Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 05:09:18 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: F-22 RAPTOR  (Đọc 90094 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #70 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 03:00:54 am »

Bóng ma khủng hoảng ở Lầu năm góc


TG: Chalmers Johnson

những chương trình hoang phí của Lầu năm góc kiểu như "lightning guns" này đang làm nước Mỹ sụp đổ


Thật khó để hình dung bất kỳ lĩnh vực nào của nền kinh tế Mỹ lại bị chèo lái bằng sự mộng tưởng, bằng ảo giác và tuyên truyền hơn là lĩnh vực vũ trang và công nghiệp quốc phòng. Rất nhiều dân chúng Mỹ tin tưởng quân đội của họ là lớn mạnh nhất, trang bị tốt nhất và vô địch trên thế giới. Nhưng chẳng có gì trong những thứ kể trên là sự thật mà chỉ có một sự thật rằng quân đội Mỹ không chút nghi ngờ gì là một đội quân rất tốn kém để duy trì hoạt động.

Người đóng thuế Mỹ đã chi tiền cho những cuộc chiến tranh kỳ quặc như thế nào?

Giống như phần còn lại của thế giới, người Mỹ biết ngành công nghiệp Ô-tô đang ở trong cái thế sụp đổ không thể tránh được. Trừ khi nó được bơm những khoản cứu trợ khẩn cấp và chịu cải tổ triệt để, không nghi ngờ gì nó đã quay đầu đến nghĩa địa mà trong đó rất nhiều ngành công nghiệp Mỹ khác đã bị chôn vùi, kể cả vô tuyến truyền hình và điện tử tiêu dùng, rất nhiều ngành thiết bị khoa học và y tế, dụng cụ máy móc, sợi dệt, rất nhiều máy xúc máy ủi – đó chỉ là những ví dụ đại diện nhất. Chúng đánh mất hết tính cạnh tranh đối với những nền kinh tế mới nổi mà đã nhanh hơn chúng về thiết kế đổi mới, giá cả, chất lượng, dịch vụ, tiết kiệm nhiên liệu… trong vô số những thứ khác.

Cũng tương tự nhưng ít được biết đến hơn, đó là cuộc khủng hoảng đang tồn tại trong tổ hợp công nghiệp quốc phòng Mỹ. Cuộc khủng hoảng này có nguồn gốc căn nguyên của tệ đút lót hối lộ và thói quen lừa dối đã từ lâu trở thành đặc điểm của các cấp chỉ huy bậc cao trong quân đội, trong cách điều hành dân sự ngành công nghiệp quốc phòng, và những kẻ cơ hội trong quốc hội phạm tội tìm kiếm tiền bạc lợi lộc trong những dự án quốc phòng, luôn tìm cách bảo vệ địa hạt làm ăn của mình và thậm chí đút lót để giành phiếu bầu.

Trong cuộc khủng hoảng kinh tế đã xảy ra, ước lượng đã có hàng ngàn tỷ đô la chi phí mỗi năm cho quân đội và vũ khí mà không thể chứng minh được. Thậm chí sự giám sát tài chính quốc gia không còn tồn tại, người ta vẫn tiêu phí quá nhiều tiền thu từ thuế vào một số ít hệ thống vũ khí quá đắt đỏ, quá phức tạp mà nó làm cho quốc gia thiếu sự chuẩn bị tương xứng với những mối đe doạ quân sự thực sự. Bây giờ là lúc đối mặt với cuộc khủng hoảng tại Lầu năm góc: chẳng còn có thể giả bộ có đủ sức mạnh vượt trội bằng đôi chân đi đất, chẳng còn trông cậy vào những hệ thống vũ khí bất diệt mà các tổ hợp công nghiệp quốc phòng làm ra chúng một cách yếu kém với một thiết kế nghèo nàn lạc hậu.
 
Cuộc khủng hoảng kép ở Lầu năm góc

Cái hệ thống tự bị huỷ hoại này có một ngân quĩ mập ú để mua những món vũ khí hư hỏng. Nó tồn tại đã quá lâu là bởi những tinh hoa phát tiết vô địch o bế xung quanh quân đội và niềm tin lầm lạc rằng công ăn việc làm trong công nghiệp quốc phòng là rất có giá trị đối với nền kinh tế cũng như chỗ làm trong lĩnh vực dân sự vậy.

Hiện tại, ông tham mưu trưởng, đô đốc Michael Mullen đã bắt đầu giãi bày không gì khác hơn là bảo vệ ngân quĩ của Lầu năm góc bằng cách đóng đinh chi tiêu quốc phòng vào một con số phần trăm cố định GDP. Dĩ nhiên nó rất đơn giản cho các phân tích chiến lược nghiêm túc mà qua đó tính ra nhu cầu thực sự cho phòng thủ quốc gia là bao nhiêu. Mullen muốn thay vào đó là tăng chi tiêu quốc phòng hàng năm trong thời kỳ khủng hoảng lên ít nhất 4% GDP. Chính sách như thế rõ ràng là được đưa ra để đánh lừa công chúng về những khoản chi tiêu vô bổ lố bịch vào những hệ thống vũ khí đã cũ kỹ hàng thập kỷ (như máy bay tàng hình F-22).

Khó mà mường tượng bất cứ lĩnh vực nào của nền kinh tế Mỹ lại bị chèo lái bằng sự mộng tưởng, bằng ảo giác và tuyên truyền hơn là lĩnh vực vũ trang và công nghiệp quốc phòng. Rất nhiều dân chúng Mỹ tin tưởng quân đội của họ là lớn mạnh nhất, trang bị tốt nhất và vô địch trên thế giới. Nhưng chẳng có gì trong những thứ đó là sự thật mà chỉ có một sự thật rằng quân đội Mỹ không chút nghi ngờ gì là một đội quân rất tốn kém để duy trì hoạt động. Mỗi năm người Mỹ chi tiêu vào quân đội bằng một nửa của tất cả các quân đội trên thế giới, lớn hơn con số của 45 quốc gia tiếp theo cộng lại.

