Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Mười Một, 2026, 09:23:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: F-22 RAPTOR  (Đọc 90139 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #110 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2009, 05:55:34 am »

Hãy đề phòng JSF, trò bịp bợm tầm cỡ thế kỷ
Theo TG Hans Vogel – Pravda.ru

Đôi khi có vẻ như, số phận của toàn bộ các quốc gia lại gắn bó mật thiết với những thứ thật đặc biệt. Máy bay chiến đấu JSF-Joint Strike Fighter được ca ngợi hết mức đúng là một cái như thế. Khi dự án này lần đầu tiên được khởi động, sự quả quyết chỉ làm một số bộ lông mày nhướn lên ngạc nhiên. Tuy nhiên ngày nay, JSF đang trải qua cuộc khủng hoảng sâu sắc cũng như nước Mỹ. Sự phát triển của nó dường như cũng “lên voi xuống chó” như quốc gia đã tung hô nó.

Đầu tiên, nó được tung hô như một máy bay chiến đấu đỉnh cao, vượt trội trên tất cả các phương diện trên tất cả những cái gì biết bay trước nó, JSF được cho là sẽ đảm đương mọi thứ cần phải làm: đánh chặn, oanh tạc, ném bom, trinh sát, tuần tra, tóm lại là mọi nhiệm vụ có thể tưởng tượng ra. Nó sẽ làm tất cả mọi thứ và đánh bại mọi đối thủ cạnh tranh. JSF được cho là như một siêu nhân. Đỉnh cao của nó là công nghệ tàng hình mà phòng không đối phương không thể nhìn thấy. Cần phải nói, ở Mỹ chẳng có mấy ai lấy làm ngạc nhiên về điều này, kể từ khi rất lâu trước đó, trẻ em Mỹ được nhồi nhét ý tưởng rằng đất nước của họ là vô địch. Ở đây, sau đó, là chiếc máy bay hiện thực hóa mọi thứ mà nước Mỹ tự cho là cần phải có. Cần phải nói là, nó như là thứ chắp cánh cho nước Mỹ, thực hiện rất nhiều ước mơ, kể từ khi người Mỹ có vẻ như cho rằng không lực là đức Chúa trời. Tôi phải đóng vai là nhà thần học, sử học và nhân loại học sử để bỏ công nghiên cứu cái chủ đề này.

Bắt đầu từ đầu những năm 1990, để thay thế một số máy bay không còn dùng nữa ở Mỹ và không quân các nước, chương trình JSF đã dựng lên để chế tạo một cái máy bay mà nó có thể đóng vai trò làm mọi thứ của đối thủ trở nên vô dụng và không thể bảo vệ. Liệu có phải quyển sách của ông Fukuyama nhan đề "Sự kết thúc của Lịch Sử" đã truyền cảm hứng cho đội ngũ lập chương trình JSF? Quả thực, thời kỳ đầu những năm 1990, chủ nghĩa lạc quan đã quá cao trào để cho rằng không có gì thực sự là quá khó đến nỗi phi thực tế, không thể vươn tới được. Có vẻ như Mỹ cuối cùng đã có được sự bảo đảm lâu dài cái vị trí đáng thèm khát làm siêu cường độc nhất trên thế giới. Cái vòng tròn đã khép lại, lịch sử đã kết thúc, chương trình JSF đã được khởi động. Năm 2001, Lockheed-Martin được công bố là người thắng cuộc, đánh bại nhà thiết kế Boeing.
Logged
SSX
Thành viên
*
Bài viết: 654


« Trả lời #111 vào lúc: 01 Tháng Năm, 2009, 11:59:15 am »

Hãy đề phòng JSF, trò bịp bợm tầm cỡ thế kỷ

Ngay sau khi Lockheed-Martin nhận thầu, bắt đầu cuộc tấn công gây chiến của một chương quảng cáo khổng lồ. Không gì tuyệt đối có thể tránh được khi người ta tán dương ca tụng  phẩm giá của cái máy bay phải được thiết kế, chế tạo và bay. Như đã xảy ra với cái máy bay Mỹ trước kia đã từng được cho là tốt nhất thế giới trong thời của nó, giờ cái máy bay mới được đưa ra chào mời các khách hàng của Mỹ. Anh, Israel, Italia, Hà lan, các nước bán đảo Scandinavia được mời, không chỉ để mua cái máy bay chưa hề tồn tại mà (với giá 45 triệu đô la mỗi chiếc), mà còn được mời tham gia vào phát triển nó từ giai đoạn đầu tiên. Có lẽ, ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ cuối cùng đã nhận ra rằng châu Âu có xu hướng năng động hơn các nhà nghiên cứu Mỹ, không những thế mỗi đồng đô la bỏ ra đầu tư nghiên cứu ở châu Âu luôn luôn thu lời cao hơn hẳn ở Mỹ.

Đúng vậy, chương trình JSF có vẻ đổ vỡ ngay từ đầu. Những mẫu đầu tiên chứng tỏ quá nặng (hơn 1 tấn so với tính toán) và thiết kế cần phải thay đổi một cách quyết liệt. Đã có vấn đề với động cơ, với hiệu suất hoạt động, với khả năng chiến đấu, tóm lại, JSF hầu như là bằng chứng sống của qui luật Murphy: mọi thứ có thể đi đến chỗ sai, thì sẽ đi đến chỗ sai.

Đúng vậy, mọi vấn đề nổi lên, các câu hỏi, các nghi ngờ, các nhận xét, bất cứ thứ gì, tất cả viết hay nói về JSF giống như phản đối, ngay từ đầu đã bị đội ngũ quảng cáo đồ sộ của JSF quét sạch khỏi công luận. Kết quả là, bất cứ ai nói về JSF dù chỉ hơi không đúng điệu JSF là bị xử lý có hệ thống giống như những người từ chối Holocaust.

Điều này đặc biệt đúng ở các khách hàng Mỹ được thuyết phục tham gia vào chương trình và đóng góp tài trợ chi phí: Anh (2 tỷ đô la), Ý (1 tỷ), Hà Lan (0,8 tỷ), Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Úc , Đan Mạch và Na Uy. Israel thì được phép tham gia miễn phải đóng góp, không nghi ngờ gì vì nước này được Mỹ bao cấp nặng nề bằng mọi giá và trả mọi chi phí đến rồ dại. Sự đóng góp tài chính của chư hầu Mỹ là nơi mà sự bịp bợm của cả dự án trở nên rõ ràng. Tại sao các nước này lại trả tiền để phát triển một hệ thống vũ khí mà được chính siêu cường tuyên bố sẽ bảo vệ họ an toàn hơn? Mỹ đã không đủ tiền để tự mình thực hiện điều đó? Nếu không, những gì là "sự bảo vệ" của Mỹ thực sự có giá trị? Do vậy, khi Mỹ bắt đầu đề nghị giúp đỡ tài trợ để hỗ trợ sự phát triển JSF, đã thực sự rõ ràng là sức mạnh của Mỹ đã bắt đầu suy thoái.

Yêu cầu tài trợ từ các chư hầu thực sự là lố bịch và xấu hổ. JSF đã được thiết kế để mà không thể dùng và hoạt động mà không có sự cho phép của Pentagon và công ty là chế tạo ra nó. Chương trình JSF đã thực sự vượt quá khả năng của các  nước ngoài tham gia khi mà giá ban đầu mỗi chiếc là 45 triệu đô la giữa chừng đã tăng đến 60 triệu. Những đồn đại dai dẳng giá của nó sẽ tăng lên đến 100 triệu trước khi chiếc đầu tiên được giao cho khách hàng. Tại sao một chương trình như vậy lại không thể giám sát chặt chẽ ngay từ đầu để nó trong giới hạn ngân sách ban đầu? Nếu điều đó đã chứng tỏ là không thể, thì có thể đặt bao nhiêu tin tưởng vào toan tính đỉnh cao vượt trội khả dĩ của JSF?

Đối với JSF đặc điểm tàng hình được tán dương ca tụng ghê gớm, giá trị quân sự thực sự của tàng hình đã đụng phải câu hỏi nghiêm trọng năm 1999, chiếc máy bay tàng hình siêu bí mật F-117 của Mỹ đã không thể che mắt ra đa phòng không Nam tư: một trong số những cái máy đắt đỏ thái quá đã bị bắn rơi trong trận mưa bom phá hoại trên đầu người dân Nam tư vô tội. Đó là tất cả những lý do khó chịu mà không được phép đề cập đến trong các cuộc tranh luận công khai đã bị kiểm soát về lực lượng không quân Mỹ như là một siêu nhân.

Tuy nhiên, gần đây có cảm giác dường có sự giảm sút trong đầu óc một số quả quyết phải mua hệ thống vũ khí Mỹ mới nhất. Israel đang cố gắng tự luồn lách thoát ra khỏi vụ JSF này và đồng minh Hà Lan đã bị chia rẽ bởi giá trị của JSF, họ quyết định chỉ mua 1 cái để dùng thử. Dù bây giờ JSF đã đổi tên thành “Tia chớp II/Lightning II" thì cũng chẳng làm nó trở thành nổi tiếng. Đến giờ, người ta đã nhận ra rằng, giống như các phim Holywood, bất cứ điều gì mang một số tước hiệu là chất lượng của nó nghèo nàn.

Có vẻ như Mỹ đang tự đem những kiên định vững vàng đến bờ vực thẳm, số phận JSF có thể được coi là sự phản ánh trung thực của nó. Không có gì ngạc nhiên nếu nó cũng cùng chung số phận với chiếc máy bay đáng kỳ lạ Argentina “Pulqui II” (đã có ai nghe về nó?). Pulqui II đã được cho là vượt trội so với tất cả những gì biết bay. Nhưng chẳng có gì nhiều hơn bản mẫu. Trước đó người ta cho rằng có thể chế tạo bao nhiêu cũng được, và rồi nó đã đụng phải cơn khủng hoảng kịch liệt, cả chương trình đành bỏ xó. Nếu như JSF cũng như nước Mỹ không phải chịu số phận như thế thì bây giờ nó cũng đang có vẻ giống thế. Và chắc rằng sẽ có khối kẻ vui mừng vì điều đó.
« Sửa lần cuối: 01 Tháng Năm, 2009, 11:55:10 pm gửi bởi SSX » Logged
Su_35
Thành viên
*
Bài viết: 29


« Trả lời #112 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2009, 07:08:35 pm »

Em nhớ hồi đó em xem phim Cũng Nhớ 1 chiếc vừa hao giống F16 vừa hao F-22 giữa Chiếc máy bay là động cơ giống máy bay Airbush bên hông máy bay có 2 cái ống thông nó có lợi ích là vừa lấy đà hoặc là tự nâng lên giống máy bay trực thăng cho em hỏi đó là chiếc nào em còn nghe diễn viên mà đang làm thống đốc 1 bang ở Mĩ nói là chó săn
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #113 vào lúc: 21 Tháng Chín, 2009, 07:17:12 pm »

Chiếc AV-8 Harrier II.
Logged
Mèo Sạch Thỉu
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #114 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2009, 08:16:07 am »

Nó sống vẫn khỏe và sắp có hàng loạt các em thế hệ 5 na ná ntn ra đời đấy thôi  Grin Grin Grin
Logged
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #115 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2009, 05:05:18 pm »

Hôm trước đang viết dở mấy bài về F-22 gửi bên ttvnol hiện vẫn lưu trong máy, nay OldBuff tạm đưa về mục này để tiếp mạch topic Wink
-----

Vì sao F-22 được thiết kế và trang bị? Tương lai của F-22 sẽ thế nào? Lời giải cho những câu hỏi này có thể tìm thấy khi xem xét sự vận động và phát triển của các học thuyết quân sự Mỹ.

Vai trò không quân trong Tác chiến Không-Bộ hợp thành/AirLand Battle và bước kế thừa trong Tác chiến mạng trung tâm Network-centric warfare:

Tác chiến không bộ hợp thành chủ yếu phục vụ học thuyết phòng thủ, nhưng mang tính chất phòng ngự phản công, được tạo ra để khắc chế Tác chiến chiều sâu/Deep operation của đối phương trên chiến trường Châu Âu. Nó thay thế nhưng không loại trừ việc sử dụng răn đe hạt nhân chiến thuật nếu bị đối phương tấn công xâm lược. Giai đoạn 1 phòng ngự, tác chiến không bộ hợp thành chú trọng phối hợp hoả lực lục quân và không quân để chặn đứng mũi đột kích phá tuyến của đối phương. Lục quân tinh nhuệ thường được bố trí thành các đơn vị điểm chốt/focal point cấp lữ đoàn lui phía sau chiến tuyến nhằm giảm dần, dẫn tới triệt tiêu xung lực đột kích của thê đội 1 hợp thành tăng thiết giáp của đối phương. Trong khi đó, không quân đảm nhiệm đánh phá chặt đứt liên hệ giữa thê đội 1 và thê đội 2 tiếp ứng kèm hậu cần/tiếp liệu của thê đội 1 của đối phương tại khắc địa/chokepoint. Giai đoạn 2 phản công, tác chiến không bộ hợp thành được thể hiện thành Phản công chia cắt chiều sâu/Deep battle đánh vào toàn bộ chiều sâu đội hình chiến dịch thê đội 1 và 2 của đối phương.

LX và khối Vác tan rã, đối tượng tác chiến chính của Tác chiến Không-Bộ hợp thành không còn, Mỹ và NATO tìm tòi học thuyết và chiến thuật tác chiến mới để đối phó với các quốc gia dân tộc chủ nghĩa hậu ColdWar. Kết quả của quá trình là học thuyết quân sự thiên về can dự và tấn công, đi kèm nó là chiến thuật Tác chiến mạng trung tâm/Network-centric warfare. Kiểu tác chiến này nói thì hoa mỹ, nhưng thực chất chỉ là một dạng “thế trận ỷ giốc thời đại công nghệ thông tin”, là bước phát triển của Không-Bộ hợp thành với yếu tố phối hợp/phân bổ thông tin tình báo-chỉ huy theo thời gian gần thực giữa tất cả các cấp đơn vị tác chiến độc lập, chuyển giai đoạn phản công thành tấn công tương ứng hoặc trước giai đoạn phòng ngự, và mở rộng không gian tác chiến chiến dịch theo cả chiều rộng chứ không chỉ chiều sâu.

Trong sự đổi thay học thuyết và chiến thuật giữa Tác chiến Không-Bộ hợp thành và Tác chiến mạng trung tâm là vai trò của không quân và số phận của máy bay tiêm kích F-22.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #116 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2009, 05:07:43 pm »

Bàn về vai trò của không quân và máy bay tiêm kích F-22 trong học thuyết quân sự hiện thời của Mỹ

Bài này xem xét:
(i) Liệu ném bom chiến lược/strategic bombing có bị KQ Mỹ đào thải sau WW2; (ii) Nhiệm vụ cơ bản của KQ Mỹ tác động thế nào tới yêu cầu thiết kế máy bay tiêm kích các thế hệ nói chung; (iii) Trường hợp F-117 và F-22


Trước khi hoàn toàn tách khỏi Lục quân Mỹ vào năm 1947, nhiệm vụ của KQ Mỹ là phòng không trận địa, hỗ trợ hoả lực tiền tuyến cho các hoạt động mặt đất của Lục quân và đặc biệt là ném bom chiến lược nhằm phá huỷ tiềm lực chiến tranh và ý chí tiến hành chiến tranh của đối phương. Trong khi phòng không trận địa và hỗ trợ hoả lực mặt đất mang dấu ấn tác chiến phụ thuộc với lực lượng chiến đấu mặt đất, thì ném bom chiến lược đánh dấu quá trình độc lập tác chiến chiến dịch đường không từ thực tới danh của Không quân Mỹ.

Sau khi trở thành một quân chủng độc lập, KQ Mỹ liệu có từ bỏ không kích chiến lược? Không hề! Trong quá trình tìm kiếm sự độc lập tác chiến một cách tương đối so với các quân binh chủng khác, KQ Mỹ vẫn tiếp tục cổ xuý và duy trì năng lực tác chiến chiến dịch không kích chiến lược và cho rằng chỉ cần không kích đối phương cũng giải quyết được mục tiêu chiến tranh hay xung đột. Các chiến dịch không kích chiến lược do KQ Mỹ tiến hành hoặc tham dự từ sau WW2 tới nay như Chiến dịch Sấm Rền/Operation Rolling Thunder (1965-1968), Chiến dịch Kẻ tiếp sức II/Operation Linebacker II (1972) trong Chiến tranh Việt Nam, Chiến dịch Sức mạnh kiềm chế/Operation Deliberate Force (1995) và Chiến dịch Sức mạnh tập thể/Operation Allied Force (1999) trong nội chiến Nam Tư minh hoạ rõ nét loại hình không kích chiến lược kiểu Mỹ. Thực tế, hiệu quả của không kích chiến lược có đạt như mong muốn của giới tướng lĩnh KQ Mỹ hay không lại là chuyện khác.

Tuỳ học thuyết quân sự từng thời kỳ mà tính chất nhiệm vụ tác chiến cụ thể của Không quân Mỹ lấy yếu tố độc lập hay phối thuộc làm chủ đạo. Tuy nhiên, dù là độc lập hay phối thuộc, Không quân Mỹ vẫn phải cùng các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ mang tính cơ bản là giành và giữ một bầu trời chiến trường thích hợp cho hoạt động chiến đấu của lực lượng không quân nói riêng, các lực lượng tác chiến hiệp đồng khác nói chung. Mức độ giành và giữ bầu trời phù hợp với tác chiến chiến dịch và chiến thuật được thể hiện ở các cấp độ: Làm chủ đường không/Air-supremacy, Ưu thế đường không/Air-superiority và Tương ứng đường không/Air-parity.

Air-supremacy là cấp độ kiểm soát bầu trời tuyệt đối, theo đó lực lượng không quân khống chế hoàn toàn không phận chiến trường và năng lực tác chiến của lực lượng không quân đối phương tại không phận chiến trường bị vô hiệu hoặc triệt tiêu tới mức không còn khả năng chống lại các chiến dịch trên không, trên bộ của lực lượng Mỹ và đồng minh. Mức độ Air-supremacy đạt được trên chiến trường còn tuỳ thuộc vào khu vực tác chiến. Khu vực từ chiến tuyến trở về: Air-supremacy dễ dàng đạt được nhờ sự kết hợp giữa máy bay làm nhiệm vụ tiêm kích phòng không và các tổ hợp tên lửa phòng không Lục quân. Khu vực từ chiến tuyến sang đất đối phương: Air-supremacy chỉ có thể đạt được nhờ tập kích đường không vào lực lượng không quân và phòng không đối phương nhằm vô hiệu các lực lượng này, rồi sau đó duy trì máy bay tuần phòng đối không và chế áp phòng không. Thực tiễn cho thấy muốn tạo và duy trì Air-supremacy trên không phận đối phương trong suốt thời gian chiến tranh/xung đột vũ trang là rất khó khả thi đối với không quân Mỹ.

Air-superiority là cấp độ kiểm soát bầu trời thấp hơn Air-supremacy, theo đó lực lượng không quân chiếm ưu thế trước các lực lượng phòng không-không quân đối phương trong tác chiến chiến dịch cụ thể tại không phận chiến trường liên quan, cho phép lực lượng không quân và các lực lượng tác chiến hiệp đồng tham gia chiến dịch khai thác ưu thế hoả lực dự kiến trước tác chiến ngăn chặn của lực lượng phòng không-không quân đối phương. Thực tiễn cho thấy KQ Mỹ thường đạt được cấp độ này nhờ ưu thế số lượng, kỹ thuật và tổ chức chỉ huy.

Air-parity là cấp độ kiểm soát bầu trời thấp nhất, theo đó lực lượng không quân các bên tham chiến có năng lực tác chiến ngang nhau trên không phận chiến trường, có thể ăn miếng trả miếng lẫn nhau hay gây thiệt hại cho lực lượng tác chiến hiệp thành của nhau. Ở cấp độ này, KQ phải vận dụng kết hợp nhiều chiến thuật khác nhau trước lực lượng đối phương nhằm tạo ưu thế đường không cục bộ/local air-superiority khi tiến hành các hoạt động cấp chiến thuật chiến dịch trên chiến trường. KQ Mỹ trước đây xác định cấp độ Air-parity phải luôn được duy trì trên chiến trường Trung Âu giữa NATO và Wacsaw.

Như vậy, trọng tâm nhiệm vụ mà KQ Mỹ muốn đạt được trong kiểm soát không phận chiến trường nếu không phải là kiểm soát toàn bộ (air-supremacy), thì cũng phải chiếm ưu thế cấp chiến dịch (air-superiority), hay chí ít cũng phải chuyển từ ngang cấp (air-parity) sang ưu thế cục bộ cấp chiến thuật chiến dịch (local air-superiority). Muốn đạt trọng tâm này, KQ Mỹ phải có các máy bay chiến thuật có đủ khả năng chống máy bay tiêm kích trên không của đối phương, lẫn máy bay có khả năng tấn công tập kích mặt đất nhằm vô hiệu căn cứ không quân và chế áp phòng không đối phương.

Ở máy bay thế hệ 2 và đầu thế hệ 3, kỹ thuật chưa cho phép phát triển dòng tiêm kích đa năng đa nhiệm nên KQ Mỹ phát triển riêng rẽ các máy bay tiêm kích đối không làm nhiệm vụ hộ tống/escort (F-100) và tuần phòng chiến đấu đối không/combat air patrol - CAP (F-4C), máy bay tiêm kích chế áp phòng không/suppression of enemy air defence - SEAD (bằng việc hoán cải máy bay tiêm kích đối không hay máy bay cường kích như F-100F từ tiêm kích F-100, EF-105 hay F-105G từ cường kích F-105, F-4E từ tiêm kích F-4C/D) và máy bay đột kích ngăn chặn/interdictor (F-111). Xu hướng tiêm kích đa năng đa nhiệm hạn chế bắt đầu xuất hiện từ máy bay tiêm kích cuối thế hệ 3 (3+) với sự kết hợp giữa đối không và SEAD ở loại F-4G, đồng thời kết hợp giữa SEAD và interdictor ở loại F-111D/F. Việc kết hợp CAP/SEAD nhằm chiếm ưu thế bầu trời trên không phận chiến trường chính là tiền đề xuất hiện dòng tiêm kích Air-superiority fighter thế hệ 4 sau này. Tương tự, việc kết hợp SEAD/Interdictor nhằm tăng khả năng không kích phẫu thuật mang tính ngăn chặn chiều sâu hệ thống phòng không/không quân đối phương chính là tiền đề xuất hiện dòng máy bay tiêm kích chế áp mặt đất/Strike fighter.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
OldBuff
Moderator
*
Bài viết: 3053


Vì nhân dân quên mình


« Trả lời #117 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2009, 05:10:21 pm »

Phần trước đã nêu, air-superiority là mục tiêu khả thi để giành và giữ ưu thế kiểm soát không phận chiến trường của KQ Mỹ, trong khi air-superiority fighter và strike fighter là phương tiện để KQ Mỹ thực hiện mục tiêu đó. Các phương tiện này chỉ thực sự xuất hiện từ máy bay tiêm kích thế hệ 3+ và định hình ở máy bay tiêm kích thế hệ 4, cùng với đó là sự xuất hiện của máy bay tiêm kích chế áp mặt đất tàng hình thế hệ thứ nhất ứng dụng công nghệ tán xạ sóng điện từ.

Trước khi xem xét trường hợp F-117 và F-22, hãy cùng điểm qua các yếu tố chính định hình máy bay tiêm kích thế hệ thứ 4 của KQ Mỹ từ đầu thập niên 1960 tới cuối thập niên 1970: (i) quá trình phân định vai trò phản công trả đũa hạt nhân giữa các Bộ tư lệnh KQ chiến lược/Strategic Air Command – SAC, Bộ tư lệnh KQ chiến thuật/Tactical Air Command – TAC và Bộ tư lệnh không quân chiến trường Châu Âu - USAFE; (ii) xu hướng chuẩn hoá định danh và trang bị vũ khí đường không giữa các quân binh chủng quân đội Mỹ; và (iii) các yếu tố kỹ thuật trong đàm phán giải trừ quân bị giữa Mỹ và Liên Xô.

Quá trình phân định vai trò phản công trả đũa hạt nhân giữa SAC, TAC, USAFE (và các chiến trường khác) xuất hiện do đòi hỏi phân bổ lực lượng và quyền thực thi quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân trên chiến trường Châu Âu cho Bộ tư lệnh KQ Mỹ tại Châu Âu/United States Air Forces in Europe – USAFE, trong cái gọi là chiến lược Phản ứng linh hoạt/Flexible response sau sự kiện Bức tường Berlin năm 1961. Trước thời điểm này, việc sử dụng vũ khí hạt nhân do các đơn vị của SAC (lực lượng tên lửa đường đạn liên lục địa và lực lượng không quân ném bom chiến lược) thực thi theo sách lược “tấn công trước/first strike” với “đòn chế lực/counterforce” nhằm tiêu huỷ các lực lượng hạt nhân của đối phương. Tuy nhiên, đòn counterforce có thể dẫn đến đòn trả đũa hạt nhân của đối phương, đẩy hai bên tới bờ vực cùng bị huỷ diệt/mutual assured destruction trong cuộc chiến tranh hạt nhân tổng lực. Nếu LX và Mỹ bị đẩy vào thế đối đầu do đụng độ giữa 2 khối quân sự Wacsaw và NATO như Sự kiện bức tường Berlin hoặc tại một cuộc chiến tranh uỷ nhiệm/proxy war đâu đó trên thế giới thì KQ Mỹ phải thực thi sách lược hạt nhân nào nhằm tránh cuộc chiến hạt nhân tổng lực? Lời giải dành cho KQ Mỹ là Chiến tranh hạt nhân hạn chế/Limited nuclear war với việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật/tactical nuclear weapon trên chiến trường khi xung đột quân sự trực tiếp là không thể tránh khỏi. Từ đầu thập niên 1960, SAC trở về vai trò thực thi “đòn chế ý chí/countervalue” đánh vào các mục tiêu dân sự như hồi ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản và đòn chế lực trong phản công trả đũa hạt nhân tổng lực, còn việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật (gồm tên lửa hành trình đất đối đất mang đầu nổ hạt nhân và máy bay ném bom hạt nhân chiến thuật) chống lực lượng quân sự của đối phương trên chiến trường được giao vào tay USAFE và TAC. Riêng về máy bay tiêm kích chiến thuật, với vai trò định hướng chiến thuật của USAFE (cùng các BTL KQ chiến trường khác) và định hướng kỹ thuật của TAC, các máy bay tiêm kích bom được trang bị phải đủ khả năng mang bom hạt nhân để tấn công các mục tiêu chiến thuật trên chiến trường.
Logged

Thượng tôn công lý - Chế áp cường quyền
Mèo Sạch Thỉu
Thành viên
*
Bài viết: 45


« Trả lời #118 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2009, 09:54:10 pm »

Bài này bác dịch ở đâu mà hay thía  Grin Grin Grin
Logged
tuaans
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 3774


« Trả lời #119 vào lúc: 22 Tháng Chín, 2009, 10:29:16 pm »

Hế hê, mấy bác viết được như thế này toàn là đọc hiểu, tổng hợp thành kiến thức của mình đấy bác ạ!
Riêng em, mấy cái này, các bác ấy nổ oành oành, em điếc đặc!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM