân chịu thương chịu khó của quê tôi xuống xuồng, xuôi dòng đánh bắt cá - một thú vui mà không phải ở đâu cũng có được - Nhờ mùa nước lũ mà dân nghèo miền sông nước sống ung dung qua những tháng ngày thắt ngặt. Qui luật bất thành văn của thiên nhiên mà! Đã sinh ra con người, đã đem lũ về làm mất mùa nông nghiệp, hoa màu, cây lúa nổi lều bều thì thiên nhiên cũng hào phóng bù đắp cho người dân nghèo một mùa lũ với biết bao là cá, tôm nuôi sống những đứa con do mình sinh ra, đúng không? Thời gian gần đây, người ta xây dựng nhiều đê bao ngăn lũ nên số lượng cá không nhiều như xưa, bởi chúng đã bị các bờ bao, bờ đê ngăn lũ ngăn luôn chúng lại! Lợi bất cập hại…Nhưng dù sao cũng mời bạn về một chuyến, ăn cá linh non mùa lũ kho lạt cuốn bánh tráng, rau sống hoặc cá linh lăn bột “năng” khô, chiên giòn, cá linh nấu canh chua với bông điên điển ở vùng lũ và nấu với bông so đũa ở vùng kẻ chợ. Ngon hơn chút nữa là lẩu mắm cá linh, ăn kèm với bông súng, ngó sen, rau dừa, rau mác, rau ngổ, bông lục bình, lá cách, đọt xoài… toàn là các loại rau có sẵn trong vườn nhà. Với tấm lòng mến khách của người dân Tiền Giang, bảo đảm bạn sẽ lưu luyến ngay miền quê nghèo vùng sông nước Nam bộ này!
Đinh Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #55 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2008, 11:29:21 am » |
|
Tản văn HOA CÚC
“…Mùa Thu ra biển cả Theo dòng nước mênh mông Mùa Thu vào hoa Cúc Chỉ còn anh và em…” (Xuân Quỳnh)
Nếu ai đã từng ngắm những bông hoa cúc vào một buổi sáng đầu Thu, sẽ thấy trong lòng dậy lên một cảm xúc nao nao khó tả, nhất là khi lại được nghe bài hát “Thư tình cuối mùa Thu” (nhạc Phan Huỳnh Điểu, phổ thơ của cố thi sĩ Xuân Quỳnh).
Hoa cúc có nhiều loại, cúc vàng, cúc trắng, cúc tím, cúc vạn thọ (còn gọi là cúc lỗ tai chuột), cúc Nhật, cúc đại đoá…nhưng, hình như các hoạ sĩ, nhà thơ, nhà văn chỉ cảm khái khi ngắm nhìn hoa cúc vàng rộ nở. Thôi Hiệu, một thi sĩ Trung Hoa đời Đường đã làm bài thơ tứ tuyệt tả hoa cúc như sau:
“Bách hoa phát, hề ngã nhất phát Ngã nhất phát thường giai trác lạc Yếu dữ Tây phong nhất chiến trường Mãn thân phi tụ hoàng kim giáp…”
Tạm dịch: “Trăm hoa đua nở, cúc chưa về Giờ cúc nở rồi hoa lại đi Đối mặt gió Tây, bày một trận Toàn thân vàng rực ánh xiêm y…”
Nhà thơ tả hoa cúc như một viên tướng xuất trận, đối mặt với gió Tây mà phô trương cái đẹp của mình. Và hoa cúc là một loài hoa độc lập, mùa Xuân trăm hoa đua nở chỉ thiếu mỗi hoa cúc, nhưng khi cúc khoe sắc vàng rực rỡ thì không còn có loài hoa nào chịu ở lại để mà ngắm nhìn toàn thân một màu vàng rực trước “Tây phong” của hoa cúc! Âu cũng là…thiếu sót của các loài hoa. Nhưng biết làm sao bây giờ nhỉ? Vì khi tạo hoá tạo ra các loài hoa thì đã ban cho chúng một sắc đẹp riêng, một cõi trời riêng và một mùa riêng để “phô phang” vẻ đẹp trước muôn loài. Hoa cúc thường chỉ nở vào mùa Thu, bởi thế mới có câu:
“…Đua chen Thu cúc, Xuân đào. Lựu phun lửa Hạ, mai chào gió Đông…” (Bích Câu kỳ ngộ!) Hay trong bài hát “Thương quá Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, có câu “…hoa cúc vàng trên sân anh, xinh như áo mới em ngày nào…” Trong ca dao xưa cũng có nhắc đến hoa cúc như một mở đầu cho một lời thăm hỏi của người con xa xứ:
“Cúc mọc bờ ao kêu rằng cúc thuỷ Sài Gòn xa, chợ Mỹ không xa Viết thư thăm hết nội nhà Trước thăm phụ mẫu, sau là thăm em!”
Lời ca dao mộc mạc, chân tình của một chàng trai xa quê nào đó, mượn hoa cúc để “nhập đề” lá thư gửi về thăm “phụ mẫu” nhưng sau đó là “thăm em” một cách hết sức tế nhị và…dễ thương. Đã có những bức họa về “hoa cúc” nổi tiếng của các họa sĩ Trung Hoa, đủ thấy người ta yêu hoa cúc nhường nào! Nói chung, hoa cúc luôn là đề tài cho các tao nhân, mặc khách khi thưởng hoa dưới nguyệt, khi ngắm hoa nở trước gió Thu về…Ở các vùng, miền có khí hậu ôn hoà một chút hoa cúc có thể nở quanh năm, như Đà Lạt chẳng hạn! Còn ở miền Tây Nam bộ hoa cúc thường chỉ được trồng và bán vào mùa Xuân để mọi người có thể mua về ngắm hoa, thưởng Tết, nhưng có một loại cúc gọi là cúc vạn niên hay cúc dây, mỗi khi ra hoa thường kết thành từng chùm rất lâu tàn. Một chậu cúc trồng lâu có thể cho ra hoa đều đặn “bốn mùa, tám tiết” chứ không bị giới hạn bởi mùa Thu, đem trồng trên lầu hay trên sân thượng cúc dây có thể ra hoa và rủ dài từ trên xuống, nhìn rất đẹp! Mỗi mùa hoa cúc nở là những cô, cậu học trò lại thấy trong lòng nao nao với bao cảm giác, bao xúc động, vì hoa cúc nở báo hiệu mùa thi và mùa tựu trường sẽ đến theo từng cơn gió mát đầu Thu…Và khi mà câu thơ: “Áo em vàng, anh về yêu hoa cúc. Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường…” vẫn còn trong hành trang tuổi học trò, thì hình ảnh hoa cúc sẽ mãi mãi là bất tử! Phạm Kiều
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #56 vào lúc: 04 Tháng Mười Hai, 2008, 02:28:52 pm » |
|
VÒNG TAY CHỜ ĐỢI Lá bay, rơi rụng bên thềm Lòng em nhớ đến anh miền xa xôi Em chừ như bóng mây trôi Mắt xanh đã trắng, bờ môi đã vàng Vòng tay chờ đợi khô khan Anh ơi! Em đã thành Hòn Vọng Phu...
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #57 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2008, 10:00:01 pm » |
|
Buồn vui đời lính NHIỆM VỤ BẤT KHẢ THI
Mùa khô, năm 1974… Tôi và thằng Dũng “đầu bò”, nổi tiếng là gan dạ và giỏi võ Thái Cực Đạo cũng cỡ…tôi! (tức là ai đánh thì chạy đó mà). Hai đứa nhận nhiệm vụ “thanh toán” đám NDTV của P…X vì tụi nầy hay lùng sục, khám xét, bắt bớ và bắn bậy…làm anh em cơ sở thiệt hại nhiều. Nói đâu xa, mới cách đó một tuần, ba anh em đột ấp về bị tui nó bắn hú họa…vậy mà lạc đạn chết một người! Tôi và thằng Dũng lên phương án, kế hoạch cụ thể xem sẽ làm gì và thoát bằng đường nào? Sau cùng, hai thằng nhất trí: thằng Dũng sẽ dùng HonDa 67 xoáy nòng, chở tôi ngồi sau chạy ngang trụ sở, ném lựu đạn vào đó, rồi thoát theo dòng người đi lễ Giáng Sinh trên đường. Nhưng cái quan trọng là làm sao tránh thương vong cho đồng bào đi lễ. Coi vậy mà khó trần ai chứ không phải dễ…Chỉ sợ tụi nó không gom lại mà tản ra thì khó làm ăn lắm! Nhưng chúng tôi hạ quyết tâm bằng mọi giá phải bắt chúng nó đền tội! Tôi 24/12…đồng bào giáo dân đi lễ nhiều. Không khí Noel cũng vui vẻ, tất bật…khí trời lành lạnh mà mồ hôi của tôi tuôn ướt đầm cả áo…Thằng Dũng lấy xe chở tôi lạng qua, lạng lại vài lần để xác định mục tiêu, tọa độ…rồi hai thằng vô quán nước gần đó, ngồi chờ thời cơ. Thời cơ đến khi số lượng giáo dân đi lễ đã vãn hết, mọi người đều vào nhà thờ cả rồi! Đúng lúc rồi đây, bọn chúng kéo kẻm gai che chắn trụ sở lại rồi hai ba thằng lấy nồi, củi…chắc dùng để …nấu cháo khuya đây! Được rồi, ông sẽ cho chúng mày ăn…lựu đạn thế thịt heo nhé! Tôi nhủ thầm, ra hiệu cho Dũng nó lấy xe chở tôi lượn qua chốt gác một lần nửa…nhìn vào thấy tụi nó đang xúm xít quanh…nồi cháo. Đứa thì thổi lửa phù phù, đứa thì xăng xái xắt thịt heo…nhìn rõ từng đứa luôn! Tôi chạnh nghĩ tới cái cảnh anh em tôi cũng tổ chức nấu cháo khuya như thế nầy sau mỗi trận chống càn và đi diệt ác…lòng không nỡ…nhưng lại nghĩ tới cảnh anh em mình bị tụi nó bắn bậy mà chết, máu tôi sôi lên và không còn suy nghĩ cái kiểu “tiểu tư sản” nữa! Vòng lượn thứ hai của thằng Dũng sát vào hàng rào trụ sở, tôi rút chốt trái da láng M.67 và thẳng tay liệng vào giữa đám áo đen xúm xít…Rồi hai thằng chạy hết ga, suýt chút nữa là tông vào đầu xe tải đang chạy ngược chiều, pha đèn sáng quắc thoát ra vùng ngoại ô, chạy thẳng về hướng LA, bỏ xe ở đó, bắt xe đò trở về ngay trong đêm xem tình hình…12 giờ khuya, tôi thấy tụi nó vẫn bình thường, ăn nhậu, đàn ca…Ủa sao kỳ vậy? Thằng Dũng nói hay là mầy không rút chốt? Ông nội ơi! Tao liệng lựu đạn nhiều hơn mầy ăn cơm nữa đó! Cái chốt tao còn giữ đây nè, thấy hôn? Lân la làm quen và hỏi thăm chị bán cháo vịt gần cổng trụ sở, thì chị cho biết: - Khi nãy, thấy mấy “ông vệ” (nhân dân tự vệ) múc cái gì đen đen trong nồi cháo khuya ra, rồi vừa la vừa bò càng, bò niễng…Mấy ổng nói là có ai đo chơi ác bỏ nguyên trái …“mảng cầu” vô nồi cháo của mấy ổng! Mang cái ấm ức vì quả da láng “thúi” đó chúng tôi về “cứ” vừa bước vào thì gặp anh Thắng, vừa lục tìm cái gì đó, vừa cằn nhằn…tôi bước đến hỏi, thì anh cho biết: Trái lựu đạn – đã lấy hết kíp nổ và thuốc - dùng để tập cho anh em ném, không biết thằng quỷ nào lấy tập rồi bỏ đi đâu không biết, kiếm hoài không ra! Tôi ngớ người, hỏi có phải trái có sơn màu xanh trên thân không? Ừ, đúng là nó…Chết cha, tụi em lấy…liệng vô đám NDTV phường X rồi! Lựu đạn tập, tháo hết kíp và thuốc hèn chi nó không nổ!? Còn trái của tụi bây đâu? – anh Thắng hỏi – tụi em đâu có thấy trái nào? – tôi đáp - Chỉ thấy có trái sơn màu xanh đó, khi nhận nhiệm vụ thì lấy đi luôn, ai mà biết…! Tao giao cho thằng Kha, bảo đưa cho tụi bây mà! Thằng Kha đâu?? Đi tìm một hồi thì thấy thằng Kha tủm tỉm cười, xúng xính trong bộ quân phục ni lông dầu xanh lá cây mới cáu…má nó mới gửi vô, còn trái M.67 dùng cho công việc, thằng Kha lấy treo tòng teng trên “xăng-tuya” của nó để đi…lấy le với các em ở xóm! Nóng sôi máu Anh Đài chưa? Vậy là đám NDTV thoát chết, còn tụi tui chạy bắn khói! May mà anh Thắng không lấy quả lựu đạn còn “nguyên xi” kia cho anh em tập, nếu không chắc có …khiêng quá! Một kỷ niệm nhớ đời trong những ngày tập tễnh làm…cách mạng của tôi!
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
Đinh Phạm Kiều
Thành viên

Bài viết: 32
Dù rằng đời ta thích hoa hồng...
|
 |
« Trả lời #58 vào lúc: 05 Tháng Mười Hai, 2008, 10:01:55 pm » |
|
MỘT KỶ NIỆM KHÓ QUÊN Năm 1973, tôi còn là một cậu học sinh trung học, mới tìm hiểu cách mạng miền Nam qua những câu chuyện của anh Rí - một người bạn lớn hơn tôi tới 2 tuổi - nhưng học chung lớp. Tôi cũng hiểu tội ác của kẻ thù xâm lược Mỹ và tay sai, nhưng tôi cũng chưa hiểu rõ lắm về cách mạng, cho đến một hôm…
Chiều hôm đó, sau khi đi học về, ăn cơm xong tôi thả bộ tà tà vào xóm “hãng xáng” chơi với mấy thằng bạn. Chả là tụi tôi chiểu, tối nào cũng tụ tập với nhau, đàn ca, xướng hát. Có lúc cao hứng còn mua rượu về nhậu (mặc dù lúc đó mới có 16 – 17 tuổi nhưng tôi nhậu cứng khừ luôn!). Mới nhậu xong một chai nửa lít thì hết rượu, thằng Hai “cà lắc” xung phong đi mua. Tôi ôm cây “ghi- ta” cũ sì lên, hát nghêu ngao bài “Tình như mây khói” – một ca khúc thời thượng lúc đó – Đang thả hồn theo tiếng nhạc thì một viên cảnh sát, mặc bộ đồ trắng, áo bỏ lè phè ngoài quần dắt xe đạp đi vào xóm.
Tôi lấy làm lạ vì y lạ mặt, chưa gặp bao giờ…Hay là vô xóm kiếm “em”? Cái xóm nhỏ xíu nầy có bao nhiêu là động “Bàng Tơ”, đầy những cô nàng “yêu nhền nhện” mắt xanh, mỏ đỏ! Y đi ngang chỗ tôi, hơi rượu nực nồng. Tôi ngừng tay đàn, ngó y cảnh giác mặc dù tôi không có gì phải sợ y cả. Tôi là học sinh mà, lại là con của lính Hải quân tôi xem y chả ra cái mùi gì cả! Chợt, tên cảnh sát dừng lại, nhìn vào đám bạn của tôi và hỏi bằng cái giọng lè nhè: “Làm gì đứng đây đông vậy? Giải tán đi!” Cái giọng ra lệnh nghe thấy ghét, tôi đâu có tè đám cảnh sát nầy, bọn nó sợ hải quân Chương Dương như sợ cọp (mà đám lính Hải quân nầy tôi quen nhiều lắm, đa số là bạn của ba tôi). Tôi ậm ờ: “Thì trời nóng, ra đây đứng cho mát! Thắc mắc gì hôn?” Tên cảnh sát dựng xe đạp lên, hỏi tôi: “Đứng hứng mát hay chờ…giựt đồ? Tao nghe nói xóm nầy toàn là đào ngũ và trộm cướp, giựt dọc…” Tôi sôi máu, độp liền: “Chú là nhân viên công lực, ăn nói với dân phải lựa lời chớ! Tôi là học sinh chứ không phải lưu manh, mà chú nói với tôi bằng cái giọng lưu manh đó?!”. Tên cảnh sát thộp cổ tôi, tay kia lần vào thắt lưng, rút ra khẩu “Ru –lô” nòng dài, còn nằm nguyên trong bao: “Đ..mẹ, mầy chịu nổi mấy viên, mậy?” Tôi liếc nhìn tướng tá của y, không đủ cho tôi phủi tay, liếc nhìn khẩu súng với cái vòng cò còn nằm trong bao, nhìn nắm tay của y nắm áo tôi…Tôi nghĩ thầm “Tới số rồi con ạ! Mầy quên câu ngạn ngữ Nhật Bản là : “Đừng bao giờ nắm cổ áo một môn sinh Nhu Đạo hay sao?” Tôi liếc sang thằng tư Hoai ra hiệu, nhanh như cắt, tôi dùng tay phải chộp lấy tay của y đang nắm cổ áo tôi, vặn nhẹ một cái y lập tức kêu oái oái, tôi chộp lấy cánh tay của y và dùng một đòn vai của Nhu Đạo – y như lúc học trong trường – quăng hắn qua đầu và rơi xuống nền xi măng lạnh cứng nghe một cái “phịch”. Hắn đưa khẩu súng lên, tôi tước ngay lập tức, rút khẩu súng ra khỏi bao, lẩy chốt cho ổ đạn lòi ra và dốc ngược khẩu súng, sáu viên đạn rơi ra ngoài. Tôi quăng khẩu súng qua hàng rào của hãng xáng và co chân tống cho y một cước (Không Thủ Đạo gọi là MAE GARI KEKOMI) vào mạng sườn, rồi tôi xách cây đàn…vọt! Tụi bạn tôi cũng mạnh thằng nào, thằng ấy chạy. Tưởng gì, chứ cái xóm tôi tới chơi toàn dân Thủy quân lục chiến, Biệt động quân đào ngũ, tới Quân Cảnh họ còn dám “chơi” thì sá gì đám cảnh sát áo trắng nhãi nhép nầy!? (còn tiếp)
|
|
|
|
|
Logged
|
|
|
|
DepTraiDeu
Thành viên

Bài viết: 658
Kẻ thù của Đế quốc và CHỊ EM!No prisoner pls!
|
 |
« Trả lời #59 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2008, 02:54:27 pm » |
|
Trời, em thiệt phục bác Kiều, cảnh sát có súng mà bác cũng dám lượm luôn! Cao thủ võ lâm có khác, ngòai Nhu đạo, Thái cực đạo ra bác còn luyện thêm món gì nữa hông mà gan quá vậy?
|
|
|
|
|
Logged
|
BAO CHIẾN SỸ ANH HÙNG! NÀO CÙNG VUNG GƯƠM RA SA TRƯỜNG! pằng.. chéo! oái nó có súng còn mình có mỗi gươm! 
|
|
|
|