Tương tự, ấn tượng đập vào mắt là quân đội Mỹ có vẻ ngày càng khó khăn để thích ứng với các cuộc chiến tranh mà các chiến lược gia Lầu năm góc cho là nước Mỹ dường như sẽ phải đương đầu trong tương lai, trên thực tế, cuộc chiến tranh Afghanistan, nơi kẻ thù là những đội quân du kích do những nhân vật nổi loạn lãnh đạo. Trong khi vũ khí của Lầu năm góc đáp ứng cho cuộc chiến tranh như thế này lại nổi tiếng ở mức độ hoang phí đến choáng người trong cái việc biện hộ giành cho máy bay, tàu chiến và những hệ thống vũ khí rất hiện đại mà các đô đốc tướng lĩnh mê mẩn đến mụ người và các nhà thầu quốc phòng cũng ra sức yêu quí mến chủ yếu bởi giá cả đã cao một cách rối rắm đến mức hàng không vũ trụ.

Thế mà hầu hết những món vũ khí này trên thực tế lại chứng tỏ không thích hợp với một thế giới mà trong đó người Mỹ đang tồn tại tuyệt đối dù là người mua sắm hay chế tạo. Nói một cách khác người đóng thuế Mỹ đã thực sự phải gánh vác 2 cuộc chiến tranh tai hoạ và những hệ thống vũ khí đi kèm với nó. Họ cũng đã trả một cái giá quá đắt cho những món vũ khí chỉ có giá trị cho những cuộc chiến tranh trong tưởng tượng, cho những cuộc chiến tranh mà chỉ có thể có trong game và những game chiến tranh hư cấu của các chiến lược gia Lầu năm góc.

Không quân và quân đội vẫn đang lập kế hoạch cho những món vũ khí như thế, trong những suy luận về một tương lai gần, họ sẽ xung phong ra trận với một cuộc chiến tranh cổ điển tốn kém chống lại Xô viết, còn Xô viết thì đã không còn kể từ năm 1991, trong khi hải quân với 11 cái tàu sân bay, như ông William S. Lind viết, “là cơ cấu để chiến đấu với hải quân của đế chế Nhật bản.” Ông Lind là một nhà lý luận nổi tiếng của cái gọi là môi trường chiến tranh thế hệ 4 (với kẻ thù là những chiến binh như Al Qaeda), kết luận rằng “Nhóm tàu sân bay đang vận hành trong sự ngu đần đã hơn nửa thế kỷ, họ chờ đợi hải quân Nhật bản sống dậy. Họ vẫn đang tiếp tục rong ruổi trên biển cho đến tận ngày nay, hoá ra, nếu không quá, thì cũng không thích hợp… Tàu ngầm hôm nay và ngày mai mới là tàu chiến thống soái, chúng hầu như trực tiếp quyết định việc kiểm soát vùng nước xanh.”

12/2008, Franklin "Chuck" Spinney, một quan chức dân sự cấp cao trong văn phòng phân tích hệ thống Lầu năm góc, thành lập năm 1961 để đánh giá độc lập về các chính sách của Lầu năm góc, thành viên đặc quyền của nhóm “Chiến binh Mafia/Fighter Mafia” những năm 1980-1990 viết, “Như đã chứng minh ít nhất đã 20 năm qua, hình mẫu của cách cư xử theo thói quen lặp lại trong Lầu năm góc đã hình thành một tiến trình tự ra quyết định tự huỷ hoại. Tiến trình này đã tạo ra một vòng xoáy ốc chết chóc.”

Hậu quả, như ông Spinney kết luận là một số lượng lớn không tương xứng trang thiết bị với giá cao điên khùng đã bị Lầu năm góc đặt mua, “những vũ khí mới không thay thế những cái cũ vì không có cơ sở thống nhất,” Cũng có những áp lực “liên tục làm giảm tính sẵn sàng chiến đấu”, “hệ thống tài chính thối nát” đến mức “không thể sắp xếp thứ tự ưu tiên,” (mua cái gì trước, cái gì sau), còn tính sẵn sàng thì lại được cho là giải pháp cũ sẽ hoạt động tốt trong khủng hoảng hiện tại.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Hai, 2009, 04:13:52 am gửi bởi SSX » Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #71 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 03:02:02 am »

Bóng ma khủng hoảng ở Lầu năm góc

Những nỗ lực cải tổ đã thất bại

Chẳng hề có điều huyền bí lớn lao nào về những nguyên nhân làm cho Lầu năm góc ngập chìm sâu trong rối loạn mà đã từ lâu là đặc điểm của cơ chế mua sắm vũ khí của Lầu năm góc. Năm 2006, Thomas Christie, một cựu lãnh đạo trong lĩnh vực thử nghiệm và đánh giá tác chiến, quan chức cao cấp nhất trong văn phòng thử nghiệm vũ khí Lầu năm góc, văn phòng cựu chiến binh trong nửa thế kỷ, người chi tiết hoá những nỗ lực cải tổ hệ thống mua sắm vũ khí. Kể cả rất nhiều các chức vụ khác trong các thời kỳ, đã kết luận: “Sau tất cả bằng ấy năm liên tục có những nỗ lực cải tổ, những chương trình quốc phòng lớn kéo dài 20, 30 năm thiếu năng lực hơn dự tính, giá và tiến độ rất thường xuyên bị đội lên 2 đến 3 lần.” Ông cũng có thêm những nhận xét như sau:

“Nhảy vào những phát triển lớn lao mà thiếu những hiểu biết về những vấn đề kỹ thuật trọng yếu là nguyên nhân căn bản của vấn nạn đội giá và chậm tiến độ… Giá, tiến độ và những rủi ro kỹ thuật là phải hết sức lường trước ngay từ khi bắt đầu… Có nhiều chương trình được theo đuổi vượt quá khả năng của Lầu năm góc trong dài hạn…”

“Vào lúc mà những vấn đề này được công nhận, hình phạt chính trị phải gánh chịu thúc ép cơ cấu lại các chương trình, rất ít chương trình bị huỷ bỏ và quá nhiều nỗi khó nhọc phải chịu đựng. Trừ khi có một ai đó dũng cảm đứng lên chỉ ra rằng Hoàng đế đang cởi truồng, không thì quân đội Mỹ sẽ tiếp tục làm chảy máu tiền thuế của dân và những năm tháng tới trang thiết bị sẽ bị thiếu hụt không đáp ứng được nhu cầu của quân đội trên chiến trường.”


Cái ngày tính sổ không thể tránh được mà những người chỉ trích Lầu năm góc đã đoán trước từ lâu đã, cuối cùng cũng đến. Vấn nạn của nước Mỹ là căn bệnh của nhà giàu đã thành thói quen nhiều năm qua dùng ngân sách quốc phòng làm chương trình mở mang công ăn việc làm và cũng là nguồn tiền của chủ yếu cho các chính trị gia dùng vào các chiến dịch tái tranh cử.

Cùng với sự giảm phát đang hiện diện mà sự tác động của nó vẫn còn chưa biết rõ, nước Mỹ có nhiều thứ đáng để chi tiêu hơn là ném tiền vào tàu sân bay lớp Nimitz với cái giá $6.2 tỉ hay máy bay có vận tốc hành trình M2.

Tuy nhiên chẳng thể chờ đợi Lầu năm góc thu xếp lại các vấn đề như thế. Nếu họ có thể chứng tỏ một cái gì đó trong hàng chục thấp kỷ qua, thì đó là họ hoàn toàn chẳng thể tự cải tổ. Theo ông Christie, “Hai chục năm qua Lầu năm góc và các ban bệ của nó đã phá hoại một cách có tính toán và có hệ thống nội lực kỹ thuật của họ đến mức chỉ còn lại nhỏ xíu, nếu như là còn, năng lực hay sáng kiến còn lại trong các cơ cấu khác nhau đang phải gánh vác các kế hoạch và các chi tiêu ngân quĩ của nó cho các chương trình mua sắm.”

Trang bị cho không lực

TT Obama đã giữ lại ông Gates làm tổng trưởng của Lầu năm góc như là một phần để làm vừa lòng 2 đảng, để ông có vẻ như đang cố gắng ôm chặt lấy khoản ngân quĩ quốc phòng đang căng phồng. Ông Gates cũng đồng thời đồng tình với một số nhà cải cách ở Lầu năm góc đòi huỷ chương trình máy bay tàng hình siêu âm F-22 "Raptor" của Lockheed-Martin. Cái máy bay này thiết kế để đương đầu với những dự định cuối cùng của Xô viết, nhưng họ đã chẳng bao giờ làm nó, một cái máy bay đánh chặn.

Còn phe ủng hộ không lực và các đồng minh trong quốc hội thì đang thực sự chiến đấu rất hung hăng. Tháng 6/2008 ông Gates đã phải sa thải Michael W. Wynne, tổng trưởng không lực và tướng T. Michael Moseley, tham mưu trưởng không quân. Cho dù những ông này không nghi ngờ gì phải chịu trách nhiệm về việc ủng hộ quá hăng hái F-22. Việc này đã bị che đậy bằng cách giải thích rằng họ mắc phải sai lầm thấy rõ trong việc kiểm soát và giám sát vũ khí hạt nhân.

Đó là vụ năm 2006, vì một sự “nhầm lẫm”, những đầu đạn hạt nhân Minutemen thiếu chút nữa đã được gửi đi Đài loan thay vì những bộ pin cho máy bay trực thăng, nhưng chỉ đến 2008 mới bị khui ra. Rồi năm 2007, B-52 lại mang nhầm đầu đạn bay từ North Dakota đến Louisiana.

Julian Barnes và Peter Spiegel của tờ Los Angeles Times 6/2008 viết rằng “Căng thẳng giữa không quân và ông Gates đã tăng cao nhiều tháng,” chủ yếu vì ông Gates làm họ thất vọng về F-22 và không chấp thuận cho không quân triển khai thêm UAV trên các vùng chiến sự. Mối quan hệ này lại càng chẳng được cải thiện khi Wynne, cựu chủ tịch General Dynamics vượt khỏi ranh giới xáp mặt ông Gates công khai tranh cãi rằng “bất cứ vị TT nào cũng sẽ hài lòng khi có thêm F-22 xung quanh nếu phải chiến tranh với Trung quốc.”!!! Lộ ra cái gì đó có mùi quyền lực của các tổ hợp công nghiệp quốc phòng mà bất chấp lòng thèm muốn rõ ràng, ông Gates vẫn giữ được vẻ bình tĩnh điền đạm - hay ông đã tìm được chỗ dựa chính trị chắc chắn - để bác bỏ việc lôi kéo thêm F-22, hay ông dám đương đầu để ngừng cả chương trình máy bay F-35 JSF, kẻ kế nhiệm của chiếc máy bay đắt đỏ tốn kém và phức tạp kỹ thuật.

Hơn 20 năm trước, Chuck Spinney đã viết những bài cổ điển về những thói quan liêu hư hỏng bên trong Lầu năm góc mà nó được dùng để thuyết phục quốc hội chi tiền cho những hệ thống vũ khí được quảng cáo và hô hào một cách bất lương và sau đó tìm cách ngăn chặn việc ngừng chi tiền một khi mà những gian lận bị phơi bày ra ánh sáng. Bài báo của ông có tên “Những trò chơi quyền lực Quốc phòng” và nó đã làm cho các quan chức cực kỳ phản đối. Spinney đã phác hoạ 2 thủ đoạn, 2 chiến thuật chủ yếu của Lầu năm góc để o bế những món vũ khí như thế. Đó là ”mánh khoé chia bánh” và "Kê giá thấp/front-loading" (một  biệt ngữ của giới thầu khoán quốc phòng để chỉ mánh khoé tăng ngân quĩ dự án). 

Cũng cần phải hiểu ngay từ đầu rằng tất cả các “nghệ sĩ” đã tham gia vào trò chơi bẩn này, kể cả các quan chức quân đội chịu trách nhiệm về dự án, các thành viên quốc hội - kẻ dùng tiền quốc phòng để mua ghế trong các quận của chúng, và các nhà thầu - những kẻ dùng tiền để bôi trơn các hợp đồng đã sử dụng 2 thủ đoạn kể trên. Cũng rất quan trọng để cần hiểu rằng chẳng có thủ đoạn nào từ mánh khoé chia bánh cho đến kê giá thấp là vô tội hay là sự vận động trung lập có đạo đức. Cả 2 đều tham gia một cách tội lỗi để mở nút vò rượu ngọt của dân đóng thuế và sau đó túm chặt lấy nó để không phải, không thể nhả ra nữa. Chúng là những thủ đoạn quái chiêu của các tổ hợp công nghiệp của nước Mỹ.

Kê giá thấp là mánh khoé để kiếm tiền công quĩ từ những dự án vũ khí mới dựa vào sự cam kết độc đáo bằng cách tìm kiếm sự đỡ đầu từ các quan chức cho những gì họ làm. Nó đã xuất hiện từ rất lâu đầu tiên trong lĩnh vực chế tạo và thử nghiệm, và bao gồm các kiểu kê giá thấp để tăng số lượng. Sự cam kết luôn luôn theo một kiểu rằng các yêu cầu kỹ thuật sẽ rất đơn giản hay luôn luôn thực hiện được. Giá trị của thời tương lai bị hạ thấp, một khía cạnh nội bộ của kê giá thấp đó là trò xưa cũ của Lầu năm góc, hay phiên bản của chính phủ của mánh dử mồi và nâng giá. Món hời lớn thường trở thành con cá bơn ươn đắt đỏ.

Mánh khoé chia bánh là chiến thuật ban phát các hợp đồng hay chia chác các hợp đồng cho các địa bàn bầu cử của các ông nghị quốc hội bằng cách làm cho những người có quyền bỏ phiếu và những người giữ các chức vụ trong quốc hội bị lệ thuộc vào những món tiền quân sự, để rồi quan chức của Lầu năm góc gây áp lực lên các ông nghị này để được tiếp tục rót tiền cho những chương trình bị kê giá thấp thậm chí sau khi giá trị thực sự của chúng đã trở thành rõ ràng.

Kê giá thấp và mánh chia bánh tạo ra một vài đặc điểm tiêu biểu trong những món vũ khí mà Lầu năm góc mua sắm để cất vào kho. Chúng liên tục làm cho vũ khí tăng giá đến mức đắt đỏ vô lối và thường làm món vũ khí đó phức tạp rối rắm đến mức không thể dùng được. Chúng cũng có xu hướng hay đến từ việc cung cấp các phụ tùng thay thế và đạn dược một cách không thích đáng, một khi không đủ tiền để mua sắm một số lượng mà được cho là cần thiết. Chúng cũng làm cho những vũ khí cũ nát được sửa chữa và đưa vào phục vụ lâu hơn là tuổi bền hay là mong muốn. Ví dụ máy bay ném bom B-52 phục vụ từ năm 1955 cho đến giờ vẫn còn hoạt động.

Mặc dù việc tăng cường huấn luyện có vẻ là một hệ quả cần thiết vì sự phức tạp rắc rối của những món vũ khí như vậy, cái giá cao quá đáng lại làm giảm thời gian huấn luyện cho phi công và những binh lính khác. Về lâu dài thì những thủ đoạn như thế và sự thiếu hụt khi thương vong của binh lính tăng lên, sớm hay muộn chiến trận hay chiến tranh có thể lâm vào thất bại.

Ví dụ: máy bay tàng hình B-2 của Northrop-Grumman chứng tỏ hoàn toàn vô dụng. Nó quá tinh vi phức tạp để có thể triển khai trong những vùng khí hậu khắc nghiệt mà không có những hangar máy lạnh được xây cất từ trước để bảo vệ với những phí tổn rất lố bịch, nó không thể thực hiện bất cứ nhiệm vụ nào mà các món vũ khí thiết kế cũ không thực hiện trọn vẹn, vậy thì cần cái mới đắt giá để làm gì và cái giá 44.75 tỉ đô la 21 chiếc là nguồn lực vô ích trong bối cảnh chiến trận thực sự.

Thay vào đó, trong khía cạnh quân sự, chiếc máy bay thành công một cách không mong đợi kể từ sau CT Việt nam lại là chiếc A-10 Fairchild, một cái tên không hề bợ đỡ của chú lợn lòi châu Phi - Warthog. Đó là chiếc máy bay hỗ trợ tầm gần (CAS) duy nhất được phát triển cho USAF. Nó bay tha thẩn trên trận tuyến và hỗ trợ mặt đất tiêu diệt những ổ kháng cự ngoan cố hay những mục tiêu mạnh. Nhưng nó lại không phải là một cái gì đó gây hứng thú cho lũ người USAF mắc bệnh tâm thần vị kỷ.
 
Có khoảng 715 chiếc A-10 đã chế tạo và nó đã phục vụ rất hiệu quả trong chiến tranh vùng vịnh I. Cả 715 chiếc có giá cộng lại rẻ hơn 3 chiếc ném bom B-2. Giờ thì A-10 đã bị dừng chế tạo bởi không lực đã chính thức chuộng máy bay nhanh bay trên tiền duyên ở độ cao lớn hơn là chiếc máy bay hữu dụng trên trận tiền. Tại Afghan, không lực đã thường xuyên gây ra những tổn thất lớn cho thường dân vô tội mà ít nhất là một phần bởi những kiểu tấn công mặt đất từ trên không bằng những thiết bị công nghệ cao không thích hợp.
 
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Hai, 2009, 05:36:49 am gửi bởi SSX » Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #72 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 03:03:16 am »

Bóng ma khủng hoảng ở Lầu năm góc


Dùng F-22 đánh F-16

Các tổ hợp công nghiệp quốc phòng ngày này quá liều lĩnh trơ tráo tin tưởng vào kỹ năng của trò chơi hệ thống mà nó chẳng hề do dự công khai bao nhiêu nhân công trong lĩnh vực này sẽ bị mất việc làm nếu những dự án đặc biệt bị đình chỉ. Cũng tạo ra các nguy cơ – nó rất hiệu quả - từ chối đóng góp chính trị cho các ông nghị quốc hội không hợp tác bởi đã có thủ đoạn chia bánh kể trên.

Cũng như Spinney đã nhắc lại, “Trong năm 1989, khi một số thành viên quốc hội bắt đầu xây dựng liên minh với mục đích dừng chiếc B-2, Northrop là nhà thầu chính của nó đã trả đũa bằng cách công bố dữ liệu cho thấy hàng chục ngàn việc làm, hàng trăm triệu lợi nhuận có nguy cơ bị mất trong 46 bang và 383 khu vực bầu cử.”

Nam California là nơi có lượng nhân công lớn nhất của Boeing và Northrop-Grumman. Họ nói đang thuê mướn hơn 58 ngàn nhân công với mức lương cao, một cản trở chính trị chủ yếu để hợp lý hoá chi tiêu quốc phòng ngay cả khi giảm phát đang đến nhưng không thể tránh được.

Thế cho nên kê giá thấp và mánh khoé chia bánh vẫn sống khoẻ cho đến tận năm nay 2009. Chúng, trên thực tế giờ là trung tâm của những cuộc tranh cãi dữ dội xung quanh những năm tồn tại những phi đội máy bay cực kỳ to lớn, hầu hết là những năm 1980. Trong khi giá của hai con ngựa chiến kế nghiệp F-16 là F-22 và F-35 đã tăng quá cao đến mức chính phủ không thể nào đặt mua chúng nhiều được như kẻ tiền nhiệm.

F-16 có chuyến bay đầu tiên năm 1976 với tổng số 4400 chiếc đã được chế tạo. Chúng cũng đã được bán hay trao tặng trên khắp thế giới. Dự án F-22 được khởi động năm 1986 khi vẫn còn chiến tranh lạnh, và USAF đã thổi phồng nỗi lo sợ rằng siêu cường khác, Liên xô đang chế tạo máy bay chiến đấu siêu thanh mới cực nhanh và cơ động.

Trong thời gian ra mắt bản mẫu F-22, ngày 11/5/1997, thì chiến tranh lạnh đã chết được gần 10 năm, và rõ ràng cái máy bay Xô viết kia để mà F-22 so kè đã chẳng bao giờ được chế tạo. Lockheed Martin, nhà thầu chính của F-22 lại ra sức thuyết phục rằng người Mỹ cần F-22 theo cách khác và lập kế hoạch bán 438 chiếc tổng trị giá 70 tỉ USD. Vào giữa năm 2008, 183 chiếc F-22 đã được đặt hàng, 122 chiếc đã được giao cho USAF. Số  lượng giảm thì giá tăng lên cao. Họ vẫn còn muốn mua thêm 198 chiếc khác, nhưng ông tổng trưởng Gates và các trợ tá của ông đã ngăn cản. Chẳng ngạc nhiên. Theo chuyên gia quân sự Bill Hartung và Christopher Preble, với cái giá hơn 350 triệu mỗi chiếc, F-22 trở thành chiếc chiến đấu cơ đắt đỏ nhất từng được chế tạo.

F-22 có một số đặc điểm đắt đỏ nổi bật mà thực sự hạn chế khả năng của nó. Đó là nó được cho là máy bay tàng hình – là máy bay có hình dạng và vật liệu làm giảm sự phát hiện của ra đa – nhưng chẳng có cái máy bay nào hoàn toàn thực sự không bị tất cả ra đa phát hiện. Trong trường hợp F-22 phải bật ra đa điều khiển bắn của nó lên, như thường xuyên phải làm trong chiến trận, nó trở thành chẳng tàng hình gì cả trong mắt kẻ thù.

Nếu như F-22 có thể bay ở trần bay rất cao, nhưng đó là một giá trị hạn chế khi mà chẳng có cái máy bay nào khác trên thế giới bay cao như vậy để mà giao chiến ở độ cao như thế. Nó có thể bay hành trình M2 mà không cần afterburner, nhưng không có kẻ đối địch tiềm tàng để phù hợp cho khả năng này. Chiếc F-22 không thích hợp để lấp đầy khoảng trống cho “chiến tranh thế hệ 4” như chiến tranh với Taliban ở Afghanistan -  những xung đột mà các chiến lược gia Mỹ trong lầu năm và toàn thể người Mỹ phải chuẩn bị.
 
Thực sự, Mỹ đã không sẵn sàng đón nhận chiến tranh thế hệ 4 một chút nào khi mà cái F-22 được đưa vào phi đội. Các nước khác thường nhìn nhận các cuộc chiến tranh như thế là không thể thắng nổi, như lịch sử Afghanistan, là “mồ chôn của các đế chế” kể từ thời Alexander đại đế đã minh chứng điều này quá rõ. Thật không may, TT Obama lại có cách tiếp cận của CQ Bush về cuộc chiến Afghan, kế thừa vết rạn nứt sâu sắc và sẽ chỉ dối lừa chúng ta trong một sa lầy khác.

Dù thế nào thì F-22 vẫn cứ được đôn lên như là máy bay đáng được mua nhất hoàn toàn qua thủ đoạn kê giá thấp và mánh chia bánh. Một số nhân vật biện hộ cho USAF còn lập luận rằng chúng ta cần F-22 để thay thế F-16. Lý lẽ của họ như thế này: Chúng ta đã bán bao nhiêu là F-16 cho các đồng minh và các khách hàng thế giới thứ 3 thì những nước này có thể lợi dụng ưu thế F-16 của chúng ta để chống lại chính chúng ta. Vậy chúng ta cần F-22 để chống lại F-16. Một số nước như Israel hoàn toàn trang bị bằng F-16 và phi công của họ thực sự được huấn luyện và bay nhiều giờ hơn phi công chúng ta.

Điều này tuy giống như một nguyên cớ tầm thường để cần mua thêm F-22. Thì người Mỹ thay vào đó đơn giản là chẳng nên can dự vào chiến tranh với các cựu đồng minh mà họ đã trang bị, đó cũng là lý do tại sao quốc hội lại ngăn cấm Lockheed bán F-22 ra nước ngoài. Một số nhà chỉ trích Lầu năm góc lập luận rằng USAF và các nhà thầu đã vận động hành lang để bán máy bay ra nước ngoài bởi vì như thế sẽ phát sinh ra yêu cầu giả tạo để trang bị thêm vũ khí trong nước mà như thế sẽ tốt hơn là bán chúng đi đâu đó.

Nhờ mánh chia bánh mà F-22 có các bộ phận được cung cấp từ 44 bang, và hơn 25000 nhân công được trả lương cao để chế tạo chúng. Lockheed Martin và một số bộ phận ở Lầu năm góc bởi vậy còn đề xuất rằng, nếu dừng F-22, thì phải cho F-35 thay thế, nó cũng là của Lockheed.
 
Các nhà quan sát nghiêm chỉnh nhất tin rằng điều đó chỉ làm cho tình cảnh càng tồi tệ thêm. Chuck Spinney đã viết còn trước cả khi F-35 thành hình hài, “càng đắt giá càng lắm rối loạn phá sản” hơn F-22, “mặc dù nó có nét đặc biệt hơn là F-22 không thể có để chứng tỏ, tên tuổi của F-35 đã được thêu dệt để đáp ứng cùng một mối nguy hoạ rằng….sự ngưng trệ chỉ tồn tại ít nhất 3 năm trước khi chương trình F-35 bắt đầu vào năm 1994.”
 
F-35 được cho là còn phức tạp hơn F-22, cũng có nghĩa là không nghi ngờ gì nó cũng sẽ đắt đỏ hơn để sửa chữa và sẽ dễ dàng bị hỏng hóc hơn. Giá mỗi chiếc F-35 đã được bảo đảm để tiếp tục vòng xoáy đi lên. Thiết kế F-22 bao gồm 4 triệu dòng mã lệnh máy tính, F-35 19 triệu dòng. Lầu năm góc bán F-35 cho quốc hội năm 1998 với lời hứa giá mỗi chiếc 184 triệu USD. Năm 2008, giá của nó đã tăng đến 355 triệu cũng như F-22 và đã chậm tiến độ 2 năm.
   
Theo ông Pierre M. Sprey, người đỡ đầu cho F-16 và ông Winslow T. Wheeler, cựu quan chức hội đồng anh ninh của quốc hội, nói F-35 quá nặng, quá yếu và “kém cơ động hơn cả cỗ máy yếu kém kinh hoàng F-105 ‘vừa dùng vừa sửa’ mà đã bị xoá sổ trên bầu trời Việt nam trong cuộc chiến tranh Đông nam á.” Nhà chế tạo tuyên bố rằng nó sẽ là máy bay ném bom cũng như chiến đấu, nhưng nó chỉ tải được 2000 pounds bom, quá ít không thể nào so sánh được với bất cứ máy bay Mỹ nào đã dùng ở Việt nam. Mặc dù USAF tán tụng nó là tính năng tàng hình, nó sẽ mất tính năng đó ngay khi treo bom dưới cánh.

Nó cũng chẳng thể dùng cho nhiệm vụ CAS bởi khi đó nó bay quá nhanh để phi công có thể nhắm vào các mục tiêu chiến thuật. Nó quá mỏng manh và tiềm tàng cháy nổ để có thể chịu đựng đạn bắn lên từ mặt đất. Nếu chế tạo nó sẽ kết thúc như là một hợp đồng quốc phòng đắt đỏ nhất trong lịch sử mà không thể để lại gì để thay thế cho bất cứ máy bay chiến đấu hay ném bom nào hiện đang sử dụng.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Hai, 2009, 04:26:02 am gửi bởi SSX » Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #73 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 03:04:38 am »

Bóng ma khủng hoảng ở Lầu năm góc


Nhóm Chiến binh Mafia


Mỗi cơ cấu trong quân đội Mỹ đang phải chịu đựng cùng một tình cảnh “những trò chơi quyền lực quốc phòng”. Ví dụ, tàu ngầm tấn công mới lớp Virginia cũng đắt đỏ và không thật cần thiết. Tờ New York Times đã viết một bài xã luận “chương trình kín tiếng này là để cho Newport News, Va., và Groton, Conn., mấy cái xưởng đóng tàu còn sống.”

Tuy nhiên nên tập trung vào USAF bởi sự sụp đổ của việc kiểm soát nội bộ trong việc mua sắm là rõ ràng nhất cũng như nhanh nhất. Đó là bởi USAF có một lịch sử xung đột đã lâu dài với những quyết sách dễ dãi mà hiện tại đang được ông tổng trưởng Gates gọi là đáng biểu dương trong sự ganh đua với các lực lượng khác. Điểm để ông Gates khởi đầu tấn công vào thói quan liêu lại là, rất ngược đời, một trong số ít sự phát triển lạc quan của các chính sách Lầu năm góc trong những năm gần đây.
 
Ngày 21/4/2008, ông Gates gây ra một cơn bão tranh luận khi có bài phát biểu trước các quan chức hội đồng chiến tranh tại căn cứ không quân Maxwell bang Alabama. Trong đó ông chọn ra để khen ngợi và biểu dương các tướng tá USAF, những người đã truyền cảm hứng sáng tạo có ích trong suốt 2 thế hệ qua, trong khi tổ chức cũng như đội ngũ già nua - những người đã nhìn ông như mối đe doạ công khai đến địa vị của họ lại thực sự coi thường việc đó.

Đại tá John Boyd (1927-1997) là một nhà chiến lược quân sự quan trọng, ông là một phi công chiến đấu đặc biệt có tài trong cả chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam, ông đã có 6 năm làm giáo viên trưởng tại một trường đào tạo phi công tại căn cứ không quân Nellis ở Las Vegas. “Boyd 40 giây” đã trở thành biểu tượng cho USAF bởi ông dám đứng lên tuyên bố rằng ông sẽ đánh bại bất cứ phi công nào dù là nước ngoài hay trong nước, trong một trận đấu mô phỏng trong vòng 40 giây, ông chưa bao giờ thua cuộc dù vẫn liên tục bị thách đấu.
 
Ông Gates phát biểu:

“Kỷ nguyên mới tiếp tục mở ra trước chúng ta, thách thức tôi đặt ra cho quí vị hôm nay là để trở thành quan chức có tư tưởng tiến bộ phụng sự cho USAF thích ứng với môi trường chiến lược thường xuyên thay đổi biểu thị bởi xung đột hiện tại.”

“Để tôi minh hoạ bằng cách sử dụng một ví dụ lịch sử: Cựu đại tá John Boyd. Khi là người chỉ huy 30 tuổi, ông đã viết lại cuốn hướng dẫn không chiến. Ông Boyd và các nhà cải cách mà ông đã truyền cảm hứng sau đó đã thiết kế và ủng hộ cho F-16 và A-10. Sau khi nghỉ hưu, ông đã phát triển phần lớn các mưu lược chiến tranh mà đã được cựu chỉ huy marine (tướng Charles C. Krulak) và tổng trưởng (Dick Cheney) công nhận trong hào quang chiến thắng của chiến tranh vùng vịnh I…”


“Trong tất cả các thành tích mà ông Boyd đã đạt được – là sự lỗi lạc, sự kỳ dị và sự ngoan cường – đã chiến thắng biện pháp chống đối quan liêu và sự thù địch có tổ chức. Ông đã để lại một số lời khuyên mà đã từng giúp đồng nghiệp cùng thuộc cấp và đáng giá để chia sẻ với quí vị. Ông Boyd đã từng nói và tôi dẫn lại: ‘Một ngày kia anh bạn gặp ngã 3 đường và phải quyết định muốn đi theo hướng nào. Nếu anh bạn đi theo một hướng thì có thể sẽ là người khác. Anh bạn sẽ phải thoả hiệp và sẽ phải quay lưng lại với bạn bè. Nhưng anh bạn sẽ là thành viên một câu lạc bộ và sẽ được thăng tiến và sẽ được phân công việc dễ chịu. Hay anh bạn có thể đi con đường khác và có thể làm một số việc - một số việc cho đất nước của anh bạn và cho không quân của anh bạn và cho chính anh bạn. Nếu anh bạn quyết định làm một điều gì đó có thể sẽ chẳng được thăng tiến, chẳng được nhận việc dễ chịu và anh bạn có lẽ sẽ chẳng được cấp trên ưa thích. Nhưng anh bạn không phải tự thoả hiệp với mình. Để trở thành một kẻ nào đó hay phải làm điều gì đó. Trong cuộc đời thường có điểm nhấn. Mà mỗi khi anh bạn phải đưa ra lựa chọn. Là gì hoặc làm gì’… Chúng ta phải chú ý đến lời khuyên của ông Boyd bằng cách hỏi nếu như những cách mà chúng ta thực hiện là không ngoan.”

Nhiều tài năng của ông Boyd đã được ghi nhận: phi công chiến đấu thay đổi nghệ thuật chiến tranh. Không cần phải nói lại chỗ này. Dù vậy tinh thần Boyd và “những nhà cải cách mà ông truyền cảm hứng” đã bị một nhóm bên trong sở chỉ huy USAF gọi là “Chiến binh Mafia/Fighter Mafia”. Tuy vậy nhóm của ông Boyd đã bắt đầu tiến hành phong trào cải tổ quốc phòng những năm 1980-1990. Mục tiêu của họ là ngăn chặn việc mua sắm những tổ hợp vũ khí đắt đỏ và không cần thiết, mà chúng làm cho USAF trở thành trầm trọng trước cái ý tưởng chiến tranh thế hệ 4, kết liễu sự tin cậy của USAF trong một chiến lược mòn mỏi, và vạch trần phê phán những quan chức tham lam danh vọng tầm thường.

Trừ khi ông Gates thành công trong việc làm cho điều đó sống lại, sự ảnh hưởng yếu ớt của họ trong Lầu năm góc ngày nay đã trở nên phai nhạt. Người ta chờ đợi ở các vị lãnh đạo mới trong CQ Obama tìm kiếm con đường để đưa USAF và phần còn lại của quân đội Mỹ đến chỗ phát triển.   

Bất chấp việc ông Gates biểu dương ông Boyd, người ta không hề đánh giá thấp những trở lực ghê gớm trong việc cải tổ Lầu năm góc. 3/4 của thế kỷ trước, năm 1982, nhà báo James Fallows đã chỉ ra cấu trúc trở lực nghiêm trọng nhất đối với bất kỳ một sự cải tổ thực sự nào trong 1 cuốn sách đã được tặng giải thưởng National Defense. Cuốn sách cũng đã có ảnh hưởng đến mức ít nhất 1 nhà bình luận đã thêm tên của ông Fallows vào trong nhóm thành viên “chiến binh Mafia” không-Lầu năm góc.

Ông Fallows quan sát thấy như sau (trg. 64-65 của sách này):

“Văn hoá sở hữu dạy các quan chức rằng có 2 cách để tồn tại một cách cá nhân. Một là thành công trong nghề nghiệp như là một nhà quản trị chương trình nhiều bổng lộc. Quản lý mua sắm là có rất nhiều kiểu để thăng tiến trong quân đội…”

“Cách khác để kiếm chác là làm lãnh đạo ngoài quân đội, trong các công ty có hợp đồng. Biết là có đầy các sĩ quan chuyên nghiệp tuổi trên 40 hàng ngũ thiếu tá giữ tai mắt nghe ngóng cơ hội đổi đời, và có rất nhiều vị đã rời quân ngũ và đầu quân cho các nhà thầu: Martin Marietta, Northrop, Lockheed… hay các hãng tư vấn và môi giới, và họ có văn phòng trong các toà nhà cao chọc trời ở Rosslyn, Virginia, bên kia con sông từ thủ phủ. Năm 1959, thượng nghị sĩ Paul Douglas nói rằng có 768 quan chức cấp cao (tướng, đô đốc, đại tá, thuyền trưởng) làm việc cho các nhà thầu. 10 năm sau thượng nghị sĩ William Proxmire nói con số này đã tăng lên 2072.”


Hầu như 30 năm sau khi những lời đó được nói ra, tình cảnh đã trở nên tệ hại hơn rất nhiều. Cho đến khi người Mỹ quyết định (hay bị bắt buộc) phải phá huỷ cái đế chế của họ, tống khứ hết 761 căn cứ quân sự ở nước ngoài, bắt quân đội chi tiêu hợp lý với phần còn lại của thế giới, thì người Mỹ đang đi đến chỗ sụp đổ mang tên phòng thủ quốc gia. Tại thời điểm này người Mỹ đang đi trên con đường tiến tới chỗ đó, điều đó giải thích tại sao CQ Obama sẽ phải đối mặt với cơn nguy kịch này – và rất khó khăn - để mà quyết định khi nó đụng chạm đến bầu sữa của Lầu năm góc.

Chalmers Johnson là tác giả của 3 cuốn sách nói về cơn khủng hoảng của tư bản quân phiệt Mỹ. Đó là: They are Blowback (2000), The Sorrows of Empire (2004), và Nemesis: The Last Days of the American Republic (2006).

tham khảo:
http://www.truthout.org/020309L
http://www.lewrockwell.com/engelhardt/engelhardt373.html
http://aep.typepad.com/american_empire_project/2009/02/the-looming-crisis-at-the-pentagon.html
http://pulsemedia.org/2009/02/03/the-looming-crisis-at-the-pentagon/
http://www.tomdispatch.com/post/175029
http://www.commondreams.org/view/2009/02/03-1

« Sửa lần cuối: 07 Tháng Hai, 2009, 09:13:31 am gửi bởi SSX » Logged
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #74 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 11:56:43 am »

Đang từ F-22 Kền-kền, các đồng chí lại nhảy sang các chủ đề khác để không chiến Grin Trận không chiến thiếu AWACS của bên công và GEW/GCI của bên thủ khiến các chuyên gia nhiệt tình và kiến thức đầy mình cũng bị lạc lối. Rất dễ bắn nhầm!!!

Bài dưới là GEW/GCI nhưng bàn về AWACS. Mong rằng chủ topic hay chủ box tìm thấy một đường dẫn thích hợp sau bài này:

-   Máy bay AWACS như bác Bí-bếp muốn nhắc tới là chiếc E-3 Sentry trang bị năm 1977 khi Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt. Tuy nhiên, chức năng kiểm soát và cảnh giới trên không đã được Mỹ sử dụng trước đó trong Chiến tranh Việt Nam với các loại máy bay EC-121 của Không quân và E-2 của hải quân, cùng các trạm định vị và dẫn đường mặt đất (TACAN - Tactical Air Control And Navigation).

-   Cả EC-121 và E-2 đều có chức năng cơ bản là cảnh giới trên không (Airborne Early Warning) ngoài đội hình và một phần hạn chế của chức năng kiểm soát dẫn đường trên không (Airborne Navigation Control). Các máy bay EC-121 của Không quân bay trên các cung Alpha và Bravo (Vịnh Bắc Bộ), cung Charlie (bắc trung Lào) và cung Delta (Vịnh Thái Lan), cung cấp chức năng AWACS cho các máy bay tham chiến của Không quân, Hải quân, Lính thuỷ đánh bộ và Lục quân Mỹ trên toàn chiến trường Đông Dương, đồng thời cho cả các phi vụ bắn phá bắc tiến của KQ Sài Gòn. Loại máy bay E-2 chỉ cung cấp chức năng AWACS cho các đội hình bắn phá của cường kích hải quân trong các phi vụ cụ thể. Để hỗ trợ cho chức năng kiểm soát trên không chưa hoàn thiện của cả EC-121 và E-2, KQ Mỹ còn có các trạm định vị và dẫn đường mặt đất TACAN bố trí ở Lào và Thái Lan.

-   Như vậy, các máy bay cảnh giới trên không EC-121 và E-2 là cấu thành của AWACS đã được Mỹ dùng trong Chiến tranh Việt Nam. Có điều, bản thân các máy bay EC-121 và E-2 không phải là một AWACS hoàn chỉnh và đồng bộ như máy bay E-3 AWACS sau này. Thế nên, nói loại tiêm kích F-4 được máy bay dạng AWACS cảnh báo và chỉ điểm nơi có Mig xuất hiện thì đúng, nhưng dẫn đường để đánh được Mig thì chưa hoàn toàn đúng.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #75 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 12:09:59 pm »

Bác Phuc, bác SSX, bác Buff ... nhảy vào rồi ! Không biết bác chai_nắng ở đâu?
Hấp dẫn đây. Smiley

« Sửa lần cuối: 08 Tháng Hai, 2009, 12:59:13 pm gửi bởi tuaans » Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #76 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 12:36:38 pm »

DOUGLAS EB-66: Effective Electronic Countermeasures (ECM) and Electronic Intelligence (ELINT).

EB-66B và EB-66E dùng chủ yếu để đối kháng điện tử ECM bằng năng lượng cao và trộn được để làm nghẽn tần số chọn. Chế độ thu thập điện tử ELINT, the EB-66C có thể nghe lén tín hiệu điện tử đối phương sau đó Jam chọn tần số. Bản C có thể xác định được Mig, phân biệt địch ta, nhận biết tín hiệu ra đa của tên lửa SAM cung cấp cảnh báo sớm về Mig và Sam.

Năm 1967, F-105 được trang bị bộ Jam pod QRC-160, EB-66x tập trung vào nhiệm vụ cảnh báo sớm và kiểm soát việc ngăn chặn ra đa mặt đất. Chúng thường bay thành bộ 2 chiếc EB-66B và 1 chiếc EB-66C, 1 nhóm 3 bộ 9 chiếc như thế dùng để yểm hộ các cuộc tấn công.
 
Chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh điện tử đầu tiên trên thế giới. Lượm nhặt mấy dòng về máy bay EB-66 trên mạng đây. Đúng là chỉ chưa có dẫn bắn từ AWACS thôi. Cũng dễ hiểu tại sao ta lại bắn tên lửa từ tầm gần đến vậy. Bắn xa nó Jam thì trượt hết. Cũng không hẳn ra đa Mig yếu kém mà là bị nó Jam nhiễu chằng nhiễu chịt chỉ có thể phát hiệt địch ở tầm gần. Chấm dứt tranh cãi việc này được rồi.


Logged
cob_hc
Thành viên
*
Bài viết: 67


« Trả lời #77 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 02:08:55 pm »

SSX:

Bí Bếp không đọc hoặc hiểu tiếng Nga nên cái link đó Bí Bếp đành chịu "bù trất"!  Grin

Tiền thân của các loại phi cơ rà soát không lưu thể AWACS là mí ẻm EC-121 mà cả hải & không quân Mỹ đã dùng. Dĩ nhiên, EC-121 chỉ đảm nhiệm một số lãnh vực rà soát không lưu và do thám các tín hiệu điện tử và truyền tin nhưng không bằng hiệu năng của các thể phi cơ AWACS sau nầy đâu.  Mỹ có bán một số phi cơ do thám (Ưng Nhãn ... Hawkeyes) cho Do Thái và một số quân đội đồng minh khác, tuy nhiên hiệu năng vẫn không bằng AWACS.

lạc đề rồi bác , đâu ai cãi bác chuyện sức mạnh của tụi AWACS đâu, bác có công nhận là thời choảng nhau với Việt Nam mĩ đã có 1 cái hệ thống tương tự nhưng chưa được gọi tên là AWACS chưa Huh?
Logged
K-63
Thành viên
*
Bài viết: 13


« Trả lời #78 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 02:12:12 pm »

ô thế cái mig 21 của ống PHÚC tốt thế ,hay thế ,sao người ta không không chế tạo cho thật nhiều để bán khắp thế giới để lấy tiền ,mà còn tốn công tốn của ngâm kíu các loại khác để làm gí ?,và nhiều nước người ta cho nấu đồng nát rồi ,chỉ có ông là còn say xưa dĩ vãng đó ông phúc ,cười vãi ...
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #79 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2009, 02:19:10 pm »

ô thế cái mig 21 của ống PHÚC tốt thế ,hay thế ,sao người ta không không chế tạo cho thật nhiều để bán khắp thế giới để lấy tiền ,mà còn tốn công tốn của ngâm kíu các loại khác để làm gí ?,và nhiều nước người ta cho nấu đồng nát rồi ,chỉ có ông là còn say xưa dĩ vãng đó ông phúc ,cười vãi ...

À, những cái não liệt nói bao giờ cũng hay. Người ngớ ngẩn luôn luôn dễ thương.
Cái người ta chế tạo thật nhiều là F-16, phiên bản thử nghiệm MiG-21 mang tên Ye-8 được hiện đại hoá thành F-16. Ye-8 có hai kiểu điều khiển khí động, nó có bào khí trước nhưng tháo ra được. Kiểu J-10, tiến bộ giống với Lavi mang trở lại cái bào khí trước này. MiG-21 tiến trước quá lâu đến mức con cháu quên cả cha ông chúng.

Chân lý: không bao giờ tẩy hết được bọn bị tẩy não.
Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM